1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Xã hội học đại cương: Phần 1 - Võ Tá Tri, Vũ Văn Hùng (Đồng chủ biên)

94 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Xã Hội Học Đại Cương
Tác giả Võ Tá Tri, Vũ Văn Hùng
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 511,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Xã hội học đại cương được biên soạn nhằm giới thiệu những kiến thức và phương pháp nghiên cứu xã hội học hết sức cơ bản phục vụ cho giảng dạy và học tập môn học. Phần 1 của giáo trình gồm 3 chương đầu, trình bày về: đối tượng, phương pháp nghiên cứu và chức năng, nhiệm vụ của xã hội học; hành động xã hội, tương tác xã hội và quan hệ xã hội; cơ cấu xã hội, di động xã hội và thiết chế xã hội;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

VÕ TÁ TRI - VŨ VĂN HÙNG (Đồng chủ biên)

GIÁO TRÌNH

XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG

NHÀ XUẤT BẢN THỐNG KÊ

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG I ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I Khái lược lịch sử và đối tượng nghiên cứu môn xã hội học 7

CHƯƠNG 2 HÀNH ĐỘNG XÃ HỘI, TƯƠNG TÁC XÃ HỘI

CHƯƠNG 3 CƠ CẤU XÃ HỘI, DI ĐỘNG XÃ HỘI VÀ THIẾT CHẾ XÃ HỘI 67

II Bất bình đẳng xã hội và phân tầng xã hội 77

Trang 4

III Những nhân tố và điều kiện của sự biến đổi xã hội 123

IV Một số vấn đề biến đổi xã hội trên thế giới và Việt Nam hiện nay 125

CHƯƠNG 6 MỘT SỐ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Xã hội học đại cương là môn khoa học mới được đưa vào giảng dạy trong chương trình đào tạo của các trường Đại học và Cao đẳng ở Việt Nam đầu những năm 70 của thế kỷ XX Mặc dù là môn học còn khá mới mẻ nhưng xã hội học đã khẳng định được ý nghĩa và tầm quan trọng của nó trong việc nâng cao nhận thức và rèn luyện phương pháp nghiên cứu những vấn đề xã hội cho người học

Đặc biệt trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu nền kinh tế thế giới tất yếu làm nảy sinh nhiều vấn đề

xã hội như tăng trưởng và công bằng, tiến bộ và bản sắc, dân chủ tự do

và kỷ cương xã hội, thống nhất và đa dạng, xung đột xã hội và ổn định hay những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực xã hội cụ thể như đô thị, nông thôn, giáo dục, y tế, tội phạm Đây là những vấn đề hết sức nhạy cảm nhưng cũng rất bức xúc, đòi hỏi các khoa học trong đó có xã hội học phải giải quyết

Ở Trường Đại học Thương mại, môn xã hội học cũng chỉ mới được triển khai trong những năm gần đây nên tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh còn nhiều hạn chế

Để có thêm tài liệu chính thức, thống nhất, phù hợp với nội dung chương

trình đào tạo đặc thù của trường, chúng tôi biên soạn cuốn "Giáo trình

Xã hội học đại cương" nhằm giới thiệu những kiến thức và phương

pháp nghiên cứu xã hội học hết sức cơ bản phục vụ cho giảng dạy và học tập môn học Giáo trình xã hội học đại cương có kết cấu 6 chương do tập thể giảng viên Trường Đại học Thương mại biên soạn, trong đó TS Võ

Tá Tri và Ths Lê Đình Tân biên soạn chương I, Ths Phạm Bá Sanh biên soạn chương II, Ths Lê Thị Anh biên soạn chương III, Ths Nguyễn Ngọc Diệp biên soạn chương IV, Ths Nguyễn Thị Lan Phương biên soạn chương V và TS Vũ Văn Hùng biên soạn chương VI

Giáo trình được viết hoàn toàn dựa theo chương trình môn học thuộc các ngành, chuyên ngành kinh tế - quản trị kinh doanh do Hiệu trưởng

Trang 6

Trường Đại học Thương mại phê duyệt ban hành kèm theo Quyết định số 141/QĐ-ĐHTM ngày 21 tháng 3 năm 2012

Trong quá trình biên soạn giáo trình chúng tôi đã tham khảo, kế thừa, vận dụng có chọn lọc nhiều kiến thức của các nhà nghiên cứu, các giảng viên trong và ngoài nước qua các tài liệu về khoa học xã hội học

và các lĩnh vực khoa học có liên quan khác Đồng thời chúng tôi cũng bổ sung vào giáo trình nhiều nội dung cụ thể bằng việc cập nhật những kiến thức hiện đại thể hiện qua việc trình bày cô đọng, logic những vấn đề cơ bản của xã hội học đại cương Nhiều nội dung, phương pháp nghiên cứu của xã hội học được lồng ghép, sử dụng thích hợp với kiến thức chuyên ngành đào tạo, nhiều ví dụ cụ thể được rút ra từ đời sống kinh tế, xã hội hiện đại, nhờ đó vừa giúp sinh viên mở rộng kiến thức nghiên cứu, giải quyết các vấn đề kinh tế dưới góc độ xã hội học, vừa phát huy được tác dụng tích cực của môn học

Có nhiều mức độ, phạm vi và phương pháp tiếp cận khác nhau về xã hội học, song trong giáo trình này chúng tôi chủ yếu hướng vào những nội dung cơ bản của xã hội học đại cương - "xã hội học lý thuyết" Bên cạnh đó, giáo trình cũng gợi mở cho người học những phương pháp và

kỹ năng vận dụng hiểu biết của mình để phân tích, đánh giá bản thân và

xã hội, vận dụng kiến thức xã hội học vào thực tiễn cuộc sống

Trong quá trình biên soạn giáo trình chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và độc giả Nhân dịp này tập thể tác giả bày tỏ lòng cảm ơn tới các đồng nghiệp, độc giả và đặc biệt tới sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám hiệu Trường Đại học Thương mại, tới các nhà khoa học trong và ngoài trường đã có những nhận xét, đánh giá và góp ý quý báu giúp chúng tôi hoàn thành giáo trình đảm bảo chất lượng Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do xã hội học vốn là môn khoa học phức tạp và có nhiều bất đồng của giới nghiên cứu nên lần biên soạn này chắc khó tránh khỏi thiếu sót nhất định Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến nhận xét, góp ý để giáo trình tiếp tục được bổ sung, sửa đổi hoàn thiện hơn

Tập thể tác giả

Trang 7

Chương 1

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

VÀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA XÃ HỘI HỌC

I KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU MÔN XÃ HỘI HỌC

1 Khái niệm xã hội học

Xã hội là thuật ngữ đã được sử dụng một cách phổ biến để phản ánh các hoạt động và các quan hệ của con người với nhau Trên thực tế chúng ta thấy không có xã hội nếu không có con người, ngược lại con người cũng không thể tồn tại nếu tách rời xã hội nên không phải ngẫu nhiên, lâu nay trên thế giới đã tồn tại hai nhóm quan niệm khá phân biệt

khi nghiên cứu xã hội học: Một là, chỉ thiên về nghiên cứu cá nhân con người, hành vi mang tính cá biệt (chủ nghĩa thực dụng Mỹ), hai là, cách

tiếp cận thiên về xã hội tức là nghiên cứu cả cộng đồng (chủ nghĩa thực chứng phương Tây)

Xã hội học (sociology) là thuật ngữ bắt nguồn từ gốc chữ Latin

(Societas - xã hội) và chữ Hy Lạp (Lógos - ngôn từ, học thuyết) được

A Comte xây dựng và đưa vào sử dụng chính thức lần đầu tiên vào năm

1838 Từ đó xã hội học được xác định là một môn khoa học mới, độc lập,

có đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu riêng, được nghiên cứu và đưa vào giảng dạy một cách rộng rãi trên thế giới mà trước hết ở các nước châu Âu và Mỹ

Cho đến nay đã có rất nhiều lý thuyết khác nhau của xã hội học như

"Lý thuyết xã hội học thực chứng" (gắn với tên tuổi của các nhà xã hội học: Auguste Comte, Emile Durkheim, Talcott Parsons); "Thuyết đồng cảm xã hội" và "Thuyết cấu trúc chức năng" (Emile Durkheim); "Lý thuyết trao đổi xã hội" (tiêu biểu là G.Homans); "Thuyết hành động xã hội" (Max Weber); "Lý thuyết tương tác biểu trưng" (G.Mead); "Lý thuyết xung đột

xã hội" (K.Marx, Max Weber); "Lý thuyết tiến hóa xã hội" (A.Comte,

Trang 8

H.Spencer, E.Durkheim)… Mỗi lý thuyết đều có cách tiếp cận riêng về phương hướng nghiên cứu, về phạm vi quan sát, thậm chí ở mức độ nhất định còn khác nhau cả về đối tượng nghiên cứu

Với tư cách là người đặt nền móng chính thức cho sự ra đời xã hội học, A.Comte cho rằng "Xã hội học là khoa học về các quy luật của tổ chức xã hội"1 Khá đồng nhất với Comte, H.Spencer cũng quan niệm "Xã hội học là khoa học về các quy luật và nguyên lý tổ chức của xã hội"2 Mặc dù còn có chỗ khác nhau nhưng nhìn chung cả hai ông đều quan tâm nghiên cứu xã hội như là một tổng thể Có phần trái ngược, Max Weber lại giải thích "Xã hội học… là khoa học cố gắng giải nghĩa hành động xã hội và tiến tới cách giải thích nhân quả về đường lối và hệ quả của hành động xã hội"3

Trải qua gần hai thế kỷ nhưng đến nay cũng chưa có được quan điểm thống nhất về khái niệm xã hội học và đối tượng nghiên cứu xã hội học Tính không đồng nhất về quan niệm xã hội học bắt nguồn từ sự phong phú, phức tạp của con người và xã hội Theo Giddens, Anthony

"Xã hội học là ngành khoa học nghiên cứu cuộc sống con người, các nhóm xã hội, và tất cả các xã hội"4 Hoặc với Basirico, Laurence A., Barbara G Cashion, and J Ross Eshleman "Xã hội học là ngành khoa học nghiên cứu hành vi con người, các nhóm xã hội, và xã hội"5 Đây là những quan điểm vẫn thiên về nghiên cứu hành vi con người và xã hội Còn John Joseph Macionis lại quan niệm "Xã hội học nghiên cứu một cách có hệ thống xã hội loài người"6 Hay Fulcher, James and John Scott khẳng định "Xã hội học giúp chúng ta hiểu thế giới xung quanh chúng ta, hiểu chúng ta, và hiểu vị trí của chúng ta trong thế giới đó"7 Nhà xã hội học G.V.Osipov quan niệm "Xã hội học là khoa học về các quy luật và tính quy luật xã hội chung và đặc thù của sự phát triển và vận hành của

1 Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới Tr.45

2 Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới Tr.63

3 Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới Tr.79

4 Giddens, Anthony (2009) Sociology Cambridge: Polity Press Tr.6

5 Basirico, Laurence A., Barbara G Cashion, and J Ross Eshleman (2012), Introduction to

Sociology: BTV Publishing Tr.6

6 Macionis, John (2008) Sociology New Jersey: Prentice Hall Tr.2

7 Fulcher, James and John Scott (2011) Sociology Oxford: Oxford University Press Tr.4

Trang 9

các hệ thống xã hội xác định về mặt lịch sử, là khoa học về các cơ chế tác động và các hình thức biểu hiện của các quy luật đó trong hoạt động của các cá nhân, các nhóm xã hội các giai cấp và các dân tộc"1

Ở Việt Nam nhìn chung các nhà nghiên cứu xã hội học cũng chưa có được quan điểm thống nhất, đồng thuận về bản chất xã hội học và đặc biệt là đối tượng nghiên cứu của môn khoa học này Chẳng hạn "Xã hội học là khoa học nghiên cứu về xã hội loài người, thông qua các hành vi, các hoạt động của con người trong đời sống xã hội, trong điều kiện lịch

sử xã hội cụ thể"2 Với quan điểm này đối tượng nghiên cứu xã hội học thiên về xã hội hơn là hành vi cá nhân Hay "Xã hội học là khoa học nghiên cứu quy luật của sự nảy sinh, biến đổi và phát triển mối quan hệ giữa con người và xã hội"3 Điều đó có nghĩa xã hội học chú trọng nghiên cứu những vấn đề mang tính bản chất, khách quan, phổ biến gắn với sự phát sinh, biến đổi và phát triển mối quan hệ giữa con người và xã hội, trọng tâm nghiên cứu là quan hệ xã hội

Cái khó của nghiên cứu xã hội học là ở chỗ, đây là ngành khoa học vừa đòi hỏi sự chặt chẽ, logic của triết học vừa chứa đựng nhiều yếu tố tự phát, rời rạc, thầm kín của tâm lý con người Và từ đó cũng đã gây nên nhiều cuộc tranh luận chưa có hồi kết xuất phát từ tính phức tạp của đối tượng nghiên cứu xã hội học Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, song

về đại thể có thể thống nhất cho rằng "xã hội học là khoa học nghiên

cứu về các quy luật và xu hướng của sự phát sinh, phát triển và biến đổi của các hành động xã hội, các quan hệ xã hội, tương tác giữa các chủ thể xã hội cùng các hình thái biểu hiện của chúng"

2 Khái lược lịch sử xã hội học

1G.V.Osipov, (1992),“Xã hội học và chủ nghĩa xã hội”, Xã hội học và thời đại, tập 3, số 23 Tr.8

2Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê, Vũ Minh Tâm, (2004), Xã hội học đại cương, Nxb Đại học

Sư phạm, Hà Nội Tr.7

3Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới Tr.11

Trang 10

hội đều gắn liền với triết học và xã hội học là thứ triết học về mặt xã hội

Xã hội học cùng với các môn khoa học nghiên cứu về các vấn đề xã hội

đã chủ yếu đề cập đến những tiêu chuẩn tổ chức về mặt xã hội phục vụ cho các giai cấp và các tầng lớp thống trị Điều đó được thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng, các triết gia cổ đại và cận đại cả phương Đông lẫn phương Tây Phương Đông có các nhà tư tưởng Trung Quốc hay Ấn Độ, trong đó tiêu biểu là Quản Trọng, Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân

Tử, Lão Tử Ở phương Tây gắn với nền văn minh Hy Lạp cổ đại có các nhà tư tưởng điển hình như Platon, Aristote

Nhìn chung các nhà xã hội học phương Đông cổ đại với những cách đặt vấn đề khác nhau trong việc xác định động lực hay cách thức vận hành xã hội, nhưng đều thống nhất mục tiêu cuối cùng là để quản lý

xã hội tốt hơn Tuy vậy, những nền tảng khoa học nói chung (triết học, kinh tế học, xã hội học ) ở phương Đông chưa được hình thành một cách vững chắc Ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội cận hiện đại đều thống nhất nhận định Platon và Aristote là những nhà tư tưởng đầu tiên đặt nền tảng nghiên cứu các vấn đề xã hội học một cách

xã hội học nói riêng không phát triển được Sang thời kỳ phục hưng, các lĩnh vực khoa học tự nhiên (nhất là khoa học về địa lý, thiên văn) và khoa học xã hội (trước hết là triết học và kinh tế học) phục hồi và phát triển mạnh mẽ Cùng với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản là cơ sở chính trị - xã hội vô cùng quan trọng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi bức xúc về sự tiến bộ của các lĩnh vực khoa học Đây là điều kiện, tiền đề hết sức ý nghĩa giúp cho xã hội học phát triển mạnh mẽ hơn Thời Phục Hưng

Trang 11

có các nhà xã hội học như Thoms Hobbes (1588-1679), Juhn Locke (1632-1704)…

Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các biến động to lớn từ trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội ở Châu Âu (nhiều nước đã trở thành nước công nghiệp, kinh tế thị trường phát triển mạnh, mâu thuẫn xã hội dần trở nên gay gắt…) đặt ra nhu cầu thực tiễn cần phải có nhận thức mới về xã hội Lúc này những tư tưởng về các vấn đề xã hội từng bước được hệ thống hóa và từ đó xuất hiện các lý thuyết nghiên cứu sâu về xã hội Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ XIX, xã hội học mới được thừa nhận

là môn khoa học độc lập

Người có công lớn trong việc khai thông và xác lập môn xã hội học thành một môn khoa học thực sự là Auguste Comte (1798-1857) Ông là nhà bác học người Pháp nghiên cứu nhiều lĩnh vực như toán học, vật lý, triết học và xã hội học Ông là trợ lý của Saint Simon, người đã sáng lập học thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng ở Tây Âu đầu thế kỷ XIX Ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ xã hội học

Tiếp đến là nhà xã hội học người Pháp Emile Durkheim (1858-1917) với tư tưởng "sự kiện xã hội" thay cho tâm sinh lý cá nhân Ngoài ra còn phải kể đến các nhà xã hội học khác như: Fredric Le Play (người Pháp, 1806-1882), Karl Marx (người Đức, 1818-1883), Max Weber (người Đức, 1864-1920)…

Sau những khởi xướng của Comte, Durkheim, xã hội học ở châu Âu phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ và chủ yếu tập trung nghiên cứu cấu trúc xã hội như là một thực thể khoa học Trong những năm 1920-1930,

xã hội học châu Âu đã hình thành trào lưu "xã hội học cấu trúc"

Tiếp đó, cũng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học kỹ thuật, của các quá trình công nghiệp hoá ở Mỹ, đồng thời sau hai cuộc đại chiến thế giới, hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh, do vậy xã hội học cũng xuất hiện ở Mỹ Tuy nhiên, do tính chất đặc thù bởi rất nhiều vấn đề xã hội ở Mỹ có liên quan tới hành vi của cá nhân, nhóm xã hội nên xã hội học ở Mỹ đã phát triển mạnh mẽ theo hướng tiếp cận từ hành

vi và hình thành trào lưu xã hội học hành vi

Trang 12

Từ khi hình thành, môn xã hội học phát triển nhanh chóng chủ yếu ở hai khu vực châu Âu và Mỹ theo hai cách tiếp cận khác nhau: cấu trúc xã hội và hành vi xã hội Tuy nhiên từ năm 1960 đến nay, trên thế giới xã hội học đã phát triển theo hướng phổ biến là thâm nhập vào nhau giữa xã hội học Mỹ và xã hội học châu Âu Xã hội học đã được giảng dạy và nghiên cứu trong các trường phổ thông và các trường đại học ở châu Âu lúc đầu ở Pháp, Đức rồi đến Anh

Ở Việt Nam, xã hội học được hình thành và phát triển chậm hơn, phải đến những năm 70 của thế kỷ XX mới trở thành môn khoa học và được đưa vào giảng dạy ở một số trường đại học chủ yếu của khối xã hội nhân văn Hiện nay xã hội học cũng đang được mở rộng giảng dạy ở một

số trường thuộc khối kỹ thuật và quản trị kinh doanh Nhìn chung, thời gian qua việc nghiên cứu và giảng dạy môn xã hội học ở Việt Nam cũng thu được một số kết quả nhất định, nhưng so với thế giới và để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời đại ngày nay xã hội học Việt Nam cần được tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu và mở rộng giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng

b Điều kiện, tiền đề ra đời xã hội học

Cũng như các lĩnh vực khoa học khác, xã hội học xuất hiện không phải ngẫu nhiên mà gắn với hoàn cảnh lịch sử, với các điều kiện tiền đề nhất định Nói cách khác, sự ra đời xã hội học là một tất yếu khách quan

do đòi hỏi của lịch sử

Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX ở châu Âu xuất hiện cuộc cách mạng công nghiệp (hay cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất) nhờ đó nhiều nước đã xây dựng được nền sản xuất lớn đại công nghiệp cơ khí, năng suất lao động cao Kinh tế thị trường phát triển mạnh, thương mại được

mở rộng Sự phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất khẳng định chắc chắn sự tồn tại xã hội tư bản, đồng thời từng bước xóa bỏ tận gốc những đặc tính xã hội cũ tồn tại hàng trăm năm trước Cuộc cách mạng công nghiệp cùng với sự phát triển nhanh chóng kinh tế thị trường làm thay đổi căn bản xã hội đương đại trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Bên cạnh đó nó cũng làm chuyển biến mạnh mẽ hình thái các hoạt động xã hội và quan hệ xã hội

Trang 13

Về kinh tế: Công cuộc công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa đã tạo được

một nền kinh tế hùng mạnh với nền sản xuất lớn đại công nghiệp Việc

sử dụng máy móc cơ khí vào sản xuất phổ biến loại bỏ những công cụ thủ công, với phương pháp lao động thủ công năng suất thấp Sản xuất được tập trung chuyên môn hóa, quy mô lớn thay thế kiểu sản xuất nhỏ

lẻ, tự phát, phân tán Thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp và kinh

tế thị trường sau đó được K Marx và F Engels đánh giá rất cao Trong

"Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" (năm 1848) hai ông đã khẳng định

mặc dù chủ nghĩa tư bản ra đời chưa đầy 100 năm mà đã tạo ra đống của cải vật chất, sức sản xuất khổng lồ lớn hơn tất cả những gì các thế hệ trước đấy cộng lại Nền sản xuất lớn đảm bảo cho xã hội tư bản có được khối lượng sản phẩm hàng hóa đồ sộ Khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản

về mặt kinh tế, K Marx khẳng định chủ nghĩa tư bản biểu hiện ra là "một đống khổng lồ hàng hóa chồng chất lại"

Phân công lao động mở rộng trên nhiều lĩnh vực, nhiều mức độ làm chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nền kinh tế Công nghiệp, dịch vụ tăng nhanh chóng cả về quy mô và tỷ trọng trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân Sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng về quy mô nhưng giảm tỷ trọng đóng góp vào sản phẩm quốc nội so với công nghiệp và dịch vụ

Sự phát triển kinh tế thị trường tư bản tạo nền tảng vật chất thúc đẩy tiến bộ xã hội nói chung Nhưng cũng do kinh tế thị trường phát triển trong xã hội mang tính tự phát đã làm xuất hiện nhiều nguy cơ về mâu thuẫn và xung đột xã hội Bởi sự phát triển kinh tế thị trường luôn tiềm

ẩn yếu tố bất ổn định như lạm phát, khủng hoảng kinh tế, cạnh tranh không lành mạnh Kinh tế thị trường phát triển đòi hỏi phải có thị trường tiêu thụ sản phẩm và đầu tư tư bản đã dẫn đến các cuộc chiến tranh cướp giật thuộc địa Ngoài ra, kinh tế thị trường tư bản với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên giai cấp những người sở hữu sẵn sàng làm mọi thứ để thỏa mãn nhu cầu làm giàu của mình, kể cả gây chiến tranh

và tội phạm

Về chính trị - tư tưởng: Sự xuất hiện xã hội tư bản đòi hỏi phải xóa

bỏ ngay lập tức kiểu quản lý xã hội và con người mang tính cưỡng chế trực tiếp nô dịch Tiền đề để có nền kinh tế thị trường tư bản và chủ nghĩa tư bản là hàng hóa sức lao động Điều đó có nghĩa người lao động

Trang 14

phải được tự do, tự do theo nghĩa được quyền làm chủ sức lao động của mình và được bán sức lao động để tồn tại Các cuộc cách mạng dân chủ

tư sản thể hiện đỉnh cao nhu cầu của giai cấp tư sản đấu tranh để giải phóng mình, thủ tiêu rào cản đối với sự phát triển chủ nghĩa tư bản, đồng thời qua đó cũng gián tiếp giải phóng giai cấp nông dân khỏi ách nô lệ của địa chủ phong kiến, hình thành quan hệ mới: tư bản - công nhân Cuộc cách mạng tư sản đã làm thay đổi thể chế chính trị, đánh dấu thời kì tan rã của chế độ phong kiến thay vào đó là sự thống trị của giai cấp tư sản, hình thành nhà nước tư sản, quyền lực chính trị chuyển sang tay giai cấp tư sản Giai cấp công nhân hình thành và có nhiều tiến bộ nhờ những biến đổi về mặt nhận thức quyền con người, quyền bình đẳng, quyền tự do… Con người được coi trọng hơn, được tự do hơn đó là sự tiến bộ Tuy nhiên thực chất đây chỉ là sự chuyển hóa về cách thức bóc lột lao động trong khuôn khổ pháp quyền tư sản

Sau thời gian tồn tại và phát triển khá êm đềm (tính từ thế kỷ XVII) khoảng những năm 30 của thế kỷ XIX những mâu thuẫn, xung đột ở nhiều nước châu Âu trở nên trầm trọng Cuộc cách mạng công nghiệp trong chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy nền sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển vượt bậc, giai cấp vô sản trưởng thành nhanh chóng Nhưng cùng với điều đó là tình trạng khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp, bần cùng hoá đời sống người lao động tăng nhanh, đã dẫn đến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong các nước châu Âu Sự đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển dần từ đấu tranh kinh tế sang đấu tranh chính trị, từ tự phát sang tự giác có tổ chức Giai cấp công nhân dần trở thành lực lượng chính trị độc lập nhận thức đầy đủ hơn về sứ mệnh lịch sử của mình

Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân xuất hiện sớm nhất ở Anh vào năm 60 của thế kỷ XVIII (1760) Trong những cuộc đấu tranh đầu tiên hiện tượng đập phá máy móc xuất hiện và tiếp tục cho đến đầu những năm 20 của thế kỷ XIX Phong trào đấu tranh của công nhân Anh thể hiện tập trung nhất ở phong trào Hiến chương của giai cấp công nhân Anh Phong trào đấu tranh diễn ra với 3 cao trào từ năm 1839 đến năm

1848, với sự tham gia từ 1 đến 5 triệu công nhân Ở Pháp, thợ tơ Lyon đã

tổ chức phong trào khởi nghĩa từ năm 1831 và 1834 Đây là cuộc khởi

Trang 15

nghĩa lớn của công nhân Pháp thời kỳ này Công nhân ở Lyon đã đứng lên biểu tình để phản đối việc chủ không chịu tăng lương Các cuộc khởi nghĩa này đánh dấu sự lớn mạnh của phong trào công nhân Pháp bởi lần đầu tiên họ bước lên vũ đài chính trị với tư thế là một lực lượng chính trị độc lập Đặc biệt phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chuyển biến mạnh mẽ từ đấu tranh tự phát đến tự giác, từ đấu tranh kinh

tế đến đấu tranh chính trị

Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản tiếp tục chuyển biến mạnh mẽ từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang độc quyền hóa cao độ Quan hệ bóc lột

mở rộng không chỉ trong phạm vi các nước tư bản mà trên phạm vi quốc

tế thông qua chính sách thôn tính thực dân Mâu thuẫn xã hội do vậy gia tăng nhanh chóng và trở nên hết sức căng thẳng, đa dạng Sự tự do bóc lột giai cấp công nhân của giai cấp tư sản và những bất đồng về chính trị

- xã hội làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản, mâu thuẫn giữa các dân tộc ngày một gay gắt Khi mâu thuẫn xã hội phát triển tất yếu bùng nổ các cuộc cách mạng vô sản cũng như cách mạng giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa Cách mạng vô sản Pháp (1871) và tiếp đó Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) là minh chứng thực tế về cách thức giải quyết mâu thuẫn xã hội không thể đảo ngược

Về mặt tư tưởng, dưới sức ép của nền sản xuất lớn và sự bất ổn của nền kinh tế thị trường tư bản, hàng loạt những người sản xuất nhỏ bị phá sản nên đã xuất hiện tư tưởng chống đối chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản

từ phía những người sản xuất nhỏ, tiểu tư sản Điển hình cho trào lưu này

là Sismondi (1773 - 1842) nhà kinh tế học, xã hội học Thụy Sĩ nhưng chủ yếu sống và làm việc ở Pháp Tiếp đến sự xuất hiện chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp phê phán chủ nghĩa tư bản dưới góc độ kinh tế, đấu tranh chống lại áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đương thời Tuy nhiên, giai cấp công nhân lúc này chưa thực sự trở thành lực lượng chính trị độc lập, phong trào công nhân chưa mang tính tự giác nên lý luận của các học thuyết này chỉ biểu hiện ra dưới hình thức tư tưởng, ước mơ về một xã hội tương lai tốt đẹp mà thôi Ra đời trong điều kiện đó, học thuyết của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng là biểu hiện sự bất bình

tự phát của giai cấp công nhân và quần chúng lao động đối với chủ nghĩa

tư bản và tìm đường xây dựng một xã hội công bằng và hạnh phúc Tiêu

Trang 16

biểu là các nhà lý luận như Saint Simon (1760-1825), Charles Fourier (1772-1837) ở Pháp và Robert Owen (1771-1858) ở Anh Có thể nói chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp là mầm mống tư tưởng trực tiếp cho sự ra đời của xã hội học

Vấn đề văn hóa - xã hội: Trải qua những thăng trầm của lịch sử, cuối

thế kỷ XVIII, với sự bùng nổ của sản xuất công nghiệp gắn với nó là quá trình đô thị hóa và những bất ổn trong đời sống xã hội gia tăng, khoa học

và kỹ thuật phát triển mạnh làm xuất hiện nhiều vấn đề xã hội mới, phức tạp đòi hỏi phải nghiên cứu một cách khoa học, hệ thống Cùng với sự

mở rộng nền dân chủ tư sản và thể chế tự do tư bản là môi trường tốt cho việc nghiên cứu xã hội Xã hội học do đó được phát triển mạnh và khẳng định vai trò, vị trí của mình trong hệ thống các lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội

Sản xuất công nghiệp phát triển, thương mại mở rộng, nhiều nhà máy, xí nghiệp ra đời đã thu hút nhiều lao động, đặc biệt là lao động từ nông thôn ra thành thị Sự biến đổi kinh tế đã làm biến đổi sâu sắc đời sống văn hóa - xã hội Sự biến đổi kinh tế cũng làm cho hệ thống tổ chức

xã hội phong kiến bị xáo trộn mạnh mẽ Cuộc sống đô thị thay thế dần cách sống, kiểu sống nông thôn Các phong tục, tập quán lối sống truyền thống cũ được thay dần bằng nhịp sống hiện đại của cư dân đô thị Văn hóa thay đổi nhanh chóng bởi lối sống thực dụng của kinh tế thị trường Cấu trúc gia đình biến đổi do cá nhân dần rời bỏ cộng đồng có tính huyết thống, truyền thống cũ, cùng với sự thay đổi vai trò của vợ chồng trong quan hệ gia đình Quyền lực trong tôn giáo bị giảm xuống bởi sự phát triển, tiến bộ của khoa học công nghệ và sự suy vong của tầng lớp địa chủ phong kiến

Kết cấu giai cấp trong xã hội thay đổi mạnh mẽ với sự hiện diện của hai giai cấp chính mâu thuẫn đối kháng là giai cấp công nhân và giai cấp

tư sản Bên cạnh vẫn tồn tại một bộ phận đáng kể các tầng lớp thuộc giai cấp tiểu tư sản như những người tiểu sản xuất, tiểu thương, tri thức Cấu trúc xã hội mới thay thế xã hội truyền thống vốn đã tồn tại hàng nghìn năm trước đó

Trước những biến động mạnh mẽ và sâu sắc hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội làm

Trang 17

xuất hiện ngày càng nhiều "vấn đề xã hội" mà các khoa học khác như triết học, chính trị học, kinh tế học khó giải thích một cách thấu đáo đòi hỏi có một lĩnh vực khoa học có khả năng nghiên cứu sâu, chi tiết hơn Tóm lại, sự xuất hiện của hệ thống tư bản đã phá vỡ trật tự xã hội cũ, làm xáo trộn đời sống xã hội của các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội Từ đó đặt ra nhu cầu giải quyết những vấn đề mới mẻ của xã hội đang nảy sinh từ cuộc sống đầy biến động và phải lập lại trật tự xã hội một cách ổn định trên thực tế Xã hội học ra đời đáp ứng nhu cầu tất yếu

đó Người đi đầu trong ngành khoa học này là nhà triết học người Pháp: August Comte

3 Đối tượng nghiên cứu của xã hội học

Đã có đến hàng trăm quan niệm khác nhau về đối tượng của xã hội học, nhưng suy cho cùng đều có thể quy về một trong ba cách tiếp cận chính:

Một là, cách tiếp cận thiên về con người (xã hội học vi mô): Cách

tiếp cận này cho rằng đối tượng nghiên cứu của xã hội học là hành vi xã hội hay hành động xã hội của con người Nói cách khác, đó là hành vi cá nhân, các cơ chế hình thành các hành vi đó bao gồm các tương tác giữa các cá nhân, sự hình thành động cơ và các tác nhân hành động của nhóm Đây chính là cách tiếp cận của trường phái xã hội học Mỹ - xã hội học vi

mô, khoa học về hành vi xã hội của cá nhân và nhóm Trường phái này chịu ảnh hưởng của thuyết hành vi và chủ nghĩa thực dụng theo hiện tượng luận

Hai là, cách tiếp cận thiên về xã hội (xã hội học vĩ mô): Với cách

tiếp cận này đối tượng nghiên cứu của xã hội học là cả xã hội loài người,

đó là tính chỉnh thể của tổ chức xã hội, tính hệ thống của xã hội trong mối quan hệ chi phối cá nhân Các khái niệm mà cách tiếp cận này thường xuyên đề cập đến là văn hoá, thiết chế xã hội, hệ thống và cấu trúc xã hội các quá trình xã hội rộng lớn Đây chính là cách tiếp cận của trường phái xã hội học châu Âu, xã hội học vĩ mô do ảnh hưởng mạnh mẽ của triết học thực chứng và thuyết tiến hoá của Charles Darwin

Ba là, cách tiếp cận "tổng hợp" cả con người và xã hội: Theo cách

này, xã hội học vừa nghiên cứu hành vi con người vừa nghiên cứu hệ

Trang 18

thống xã hội Cách tiếp cận này tuy đã đề cập nghiên cứu cả con người

và xã hội song vẫn mang tính rời rạc, chưa có sự liên kết, chưa thể hiện được tính "tổng hợp" trong đối tượng nghiên cứu Cũng từ cách tiếp cận này dễ gây nhầm lẫn rằng xã hội học có hai đối tượng nghiên cứu

Rõ ràng mỗi cách tiếp cận đều có những mặt tích cực, nhấn mạnh một khía cạnh không thể thiếu khi nghiên cứu xã hội học Tuy nhiên cả

ba cách tiếp cận trên cũng bộc lộ những mặt hạn chế, thiếu sót nhất định Bởi con người và xã hội tồn tại không tách rời nhau và đều là những khách thể nghiên cứu của nhiều khoa học nên phải chăng xã hội học không có đối tượng nghiên cứu rõ ràng?

Gần đây, nhiều nhà xã hội học hiện đại đưa ra và chấp nhận cách tiếp cận "tích hợp" hay "hỗn hợp" Theo cách tiếp cận này, đối tượng nghiên cứu của xã hội học không phải chỉ là con người hay xã hội hoặc

cả con người lẫn xã hội mà là nghiên cứu mối liên hệ hữu cơ, mối quan

hệ biện chứng, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau giữa một bên là con người với tư cách là cá nhân, nhóm với một bên là xã hội với tư cách

là hệ thống là cơ cấu hay cấu trúc xã hội

Vậy đối tượng nghiên cứu của xã hội học là con người xã hội, nói cách khác nghiên cứu mặt xã hội của con người, nghiên cứu yếu tố con người thể hiện qua mọi quan hệ xã hội, mọi lĩnh vực hoạt động xã hội

Xã hội học nghiên cứu hành vi của con người vì mọi suy nghĩ, mọi hành động của con người đều được thể hiện qua hành vi nhất định Những hành vi của con người có biểu hiện ngẫu nhiên nhưng hầu như không hoàn toàn tùy tiện mà luôn bị chi phối bởi những khuôn mẫu xã hội nhất định tùy thuộc vào vai trò, vị thế của cá nhân trong xã hội hay bối cảnh

xã hội nào đó

Tuy vậy con người xã hội không tồn tại độc lập mà luôn bị tác động, chi phối bởi nhóm xã hội thậm chí cả cộng đồng nên hành vi của con người cũng tác động hay bị tác động, chi phối hay bị chi phối bởi cộng đồng xã hội Điều đó có nghĩa xã hội học nghiên cứu hành vi con người trong mối quan hệ tương tác với cộng đồng xã hội

Đồng thời xã hội học cũng nghiên cứu xã hội về mặt là cấu trúc, thiết chế được tạo bởi con người và trở lại quy định hành vi của con người

Trang 19

Nói cách khác xã hội học không nghiên cứu xã hội nói chung cũng không

đi nghiên cứu cụ thể các "vấn đề xã hội" như nghèo đói, tệ nạn xã hội

mà nghiên cứu xã hội như là kết quả được tạo bởi hành động xã hội của con người đồng thời chi phối, quy định hành động, hành vi của con người Nghiên cứu xã hội học đòi hỏi phải kết hợp việc nghiên cứu các cá nhân với tư cách là chủ thể xã hội, đồng thời nghiên cứu mối liên hệ xã hội của các cá nhân đó để làm rõ các phạm trù rất cơ bản của xã hội như: chủ thể xã hội, hành động xã hội, hoạt động xã hội, cơ cấu xã hội, quan

hệ xã hội, thiết chế xã hội, tương tác xã hội… Không có chủ thể xã hội (có thể là cá nhân hay nhóm xã hội) thì không có xã hội Nhưng xã hội không phải là phép cộng cơ học của các chủ thể đó mà là tổng hợp, tích hợp của các chủ thể trong mối liên hệ tương tác với nhau Nói cách khác,

xã hội học nghiên cứu con người nhưng không phải cô lập mà được đặt trong mối liên hệ hữu cơ giữa những con người với nhau, đồng thời xã hội học cũng nghiên cứu xã hội thông qua hành động, tương tác và quan

hệ của con người

Nhưng phải chăng như vậy đối tượng nghiên cứu của xã hội học vẫn chưa rõ ràng hay có nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau? Vấn đề ở đây không phải là hành vi cá nhân, hay là xã hội hoặc cả hai mà chính là quan hệ giữa cá nhân với xã hội Con người tạo ra xã hội, ngược lại xã hội tạo ra con người K Marx lập luận "xã hội tạo ra con người, như con người, hệt như con người tạo ra xã hội"1

Mặc dù còn có nhiều cách hiểu chưa hoàn toàn thống nhất nhưng nhìn chung các nhà xã hội học đều có một điểm khá đồng nhất về đối tượng nghiên cứu xã hội học đó là các quy luật và tính quy luật hay xu hướng của sự phát sinh, biến đổi và phát triển mối quan hệ giữa con người và xã hội; nhấn mạnh quan hệ giữa con người và xã hội được biểu hiện qua hành vi xã hội, hành động xã hội, tương tác xã hội của con người và bị chế ước bởi các cấu trúc xã hội, thiết chế xã hội Cái đích của nghiên cứu xã hội học là tìm ra các quy luật và xu hướng của sự phát sinh, phát triển và biến đổi của các quan hệ xã hội, tương tác giữa các chủ thể xã hội cùng các hình thái biểu hiện của chúng Các quy luật quan

1 Nguyễn Khắc Viện (1994), Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội Tr.30

Trang 20

hệ xã hội của con người vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù

và có tính lịch sử

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN XÃ HỘI HỌC

1 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu môn xã hội học

Nhận thức xã hội học là một quá trình hết sức phức tạp, trong đó con người, một trong những chủ thể cấu thành xã hội, đồng thời là lực lượng tạo ra các mặt đời sống xã hội, là những thế giới thu nhỏ vô cùng phong phú và sinh động Vì vậy, nghiên cứu xã hội học cần chú ý các quan điểm sau:

a Quan điểm toàn diện

Lê Nin nói "Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát

và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và "quan hệ giao tiếp" của sự vật đó"1 Xuất phát từ tính khách quan và phổ biến của mối liên hệ cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần có quan điểm toàn diện Khi nghiên cứu một vấn đề xã hội nào đó, phải đặt vấn đề đó vào trong mối tương quan Cơ sở của quan điểm này là mối liên hệ chằng chịt, qua lại giữa các mặt của đời sống xã hội Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn cần phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của sự vật, hiện tượng cũng như sự tác động qua lại giữa chúng với nhau Ví dụ, một sinh viên học giỏi chưa hẳn đã là người có nhân cách tốt vì con người vốn là "tổng hòa" các quan hệ xã hội

Việc nghiên cứu một vấn đề nào đó tách rời khỏi toàn bộ các vấn đề khác thường dẫn đến các kết luận hời hợt, thiếu sót và dĩ nhiên có độ chính xác thấp Quan điểm toàn diện giúp chúng ta khắc phục được tính hẹp hòi, phiến diện trong nghiên cứu xã hội học

b Quan điểm lịch sử - cụ thể

Quan điểm lịch sử - cụ thể bắt nguồn từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần có quan điểm lịch sử - cụ thể song song với quan điểm toàn diện

1 Lê Nin (1980), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Tr.364

Trang 21

Lịch sử - cụ thể là việc nhận thức và xử lý các tình huống hoạt động thực tiễn cần phải xét đến tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Căn cứ vào vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể để từ đó có những nhận định, giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Mọi

sự vật, hiện tượng, con người và xã hội luôn vận động biến đổi nên hành

vi, hành động của con người thay đổi, qua đó các giá trị chuẩn mực xã hội cũng thay đổi theo Ví dụ, trong xã hội phong kiến ở Việt Nam trước đây con cái khi xây dựng gia đình đều do cha mẹ quyết định (cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó), nhưng ngày nay trong xã hội dân chủ, quan niệm đó

đã dần được thay đổi

Quan điểm lịch sử cụ thể giúp người nghiên cứu có cách nhìn khách quan, khoa học về các nội dung của xã hội học, từ đó có cách nhìn nhận

sự việc, hiện tượng, các mối quan hệ xã hội một cách hài hòa giữa "cổ xưa", hiện tại và định hướng tương lai Quan điểm này giúp cho các nhà nghiên cứu và quản lý xã hội tránh được tình trạng máy móc, duy ý chí

c Quan điểm hệ thống

Các vấn đề xã hội là các mắt xích trong hệ thống phức tạp cả về chiều dọc lẫn chiều ngang Xét về chiều dọc, vấn đề nào đó thường là bộ phận của một vấn đề lớn hơn Xét về chiều ngang, vấn đề nghiên cứu thường là kết quả của một số nguyên nhân, đồng thời nó lại là nguyên nhân của một kết quả xã hội khác Xã hội là một hệ thống trong đó các cá nhân hay nhóm xã hội là một bộ phận có sứ mệnh, vai trò, vị trí riêng Nghiên cứu xã hội là nghiên cứu mối liên hệ gắn kết, chi phối lẫn nhau giữa các cá nhân và nhóm xã hội Ngược lại, nghiên cứu con người hay nhóm xã hội là nghiên cứu bộ phận của hệ thống xã hội, chịu sự chi phối, điều khiển của hệ thống Vì vậy, nghiên cứu một vấn đề xã hội nào đó phải đặt nó trong một hệ thống mà nó đang tồn tại Ví dụ, khi nghiên cứu công tác quản lý đối với cá nhân, bộ phận nào đó trong công ty, doanh nghiệp hay một đơn vị chúng ta thường quan tâm đến sơ đồ bộ máy tổ chức của đơn vị đó Từ đó, chúng ta sẽ có nhiều nội dung súc tích để xem xét, khảo sát, lý giải và kết luận một cách đầy đủ, có hệ thống chặt chẽ

Trang 22

d Quan điểm thực tiễn

Xét cho cùng, phương pháp nghiên cứu xã hội học đều dựa trên cơ

sở thực nghiệm, tức là xuất phát từ nhu cầu thực tế, quan sát hiện tượng hoặc quá trình thực tế tìm ra cách lý giải vấn đề dựa trên các luận chứng thực tế Khi kết luận vấn đề nào đó cũng có sự đối chiếu, so sánh với thực tế bằng phương pháp kiểm định thực tế Sở dĩ như vậy là vì hiện tượng và quá trình xã hội thường trừu tượng, nếu không bám sát thực tế

sẽ có nhiều cách lý giải khác nhau tùy theo đối tượng nghiên cứu, góc độ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu Ví dụ, khi điều tra các nghi can trong các vụ án người làm công tác điều tra thường yêu cầu họ "diễn lại" hành vi của mình, nếu phù hợp cơ quan điều tra mới đưa ra kết luận Các kết quả nghiên cứu hay các mô hình không được kiểm chứng bằng thực tiễn chỉ là lý thuyết suông hay mô hình lý thuyết

và không có giá trị thực tế Chỉ có qua cọ xát, đối chiếu thực tế mới có thể chứng minh hoặc lý giải được hợp lý nhất

Nhiều chuyên gia xã hội học đã chỉ ra một số yếu tố đặc thù khi

nghiên cứu môn khoa học xã hội đặc thù này: Một là, nhìn "cái chung"

thông qua "cái riêng", tìm khuôn mẫu xã hội qua thao tác cá nhân cụ thể

Hai là, nhìn "cái lạ" thông qua "cái quen", vì con người được hình thành

phần nhiều từ khuôn mẫu xã hội, hành động theo khuôn mẫu xã hội Và

ba là, chủ động đặt mình trong hoàn cảnh cụ thể hoặc tách mình khỏi

hoàn cảnh để kiểm nghiệm Chẳng hạn một người bị đặt ra bên lề xã hội

sẽ có cách nhìn và khả năng nhìn nhận xã hội sâu sắc hơn

2 Phương pháp nghiên cứu môn xã hội học

Liên quan đến thuật ngữ xã hội học, có thể có hai cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu: Phương pháp xã hội học khi nghiên cứu các lĩnh vực xã hội và phương pháp nghiên cứu môn xã hội học Về cơ bản

cả hai cách tiếp cận này đều là tổng hợp các phương pháp, kỹ thuật và cách thức nghiên cứu xã hội học nhằm làm sáng tỏ bản chất, những đặc trưng, cơ cấu, xu hướng và tính quy luật của các hiện tượng và quá trình

xã hội Tuy nhiên phạm vi ứng dụng, công cụ sử dụng (các phạm trù, khái niệm, chỉ tiêu ) theo các cách tiếp cận có tính chất đặc thù tùy lĩnh vực xã hội mà chúng ta nghiên cứu

Trang 23

Trong nghiên cứu xã hội học, ngoài việc phải xác định được vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, xây dựng các giả thiết khoa học, giới hạn phạm vi nghiên cứu, các tình huống chúng ta cần sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp và công cụ nghiên cứu Về cơ bản có thể chia thành

ba nhóm, cụ thể:

a Phương pháp phân tích tư liệu

Phân tích tư liệu là xem xét các tài liệu có sẵn trong kho thông tin lưu trữ và các nguồn khác để nghiên cứu vấn đề cần thiết, không phải làm các cuộc phỏng vấn điều tra Đây là phương pháp giúp người nghiên cứu có được những số liệu, tư liệu thứ cấp, thậm chí là những phân tích, kết luận có sẵn phục vụ cho việc nghiên cứu có luận cứ rõ ràng và ít tốn kém Các nguồn tư liệu này được tập hợp từ các cá nhân hay cơ quan nghiên cứu, các cơ quan quản lý (các báo cáo, số liệu thống kê ), các tổ chức chính trị xã hội hay các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, tạp chí, internet Về đại thể có thể quan niệm đây là phương pháp thu thập và phân tích các tư liệu thứ cấp trong nghiên cứu xã hội học Cốt lõi của phương pháp này là sưu tầm được đúng và đầy đủ các tư liệu cần thiết cho nội dung nghiên cứu Muốn vậy người nghiên cứu phải xác định đúng những tư liệu cần, nguồn cung cấp tư liệu, cách khai thác

tư liệu Ví dụ, để đánh giá được xu hướng và mức độ phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay (dưới góc độ thu nhập, mức sống) chúng ta cần tư liệu nào? ở đâu?

Trước đây công việc này rất khó khăn và mất rất nhiều thời gian, nhưng hiện nay công việc này dễ dàng hơn vì có nhiều nguồn thông tin Nhưng khó khăn là phải chọn lọc đúng được những tư liệu đang cần Phân tích tư liệu là phương pháp được dùng rất phổ biến vì không tốn chi phí và công sức điều tra, và những vấn đề không có điều kiện thuận lợi để điều tra Nhưng phương pháp này cũng có hạn chế vì người nghiên cứu dễ bị rối trước nguồn tư liệu quá nhiều hay độ tin cậy của nguồn tư liệu thấp, nhất là khi số liệu thống kê, báo cáo không chuẩn xác

b Các phương pháp thu thập, xử lý thông tin

Đây là nhóm các phương pháp cụ thể nhằm thu thập, tập hợp và xử lý thông tin ban đầu, tư liệu sơ cấp Nhóm các phương pháp này thường gồm:

Trang 24

* Phương pháp quan sát

Quan sát là phương pháp nghiên cứu những biểu hiện bên ngoài của tâm lý con người (hành động, cử chỉ, ngôn ngữ…) diễn ra trong sinh hoạt của con người, qua đó có thể suy ra những quá trình tâm lý bên trong Đây là phương pháp thu thập thông tin thực nghiệm từ khách thể nghiên cứu thông qua các giác quan để nghe, nhìn, cảm xúc là công cụ quan trọng cho việc thu nhận thông tin từ thực tế Ngoài việc sử dụng các giác quan để thu thập tài liệu, người quan sát có thể dùng máy ảnh, máy ghi

- Dựa vào mức độ chuẩn bị của quan sát người ta chia ra thành: Quan sát có chuẩn mực và quan sát không chuẩn mực Quan sát có chuẩn mực đi vào các yếu tố có ý nghĩa nhất của các đối tượng nghiên cứu để tập trung chú ý Thường dùng để kiểm tra kết quả nhận được của phương pháp khác hoặc để nhận thức sâu về các đối tượng Quan sát không chuẩn mực chưa xác định các yếu tố có ý nghĩa Phương pháp này được dùng phổ biến cho lúc khởi đầu nghiên cứu Quan sát không chuẩn mực

là loại quan sát mà người quan sát chưa xác định được trước các yếu tố của đối tượng nghiên cứu

- Theo mức độ tham gia của người quan sát phương pháp quan sát cũng được chia làm hai loại: Quan sát có tham gia và quan sát không tham gia Quan sát có tham gia là khi người quan sát gia nhập vào hoạt động của nhóm người bị quan sát Ngược lại, quan sát không tham gia áp dụng khi người quan sát không tham gia vào hoạt động của người bị quan sát Quan sát có tham gia có kết quả cao hơn nhưng nếu bị phát hiện thì kém hiệu quả thậm chí phản tác dụng, gây nguy hiểm cho việc nghiên cứu và người thực hiện quan sát Quan sát không tham gia kết quả ít hơn nhưng dễ giữ bí mật

Trang 25

- Dựa vào mật độ thực hiện quan sát, có quan sát một lần và quan sát nhiều lần Quan sát nhiều lần độ chính xác cao hơn tuy nhiên phức tạp, tốn kém hơn đối với người quan sát và dễ gây phức tạp, phiền nhiễu cho người bị quan sát

Ngoài ra còn có quan sát công khai và quan sát bí mật Quan sát công khai là người thực hiện quan sát công khai mọi yêu cầu (thời gian, mức độ, nội dung ) cho người bị quan sát biết Còn quan sát bí mật là người quan sát giữ kín, không tiết lộ mọi thứ cho người bị quan sát biết Quan sát muốn đạt kết quả thường được tổ chức từ hai đến ba người cùng làm, sau đó đối chiếu, tổng hợp Ngoài ra, cũng nên quan sát bí mật,

vì nếu người ta biết mình đang bị quan sát sẽ không tự nhiên, các cử chỉ

sẽ trở nên gò bó không phản ánh đúng sự thực nữa

Khi sử dụng phương pháp quan sát trong nghiên cứu xã hội học cần lưu ý:

- Phải xác định rõ đối tượng, mục đích, không gian, thời gian của việc quan sát

- Mỗi một cách quan sát đều có ưu điểm nhưng cũng có hạn chế riêng Bởi vậy khi thực hiện quan sát, người quan sát phải biết lựa chọn cách thức, công cụ, phương tiện quan sát phù hợp Quan sát có một nhược điểm là số đối tượng được quan sát thường không được nhiều, do phải tốn người, tốn công quan sát Vì vậy, phương pháp quan sát chỉ dùng nếu phạm vi nghiên cứu hẹp, số đối tượng hạn chế

* Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn

Phương pháp đàm thoại: Phương pháp đàm thoại là nói chuyện giữa

người nghiên cứu và đối tượng Đây là phương pháp hay được áp dụng vì

nó có hiệu quả Nếu trò chuyện trong một không khí thân mật, chân thành, tin cậy, thoải mái có thể khiến người ta bộc lộ tâm tình, từ đó có thể hiểu được tâm trạng, cảm xúc, thái độ đối với vấn đề cần tìm hiểu

Có thể đàm thoại trực tiếp vào nội dung cần tìm hiểu, nếu vấn đề dễ bàn luận, nhưng cũng có thể phải đi vòng, nếu vấn đề tế nhị dễ đụng chạm

Để đàm thoại đạt kết quả phải:

- Xác định rõ mục tiêu để lái câu chuyện sang hướng cần nghiên cứu

Trang 26

- Trước khi đàm thoại phải tìm hiểu rõ đặc điểm tâm lý của đối tượng

- Chủ động dẫn dắt câu chuyện vì dễ đi lan man

- Có thể tranh luận nếu cần, để hiểu rõ thực chất suy nghĩ của đối tượng Nếu đàm thoại tốt, có thể làm cho việc nghiên cứu đạt kết quả Tuy nhiên, đàm thoại cũng tốn người, tốn công nên chỉ thực hiện ở phạm vi hẹp

Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp phỏng vấn là trao đổi giữa

người nghiên cứu và đối tượng, nhưng khác với đàm thoại ở chỗ người nghiên cứu hỏi để đối tượng trả lời theo một loạt câu hỏi đã chuẩn bị sẵn

Phương pháp phỏng vấn có nhiều ưu điểm:

- Hiệu quả thông tin cao, tránh đi lan man như khi đàm thoại vì có bảng câu hỏi

- Tiết kiệm thời gian, có thể làm việc với nhiều đối tượng

- Nắm được hành vi, thái độ của đối tượng

Tuy vậy, nó cũng có những hạn chế:

- Đối tượng có thể chọn cách trả lời chung chung, dung hoà, có thể trả lời thiếu trung thực Vì vậy, trước khi hỏi phải làm công tác tư tưởng

và trong bảng câu hỏi nên xen kẽ các câu hỏi kiểm tra

- Hạn chế về mặt thời gian và không có tính đại diện nếu phỏng vấn qua điện thoại

Tuy có hạn chế như vậy, nhưng phỏng vấn là phương pháp được dùng khá rộng rãi trong nghiên cứu xã hội học

Trang 27

* Phương pháp khảo sát xã hội

Phương pháp khảo sát xã hội giúp người nghiên cứu tìm kiếm thông tin từ xã hội làm dữ liệu phân tích bảo đảm sát thực với cuộc sống xã hội

và tranh thủ ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu Phương pháp này gồm:

Trưng cầu ý kiến: Phương pháp trưng cầu ý kiến cũng là một dạng

tương tự như hai phương pháp trên, nhưng thường thiên về hỏi gián tiếp qua phiếu thăm dò, qua đường gửi thư, hỏi qua ý kiến bạn đọc (báo viết),

ý kiến bạn xem (báo hình) Nội dung trưng cầu thường không quá phức tạp, đối tượng không xác định được trước (báo viết, báo hình), hoặc có thể xác định (đối tượng nhận phiếu, thư thăm dò)

Phương pháp này thường được tiến hành qua các bước chủ yếu như: chuẩn bị nội dung trưng cầu, chọn nhóm người (đối tượng trưng cầu), triển khai trưng cầu, dùng kỹ thuật thu thập thông tin…

Trưng cầu ý kiến có ưu điểm là có thể tiến hành với đông người (đủ mọi tầng lớp, giới, lứa tuổi và phạm vi rộng) Nhưng cũng có những hạn chế là số thông tin phản hồi không nhiều Vì vậy, phải tăng số lượng, phải trừ hao Trưng cầu ý kiến thường dùng để thăm dò ý kiến xã hội

Phương pháp chuyên gia: Đối với những hiện tượng xã hội không

dùng phương pháp thực nghiệm được thì phải áp dụng phương pháp chuyên gia Phương pháp này chủ yếu lấy ý kiến của các chuyên gia về một vấn đề xã hội nào đó

Chuyên gia là những người có chuyên môn giỏi và kinh nghiệm phong phú về một lĩnh vực xã hội nào đó đang cần nghiên cứu Vì vậy, ý kiến của họ thường có hàm lượng chất xám cao và giàu tính thực tiễn Cũng vì thế nên có thể coi là vẫn đảm bảo tính thực tiễn của quá trình nghiên cứu

Khâu cơ bản của phương pháp này là phải lựa chọn đúng các chuyên gia am hiểu thực sự vấn đề đang nghiên cứu và có trình độ cao Người ta thường chọn chuyên gia theo các cách:

- Xâu chuỗi: Chọn người đầu đàn về vấn đề nghiên cứu, sau đó nhờ người đó giới thiệu cho người khác Nếu cần thêm lại tiếp tục nhờ những người sau này giới thiệu thêm người khác nữa

Trang 28

- Dự kiến một số người rồi đề nghị từng người nhận xét (chỉ cho người lập nhóm chuyên gia biết) về chuyên môn những người kia Sau

đó lựa chọn những người được đa số nhận xét tốt

- Dự kiến số người và qua ý kiến của họ về vấn đề nghiên cứu để đánh giá trình độ của từng người

Sau khi đã tập hợp được nhóm chuyên gia phải nêu các vấn đề cần xem xét để các chuyên gia có thời gian chuẩn bị, sau đó mới lấy ý kiến Thông thường khi lấy ý kiến có thể họp toàn nhóm theo cách sau đây:

- So sánh (họp và có tranh luận giữa các chuyên gia)

- Tấn công não (khuyến khích tự do phát biểu, không tranh luận đánh giá sai, đúng)

c Phương pháp thực nghiệm, kiểm chứng thực tế

Thực nghiệm xã hội là đưa ra các vấn đề xã hội đã được xem xét, nghiên cứu về lý thuyết ra thực tiễn để xác minh xem trong các giả thuyết, lý thuyết cái nào đúng cái nào sai với thực tế xã hội Ngoài ra, thực nghiệm còn bổ sung thêm chi tiết, các xu hướng, các tình huống chưa được dự kiến, từ đó có thể hoàn chỉnh các biện pháp chính sách xã hội (thực nghiệm bổ sung) Thực nghiệm xã hội cũng dùng để xem xét

độ chuẩn xác của một kế hoạch, một dự án (thực nghiệm thí điểm) Để thực nghiệm đạt kết quả cần chú ý đến một số vấn đề sau:

- Lập quy trình nghiên cứu cẩn thận

- Xem xét kỹ các chuẩn bị lý thuyết, thực tế

- Chuẩn bị tốt địa bàn có tính đại diện cao, có sự phối hợp tích cực của các cơ quan, đoàn thể và nhân dân địa phương

Khi xác định nội dung thực nghiệm phải chú ý gọn, tập trung, không tham lam dàn trải ra quá nhiều nội dung khác nhau, đồng thời cũng chú ý kết hợp các nội dung gần nhau để các kết quả hỗ trợ cho nhau nhằm giảm chi phí Khâu tổng hợp và phân tích kết quả cũng hết sức quan trọng, nó quyết định sự thành bại của thực nghiệm, ở khâu này phải quán triệt phương pháp luận nghiên cứu xã hội học

Tóm lại, để nghiên cứu xã hội học người nghiên cứu có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Mỗi phương pháp nghiên cứu có đặc

Trang 29

điểm riêng, ưu điểm và hạn chế riêng Bởi vậy, người nghiên cứu phải biết căn cứ vào đối tượng, nội dung, thời gian, không gian nghiên cứu cụ thể để lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp, hiệu quả

III CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA XÃ HỘI HỌC

1 Chức năng của xã hội học

Có nhiều quan niệm khác nhau về xã hội học (xã hội học đại cương,

xã hội học chuyên ngành; xã hội học trừu tượng - lý thuyết, xã hội học cụ thể - thực nghiệm) nên chức năng của xã hội học khá đa dạng Song về

cơ bản có:

a Chức năng nhận thức

Là một môn khoa học xã hội, xã hội học trang bị cho người học những tri thức khoa học cơ bản về sự phát triển của xã hội theo những quy luật vốn có của nó, chỉ ra nguồn gốc, phương thức diễn biến và cơ chế của các quá trình phát triển xã hội, của các mối quan hệ giữa con người và xã hội Qua đó, xã hội học xây dựng và phát triển hệ thống lý luận, phương pháp luận nghiên cứu Xã hội học không chỉ thuần túy trang bị cho người nghiên cứu nó những tri thức hay hiểu biết có tính chất khoa học, khách quan về các vấn đề xã hội, về quy luật hình thành, phát triển và vận động xã hội mà còn bằng hệ thống phương pháp luận,

kỹ thuật và thao tác nghiên cứu khoa học để tìm ra quy luật, lý thuyết và các vấn đề lý luận nhờ tư duy khoa học và qua việc kiểm chứng các sự kiện đã quan sát được Theo quan điểm xã hội học Macxit thì nhận thức

xã hội phải dựa vào lập trường tư tưởng và thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải giúp con người nhận thức được đúng - sai, phải - trái và từ đó có hành động hữu ích, thích hợp

b Chức năng thực tiễn

Chức năng này thể hiện mục đích cao cả của từng con người hay cộng đồng xã hội là cải thiện xã hội và cải thiện cuộc sống nhân loại Thực tiễn chính là cơ sở cho sự ra đời của lý luận, song lý luận phải trở

về phục vụ thực tiễn Ở đây chức năng thực tiễn của xã hội học không chỉ đơn thuần là vận dụng các quy luật xã hội học vào hiện thực mà còn phải nắm bắt, giải quyết đúng đắn và kịp thời những vấn đề xã hội nảy sinh để

Trang 30

cải thiện tình hình xã hội Thông qua miêu tả phân tích, đánh giá thực trạng các hiện tượng và quá trình xã hội, xã hội học phải dự báo những

xu hướng vận động của các hiện tượng hay quá trình đó, phải dự báo những gì sẽ xảy ra trong tương lai, đồng thời đề xuất các giải pháp để kiểm soát, hay nói cách khác để có những quyết sách, quyết định quản lý

xã hội thích hợp Đến lượt nó, khi chức năng thực tiễn được thực hiện, thì những vấn đề lý luận cũng như phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu cũng được cọ xát, kiểm chứng và dần hoàn thiện

c Chức năng tư tưởng

Đây là chức năng nảy sinh từ bản chất và vai trò của hệ tư tưởng trong hệ thống xã hội Chức năng tư tưởng của xã hội học biểu hiện ở vai trò cung cấp nội dung khoa học của hệ tư tưởng, là cơ sở cho nhân sinh quan xã hội đúng đắn Chức năng tư tưởng của xã hội học thể hiện trên

hai khía cạnh Một là, xã hội học trang bị cho người nghiên cứu thế giới

quan khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, giáo dục ý thức về độc lập, tự do, về vai trò, trách nhiệm của công dân

trong sự nghiệp phát triển xã hội Hai là, xã hội học giúp người nghiên

cứu hình thành và phát triển phương pháp tư duy nghiên cứu khoa học và khả năng phê phán chống lại các quan điểm phi Macxit, lợi dụng xã hội học để phủ định vai trò của học thuyết Mác - Lênin hay phủ định định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta, đồng thời chống lại những tư tưởng sai lầm, bảo thủ, lạc hậu trong hoạt động thực tiễn

Ngoài các chức năng cơ bản trên, xã hội học còn có các chức năng

cụ thể hơn, như chức năng quản lý, chức năng công cụ

2 Nhiệm vụ của xã hội học

a Nghiên cứu lý luận

Nhiệm vụ hàng đầu của xã hội học là xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận xã hội học, bao gồm các khái niệm, phạm trù, lý thuyết khoa học riêng đặc thù Vì là khoa học non trẻ so với một số lĩnh vực khoa học khác cho nên xã hội học có thể và cần phải vừa xây dựng, vừa kế thừa sử dụng các khái niệm hay thuật ngữ của các ngành khoa học khác để khẳng định nó và phân biệt nó với các môn khoa học khác Các

Trang 31

khái niệm, phạm trù khoa học được sử dụng phổ biến trong xã hội học (như: con người xã hội, hành vi xã hội, hành động xã hội…) các "vấn đề

xã hội" (như: bất bình đẳng xã hội, phân tầng xã hội, cơ cấu xã hội…) hay việc phát triển nhân cách con người, xu hướng vận động và biến đổi

xã hội… phải được nghiên cứu một cách căn bản Cần hướng tới hình thành và phát triển hệ thống lý luận, phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

b Nghiên cứu thực nghiệm

Đây là một nhiệm vụ quan trọng của xã hội học với tư cách là một môn khoa học Thông qua nghiên cứu thực nghiệm để một mặt kiểm nghiệm, chứng minh các giả thiết khoa học; mặt khác để phát hiện những vấn đề mới nảy sinh, làm cơ sở cho việc sửa đổi, phát triển và hoàn thiện

hệ thống khái niệm, đồng thời thúc đẩy tư duy xã hội học

Nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm trong xã hội học đòi hỏi tập trung giải quyết các vấn đề: Kiểm chứng lý thuyết, phát hiện vấn đề mới từ thực tiễn hay qua thực nghiệm, định hướng giải quyết vấn đề mâu thuẫn trong đời sống xã hội Trong nghiên cứu xã hội nói chung và xã hội học nói riêng, nghiên cứu thực nghiệm có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì có nói gì

đi nữa thì đối tượng nghiên cứu và tác động của việc ứng dụng nghiên cứu là con người trong khi lý luận chỉ là giả thuyết, lý thuyết Một lý luận sai và không được kiểm nghiệm một cách nghiêm túc, khoa học thì hậu quả xã hội là khôn lường bởi nó thậm chí có thể hủy hoại cả một dân tộc

c Nghiên cứu ứng dụng

K Marx viết "Các nhà triết học cho tới nay mới chỉ giải thích thế giới Vấn đề là biến đổi thế giới"1 để khẳng định vai trò của khoa học nói chung không chỉ là nghiên cứu và giải thích thế giới mà phải cải tạo, biến đổi thế giới Do vậy, xã hội học không chỉ nghiên cứu để hiểu xã hội mà

có nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng tri thức khoa học vào đời sống Nghiên cứu ứng dụng hướng tới việc đề ra các giải pháp vận dụng những

1 Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới Tr.52

Trang 32

phát hiện của nghiên cứu lí luận và nghiên cứu thực nghiệm trong hoạt động thực tiễn Trên cơ sở nghiên cứu sự thực hành, vận hành và phát triển của các cộng đồng xã hội, các tổ chức và quá trình xã hội, các quan

hệ xã hội cũng như các hành vi xã hội, bằng các phương pháp khoa học chuyên ngành, xã hội học sẽ tìm ra được những kết luận chính xác về bản chất của sự kiện, hiện tượng hay quá trình đó, từ đó có các giải pháp để kiểm soát, hay nói cách khác để có những quyết sách hay quyết định quản lí xã hội thích hợp

NỘI DUNG ÔN TẬP

1 Điều kiện, tiền đề và lịch sử ra đời xã hội học

2 Bản chất xã hội học, đối tượng và phương pháp nghiên cứu

xã hội học

3 Chức năng và nhiệm vụ của xã hội học

Trang 33

xã hội Đây là lý do để các nhà xã hội học cho rằng hành động xã hội là một chủ đề cơ bản của xã hội học, thậm chí Weber còn coi hành động xã hội là đối tượng nghiên cứu của xã hội học Do vậy, khi nghiên cứu xã hội học đương nhiên phải nghiên cứu hành động xã hội, tương tác xã hội

và quan hệ xã hội

I HÀNH ĐỘNG XÃ HỘI

1 Khái niệm hành động xã hội

Đã có nhiều những bàn luận xoay quanh khái niệm hành động xã hội Tuy nhiên, mọi tranh luận chủ yếu đều hướng vào vấn đề quan trọng

và gây nhiều tranh cãi là cơ sở nào để xác định hành động xã hội

Trong lịch sử phát triển của khoa học tâm lý học, cũng như của xã hội học, các nhà khoa học đã từng tranh luận về nhận thức hành động của con người Thuyết tâm lý học hành vi, tiêu biểu là John Broadus Watson (người Mỹ, 1878-1958) cho rằng chúng ta không thể nhận biết được động cơ bên trong của hành động, mà chỉ nhận biết được giá trị của hành động qua tác động bên ngoài Ông tuyên bố: "Chúng tôi cần bắt đầu làm việc trong những lĩnh vực tâm lý học và đặt ra mục đích khách quan cho cuộc đấu tranh của chúng tôi không phải là ý thức mà là hành vi"

Những người theo trường phái này lập luận rằng thật khó để xác định ý nghĩa chủ quan của chủ thể hành động vì nó vô hình và nằm trong

Trang 34

tiềm thức của các chủ thể đó Thậm chí có người còn lý giải rằng có nhiều lúc không có sự ăn khớp giữa động cơ với hành động thực tế của chủ thể hành động, nói một đường (hay nghĩ một đường) nhưng làm một nẻo Từ đó họ chủ trương dựa vào hành vi hay kết quả của hành động để

xác định

Ngược lại, tư duy xã hội học lại thể hiện sự bao quát, toàn diện hơn

so với nhận thức về hành động của các nhà tâm lý hành vi mà Waton là đại biểu Nhiều nhà xã hội học như V Parento, G Mead, T Parsons đã cho rằng trong hành động của con người luôn hiện diện sự can thiệp của

ý thức Nhiều nhà xã hội học ủng hộ quan điểm với Parsons khi nghiên cứu hành động xã hội Trong số các nhà xã hội học thừa nhận yếu tố

ý thức can thiệp vào hành động của chủ thể, phải kể đến Weber

Max Weber trên cơ sở nghiên cứu hành động xã hội của chủ thể đã xây dựng lý thuyết hành động xã hội Lý thuyết của Weber chỉ ra con người không chỉ nhận thức được các giá trị bên ngoài mà còn nhận biết được cả động cơ bên trong của hành động Ông coi hành động xã hội là hạt nhân của mọi quan hệ giữa con người và xã hội, từ đó ông cho rằng hành động xã hội là đối tượng nghiên cứu của xã hội học Mặc dù chưa hoàn toàn thỏa mãn nhưng phần nhiều các nhà xã hội học đều thấy rằng nhận thức về hành động xã hội của Weber toàn diện, khoa học hơn so nhận thức về hành động của lý thuyết hành vi

Hành động xã hội là một thuật ngữ được dùng phổ biến trong học tập và nghiên cứu xã hội học Trong các ấn phẩm xã hội học ở nước ta

hiện nay, thuật ngữ hành động xã hội được diễn đạt rất đa dạng: thứ nhất:

"Hành động xã hội là một hành vi hướng đích gắn bó về nghĩa với hành

vi, với các kỳ vọng được cảm nhận hay được phỏng đoán của đối tác tương tác và được định hướng theo chuẩn mực và giá trị xã hội"1; thứ

hai, "Hành động xã hội là hành động được con người gắn cho một ý

nghĩa nhất định và hướng vào người khác"2; thứ ba, "Hành động xã hội

là hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người

1 G.Endruweit và G.Trommsdorff (2002), Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, (Ngụy Hữu Tâm

và Nguyễn Hoài Bão dịch) Tr 188

2 Lưu Hồng Minh (2010), Hỏi & đáp Xã hội học đại cương (xã hội học), Nxb Chính trị -

Hành chính Tr 79

Trang 35

khác, trong đường lối, quá trình của nó"1 Nhìn chung ở Việt Nam các nhà xã hội học cũng cơ bản thống nhất với nhận thức của Weber về hành động xã hội "Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức là Weber được coi là hoàn chỉnh nhất về hành động xã hội Ông cho rằng, hành động xã hội là một hành vi mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định"2 Mặc dù có nhiều cách diễn đạt về hành động xã hội, nhưng ở đây cần thống nhất nhận thức về hành động xã hội theo lý thuyết hành động

của nhà xã hội học Weber như sau, hành động xã hội là hành vi mà chủ

thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nhất định, hướng đến người khác,

có tính đến cách thức thực hiện hành động

Ví dụ, sau khi tốt nghiệp đại học, sinh viên M làm đơn gửi công ty X

để xin được làm việc Hành động nói trên của sinh viên M được gọi là hành động xã hội vì sinh viên có động cơ, có đích đến rất rõ ràng là xin làm việc ở một địa chỉ cơ quan cụ thể, để có thu nhập và phát triển bản thân Trong lĩnh vực kinh tế, một người sản xuất ra sản phẩm để bán thu tiền hay mua sản phẩm của người này bán cho người khác thu lãi chẳng hạn là hành động xã hội

Hành động xã hội được hình thành từ các hành động, giao tiếp của chủ thể, nhưng không phải tất cả các hành động và giao tiếp của chủ thể trong một thời gian nhất định đều là hành động xã hội Nói cách khác, trong cuộc sống hàng ngày, mỗi chủ thể thường có vô số hành động, giao tiếp nhưng không phải tất cả các hành động, giao tiếp đã xảy ra đều là hành động xã hội

Ví dụ, do mải mê tranh bóng, hai cầu thủ bóng đá va chạm vào nhau rất mạnh, sự va chạm này không được coi là hành động xã hội Nhưng nếu có cầu thủ cố tình va chạm với cầu thủ khác vì một lý do nào đó thì

đó là hành động xã hội Hay một người vì vội mà vô tình va chạm người khác, đó không là hành động xã hội, nhưng với mục đích bắt chuyện, làm quen hay gây gổ với họ mà va chạm thì đó lại là hành động xã hội

Định nghĩa của Weber về hành động xã hội cho thấy hành động xã hội là những hành động phải hướng về người khác, vì con người, do đó những hành động chỉ hướng về sự vật mà không tính đến các hành vi của

Trang 36

người khác thì không được coi là hành động xã hội Ví dụ, hành động khai thác rừng một cách tùy tiện chỉ vì lợi ích kinh tế cá nhân (hay nhóm) trước mắt, bất chấp pháp luật và lợi ích cộng đồng thì không phải là hành động xã hội Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng từ những người khác thì không phải là hành động xã hội

Định nghĩa hành động xã hội của Weber còn chỉ ra cơ cấu của hành động Weber đã chú trọng nghiên cứu yếu tố bên trong (động cơ) của hành động, và xem yếu tố này là nguyên nhân của hành động xã hội Ông cho rằng, một hành động mà chủ thể không nghĩ về nó thì không thể là một hành động xã hội, nếu hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội

Ngoài ra định nghĩa về hành động xã hội của Weber cho thấy chúng

ta vừa nhận biết được tác động bên ngoài, vừa nhận biết được cả động cơ (nguyên nhân) bên trong thúc đẩy hành động, nghĩa là nhận diện được cả

cơ cấu (các yếu tố cấu thành) của hành động Do đó, nó giúp chúng ta nhận thức bản chất của hành động chính xác hơn, đúng đắn hơn so với nhận thức về hành động của lý thuyết hành vi (khác về chất so với thuyết hành vi)

2 Phân biệt hành động xã hội với hành vi xã hội, hành động vật lý - bản năng

a Hành vi xã hội

Các thuật ngữ hành vi xã hội và hành động xã hội là những thuật ngữ được dùng phổ biến trong nghiên cứu tâm lý xã hội và xã hội học, có lúc được các nhà nghiên cứu xã hội học dùng thay thế cho nhau, nhưng không phải vì thế mà chúng ta đồng nhất các thuật ngữ này Do đó, việc phân biệt để hiểu nội hàm và cách sử dụng các khái niệm trên trong nghiên cứu xã hội học là hoàn toàn cần thiết

Hành vi được nghiên cứu nhiều trong lý thuyết hành vi, được phát triển ở Mỹ mà đại biểu là nhà tâm lý học J Watson Theo ông, hành vi là một chuỗi các mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng, là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học Ban đầu, lý thuyết này cho rằng con người chỉ quan sát được những biểu hiện bên ngoài của hành động, không thể nghiên cứu được những yếu tố bên trong (vì không quan sát được) của

Trang 37

hành vi Hành vi là những phản ứng máy móc, không có sự tham gia từ ý thức của chủ thể, nhưng có thể quan sát được sau các tác nhân

Tóm lại, hành vi là những phản ứng, cách ứng xử có thể quan sát

được của một chủ thể trước một tác nhân Ví dụ, một người bị chê bai thì

buồn chán, được thưởng thì vui cười, bị đánh thì bỏ chạy… Đó là những phản ứng tự nhiên, bột phát mà chủ thể không hề lý giải được tại sao lại như vậy

Lý thuyết hành vi được tiếp tục phát triển bởi các nhà hành vi xã hội, tiêu biểu là nhà xã hội học người Mỹ, George Herbert Mead (1863-1931) Theo ông, khi nghiên cứu hành vi của con người cần chỉ ra mối liên hệ giữa hành vi và tác nhân, đồng thời cần tìm ra cơ cấu của hành vi Từ đây, nội hàm khái niệm hành vi của lý thuyết hành vi ban đầu dần được

mở rộng, chứa đựng các yếu tố xã hội (tính xã hội của hành vi) Các nhà hành vi xã hội cho rằng giữa tác nhân và phản ứng phải có yếu tố trung gian như hệ thống nhu cầu, các giá trị… G Mead cho rằng các cá nhân phải suy nghĩ, cân nhắc trước khi phản ứng tác nhân, không phản ứng một cách máy móc Ví dụ, khi ta đi cắt tóc, người thợ cắt tóc mài dao trước mặt chúng ta, chúng ta không bỏ chạy vì cho rằng đó là việc làm bình thường của họ và không đe dọa đến mình

Lý thuyết hành vi xã hội đã khắc phục hạn chế của lý thuyết hành vi,

đã chỉ ra cần phải tìm hiểu mối liên hệ giữa phản ứng và tác nhân cũng

như hệ thống của hành vi Chúng ta có thể nói rằng hành vi xã hội là một

chỉnh thể thống nhất gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau Nội dung này gần gũi với nội dung khái niệm hành

động xã hội của Weber Hiện nay, trong các ấn phẩm xã hội học chúng ta thường thấy các tác giả sử dụng hai khái niệm hành vi xã hội và hành động xã hội là tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu, không thể đồng nhất hai khái niệm này Qua phân tích trên cho thấy, khi nghiên cứu hành động hướng ra ngoài (hướng tới người khác) người ta thường dùng thuật ngữ hành động xã hội, ngược lại nếu việc nghiên cứu thiên về tâm lý họ thường dùng thuật ngữ hành vi xã hội

b Hành động vật lý - bản năng

Hành động vật lý - bản năng là những hành động hầu như không có

sự chi phối của ý thức, chủ thể hành động không suy nghĩ hay không kịp

Trang 38

suy tính Chủ thể của hành động này bỏ qua các yếu tố môi trường xung quanh và không nghĩ tới hậu quả sau hành động của mình Ví dụ: 1) về hành động bản năng như đói thì đòi ăn, khát thì đòi uống, khi chạm tay vào nước nóng thì rụt tay lại; 2) về hành động vật lý như khi ta đang chạy vấp phải vật cản nên ta bị ngã

Sự khác biệt giữa hành động xã hội và hành động vật lý - bản năng được nhà xã hội học Mỹ, Talcott Parsons (1902-1979) chỉ ra ở các nội dung sau:

Thứ nhất: Hành động xã hội có cơ chế biểu tượng (ngôn ngữ, cử chỉ,

hình ảnh hay các giá trị) điều chỉnh, mọi người trong cộng đồng đều hiểu

và thực hành trong cuộc sống Ví dụ, khi A và B trao đổi với nhau, thấy

B gật đầu (hay lắc đầu) thì A có thể hiểu là B đồng ý hay không đồng ý với mình

Ngược lại, hành động vật lý - bản năng xuất hiện không thông qua những đặc trưng, biểu tượng Ví dụ, hành động lắc đầu của một người nào đó, xét từ góc độ vật lý - bản năng được hiểu đơn giản là do người đó đau hay mỏi gây nên

Tóm lại, nếu như hành động vật lý - bản năng sinh học được coi là một phản ứng trực tiếp với tác nhân thì hành động xã hội là một phản ứng gián tiếp thông qua các biểu tượng

Thứ hai, hành động xã hội có tính chuẩn mực, còn hành động vật lý -

bản năng không có tính chuẩn mực Điều này được hiểu là hành động xã hội của các chủ thể phụ thuộc vào hệ thống các giá trị và chuẩn mực của

xã hội, ngược lại hành động vật lý - bản năng thì không có tính chuẩn mực Trước khi thực hiện hành động xã hội, chủ thể phải dành thời gian nhất định để qui chiếu với hệ giá trị của cộng đồng như đúng - sai, tốt - xấu, có sự ủng hộ hay phản đối của cộng đồng Vì vậy, trước khi mỗi chủ thể có phản ứng đều cần cân nhắc phản ứng như vậy có lợi hay không có lợi, phản ứng vì cái gì, phản ứng như vậy có được không… Ví

dụ, sinh viên giơ tay xin phát biểu trong giờ học Hành động này của sinh viên phản ánh nhu cầu muốn được trình bày chính kiến, hành động giơ tay được hiểu là qui ước (biểu tượng) được cộng đồng thừa nhận là hành động xã hội Còn hành động vật lý - bản năng thì không có tính chuẩn

Trang 39

mực Ví dụ, trong lớp học, mọi người đang chăm chú nghe giáo viên giảng bài, bất ngờ có tiếng trao đổi cá nhân gây ồn ào, mất trật tự do vài học sinh tự phát gây ra, hành động này sẽ không được mọi người trong phòng họp đồng tình Đó chỉ là hành động vật lý - bản năng

Thứ ba, tính duy lý của hành động xã hội Hành động xã hội có tính

duy lý, còn hành động vật lý - bản năng thì không Tính duy lý của hành động xã hội thể hiện ở chỗ mọi người đều có tính độc lập nhất định khi hành động Cá nhân có thể đơn phương quyết định thực hiện hành động một cách chủ quan dựa vào hệ giá trị, chuẩn mực chính thống của xã hội

và các cơ chế điều chỉnh khác mà họ xác định được Cá nhân nhận định tình huống, hoàn cảnh, tính toán phương án hành động và hậu quả của nó Điều này thể hiện bản lĩnh, tính quyết đoán, dám làm, dám chịu trách nhiệm

cá nhân trước hành động của mình, nó có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định sự thành bại trong hoạt động của cá nhân hay xã hội, nhất là với những người giữ vị trí lãnh đạo được ví như các "tư lệnh" của hành động Tuy nhiên, nhận định một tình huống, một hoàn cảnh, lựa chọn một phương án đúng hay sai, tốt hay xấu thuộc về ý thức cá nhân Bởi vậy, nếu nhận định của chúng ta không đúng (không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, không có phương án hành động đúng ) thì hành động của chúng ta sẽ không đạt kết quả mong muốn Trong trường hợp này, chủ thể gây hành động sẽ trở nên "vô duyên", hoặc gây tổn thương, tổn thất cho chính mình Ví dụ, trong lúc điểm danh, khi giảng viên đọc tên sinh viên A, thì bất ngờ sinh viên B lại nói "Có" và đứng dậy Sự phản ứng vội vàng do không chú ý của sinh viên B khiến mọi người phản ứng, còn sinh viên B thấy lúng túng, ngượng ngùng khi hiểu rõ nội dung Hay bà

A đưa tiền cho chị T để cho ông X vay, vì nghe chị T nói ông X vay của nhiều người và trả lãi/tháng cao lại sòng phẳng Sự thật, bà A chỉ nhận được tiền lãi trong mấy tháng đầu tiên từ chị T, sau đó bà A không còn nhận được tiền lãi và cũng không biết tìm chị T và ông X ở đâu để đòi tiền Trong trường hợp này, bà A có thể bị mất tiền vì không nhận thức

rõ bản chất "vay tiền" của chị T và ông X, vì thực chất hoạt động của họ chỉ là lừa đảo

Ngoài ra, thông thường với hành động vật lý - bản năng, chủ thể hành động ở trạng thái bị động, thụ động Ngược lại, hành động xã hội

Trang 40

mọi chủ thể hành động đều chủ động vì trước và trong khi hành động chủ thể đã có nhu cầu, động cơ và có sự tính toán

3 Cấu trúc hành động xã hội (Các yếu tố cấu thành hành động

xã hội)

Như phần trên đã trình bày, định nghĩa của Weber về hành động

xã hội cho thấy hành động xã hội là một tập hợp các yếu tố, có yếu tố trực tiếp quan sát được, có yếu tố không trực tiếp quan sát được Cấu trúc hành động xã hội thường bao gồm:

- Nhu cầu, động cơ: Là yếu tố nằm bên trong chủ thể, không lộ ra

ngoài như hành vi nhưng con người nhận thức được yếu tố này, là khởi điểm của hành động xã hội, được Weber cho là động cơ thúc đẩy hành động Động cơ là thành tố đầu tiên trong cấu trúc của hành động xã hội

và là nguyên nhân của hành động xã hội Nếu không có nhu cầu hay động cơ thì sẽ không có hành động; nhu cầu càng lớn, động cơ càng mạnh càng thôi thúc chủ thể xã hội hành động; động cơ thế nào hành động sẽ được lái theo hướng đó Ví dụ, sinh viên đi học để có bằng cấp hay kiến thức? Nếu cần kiến thức họ sẽ học như thế nào, còn nếu chỉ vì bằng cấp họ sẽ làm gì? Trong kinh tế thị trường nhu cầu sinh lợi thôi thúc doanh nhân hành động kinh doanh, nhu cầu lợi nhuận càng lớn càng thúc đẩy doanh nhân hành động mạnh, kể cả sự liều lĩnh

- Chủ thể hành động: Được hiểu có thể là cá nhân, tổ chức, nhóm xã

hội, cộng đồng xã hội, toàn thể xã hội Đây là chủ nhân của hành động xã hội, yếu tố trung tâm, quyết định hành động xã hội Chẳng hạn trong đời sống kinh tế, để hoạt động sản xuất cần có đủ ba yếu tố cơ bản (đối tượng lao động, tư liệu lao động, sức lao động), song sức lao động (con người) luôn là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất

- Hoàn cảnh (môi trường) của hành động: Được hiểu là những điều

kiện về thời gian, không gian vật chất và tinh thần, bối cảnh xã hội của hành động Môi trường tác động rất rõ đến hành động, khiến nhiều nhà

xã hội học gọi đó là sự kiềm chế thực tế Ví dụ, khi ta đi dự một bữa tiệc, mặc dù thức ăn đã được bày sẵn, đầy đủ và bản thân ta thì đói rồi, rất muốn ăn (có nhu cầu ăn) nhưng vì trong mâm cơm chưa đủ người nên ta phải tự kiềm chế, đợi mọi người đến đông đủ rồi cùng ăn Trong lĩnh vực kinh tế có thể hiểu đây là môi trường kinh doanh

Ngày đăng: 15/07/2022, 16:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Có thể biểu diễn mối quan hệ nói trên theo mơ hình sau1: - Giáo trình Xã hội học đại cương: Phần 1 - Võ Tá Tri, Vũ Văn Hùng (Đồng chủ biên)
th ể biểu diễn mối quan hệ nói trên theo mơ hình sau1: (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm