1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Văn hóa Việt Nam (Nghề: Hướng dẫn du lịch - Cao đẳng): Phần 2 - Trường Cao đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn

103 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Trong Văn Hóa Việt Nam
Trường học Trường Cao đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn
Chuyên ngành Hướng dẫn du lịch
Thể loại giáo trình
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 897,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Văn hóa Việt Nam (Nghề: Hướng dẫn du lịch - Cao đẳng) nhằm giúp học viên nắm vững những kiến thức về văn hóa trên cơ sở phương pháp luận về văn hóa, những giá trị tiêu biểu của Việt Nam, của các vùng miền trong điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội. Phần 2 của giáo trình cung cấp những nội dung về: tín ngưỡng và tôn giáo trong văn hóa Việt Nam; phân vùng văn hóa Việt Nam;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

BÀI 3: TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

- Trình bày được khái niệm về phong tục và lễ hội Mô tả được nội dung của

một số phong tục cũng như lễ hội tiêu biểu cho bản sắc văn hóa Việt Nam

Giải thích từ tín ngưỡng, GS.Đào Duy Anh viết là: “Lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” Trong khi đó, giải thích từ tôn giáo, ông lại viết: “Một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên ước giới để khiến người ta tín ngưỡng”

Trong đời sống ngôn ngữ, xã hội, cả hai thuật ngữ tôn giáo, tín ngưỡng đều tôn tại Sự phân biệt giữa hai thuật ngữ chủ yếu ở mức độ niềm tin và cơ cấu tổ

Trang 2

chức của hai hiện tượng xã hội Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật được gửi gắm vào niềm tin tưởng của con người Quá trình ấy có thể

là quá trình huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật phụng thờ Mặt khác, giữa các tín ngưỡng đều có những đan xen và trong từng tín ngưỡng đều có nhiều lớp văn hóa lắng đọng

1.2 Một số hình thái tín ngưỡng Việt Nam

1.2.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; phong tục thờ cúng tổ tiên hay còn gọi được gọi khái quát là Đạo Ông Bà là tục lệ thờ cúng những người đã chết; đặc biệt là tổ tiên; của nhiều dân tộc Đông Nam Á và đặc biệt phát triển trong văn hóa Việt và văn hóa Trung Hoa Đối với người Việt; nó gần như trở thành một thứ tôn giáo; không gia đình nào không có bàn thờ tổ tiên trong nhà Trong tục thờ cúng tổ tiên; người Việt coi trọng việc cúng giỗ vào ngày mất (còn gọi là “kỵ nhật”) thường được tính theo Âm lịch (hay còn gọi là “ngày ta”)

Họ tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng Không chỉ ngày giỗ; việc cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào các ngày mồng một (ngày sóc); ngày rằm (ngày vọng); và các dịp lễ tết Những khi trong nhà có việc quan trọng như dựng vợ gả chồng; sinh con; làm nhà; đi xa; thi cử ; người Việt cũng dâng hương; làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ; hay để tạ ơn khi công việc thành công

Bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềm tin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau Con cháu thì thăm hỏi; khấn cáo tiền nhân Tổ tiên thì che chở; dẫn dắt hậu thế nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm

Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt tại nơi cao ráo; sạch sẽ và trang trọng nhất trong nhà (gian giữa đối với nhà một tầng; tầng trên cùng đối với nhà tầng) Trên bàn thờ thì bày bát hương; chân đèn; bài vị hay hình ảnh người quá cố Đồ cúng cơ bản không thể thiếu hương; hoa; chén nước lã Ngoài ra có thể có thêm thức ăn; trà rượu; và có khi có cả đồ vàng mã (quần áo đồ dùng làm bằng giấy); tiền âm phủ…

Trang 3

Sau khi tàn tuần hương; đồ vàng mã và tiền âm phủ được đem đốt; được gọi

là “hóa vàng”; còn chén rượu cúng thì đem rót xuống đống tàn vàng Tục truyền rằng phải làm như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế; vì hương khói bay lên trời; nước (rượu) hòa với lửa mà thấm xuống đất

Sau khi cúng giỗ; gia đình thường dọn thức ăn vừa cúng xong để cùng ăn; coi như hưởng lộc của tiền nhân Bạn bè thân thuộc cũng được mời đến dùng bữa; tức

là đi ăn giỗ

Một biến thể của việc cúng giỗ là tục thờ “hậu” do nhà chùa hay đình làng đảm nhiệm Trong trường hợp này người quá cố đã cúng tiền hay ruộng vào chùa hay đình để được hưởng lễ vật vào những ngày kỵ nhật

Vì kính trọng tổ tiên; người Việt coi việc tang ma là trọng sự; gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên

1.2.2 Tín ngưỡng thờ mẫu

Chế độ mẫu hệ còn để lại ảnh hưởng khá đậm trong đời sống xã hội cư dân Việt Nam Vì thế; người Việt có truyền thống thờ nữ thần; một đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng cư dân nông nghiệp Tín ngưỡng thờ nữ thần của người Việt có sức mạnh đến nỗi khi Phật giáo vào Giao Châu đã phải chấp nhận đan xen với nó; Huyền thoại về Man nương và nhà sư Khâu đà la là chứng tích cho việc đan xen này Bốn ngôi chùa quanh vùng Dâu (nay thuộc huyện Thuận Thành; tỉnh Bắc Ninh) thờ các nữ thần Pháp Vân; Pháp Vũ; Pháp Lôi và Pháp Điện Nói cách khác;

đó là bốn hiện tượng tự nhiên được nhân cách hoá thành thần linh và có sự tích hợp với Phật giáo để phát triển và tồn tại

Từ chỗ thờ các nữ thần mà hiện thân của nó là các hiện tượng tự nhiên như mây; mưa; sấm chớp; người Việt đã thờ phụng các vị nữ thần cai quản các vùng không gian Dần dà; tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện Như vậy; tín ngưỡng thờ Mẫu

có sự phát triển từ các hình thức sơ khai đến các hình thức phát triển cao là Mẫu tam phủ; tứ phủ

Điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu là một hệ thống có lớp lang tương đối nhất quán gồm:

Trang 4

Khi nhìn nhận tín ngưỡng thờ Mẫu; không thể không chú ý đến hiện tượng lên đồng Về bản chất; lên đồng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của các thần linh trong điện thần; của đạo mẫu và các ông đồng; bà đồng để cầu sức khoẻ; cầu may mắn; cầu tài lộc Đó là một trong những hiện tượng sa man giáo phổ biến rộng khắp trên thế giới chứ không riêng gì ở Việt Nam Trong hoạt động này; những khía cạnh mê tín rất dễ bị khai thác; đẩy con người tới mức cuồng tín; có thể gây nguy hiểm và thiệt hại cho tín đồ; cộng đồng…

Nhân vật của tín ngưỡng thờ Mẫu được phụng thờ ở các di tích mà dân gian gọi là phủ; đền; điện Gắn với các nhân vật phụng thờ và các di tích này là một lễ

Trang 5

hội Lễ hội của tín ngưỡng thờ Mẫu giống như các lễ hội khác trên những nét cơ bản

1.2.3 Tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng

Là một từ Hán; thành hoàng có nghĩa gốc ban đầu là hào bao quanh thành; nếu hào có nước sẽ gọi là trì (thành trì) Thành hoàng làng là một vị thần bảo trợ một thành quách cụ thể Tục thờ vị thần bảo trợ thành quách – tức thần thành hoàng

đã có từ Trung Quốc từ xưa; nói như Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục là có

từ thời Tam Quốc Dấu tích của việc thờ cúng này ở Trung Quốc người ta hay nhớ tới sự kiện năm 550; Mộ Dung Nghiễm thờ thần thành hoàng

Ở Việt Nam thời Bắc thuộc; Lý Nguyên Gia; sau đó là Cao Biền đã coi thần sông Tô Lịch làm thần thành hoàng thành Đại La Ở kỉ nguyên độc lập; các vương triều như Lý; Trần; Lê vẫn duy trì tục thờ thần thành hoàng của thành Thăng Long Nhà Nguyễn cho xây các miếu thờ thành hoàng ở các tỉnh và lập bài vị thờ thần thành hoàng các tỉnh trong miếu thờ thành hoàng ở kinh đô Huế

Trong khi đó; thành hoàng được phụng thờ ở các làng quê lại là một dòng chảy khác của tín ngưỡng thờ thành hoàng làng Với người dân ở cộng đồng làng xã; vị thần thành hoàng làng được coi như một vị thánh Mỗi một làng quê có một

vị thánh của mình: trống làng nào làng ấy đánh; thánh làng nào làng ấy thờ.Với các vương triều; vị thành hoàng làng được xem như một viên chức thay mặt triều đình; nhà vua coi sóc; chăm nom một làng quê cụ thể; bởi “viên chức” này do nhà vua đưa về các làng quê bằng một quyết định cụ thể: sắc phong (còn gọi là sắc thần) Các vương triều khác nhau sẽ các sắc phong thần khác nhau Một vị thành hoàng có thể có nhiều sắc phong khác nhau của các triều đại khác nhau Ngay một triều đại cũng có thể phong sắc nhiều lần cho một vị thần; nhưng số mĩ tự thì lần sau bao giờ cũng gia tăng hơn lần trước

Trong sự phát triển của tín ngưỡng thờ thành hoàng làng đáng chú ý là sự kiện năm 1572 (Hồng Phúc nguyên niên) nhà Lê sai Hàn lân viện đông các đại học sĩ; tiến sĩ Nguyễn Bính san định lại thần tích các vị thần ở các làng quê; do dân quê

Trang 6

khai báo nộp về cho triều đình Như thế; dưới ảnh hưởng của Nho giáo; Nguyễn Bính đã biên soạn lại các thần tích cho thành hệ thống Cần lưu ý là các lời khai của dân gian thực chất là quá trình sáng tạo của dân gian để nhằm thiêng hoá nhân vật được phụng thờ Toàn bộ vốn văn hoá mà người có được sẽ được dùng trong quá trình sáng tạo này Thành thử; trong thần tích các vị thần có nhiều lớp văn hoá từ các mảnh vụn của thần thoại đến văn hoá Nho giáo; phật giáo; Đạo giáo… Dưới bàn tay của Nguyễn Bính; thần tích- bản sáng tạo này của dân gian được nhào nặn dưới ánh sáng của tư tưởng Nho giáo Văn bản cố định này được đưa về các làng quê lưu giữ trong đình làng Và một lần nữa thần tích lại được sinh thành trong dân gian; bằng lời kể và trí tưởng tượng dân gian nhưng khởi phát của quá trình sinh thành này lại bắt đầu từ các nhà nho – nhân vật sáng tạo văn hoá ở các làng quê

Trong các thành hoàng làng được thờ phụng; có rất nhiều các nhân vật lịch

sử – văn hoá Có các vương triều hoặc người dân ở các làng quê đều đưa những nhân vật lịch sử – văn hoá vào làm thành hoàng làng Nói cách khác; các nhân vật lịch sử – văn hoá của dân tộc có sự hoá thân vào các thành hoàng làng

Thành hoàng làng ở các làng quê được thờ phụng trong đình làng và nghè (hay miếu tuỳ cách gọi của từng địa phương) như Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục đã ghi: Đình là nơi thờ vọng; miếu là nơi quỷ thần bằng y Thành hoàng của người Việt ở Nam Bộ chỉ có một thiết kế thờ phụng mà không có nghè (hay miếu)

Thành hoàng là nhân vật trung tâm của một sinh hoạt văn hoá mà dân các làng quê cũng như các nhà nghiên cứu dân gian gọi là lễ hội Đó là ngày tưởng niệm vị thánh của làng Nói cách khác; thành hoàng như một thanh nam châm hút tất cả các sinh hoạt văn hoá ở các làng quê để trình diễn trong một hay vài ngày tuỳ theo diễn trình ngày hội Đối với người dân; thành hoàng là chỗ dựa tinh thần; nơi gửi gắm niềm tin cho họ; giúp qua những khó khăn của cuộc đời đầy sóng gió

1.2.4 Tín ngưỡng phồn thực

Thực chất của tín ngưỡng phồn thực là khát vọng cầu mong sự sinh sôi nảy

nở của con người và tạo vật; lấy các biểu tượng về sinh thực khí và hành vi giao

Trang 7

phối làm đối tượng Tín ngưỡng này có mặt rất sớm trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á cổ đại nhưng có sự biến thiên khác nhau giữa các vùng; do sự ảnh hưởng của văn hoá Hán nhiều hay ít

Với người Việt; dấu vết của tín ngưỡng phồn thực còn lại cho chúng ta thấy

nó từng có mặt từ thời xa xưa Tượng linga; yoni bằng đất nung tìm thấy ở di tích

Mả Đống (Hà Nội); tượng người bằng đá có linga to quá cỡ ở Văn Điển; tượng nam nữ giao hợp trên nắp thạp đồng Đào Thịnh…chính là bằng chứng cho thấy sự gắn bó của tín ngưỡng này từ thời xa xưa với cư dân nơi đây

Sau này; một số vương triều do ảnh hưởng của văn hoá Hán đã đàn áp các dâm và dâm thần Tuy nhiên; tín ngưỡng này chỉ tự giải thể mà không hề mất đi; nó hội nhập và đan xen với các loại hình văn hoá nghệ thuật khác

Trong nghệ thuật; tranh dân gian Đông Hồ có hai bức tranh phảng phất hình bóng của tín ngưỡng này Đó là bức tranh hứng dừa và đánh ghen Điêu khắc đình làng của một số ngôi đình như đình Đông Viên (Ba Vì – Hà Nội); đình Phùng (Đan Phượng – Hà Nội); đình Thổ Tang (Phú Thọ); đình Đệ Tứ (Nam Định) còn khắc chạm hình nam nữ đùa giỡn nhau khi tắm ở hồ sen; hay đùa giỡn với nhau với cơ thể trần đầy gợi cảm

Trong văn học dân gian; số lượng câu đố mà người ta cho là đó tục giảng thanh; đố thanh giảng tục chính là lưu thanh còn sót lại của tín ngưỡng phồn thực thời xa xưa Trong văn học thành văn; từ Nguyễn Du đến Hồ Xuân Hương đã có những tác phẩm đầy tinh thần nhân văn khi vẽ lên những dáng vẻ đẹp đẽ; khoẻ mạnh của cơ thể con người

Đáng lưu ý là sự tồn tại của tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội cổ truyền Nhân vật phụng thờ của lễ hội cổ truyền một số làng quê chính là biểu tượng của phụng như Phật Thạch Quang theo truyền thuyết là con Man nương và nhà sư Khâu

đà la gửi vào cây dâu; cũng là một linga bằng đá Tín ngưỡng phồn thực tồn tại đậm đặc nhất là ở các trò diễn; trò chơi của một số lễ hội cổ truyền Có thể kể đến những trò diễn gợi bóng phảng phất tín ngưỡng này như trò chen của lễ hội làng Nga Hoàng (nay thuộc Bắc Giang); trò tắt đèn đêm giã La (Hà Nội); những trò diễn

Trang 8

mô phỏng lại hành vi giao phối bằng các biểu tượng như trò múa mo ở Sơn Đồng – Hoài Đức – Hà Nội ; trò múa gà phủ; múa tùng dí; trò bắt trạch trong chum ở làng Vân Trưng (Vĩnh Phúc) hoặc trong các lễ hội vùng Phong Châu (Phú Thọ)

Qua biến thiên lịch sử; dâu bể cuộc đời; tín ngưỡng phồn thực đã trở thành một thứ trầm tích văn hoá trong văn hoá Việt Nam [Dẫn theo Trần Quốc Vượng

(chủ biên), Cơ sở văn hóa Việt Nam, trang 91 - 97]

2.Tôn giáo

2.1 Khái niệm và những tác động của tôn giáo đến Việt Nam

Tùy theo từng góc tiếp cận mà người ta có thể định nghĩa tôn giáo khác nhau Tồn tại như một thực thể khách quan của lịch sử; tôn giáo là do con người sáng tạo

ra như định nghĩa của L Phơbách trong cuốn sách Sự ra đời của Kitô giáo từ thế kỉ XVIII: “Con người được tư duy thế nào; được sắp đặt thế nào thì Chúa của họ cũng

là thế Ý thức về Chúa là ý thức mà con người rút ra từ bản thân nó.” Quan niệm này của L Phơbách được Các Mác thời trẻ rất ưa thích và ông đã làm rõ thêm bằng quan niệm: “Sự khổ ải tôn giáo vừa là sự biểu hiện sự khổ ải hiện thực; lại vừa là

sự phản kháng lại sự khổ ải hiện thực đó Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh

bị áp bức; là trái tim của thế giới không có trái tim; cũng giống như nó là tinh thần của trạng thái không có tinh thần tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân.”

Như vậy trong mỗi tôn giáo; bao giờ cũng có hai yếu tố: cái trần tục và cái thiêng liêng; hay nói như Max Weber: Tôn giáo là một dạng của hoạt động cộng đồng gắn với cái siêu nhiên Với hai yếu tố này; vai trò của tôn giáo trong xã hội qua các thời kì lịch sử khác nhau có khác nhau Thái độ đối xử của giai cấp thống trị xã hội khác nhau với tôn giáo cũng khác nhau Dù vậy “một thực tế cho thấy; cho dù là thái độ; quan niệm; nội dung về tôn giáo luôn thay đổi và dù có thay đổi bao nhiêu đi nữa thì nó vẫn là một thực thể khách quan của lịch sử; sinh ra cùng với

xã hội loài người; do con người sáng tạo ra; rồi con người lại bị chi phối bởi nó Tôn giáo còn tồn tại lâu dài” (Đặng Nghiêm Vạn; Điểm qua tình hình tôn giáo hiện nay) Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân

Trang 9

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH viết: “Tín ngưỡng; tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng Chống mọi hành động vi phạm tự do; tín ngưỡng đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng làm tổn hại đến lợi ích Tổ quốc

và nhân dân” Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992; điều 70 viết:

“Công dân Việt Nam có quyền tín ngưỡng tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.”

Trong lịch sử nhân loại; tôn giáo không chỉ có quan hệ mật thiết mà còn có tác động mạnh mẽ đến các thành tố khác của văn hóa

Ở Việt Nam; qua trường kì lịch sử từng tồn tại các tôn giáo có tính phổ quát như Nho giáo; Phật giáo; Hồi giáo; Kitô giáo và Đạo giáo; nhưng lại có những tôn giáo chỉ có tính chất địa phương như Cao Đài; Hòa Hảo

2.2.Tôn giáo và tiếp thu tôn giáo trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam

2.2.1 Nho giáo

Còn gọi là đạo Nho (phương ngữ Nam Bộ gọi là đạo Nhu) hay Khổng giáo

Về chữ Nho; ông Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển giải thích: “Nguyên nghĩa chữ Nho to lớn lắm; một bên chữ nhân là người; một bên chữ nhu là cần; nghĩa là các người trong đời cần phải có… Ngày nay; chữ Nho nghĩa là người học giả có đủ tri thức.”

Nho giáo gắn liền với tên tuổi của những người sáng lập là Khổng Tử và các nhân vật kế tục như Mạnh Tử; Tuân Tử; Đổng Trọng Thư; Tư Mã Thiên; Trình Hạo; Trình Di…

+ Khổng Tử (551 – 479 TCN)

Ông tên là Khâu; tự là Trọng Ni; người nước Lỗ (nay thuộc Duyện Châu- Sơn Đông- Trung Quốc) Ông làm quan với nước Lỗ được ba năm và 13 năm đi

Trang 10

chu du các nước Phần lớn cuộc đời Khổng Tử dành cho sự nghiệp dạy học Người

ta truyền rằng học trò của Khổng Tử có 3000 người; trong số đó có 72 người được coi là người hiền (thất thập nhị hiền) Cùng với việc dạy học; Khổng Tử còn chỉnh

lí các sách: Thi; Thư; Lễ; Dịch và Xuân Thu Sau khi ông qua đời; học trò của ông ghi chép lại thành những lời nói và việc làm của ông cùng các môn đệ thành một tập sách gọi là Luận ngữ

+ Mạnh Tử (372 – 289 TCN):

Ông tên là Kha; người đất Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông – Trung Quốc) Ông là học trò của Tử Tư (tức Khổng Cấp- cháu đích tôn của Khổng Tử) Ông muốn học để ra làm quan nhưng không được toại nguyện Khi về già; cùng một số môn đệ thân tín; ông mở trường dạy học Tất cả những cuộc đối thoại của ông và một số vua các nước chư hầu; các học trò gắn bó mật thiết được ghi lại thành sách gọi chung là Mạnh Tử

Khi nhìn Nho giáo cần thấy từ Khổng Tử cho đến các nhân vật kế tục và mãi cho đến sau này; Nho giáo đã thay đổi khá nhiều Với Khổng Tử; ông rất quan tâm đến đạo đức; chủ trương dùng đạo đức để giữ gìn cho xã hội bình an Khổng Tử đề cập đến nhiều mặt như nhân; lễ; nghĩa; trí; tín; dũng nhưng nhiều hơn cả là chữ nhân Trong Luận ngữ có đến 60 lần Khổng Tử đề cập đến chữ nhân nhưng không

có khi nào giống nhau Mỗi lần; ông giải thích nội dung chữ nhân một cách khác nhau Khía cạnh thể hiện tập trung nhất của chữ nhân theo Khổng Tử là lòng thương người (ái nhân): điều mình không muốn thì không làm cho người khác; mình muốn lập thân thì cũng giúp cho người khác lập thân; mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt

Trong quan niệm về thế giới; Khổng Tử có những mâu thuẫn nhất định Thái

độ của ông về trời; đất; quỷ; thần không nhất quán Khi thì ông cho rằng trời đất không chi phối gì con người; khi thì ông cho ngược lại Đáng lưu ý; ông cho rằng trời là lực lượng có thể chi phối con người Theo ông “người quân tử phải sợ mệnh trời” Nói khác đi; ông là nhà tư tưởng thuộc phái duy tâm khách quan

Trang 11

Từ quan niệm về thế giới đến quan niệm về đạo đức; Khổng Tử chủ trương

“Cai trị dân mà dùng mệnh lệnh; đưa dân vào khuôn phép mà dùng hình phạt thì dân có thể tránh được tội lỗi nhưng không biết liêm sỉ Cai trị dân mà dùng đạo đức; đưa dân vào khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ và thực lòng; quy phục…” Trong việc chọn người cai trị dân; Khổng Tử chủ trương chính danh

Tư tưởng của Khổng Tử được Mạnh Tử kế thừa Mạnh Tử có một lòng tin ở mệnh trời Về đạo đức; Mạnh Tử đề cập đến tính thiện; một yếu tố mà ông cho là

có sớm trong con người khi sinh ra Các khái niệm như nhân; lễ; nghĩa; trí; tín là

sự thể hiện của tính thiện này Về đường lối chính trị; Mạnh Tử tiếp nối chủ trương nhân chính của Khổng Tử; nhưng ông không chủ trương khôi phục trật tự xã hội thời Tây Chu mà chủ trương thống nhất Đáng chú ý trong quan niệm chính trị của ông là thái độ trọng dân Ông nói: Dân là quý; thứ đến là đất nước; vua thì coi thường (Nguyên văn: Dân vi quý; xã tắc thứ chi; quân vi khinh.)

Các học giả đời sau đã kế tục và phát triển tư tưởng của ông Nhận xét của các tác giả bộ Lịch sử tư tưởng Việt Nam là đúng khi cho rằng: “Trải qua 25 thế kỉ phát triển; Nho giáo về sau đã khác nhiều so với lúc nó mới xuất hiện Nhưng nó vẫn có một số nét chung Trước hết đó không phải là một tôn giáo; càng không phải

là một học thuyết triết học mà là một học thuyết chính trị – đạo đức của giai cấp phong kiến Trung Quốc.”

Ở Trung Quốc; phải đến nhà Tiền Hán; Nho giáo mới có bước ngoặt phát triển; trở thành tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến

Ở Việt Nam; Nho giáo được truyền bá vào Giao Châu (tức phần đất Bắc Bộ hiện nay) từ rất sớm bởi những người Trung Quốc mà phần lớn là quan lại của chính quyền đô hộ; cho nên thái độ tiếp nhận của người Việt rất dè dặt Vì thế; vị trí của Nho giáo trong xã hội vẫn rất khiêm tốn

Mặt khác; suốt thời Bắc thuộc; Nho giáo phát triển giữa hai xu hướng tâm lí

xã hội Người Hán thì muốn Hán hoá Giao Châu mà người Việt thì chống lại việc Hán hoá Sau thời Bắc thuộc; dưới các triều đại Ngô; Đinh; Tiền; Lê; Nho giáo cũng chưa phát triển Đến nhà Lý; dù vương triều này trọng dụng Phật giáo nhưng

Trang 12

khi quản lí xã hội; giai cấp cầm quyền lại dựa vào Nho giáo Chính nhà Lý lập Quốc Tử Giám; Văn Miếu; tổ chức thi cử theo nội dung Nho học Tuy nhiên; Nho

sĩ chưa thành một lực lượng xã hội lớn Dưới thời nhà Trần; Phật giáo càng tỏ rõ sự bất lực của mình; tầng lớp nho sĩ đông hơn khiến Nho giáo càng phát triển; có vị thế trong xã hội Sau cuộc kháng chiến chống quân Minh; để bổ sung vào tầng lớp quan lại; nhà Lê tìm đến biện pháp quân công và thi cử Từ năm 1442 trở đi; chế độ khoa cử ổn định; nho sĩ ngày càng đông lên trong xã hội Nho giáo dần chiếm địa

vị độc tôn; chi phối nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội Thế kỉ XVI – XVII; Nho giáo vẫn là công cụ để giai cấp thống trị xây dựng chính quyền và quản lí trật tự xã hội

Thế kỉ XVIII; Nho giáo bị suy thoái Đến thời nhà Nguyễn Gia Long; Nho giáo lại có địa vị ưu thế trong đời sống xã hội Sự tồn tại của Nho giáo bị ran vỡ khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp nổ ở Việt Nam; nhưng việc chấm dứt vai trò là chỗ dựa của vương triều phong kiến của Nho giáo phải đợi đến Cách mạng tháng Tám năm 1945

Là một thành tố của văn hoá Việt Nam; Nho giáo có một ảnh hưởng rất lớn đối với diện mạo cũng như nội dung các thành tố văn hoá khác Với tư cách là một học thuyết chính trị; đạo đức; Nho giáo có vai trò như một tố chất trong nho sĩ Tâm tư; tình cảm; tư tưởng và lối sống của nhà nho Việt Nam chịu ảnh hưởng của Nho giáo là lẽ đương nhiên Vốn dĩ là thành viên của những cộng đồng làng xã; nhà nho sống ở thôn quê; họ là một kiểu nhân vật văn hoá; vừa truyền bá những khía cạnh tư tưởng; đạo đức Nho giáo một cách chủ định và không chủ định thông qua việc dạy học và giao tiếp ở làng xã; vừa sáng tạo; lưu giữ văn hoá Con đường đến với quảng đại người nông dân trong làng xã của Nho giáo; qua tầng lớp nho sĩ quả có hiệu lực

Đáng lưu ý nhất là tầng lớp trí thức trong xã hội từ thế kỉ XV trở về sau chính

là các nhà nho Do vậy; sáng tạo văn hoá của họ chứa tư tưởng Khổng Mạnh là lẽ

tự nhiên Từ Nguyễn Trãi đến Lê Thánh Tông; Từ Nguyễn Bỉnh Khiêm tới Lê Quý Đôn… Trước tác của những nhân vật văn hoá tiêu biểu của đất nước thể hiện tư tưởng Nho giáo là điều không thể tránh khỏi Suốt trong quá trình phát triển lịch sử

Trang 13

phát triển ở Việt Nam; Nho giáo có “độ khúc xạ”- chữ dùng của PGS Phan Ngọc –

do điều kiện xã hội; lịch sử và con người Việt Nam có khác với những điều kiện này ở Trung Hoa Do vậy; Nho giáo ở Việt Nam có những điều kiện khác so với Nho giáo ở Trung Quốc Những khái niệm nhân; nghĩa; lễ; trí; tín của nhà nho Việt Nam khác với chính các khái niệm ấy ở các nhà nho Trung Quốc Chữ dân của Mạnh Tử cũng khác chữ dân của các nhà nho Việt Nam mà tiêu biểu là Nguyễn Trãi: “Ta gặp trong thực tế một thứ Nho giáo không thuần nhất; đã luôn luôn dung hợp với tư tưởng Âm Dương; Phật; Đạo; lại kết hợp với tín ngưỡng; tập quán; tư tưởng địa phương nên khi tác động đến từng mặt của đời sống ở Việt Nam thì sắc thái Nho giáo của nó không nguyên vẹn mà đậm nhạt khác nhau.”

2.2.2 Phật giáo

Người sáng tạo ra Phật giáo là Siddhartha Gautama Ông sinh năm 563 TCN tại Kapilavastu Là hoàng tử của nhà vua Satđôđana; nước Capilavatu (ngày nay là vùng đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phần các bang Utta Prađesơ và Biha của Ấn Độ) Năm 29 tuổi; Siđhartha bỏ cung điện; bỏ cuộc sống giàu sang và gia đình để đi tìm cho mình một con đường giải thoát Năm 35 tuổi; Siđhartha nghĩ ra được một cách giải thoát Từ đó; ông được gọi là Buddha (Butđa) nghĩa là giác ngộ; mà ta quen gọi là Phật (hay là Bụt) Về sau; các đệ tử tôn xưng ông là Sakia Muni (Thích ca Mâu ni) Quãng đời còn lại; Phật đi các nơi để truyền

bá học thuyết của mình Năm 80 tuổi; Phật qua đời

Học thuyết Phật giáo là chân lí về nỗi đau khổ và sự giải thoát con người khỏi nỗi đau khổ Chân lí ấy được thể hiện ở Tứ diệu đế:

Trang 14

thành 12 nhân duyên Đó là một chuỗi liên tục các nguyên nhân giam hãm con người trong vòng sinh tử luân hồi

Như vậy; đặc điểm của Phật giáo nguyên thuỷ là không chấp nhận thần linh; chủ trương vô thần nhưng là duy tâm chủ quan

Sau khi Phật tổ qua đời; Đại hội Phật giáo lần thứ nhất được triệu tập vào thế

kỉ V TCN Kinh điển của Phật giáo đã được biên soạn bao gồm hai nội dung chính

là Pháp và Luật Pháp là những lời thuyết giáo của Phật được chép lại theo kí ức của đệ tử Luật là qui chế do đại hội thảo ra Một trăm năm sau; Đại hội lần thứ hai được triệu tập Số đông tín đồ đòi chữa lại luật; họ bị Đại hội trục xuất nên đã thành lập một phái riêng gọi là phái Đại chúng bộ Chính phái này là tiền thân của phái Đại thừa sau này Đến thế kỉ III TCN; Đại hội lần thứ ba được triệu tập để chấn chỉnh tổ chức và giáo lí của mình Thời kì này là thời kì phát triển nhất của đạo Phật ở Ấn Độ Đến thế kỉ I sau công nguyên; Đại hội lần thứ IV được triệu tập Đại hội này đã thông qua giáo lí của Phật giáo cải cách và được gọi là phái Đại thừa để phân biệt với phái Phật giáo cũ là phái Tiểu thừa Sự khác nhau giữa hai phái được biểu hiện ở mấy mặt sau:

Thứ nhất; phái Tiểu thừa cho rằng những người xuất gia đi tu mới được cứu vớt nhưng phái Đại thừa lại cho rằng không chỉ có người tu hành mà cả những người quy y theo Phật cũng được cứu vớt và ai cũng có thể thành Phật

Thứ hai; phái Tiểu thừa quan niệm Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh; gắn với sự giác ngộ; tức là hư vô; trong khi phái Đại thừa quan niệm Niết bàn cũng như thiên đường; cũng là nơi cực lạc và đối lập với thiên đường là địa ngục

Đạo Phật được truyền sang châu Á bằng hai đường:

– Đường bộ từ phía đông Ấn Độ lên phía Tây Bắc Ấn Độ vào Trung Á rồi vòng sang phía Đông ra Đông Á

– Đường biển đến Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo

Trong những di tích liên quan đến văn hoá Óc Eo; người ta đã thấy sự hiện diện của hai tôn giáo: Ấn Độ giáo và Phật giáo cùng tồn tại

Trang 15

Ở Chămpa; Phật giáo được định vị với ngôi chùa ở Đồng Dương (năm 875) thờ Laksmindralokeevara

Ở Giao Châu; vào thế kỉ II đã có sư tăng người Ấn Độ như Khương Cư và Trung Quốc như Ma Ha Kì Vực; Tăng Hội; Chi Cương Lương; Mâu Tử vào truyền đạo Năm 580; thiền sư Tỳniđalưuchi lập Thiền phái đầu tiên Năm 820; thiền sư

Vô Ngôn Thông lập thiền phái thứ hai Luy Lâu là một trung tâm Phật giáo lớn vào những thế kỉ đầu công nguyên Nhiều cao tăng Trung Quốc trên đường sang Ấn Độ cầu kinh học đạo đều dừng lại ở Luy Lâu để học chữ Phạn và tiếp xúc với tăng sĩ

Ấn Độ có mặt tại đó Vào thế kỉ thứ X ở Đại Việt; thiền sư Ngô Chân Lưu được phong Khuông Việt đại sư Trong Phật giáo thời kì này đã xuất hiện những yếu tố Mật tông ở Hoa Lư Trong thời Lý và thời Trần; Phật giáo hưng thịnh với các dòng thiền Thiền Tỳ ni đa lưu chi và Vô Thông Ngôn; đồng thời có một phái mới đó là dòng Thiền do thiền sư Thảo Đường lập ra và phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông lập ra Sau một thời kì dài bị Nho giáo lấn át; từ giữa thế kỉ XVII; thiền phái Trúc Lâm được phục hưng ở Đàng Ngoài; thiền phái Lâm Tế và Tào Động phát triển ở Đàng Trong Dưới triều Nguyễn; thời vua Minh Mạng (1820 – 1840); vua Thiệu Trị (1841 – 1847); Phật giáo được hưng khởi sau một thời kì bị buông rơi Trên lát cắt đồng đại; Phật giáo ở Việt Nam tồn tại cả hai phái: Đại thừa và Tiểu thừa Với người Khơme Nam Bộ; Phật giáo ở đây là phái Tiểu thừa Trong khi đó; với người Việt; Phật giáo lại là Đại thừa

Là một tôn giáo có ảnh hưởng rất mạnh đến xã hội Việt Nam; Phật giáo với

tư cách là một tôn giáo; một thành tố văn hoá có ảnh hưởng đậm nét đến các thành

tố khác của văn hoá Việt Nam

2.2.3 Đạo giáo

Cần phân biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo Là một học thuyết; Đạo giáo triết học (Đạo gia) tập trung vào hai khái niệm Đạo (tức là con đường) và vô vi (tức không hành động) Trong khi đó; các phái khác nhau của Đạo giáo tôn giáo đều đi tìm sự trường sinh bất tử

– Lão Tử:

Trang 16

Ông tên là Lý Nhĩ; theo Tư Mã Thiên trong Sử ký; Lão Tử người nước Sở; còn có tên là Đam Cũng chính Tư Mã Thiên cho rằng Lão Tử từng làm thủ thư trong triều đình nhà Chu Sau khi từ bỏ chức vụ trong triều; theo truyền thuyết Lão

Tử đi sang phía Tây; tại đèo Tiên Cô theo yêu cầu của Doãn Hỉ Người soạn 5000 chữ của Đạo Đức kinh (các nhà khoa học sau này đã nghiên cứu và đi tới kết luận rằng tác phẩm này không thể soạn trước thế kỉ IV hay III TCN) Tác phẩm này của Lão Tử gồm 81 chương: 37 chương đầu là sách về đạo; 44 chương sau là sách về đức; sự phân chia này là do chương 1 bàn về đạo; chương 38 bàn về Đức Trong Đạo giáo; nhân vật Lão Tử đã được nâng lên hàng thần linh và được tôn kính như Thái Thượng lão quân hay Đại đức Thiên Tôn

– Trang Tử:

Ông là một nhà hiền triết; sinh khoảng 309; mất năm 286 TCN Người ta chỉ biết ông là người gốc Hà Nam.; tác giả cuốn sách nhan đề Trang Tử (còn gọi là Nam hoa chân kinh) Tác phẩm này có 33 thiên; trong đó 7 thiên đầu gọi là nội thiên do Trang Tử soạn; 15 thiên kế tiếp là ngoại thiên; 11 thiên còn lại gọi là tập thiên có lẽ là tác phẩm của các môn đệ

Đạo giáo có hai nhánh lớn: Truyền chân đạo và Thành nhất đạo Người ta cho rằng Truyền chân đạo là do Vương Thuần Dương sáng lập Trong Truyền chân đạo có sự tổng hợp của ba tôn giáo từng tồn tại ở Trung Quốc: Khổng giáo; Phật giáo và Đạo giáo

Trong khi đó; Thành nhất đạo có nguồn gốc từ Ngũ đấu mễ đạo do Trương Đạo Lăng sáng lập từ năm 126 đến 144 đời Đông Hán Phái này tồn tại ở Trung Quốc cho đến thế kỉ XV Về sau; đạo này được sát nhập vào Thành nhất đạo Khác với Truyền chân đạo; nghi thức của phái này đề cao vị thế của các phép phù thuỷ; niệm chú và các phương thuật

Ở Việt Nam; ảnh hưởng của Đạo giáo triết học chủ yếu diễn ra trong tầng lớp nho sĩ nhưng ảnh hưởng của Đạo giáo không đậm nét Sự đan xem giữa Đạo giáo phù thuỷ và các tín ngưỡng dân gian là phức tạp Thời Bắc thuộc; theo các tác giả Lịch sử tư tưởng Việt Nam: “Người Việt Nam lúc bấy giờ vẫn chịu ảnh hưởng

Trang 17

của Đạo giáo phù thuỷ vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín hiệu cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có; vì đó là con đường hy vọng để khắc phục những khổ đau xã hội và bệnh tật của con người đương thời; trong hi vọng đó chỉ có tác dụng an ủi Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tinh thần lãng mạn; muốn có cuộc đời dài lâu; muốn có cuộc sống tốt đẹp.”

Vì thế; ảnh hưởng Đạo gia và Đạo giáo trong văn hoá Việt Nam không phải

là nhỏ; nhất là các tín ngưỡng dân gian

2.2.4 Ki tô giáo

Là tên gọi chung của các tôn giáo thờ chúa Giêsu; bao gồm đạo Công giáo (với nghĩa là phổ quát); đạo Chính thống được tách ra từ thế kỉ XI; đạo Tin lành tách ra từ đạo Công giáo ở thế kỉ XVI và Anh giáo (chỉ có ở nước Anh và các thuộc địa của Anh) Ở Việt Nam; đạo Công giáo còn được gọi là Thiên Chúa giáo

Ra đời ở các tỉnh phía Đông của đế quốc La Mã cổ đại; nguồn gốc của Kitô giáo như F Ăng ghen đã nhận xét:“Nguồn gốc của Kitô giáo nguyên thuỷ là cuộc vận động của những người bị áp bức; đạo đó xuất hiện trước hết như một thứ tôn giáo của người nô lệ và bán tự do; của những người nghèo khổ và những người bị tước hết mọi quyền lợi; các dân tộc bị Rôma đô hộ hay làm tan tác” Sự phát triển của đạo Kitô trong lịch sử nhân loại lúc thăng; lúc trầm và đến hiện nay; Kitô giáo là tôn giáo có mặt ở hầu khắp các nước của các châu lục chứ không riêng gì ở châu

Âu

Giáo lí của Kitô giáo là Kinh thánh gồm hai bộ Cựu ước và Tân ước Bộ Cựu ước gồm 46 quyển có thể chia làm ba loại: loại sách lịch sử; loại sách văn thơ; loại sách tiên tri Bộ Tân ước gồm 17 quyển kể về cuộc đời và sự nghiệp của Chúa Giêsu; hoạt động của các thánh tông đồ; có thể chia thành bốn loại: sách tin mừng; sách công cụ sứ đồ; sách thánh thư; sách Khải huyền

Quan niệm về thế giới của Kitô giáo là niềm tin vào Thiên chúa và sự mầu nhiệm của Thiên chúa tiền định Vì thế; con người là do Thiên chúa sáng tạo; có nghĩa vụ thờ phụng chúa và tiếp tục công việc của chúa ở trái đất này Tổ chức của Kitô giáo được chia thành: giáo xứ; giáo phận; giáo hội quốc gia và giáo triều

Trang 18

Vatican; quyền lực tối cao và tuyệt đối thuộc về giáo hoàng Giáo hoàng có thể triệu tập các dòng tu và một số tu sĩ cao cấp Lịch sử giáo hội Công giáo đã trải qua

21 lần họp đại hội kiểu này mà người ta gọi là công đồng chung Từ tháng 10- 1962 đến tháng 12- 1965; công đồng thứ 21 được họp tại Vatincan; nên còn gọi là Công đồng Vatican II Ở Việt Nam; những năm đầu của thế kỉ XVI; các giáo sĩ phương Tây đã đến truyền đạo Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Năm Nguyên Hoà; đời vua Lê Trung Tôn – năm 1533; có một người Tây lương tên là Inêkhu theo đường biển lớn vào giảng đạo Giatô ở các làng Ninh Cường; Quần Anh; Trà Lũ thuộc tỉnh Nam Định” Những năm sau đó; người tích cực làm công việc truyền đạo Kitô vào Việt Nam là Alêcxđrơ đơ Rốt Naă 1644; Hội Thừa sai truyền giáo Pari chính thức ra đời và được giáo hoàng trao truyền truyền đạo từ Việt Nam; Trung Quốc xuống Đông Nam Á Cùng với việc truyền đạo; khá đông các giáo sĩ của Hội thừa sai truyền giáo Pari có những hoạt động thiếu trong sáng nhằm phục vụ cho âm mưu xâm lược của người Pháp Vì thế; các triều vua phong kiến; nhất là Nguyễn Gia Long đã ra các lệnh cấm đạo Lịch sử du nhập Kitô giáo vào Việt Nam; vì thế; không bình thường như các tôn giáo khác Sau khi người Pháp chiếm được nước ta; các nhà truyền đạo Kitô giáo đã được tự do truyền đạo vào Việt Nam

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công; nhà nước của nhân dân ra đời

Sự phát triển của Kitô giáo nằm trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật

Ảnh hưởng của Kitô giáo với văn hoá Việt Nam phải nhìn nhận ở khía cạnh chữ Quốc ngữ Để truyền đạo cho người Việt; các giáo sĩ đã dùng bộ chữ cái Latinh

để ghi âm tiếng Việt – thứ chữ ấy về sau được gọi là chữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ quả là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ phương Tây và những người Việt Nam theo đạo này Lúc đầu; người dân Việt Nam phản ứng không dùng chữ này; về sau; các trí thức đã hiểu được cái lợi của chữ Quốc ngữ trong việc nâng cao dân trí đã ra sức cổ động cho việc dùng chữ Quốc ngữ Từ chỗ là chữ lưu hành trong nội bộ đạo Kitô; chữ Quốc ngữ đã là chữ viết được cả dân tộc sử dụng [Dẫn theo Trần Quốc

Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, trang 78 - 91]

2.2.5 Tin lành

Trang 19

Tại Việt Nam, thuật ngữ Đạo Tin Lành (Evangelicalism) thường được chỉ về

một nhánh tôn giáo thuộc Cơ Đốc giáo (Kitô giáo) thuộc phong trào Kháng Cách,

để phân biệt với Giáo hội Công giáo "Tin Lành" cũng có thể coi là một cách gọi khác của "Tin Mừng" hay "Phúc Âm"

Vào thế kỷ XI, cụ thể là năm 1054 Ki-tô giáo diễn ra cuộc đại phân liệt lần thức nhất, một bên theo văn hoá Hy Lạp, một bên theo văn hoá La tinh, gọi là phân liệt Đông - Tây, hình thành tôn giáo mới ở phương Đông: Chính thống giáo (Orthodoxism) Tên gọi này biểu lộ quan điểm (Dox) thẳng thắn và đúng đắn (Ortho) của một "giáo thuyết về niềm tin chân thật" Đôi khi người ta gọi Chính thống giáo là Kitô giáo phương Đông Thậm chí trong một số văn cảnh, người ta dùng các từ Đông phương, Hy Lạp, Constantinople để chỉ Chính thống giáo, các từ: Tây phương, La tinh, Rôma để chỉ Công giáo

Thế kỷ XVI, cuộc đại phân liệt lần thứ hai diễn ra trong Công giáo, hình thành một tôn giáo mới - đạo Tin lành Giáo hội Công giáo và phong kiến châu Âu gọi là đạo chống đối - Protestantism, khi sang Trung Quốc, Protestantism dịch qua Hán gọi là "đạo Thệ phản" Cuộc đại phân liệt lần thứ hai thực chất là cuộc cải cách tôn giáo, cho nên trong nhiều trường hợp người ta còn gọi đạo Tin lành là "đạo Cải cách" (Reformism) Đạo Tin lành truyền vào Việt Nam đầu thế kỷ XX, ở miền Bắc được gọi theo cách của người Trung Quốc là "đạo Thệ phản", ở miền Trung gọi là

"đạo Giatô", ở miền Nam gọi là "đạo Huê Kỳ" Đầu những năm 20, 30 của thế kỷ

XX giáo sĩ Cadman người Canada thuộc Hội Truyền giáo Cơ đốc - CMA, cùng với văn sĩ Phan Khôi dịch Kinh thánh ra tiếng Việt Nam, hai ông không dịch Phúc âm (Evangelical) là "Tin mừng" như đạo Công giáo, mà dịch là "Tin lành" Cách gọi Phúc âm là Tin lành của những người theo đạo Cải cách (Thệ phản) dần dần thành thói quen và nhất là nó phân biệt được với đạo Công giáo nên người ta gọi luôn đạo Cải cách là đạo Tin lành cho đến ngày nay

Cùng thời gian với việc ra đời đạo Tin lành, xuất hiện một trào lưu cải cách theo cách riêng ở nước Anh hình thành Anh giáo - Angelicalsm

Như vậy, Kitô giáo hay Cơ đốc giáo bao gồm: Công giáo (Catholic), Chính thống giáo (Orthodoxsm), Tin lành (Protestantism), Anh giáo (Angelicalism), hay

Trang 20

nói cách khác, đạo Tin lành là "anh em" cùng một gốc với đạo Công giáo, đạo Chính thống và Anh giáo

*Hoàn cảnh và điều kiện ra đời đạo Tin lành

1 Đạo Tin lành ra đời ở châu Âu vào thế kỷ thế XVI có nguồn gốc chính trị,

xã hội sâu xa Trước hết là sự xuất hiện của giai cấp tư sản với những yêu cầu mới

về chính trị, xã hội, tư tưởng tôn giáo Trong điều kiện thời Trung cổ, Giáo hội Công giáo và giai cấp phong kiến có quan hệ chặt chẽ với nhau, đạo Công giáo trở thành chỗ dựa tư tưởng cho chế độ phong kiến, Giáo hội Công giáo bị chính trị hoá trở thành thế lực phong kiến, giai cấp tư sản đã thực hiện cuộc cải cách đạo Công giáo để "tháo bỏ hào quang tôn giáo" của giai cấp phong kiến, để thu hẹp dần lực lượng và ảnh hưởng của giai cấp phong kiến, trước khi tiến hành cuộc cách mạng

xã hội - cách mạng tư sản để lật đổ chế độ phong kiến

2 Đạo Tin lành ra đời thể hiện sự khủng hoảng nghiêm trọng về vai trò ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo do những tham vọng quyền lực trần thế và sự sa sút

về đạo đức của hàng giáo phẩm, nhất là sau cuộc "lưu đày Babylon" (1387 - 1417) Cùng với sự khủng hoảng, uy tín ảnh hưởng của Giáo hội là sự bế tắc của nền thần học Kinh viện (hình thành từ thế kỷ XII) - cơ sở quyền lực của Giáo hội Công giáo

3 Đạo Tin lành ra đời xét về mặt văn hoá, tư tưởng được thúc đẩy bằng phong trào Văn hóa phục hưng - chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa dân tộc ở châu Âu thế kỷ XV, XVI Với chủ trương đề cao con người, đề cao nhân tính, nhân quyền đối lại việc đề cao thần tính, thần quyền, đề cao tự do cá nhân, dân chủ và sự hưởng lạc, đối lại sự kìm hãm dục vọng và sự ràng buộc của chế độ phong kiến và luật lệ Công giáo, đề cao lòng yêu nước cụ thể đối lại đề cao lòng yêu Thiên Chúa và một nước Chúa chung chung diệu vợi Văn hoá phục hưng - chủ nghĩa nhân văn đã tạo

ra chiều kích mới về văn hoá, tư tưởng, cách nhìn mới về con người và tôn giáo, làm cơ sở cho việc nảy nở và tiếp thu những tư tưởng cải cách tôn giáo

4 Đạo Tin lành ra đời là sự kế thừa, tiếp nối các phong trào chống lại quyền lực Giáo hoàng và Giáo triều Rôma từ nhiều thế kỷ trước, mà tiêu biểu là một số phong trào từ thế kỷ XII trở đi, như: phong trào Albigeois (thế kỷ XII) ở Pháp,

Trang 21

phong trào Waldensians (thế kỷ XII) ở Pháp, phong trào John Wycilff (thế kỷ XIV)

ở Anh, phong trào Jerome Savararola (thế kỷ XV) ở Ý, và nhất là phong trào Jean Huss (thế kỷ XV) ở Tiệp…

5 Nguyên nhân trực tiếp hay đúng hơn là nguyên cớ của cuộc cải cách là đời sống sa hoa hưởng lạc của hàng giáo phẩm trong giáo triều Rôma và nhất là việc giáo hoàng Leon X ra lệnh ban ơn toàn xá cho những ai dâng cúng tiền của cho Giáo hội bằng cách cho bán "bùa xá tội" Những người xướng xuất và lãnh đạo cuộc cải cách không phải ai khác là những giáo sĩ Công giáo: linh mục, tiến sĩ Thần học Martin Luther (1483 - 1546), linh mục Thomas Munzer (1490 - 1525), linh mục Jean Calvin (1509 - 1564), linh mục Ubric Zwinghi (1484 - 1531)

Phong trào cải cách tôn giáo nổ ra đầu tiên ở Đức vào tháng 11 năm 1517 bằng việc Martin Luther công bố 95 luận đề chống lại chức vụ giáo hoàng, giáo quyền Rôma và việc bán "bùa xá tội" Từ nước Đức, phong trào lan sang các nước Pháp, Thụy Sĩ, Anh, Scốtlen, Ai-rơ-len, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy để đến giữa thế kỷ XVII, sau cuộc chiến tranh ba mươi năm (1618 - 1648) bất phân thắng bại, gây nhiều tổn thất, cả châu Âu và giáo triều Rôma chấp nhận những người cải cách và từ đó hình thành một tôn giáo mới tách ra khỏi đạo Công giáo - đạo Tin lành

* Quá trình truyền bá đạo Tin lành

Thế kỷ XVII giai cấp tư sản ở châu Âu bước lên vũ đài chính trị, tự khẳng định mình bằng một loạt cuộc cách mạng tư sản (cách mạng tư sản Anh 1640, cách mạng tư sản Pháp 1789 ) Đặc biệt, sau đó giai cấp tư sản châu Âu tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược ra bên ngoài để mở rộng thị trường và khai thác nguyên vật liệu Đạo Tin lành đã khai thác triệt để hoàn cảnh chính trị, xã hội nói trên nhằm mở rộng ảnh hưởng Nếu cuối thế kỷ XVII, mới có 30 triệu tín đồ thì cuối thế

kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, đạo Tin lành có đến trên 100 triệu tín đồ Thế kỷ XX, với hai cuộc chiến tranh thế giới (1914 - 1918, 1939 - 1945) và tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ như vũ bão đã tạo môi trường thuận lợi cho đạo Tin lành phát triển mở rộng ra nhiều nước trên thế giới Đạo Tin lành ra đời ở châu Âu, sau đó truyền sang các nước Bắc Mỹ Ở Bắc Mỹ gặp môi trường tự do, đạo Tin

Trang 22

lành phát triển, hình thành nhiều tổ chức, hệ phái Rồi từ Bắc Mỹ, bằng nhiều con đường, trong đó có việc nhờ dựa vào vị thế, ảnh hưởng của Mỹ, đạo Tin lành truyền trở lại châu Âu và lan toả ra toàn thế giới Đó là con đường phát triển của đạo Tin lành, đồng thời lý giải: cái nôi của đạo Tin lành ở châu Âu, còn trung tâm (điều hành) Tin lành thế giới ở Bắc Mỹ

Một điều cần quan tâm nữa, trong quá trình phát triển, trước đây và hiện nay, một mặt khai thác điều kiện thuận lợi như nói trên, mặt khác tự bản thân đạo Tin lành rất năng động, luôn luôn đổi mới và thích nghi, đặc biệt là chủ trương "nhập thế", lấy các hoạt động xã hội làm phương tiện, điều kiện để thu hút tín đồ Đồng thời do ra đời muộn, khi địa bàn truyền giáo ngày càng ít Từ rất sớm, đạo Tin lành

đã hướng các hoạt động truyền giáo đến vùng dân tộc thiểu số Trên bình diện thế giới vào những thế kỷ trước, châu Á, châu Phi, châu Mỹ là những vùng xa xôi của

"châu Âu văn minh" Hiện nay, đối với từng quốc gia, vùng miền núi, biên giới, hải đảo là những nơi dân tộc thiểu số sinh sống

Đến nay, chỉ gần năm trăm năm kể từ khi ra đời, đạo Tin lành phát triển với tốc độ rất nhanh, trở thành một tôn giáo lớn, đứng thứ ba sau đạo Hồi giáo, Công giáo với khoảng 550 triệu tín đồ của 285 hệ phái có mặt ở 135 nước của tất cả các châu lục, trong đó tập trung ở các nước công nghiệp tiên tiến như Tây Âu, Bắc Âu

và Bắc Mỹ

* Giáo lý, luật lệ, lễ nghi và tổ chức

Đạo Tin lành có nhiều tổ chức hệ phái Mặc dù có những điểm khác nhau về nghi thức hành đạo và cách tổ chức giáo hội giữa các hệ phái, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung, nguyên tắc chính Có thể khái quát giáo lý, luật

lệ, lễ nghi, tổ chức của đạo Tin lành để so sánh với đạo Công giáo như sau:

Trang 23

nghị quyết các Công đồng chung, các sắc chỉ, thông điệp của Giáo hoàng, về nguyên tắc cũng có giá trị như giáo lý Đạo Tin lành đề cao Kinh thánh một cách tuyệt đối, tất cả tín đồ và chức vụ mục sư, truyền đạo đều sử dụng Kinh thánh, nói

và làm theo Kinh thánh Đối với đạo Tin lành, Kinh thánh có vị trí cực kỳ quan trọng Trong các trường hợp, Kinh thánh giữ vai trò như một giáo sĩ trên cả hai phương diện mục vụ và truyền giáo

+ Giáo lý của đạo Tin lành và Công giáo về cơ bản giống nhau Cả hai tôn giáo đều thờ Thiên Chúa, tin theo thuyết "Thiên Chúa ba ngôi" (Ngôi Một: Cha, Ngôi Hai: Con, Ngôi Ba: Thánh thần; Ngôi Hai được "lưu xuất" từ Ngôi Một, Ngôi

Ba được "lưu xuất" từ Ngôi Một và Ngôi Hai); tin vũ trụ, muôn vật đều do Thiên Chúa tạo dựng và có điều khiển; tin con người do Thiên Chúa tạo dựng theo cách riêng và có phần hồn và phần xác; tin con người có tội lỗi; tin có Ngôi Hai Thiên Chúa là Giêsu Kitô xuống trần chịu nạn, chịu chết chuộc tội cho loài người; tin có Thiên thần và Ma quỷ, có Thiên đàng và Địa ngục; tin có ngày Phục sinh, Tận thế

và Phán xét cuối cùng

Tuy nhiên, có một số chi tiết trong một số tín điều truyền thống của đạo Công giáo được đạo Tin lành sửa đổi và lược bỏ tạo ra sự khác biệt nhất định giữa đạo Tin lành và Công giáo

+ Đạo Tin lành tin có sự hoài thai Chúa Giêsu một cách mầu nhiệm của bà Maria nhưng cho rằng bà Maria chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu, sau đó không còn đồng trinh nữa Thậm chí một số phái Tin lành cho rằng Kinh thánh nói

Bà Maria sau khi sinh Chúa Giêsu còn sinh cho ông Giuse một số người con khác một cách bình thường Một số phái Tin lành đã trích dẫn những câu Kinh thánh nói

về việc bà Maria có con thêm với ông Giuse, như trong sách Matheu ở chương 13

câu 54, 55 có nói: " Anh em Ngài (Chúa Giêsu) có phải là Giacô, Giosep, Simson, Giuđa ?" (Matheu 13; 55,56); hoặc sách Giăng chương 2, câu 12 còn nói rõ hơn:

"Sau việc đó, anh em và môn đệ Ngài (Chúa Giêsu) đều xuống thành Ca-bê-na-um"

(Giăng 2; 12) Do vậy, đạo Tin lành chỉ kính trọng chứ không tôn sùng thờ lạy bà Maria như đạo Công giáo Bà Maria chỉ có công sinh và nuôi dạy Chúa Giêsu, chứ không phải là mẹ của Thiên Chúa

Trang 24

+ Đạo Tin lành tin có Thiên sứ, có các thánh Tông đồ, các Thánh tử đạo và các Thánh khác, nhưng cũng chỉ kính trọng và noi gương, chứ không tôn sùng và thờ lạy họ như đạo Công giáo Đạo Tin lành không thờ các tranh ảnh, hình tượng cũng như các di vật Không tôn sùng và thực hiện hành hương đến các Thánh địa,

kể cả Giêrusalem, núi Xinai, đền thánh Phêrô và Phaolô

+ Đặc biệt, đạo Tin lành không thờ lạy các hình tượng và họ cho rằng Kinh

thánh đã dạy: "Hình tượng là công việc do tay người làm ra, hình tượng có miệng

mà không nói, có tai mà không nghe, có lỗ mũi mà chẳng ngửi, có tay nhưng không

rờ rẫm, có chân nào biết bước đi phàm kẻ nào làm hình tượng mà nhờ cậy nơi

đó, đều giống nó" (Thi thiên 115; 4-8)

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, đạo Tin lành có dùng các tranh ảnh, hình tượng trong sinh hoạt tôn giáo nhưng mang ý nghĩa tài liệu để giảng giải, truyền thụ

+ Đạo Tin lành tin có Thiên đàng, Hoả ngục nhưng không quá coi trọng tới mức dùng nó làm công cụ khuyên thưởng răn đe, trừng phạt đối với con người Đạo Tin lành không có Luyện ngục, nơi tạm giam các linh hồn mắc tội nhẹ đang chờ cứu vớt như đạo Công giáo Họ cho rằng Kinh thánh chỉ nói đến Thiên đường, Hoả ngục, không nói đến Luyện ngục

+ Trong bảy phép Bí tích của đạo Công giáo (Rửa tội, Thêm sức, Giải tội, Thánh thể, Sức dầu, Truyền chức, Hôn phối) đạo Tin lành chỉ thừa nhận và thực hiện phép Rửa tội (Bắptem), phép Thánh thể Vì họ cho rằng Kinh thánh chỉ nói đến những phép đó mà thôi Một số phái Tin lành có thêm lễ Dâng con trẻ cho

Trang 25

Thiên Chúa, dựa theo tích trong Cựu ước rằng A-bra-ham đã dâng con trai là Y-Sác cho đức Giê-hô-va

+ Đạo Tin lành cho rằng phép Bắptem không phải tẩy trừ tội lỗi một cách linh nghiệm mà đó là sự thay cũ đổi mới của mỗi con người, một sự liên lạc bằng lương tâm và lý trí đối với Chúa Trời Do vậy, người chịu Bắptem phải đủ tuổi để hiểu biết các lẽ đạo, và nhất là phải ăn ở trong sạch, không được phạm tội Nghi lễ Bắptem của đạo Tin lành được tiến hành theo lối cổ như thánh Gioan rửa tội cho Chúa Giêsu trên sông Gio-đăng bằng cách dìm cả người xuống nước, chứ không dội ít nước lên đầu một cách tượng trưng như Công giáo

+ Nguyên thuỷ, đạo Tin lành có 3 quan điểm về Lễ Thánh thể: M Luther tuy tuyên bố không công nhận "thuyết biến thể" nhưng lại cho rằng bánh và rượu trong

Lễ Thánh thể cũng là máu thịt Chúa Giêsu, uống rượu và ăn bánh là uống máu và

ăn thịt Chúa Giêsu; U.Zwingli cho rằng Lễ Thánh thể chỉ đơn thuần kỷ niệm về sự chết của Chúa Giêsu, bánh và rượu chỉ có ý nghĩa vật chất; J Calvin dung hoà quan điểm của Luther và Zwingli, rằng rượu và bánh trong Lễ Thánh thể vừa có ý nghĩa vật chất (ở bên ngoài), vừa có ý nghĩa thuộc linh (ở bên trong) Trong quá trình phát triển, tuy các phái Tin lành còn có những quan điểm khác nhau về Lễ Thánh thể nhưng nhìn chung đều phủ nhận "thuyết biến thể" của đạo Công giáo Đa số phái Tin lành cho rằng Lễ Thánh thể là kỷ niệm về sự chết của Chúa Giêsu chuộc tội cho loài người, qua đó nhắc nhở con người sống xứng đáng với Thiên Chúa Lễ Thánh thể của đạo Công giáo được tiến hành với nghi thức rườm rà, tín đồ chỉ được

ăn "Bánh thánh" còn "Rượu thánh" không được uống mà dành cho các giáo sĩ Đạo Tin lành thực hiện nghi lễ Thánh thể đơn giản hơn, tất cả tín đồ và giáo sĩ cùng uống rượu và ăn bánh Lễ Thánh thể thường được tổ chức vào chủ nhật đầu tiên của từng tháng

+ Ngoài hai phép Bắptem và Mình thánh, đạo Tin lành duy trì các lễ như lễ Nôel, lễ Phục sinh, lễ Dâng con trẻ cho Chúa, lễ Hôn phối và các nghi lễ khác cho người quá cố

+ Đạo Công giáo cho rằng con người không những phải làm việc thiện mà còn phải hãm mình để chuộc tội Đạo Tin lành lại quan niệm rằng việc chuộc tội

Trang 26

cho loài người đã có Chúa Giêsu làm trọn rồi Con người làm việc thiện để tỏ ra xứng đáng với Thiên Chúa Con người phải có đức tin mới được cứu vớt

+ Tín đồ đạo Công giáo xưng tội trong toà kín với linh mục là hình thức chủ yếu nhất, còn tín đồ đạo Tin lành xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa Đạo Công giáo đặt ra nhiều bài kinh để cho mọi người cầu nguyện hàng ngày (quen gọi là Kinh nguyện) Đạo Tin lành chỉ tin có Kinh thánh, dùng Kinh thánh trong tất cả các sinh hoạt tôn giáo Khi xưng tội cũng như khi cầu nguyện, tín đồ đạo Tin lành có thể đứng giữa nhà thờ, trước đám đông để sám hối hoặc nói lên ý nguyện của mình một cách công khai

+ Nhà thờ (thánh đường) của đạo Công giáo được xây dựng tốn kém, kiến trúc đồ sộ theo lối cổ, bài trí công phu cầu kỳ và cho rằng đó là Nhà Chúa - nơi Chúa ngự một cách linh thiêng, đặc biệt, trong và ngoài nhà thờ, treo nhiều ảnh tượng Nhưng trái lại, nhà thờ đạo Tin lành thường kiến trúc hiện đại, đơn giản, trong nhà thờ không có tượng ảnh, chỉ có cây thập giá biểu tượng Chúa Giêsu chịu nạn Trong nhiều trường hợp đạo Tin lành chỉ sử dụng những phòng họp hoặc hội trường đôi khi một nhà tạm của tín đồ dùng để làm điểm nhóm lễ, chia sẻ lời Chúa trong Kinh thánh

Chức sắc và tổ chức Giáo hội:

+ Chức sắc của đạo Tin lành gồm các chức vụ: mục sư (tên gọi theo Kinh thánh) và dưới mục sư là truyền đạo (còn gọi là giảng sư) Hiện nay, Hội thánh Việt Nam (miền Nam), Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) đều thống nhất gọi truyền đạo là mục sư nhiệm chức Một số phái Tin lành vẫn duy trì chức giám mục, nhất là những hệ phái chịu ảnh hưởng của Anh giáo Chức sắc đạo Tin lành chủ yếu

là nam, nhưng cũng có một số phái có tuyển chọn cả phụ nữ và nhìn chung họ không giữ chế độ độc thân Chức sắc đạo Tin lành tuy được coi là "người chăn bày" nhưng không có thần quyền, tức là không có quyền thay mặt Thiên Chúa ban phúc, tha tội cho tín đồ, không phải là cầu nối trung gian trong mối quan hệ giữa tín đồ đạo Tin lành với đấng thiêng liêng Quan hệ giữa giáo sĩ với tín đồ bình đẳng, cởi

mở Có hệ phái Tin lành bầu ra mục sư, truyền đạo theo thời gian Chức sắc đạo

Trang 27

Tin lành hoạt động dưới sự kiểm soát của tín đồ, hàng năm tín đồ bỏ phiếu tín nhiệm mục sư (hoặc truyền đạo) quản nhiệm Hội thánh cơ sở

Đạo Tin lành chủ trương xây dựng các giáo hội độc lập với những hình thức

cơ cấu khác nhau, tuỳ thuộc vào từng hệ phái và hoàn cảnh điều kiện cho phép Có

hệ phái Tin lành duy trì cơ cấu 2 cấp Trung ương và Hội thánh cơ sở (chi hội), có

hệ phái Tin lành duy trì thêm cấp trung gian là Giáo khu hay Địa hạt (tương đương như giáo phận của đạo Công giáo) Nhân sự lãnh đạo các cấp giáo hội theo nhiệm

kỳ thông qua bầu cử dân chủ (trực tiếp, bằng phiếu kín, từng chức danh) Thành phần lãnh đạo Giáo hội không chỉ có mục sư, truyền đạo mà có cả tín đồ tham gia Đặc biệt, các hệ phái Tin lành đều trao quyền tự quản cho hội thánh cơ sở với tinh thần tự lập, tự dưỡng, tự truyền Các hệ phái Tin lành không ngăn cản tín đồ, chức sắc tách ra để gia nhập các hệ phái khác hoặc đứng độc lập

+ Đạo Tin lành thường có hai sinh hoạt về mặt tổ chức là Bồi linh và Hội đồng (đại hội đại biểu) Bồi linh còn gọi là Hội đồng linh tu được tổ chức hàng năm theo các cấp giáo hội để nâng cao trình độ giáo lý, thần học cho tín đồ, mục sư, truyền đạo Tuỳ theo cấp tổ chức bồi linh mà thành phần tham dự khác nhau Nếu bồi linh cấp trung ương thì chỉ có các mục sư, truyền đạo và những chức vụ chủ chốt của các chi hội Nếu bồi linh ở cấp chi hội thì mở rộng đến các tín đồ Đại hội đại biểu ở cấp chi hội thường họp mỗi năm một lần, gọi là Hội đồng thường niên Hội đồng ở chi hội có nhiệm vụ tổng kết công việc trong một năm và bàn chương trình hoạt động của năm tới, bầu ban chấp sự; bỏ phiếu tín nhiệm mục sư, truyền đạo chủ tọa và bầu chọn đại biểu đi dự Đại hội đồng cấp trên (nếu trùng nhiệm kỳ của Đại hội đồng) Đại hội đại biểu trên cấp chi hội là Đại hội đồng Thành phần tham dự Đại hội đồng là các mục sư, truyền đạo và đại biểu tín đồ được cử ở các chi hội

Đại hội đồng tổ chức theo nhiệm kỳ để giải quyết các công việc nội bộ, xây dựng hoặc sửa đổi hiến chương (Điều lệ) và bầu nhân sự lãnh đạo giáo hội.[Dẫn

theo Vụ Tin lành, Ban Tôn giáo chính phủ, Khái quát về đạo Tin lành]

2.2.6 Hồi giáo

Trang 28

Hồi giáo là một danh từ mà những người Việt Nam dùng để chỉ cho những

người đi theo tôn giáo Islam nói chung Tuy là một tôn giáo lớn trên thế giới, nhưng tại Việt Nam, cộng đồng Hồi giáo chỉ chiếm một tỷ lệ thấp so với toàn thể dân số Việt Nam (0.1%)

* Thời kỳ truyền đạo

Theo một số tài liệu thì Othman bin Affan, vị khalip thứ ba của đạo Hồi, đã

cử tín đồ đạo Hồi đại diện đầu tiên đến Trung Hoa và một số quốc gia ở Đông Nam

Á vào thời kỳ nhà Đường ở Trung Quốc vào khoảng năm 650 Có lẽ trong những năm đầu tiên sau khi đạo Hồi khai sáng, thương nhân Ả Rập đi đường biển đã dừng chân tại vương quốc Champa trên đường đến Trung Quốc Tuy nhiên chứng cớ trong văn tịch chỉ có từ thời nhà Tống Điều này cho biết người Chăm bắt đầu tiếp nhận đạo Hồi từ cuối thế kỷ X sang đầu thế kỷ XI bên cạnh tôn giáo chính là Ấn

Độ giáo và một thiểu số theo đạo Phật

Đến thế kỷ XVII sau khi Champa bị Việt Nam thôn tính thì đạo Hồi mới trở nên thịnh hành với người Chăm, do tình hình chiến tranh liên miên và thất bại, vương triều dần suy yếu và niềm tin vào đạo Hinđu dần giảm sút nên đạo Hồi đã bám rễ được vào một bộ phận người Chăm Nhiều nhóm Chăm Hồi giáo đã di cư sang Cao Miên (Kong pong Chàm và nhiều nơi khác) cư trú rồi một số lại chuyển sang Nam Bộ (An Giang, Tây Ninh), thậm chí sang cả Malaysia, Thái Lan, Indonesia

Vào giữa thế kỷ XIX, với sự thống trị của người Pháp ở Đông Dương, nhiều tín đồ đạo Hồi người Chăm đã di cư ngược từ Cao Miên vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long, phát triển cộng đồng Hồi giáo ở Việt Nam Điều này lý giải vì sao các tín đồ Hồi giáo tại Việt Nam tập trung chủ yếu từ miền Trung đổ vào miền Nam Việt Nam

*Ảnh hưởng của Hồi giáo đối với cộng đồng Chăm ở Việt Nam

Về mặt tôn giáo, người Chăm có ba cộng đồng tôn giáo khác nhau như

Chăm Bàlamôn (ở Ninh Thuận, Bình Thuận), Chăm Bàni (ở Ninh Thuận, Bình Thuận), Chăm Islam (ở An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình

Trang 29

Dương, Bình Phước, Đồng Nai và một số làng Chăm ở Ninh Thuận) Mặc dù Chăm Islam và Chăm Bàni có cùng một nguồn gốc nên có nhiều nét giống nhau về phong tục và giáo lý cơ bản, song giữa hai cộng đồng tôn giáo này có nhiều điểm khác biệt

Chăm Islam ở Việt Nam là cộng đồng Chăm Hồi giáo thuộc dòng Sunni Cộng đồng Chăm Bàni là kết quả của sự hỗn dung giữa Hồi giáo nguyên thủy với nhiều yếu tố tín ngưỡng dân gian Khác với người Chăm Islam, trong tâm thức tôn giáo của người Chăm Bàni, những tập tục, lễ nghi của Hồi giáo gốc đã bị phai nhạt

đi khá nhiều bởi nhiều lý do, trong đó phải kể đến sự tác động của tín ngưỡng bản địa dân tộc Chăm và của đạo Bàlamôn Bởi vậy, có thể nói Chăm Bàni là một tôn giáo đặc thù mang đậm tín ngưỡng bản địa Trong khi đó, người Chăm Islam luôn giữ gìn nghiêm ngặt giáo lý, giáo luật của Hồi giáo nguyên thủy, thể hiện qua việc thực hiện nghiêm chỉnh 5 cốt đạo của Hồi giáo Nếu như người Chăm Islam tuyên xưng niềm tin tuyệt đối vào Đấng Allah và tiên tri Mohammed thì đối với người Chăm Bàni, niềm tin của họ còn dành cho rất nhiều thần linh khác như Nữ thần sáng tạo ra dân tộc Chăm, những vị anh hùng dân tộc Chăm và ông bà tổ tiên

Một đặc điểm khác biệt rõ nét giữa người Chăm Islam và người Chăm Bàni

là vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội Trong khi người phụ nữ Chăm Islam chịu nhiều ràng buộc nghiêm ngặt trong các quan hệ gia đình và xã hội cũng như trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, thì phụ nữ Chăm Bàni không chỉ được bình đẳng, được khuyến khích vươn lên khẳng định vị trí của mình mà còn có nhiều ưu thế hơn so với nam giới do ảnh hưởng chế độ mẫu hệ đã đi sâu vào tiềm thức của họ

Tóm lại, bên cạnh những điểm giống nhau cơ bản giữa Hồi giáo mới – Chăm Islam và Hồi giáo cũ – Chăm Bàni vẫn có những nét khác biệt nhất định, tạo ra một bức tranh tôn giáo rất phong phú, đa dạng ở Việt Nam

Về cơ sở thờ tự: Thánh đường của người Chăm Islam có dáng dấp như các

Thánh đường Hồi giáo trên thế giới bởi nó tôn trọng những quy định về kiến trúc xây dựng thánh đường và cách bài trí bên trong Có hai loại: Đại thánh đường và tiểu thánh đường Đại thánh đường được xây dựng theo hướng Đông – Tây để khi

Trang 30

quỳ lạy, tín đồ hướng về Thánh địa Mecca Bên trong đại thánh đường vừa có hậu tẩm là nơi vị Imâm đứng hướng dẫn tín đồ hành lễ, vừa có Minbar là nơi thầy Khotip giảng giáo lý Tiểu Thánh đường còn gọi là nhà nguyện, là nơi cầu nguyện

và hội họp Theo thống kê, hiện nay Việt Nam có 41đại thánh đường và 14 tiểu thánh đường Islam, tập trung nhiều nhất ở An Giang (16 đại thánh đường và 8 tiểu thánh đường)

Số lượng chùa Bàni là 17 chùa, có ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận Chùa Bàni được xây dựng khá đơn giản, hình thức bên ngoài cũng như cách xếp đặt bên trong đều có một sắc thái riêng biệt mang tính địa phương, không giống các thánh đường Hồi giáo trên thế giới Chùa Bàni chỉ được mở cửa vào tháng Ramưwan – tháng vào chùa của các chức sắc Bàni Đây không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của người Chăm Bàni mà còn là nơi các chức sắc trao đổi kinh nghiệm sản xuất với cộng đồng tín đồ, tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước

*Chức sắc Hồi giáo

 Chức sắc Chăm Bàni: Tổng số trong cả nước là 407 người Các tu sĩ, chức sắc Bàni cũng như các tu sĩ Islam, họ không được khuyến khích sống độc thân Trong đời sống hàng ngày, họ là những người rất am hiểu và có kinh nghiệm về những lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Do đó, chức sắc Bàni là những người có uy tín cả bên đạo lẫn bên đời Họ tham gia vào tất cả những nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo như cưới hỏi, tang chế,… của các gia đình Bàni

và của cộng đồng Các chức sắc Bàni đều biết kiêng kỵ những thức ăn như trong giáo lý quy định Hiện nay chức sắc Bàni được phân thành bốn cấp Cấp thấp nhất là thầy Chang Cấp thứ hai là Khotip hay Tip Cấp thứ ba là Mun, là người điều khiển các buổi lễ tại chùa Bà ni Cấp cao nhất là Sư Cả (thầy Gru) - người quyết định hầu hết mọi vấn đề về đời sống tôn giáo của người Chăm Bàni Chức sắc Bàni được duy trì theo chế độ cha truyền con nối Ngoài ra, mỗi chùa của làng có một ban cai quản có nhiệm vụ truyền đạt

và hướng dẫn thực hiện các quyết định về đạo của thầy Gru, đồng thời thực hiện các lễ nghi tôn giáo và giải quyết các vụ tranh chấp, kiện tụng trong

Trang 31

làng Họ là cầu nối giữa chính quyền và tín đồ, đưa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng tín đồ

 Chức sắc Chăm Islam: Người đứng đầu là vị Hakim (Giáo cả) Phụ tá cho Hakim là Naep (phó Giáo cả) Ahly là người giúp việc cho Hakim Tuân là thầy dạy giáo lý cho tín đồ

* Tổ chức tôn giáo của người Chăm Hồi giá

Người Chăm Islam thành lập các Ban Quản trị Thánh đường theo từng khu vực cư trú Đứng đầu ban quản trị là vị Hakim, sau đó là một số chức sắc như:

Naib, Ahly, thư ký, thủ quỹ

Đối với Chăm Bàni, mỗi làng có một chùa Bàni Chức sắc Bàni tiêu biểu thành lập ban cai quản chùa với người đứng đầu là Sư cả, giúp việc cho sư Cả là các thầy: Mun, Tip, Chang

Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992, UBND Thành phố ra quyết định cho phép thành lập "Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh" trụ sở tại số nhà 15 đường Nguyễn Văn trỗi, phường 15, quận Phú Nhuận Ngoài ra còn có ban cố vấn, bộ phận văn phòng và Ban quản trị của 14 khu vực Ban đại diện là cầu nối giữa cộng đồng tín đồ Hồi giáo tại Thành phố và chính quyền để chăm lo lợi ích chính đáng của tín đồ, vận động tín đồ thực hiện tốt quyền

và nghĩa vụ công dân, phát huy tình đoàn kết trong tín đồ

* Các nghi lễ tôn giáo cộng đồng

Người Chăm theo Hồi giáo đều phải đến thánh đường làm lễ Có khi một số người còn mang theo thực phẩm đến và chia đều cho mọi người có mặt Người Chăm tin rằng, những lễ vật này chính là phúc lộc mà Thượng đế ban tặng cho họ

Trong tháng chay Ramadan, diễn ra vào tháng 9 lịch Hồi giáo, người Chăm luôn phải giữ mình trong sạch, phải chịu thử thách Người Chăm phải nhịn mọi thứ vào ban ngày và chỉ được phép ăn uống vào ban đêm Vào mồng 1 tháng 10 lịch Hồi giáo, nghi lễ được người Chăm tổ chức trọng thể để mừng cho mình và cộng đồng đã qua cuộc thử thách trong suốt tháng Ramadan (Hari Roya)

Trang 32

Hàng năm, cứ đến ngày 12 tháng Rabiul Awal (tháng 3 lịch Hồi giáo), cộng đồng theo Hồi giáo tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của Đức Mohamet Đây cũng là một trong những ngày hội quan trọng của người Chăm ở Nam Bộ Sau buổi lễ, người Chăm cùng nhau sức dầu thơm như để thụ hưởng phúc lộc của Thượng đế

Nghi lễ Tolakbala được tổ chức vào tuần thứ tư ngày cuối tháng Safar (tháng

2 lịch Hồi giáo) hàng năm Người Chăm tin rằng vào thời gian này, Thượng đế giáng những tai họa xuống trần gian, nên họ phải cầu xin Thượng đế ban cho họ sự bình an

Trên đây là một số nghi lễ tôn giáo ở cộng đồng Đối vời người Chăm, Hồi giáo còn có ảnh hưởng rất lớn trong các nghi lễ vòng đời và tập quán sinh hoạt thường nhật:

Nghi lễ đặt tên, cắt tóc cho trẻ sơ sinh: Khi đứa trẻ sinh ra được 7 hoặc 14

ngày, cha mẹ đứa bé làm lễ cắt tóc và đặt tên Trong buổi lễ, người ta đọc kinh Coran cầu Thượng đế ban cho đứa trẻ được bình an Sau đó, cha mẹ đứa trẻ đặt tên cho con mình Đối với bé trai thì có chữ nối là "bin", bé gái có chữ nối là "binti" Ví dụ: Osama bin Laden, Sarigah binti Hosen

Nghi lễ thành niên: Nghi lễ này nhằm chứng nhận một người đến tuổi thành

niên Cả con trai và con gái đều quy định là 15 tuổi Họ phải chịu tiểu phẫu ở

bộ phận sinh dục

Hôn nhân: Nhà trai nhờ người đến nhà gái để dạm hỏi, sau khi nhà gái đồng

ý thì nhà trai chuẩn bị lễ hỏi Lễ hỏi bao gồm các lễ vật như vải vóc, hoa tai, dây chuyền,… Lễ cưới thực hiện theo đúng nghi thức Rukun Nikah: Thứ nhất, phải có người đại diện phía nhà gái làm chủ hôn gọi là Wali Thứ hai, phải có hai người làm chứng gọi là Saksi Thứ ba, lễ Kabon tiến hành giữa ông Wali và chú rể Ông Wali tuyên bố việc gả người con gái và chú rể chấp nhận việc cưới cô dâu Thứ tư, phải có cô dâu Thứ năm, phải có chú rể Buổi lễ chính thức được diễn ra trước sự chứng kiến của nhiều người Sau lễ cưới ba ngày, chú rể phải đưa cô dâu về thăm cha mẹ mình và phải mang sang nhà gái các vật dụng sinh hoạt như nồi, niêu, xoong, chảo, gạo, muối,…

Trang 33

Cha mẹ chú rể sẽ đưa vợ chồng mới cưới đi thăm người thân Chú rể có thể đưa vợ về ở nhà mình hoặc đến sống chung cùng với gia đình bên vợ

Tang chế: Cũng giống như người Kitô giáo, người Chăm quan niệm cuộc

sống hiện tại chỉ là tạm bợ Vì thế, khi có người mất thì những người trong gia đình không ai được than khóc, để tang hoặc lập bàn thờ vì coi đó là sự đã

an bài Sau khi tẩm liệm, người chết được phủ trên mình một tấm khăn lớn

có thêu những đoạn Kinh Coran và được đưa vào thánh đường để làm lễ cầu nguyện trước khi đem chôn Khi đưa xuống huyệt, người chết sẽ được lật nghiêng hướng về phía tây, và cho đất lấp lại Sau khi chôn cất xong, người

ta cầu nguyện liên tục trong suất ba đêm, rồi ngưng cho đến ngày thứ 7, thứ

40 và thứ 100 sẽ cầu nguyện lại, sau đó là ngưng hẳn không còn bất kỳ hình thức lễ nào cho người quá cố nữa Đối với ông bà tổ tiên, người Chăm thường xuyên tưởng nhớ và tổ chức thăm viếng vào những ngày cuối tháng Ramadan

Người Chăm Islam có rất nhiều kiêng cữ trong cuộc sống Trong nhà, họ

không treo hình tượng của người hoặc loài vật kể cả di ảnh của người thân

đã qua đời vì sợ sẽ làm sao lãng đức tin Trong các bữa ăn thường ngày, người Chăm Islam không ăn thịt heo vì cho rằng đó là thức ăn dơ bẩn, không

ăn thịt các động vật tự nhiên chết, không uống rượu bia,…

Trang phục: Trang phục của người Chăm ở Nam Bộ là sự tổng hợp của

nhiều yếu tố Phụ nữ chăm Islam khi tiếp xúc với khách hoặc khi ra đường đều đội khăn trên đầu để che kín tóc chứ không phải mang mạng như người Hồi giáo ở các nước Arập

Hoạt động nghệ thuật: Do bị hạn chế bởi tín ngưỡng Islam nên những hoạt

động nghệ thuật như ca, múa, kịch,… chỉ được cộng đồng Chăm Islam ủng

hộ trong những ngày Raya kết thúc tháng Ramadan, sinh nhật Mohamet, hoặc nhân dịp cưới hỏi… cộng đồng

*Một số thánh đường Hồi giáo nổi tiếng tại Việt Nam

Trang 34

 Thánh đường Al Rahman ở 45 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh Thánh đường này chủ yếu dành cho người Maylaysia và người Indonesia

 Thánh đường Jamia Al Noor ở 12 Hàng Lược, Hoàn Kiếm, Hà Nội Đây là thánh đường Hồi giáo duy nhất ở miền Bắc Việt Nam

 Thánh đường Jamia Al Muslimin (Musulman) ở 66 Đông Du, Quận

1, Thành phố Hồ Chí Minh (hay còn gọi là Thánh đường Đông Du) Thánh đường này được xây dựng vào năm 1935 bởi người Hồi giáo Ấn độ, được xem thánh đường Hồi giáo lớn nhất tại thành phố Hồ Chí Minh

 Thánh đường Jamiul Islamic ở 52 Nguyễn Văn Trỗi, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh Đây là một thánh đường của người Chăm

và cũng là Văn phòng Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh

 Thánh đường Jamiul Muslimin ở ấp Đồng Ki, xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang Đây là thánh đường Hồi giáo lớn nhất Việt Nam tính đến năm 2014

 Thánh đường Noorul Al Ehsan ở xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

 Thánh đường Jamiul al Azhar ở ấp Châu Giang,Xã Châu Phong,thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.Thánh đường được xây dựng từ những năm 60 của thế

kỷ XX, bên cạnh nơi sinh hoạt tôn giáo còn có 1 trường học dạy giáo lí Islam

và thánh kinh Quran (Madrasha Tafiz al Azhar - ustaz hassan )

[Dẫn theo Trần Thị Minh Thu, Khái quát về Hồi giáo và Hồi giáo ở Việt Nam, Ban

Tôn giáo Chính phủ]

2.2.7 Các tôn giáo có nguồn gốc từ Việt Nam

Cao Đài, hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một tôn giáo bản địa Việt Nam

do Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc thành lập năm 1926, với trung tâm là Tòa Thánh Tây Ninh Tôn giáo này thờ Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng

Trang 35

đế Các tín đồ Cao Đài thi hành những giáo điều như không sát sanh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành, lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu

là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng đế nơi Thiên Giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi

Theo số liệu thống kê năm 2019 thì có 556.234 tín đồ Cao Đài phân bố tại 39 tỉnh thành cả nước đông nhất là tại Tây Ninh và khoảng 30.000 tín đồ nữa sống

ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Úc Đạo Cao Đài đã trở thành tôn giáo lớn thứ ba tại Việt Nam

Hòa Hảo, hay Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo Việt Nam gắn chặt với

truyền thống Phật giáo, do Đức Huỳnh Phú Sổ thành lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu (nay Thị Trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, Tỉnh An Giang)

Đạo Hoà Hảo phát triển ở miền Tây Nam Bộ, kêu gọi mọi người sống hòa hợp Tôn giáo này đánh giá cao triết lý "Phật tại tâm", khuyến khích nghi lễ thờ cúng đơn giản (chỉ có hoa và nước sạch) và loại bỏ mê tín dị đoan Những buổi lễ được tổ chức rất đơn giản và khiêm tốn, không có ăn uống, hội hè Lễ lộc, cưới hỏi hay ma chay không cầu kỳ như thường thấy ở những tôn giáo khác Đạo không

có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời

Theo thống kê năm 2019 có khoảng 983.079 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Tín

đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ (Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là tỉnh có số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước)

Với cách hiểu Ấn Độ giáo là Bà-la-môn giáo (của người Chăm Bà la môn)

thì Bà la môn đã được chính phủ Việt Nam công nhận là 1 trong số 16 tôn giáo chính thức (theo thống kê Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê) Bà-la-môn giáo có 64.547 tín đồ tập trung chủ yếu ở Ninh Thuận với 40.695 tín đồ

2.2.8 Các tôn giáo khác

Trang 36

Ngoài những tôn giáo lớn, Việt Nam còn có một số tín ngưỡng và tôn giáo chưa được đăng ký chính thức như:

 Các tín ngưỡng dân gian ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc Đạo Dừa ở Bến Tre Đạo Ông Trần tại đảo Long Sơn, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

 Các tín ngưỡng khác như đạo Mẫu, Đạo giáo, Nho giáo, thờ thành hoàng Phần nào các tín ngưỡng phụ này được tích hợp và chấp nhận bởi hầu hết các tín đồ Phật giáo và Phật giáo Hòa Hảo

 Chính thống giáo tại Việt Nam đại diện bởi giáo xứ Đức Mẹ Kazan (thuộc Giáo hội Chính thống giáo Nga) ở thành phố Vũng Tàu, nơi sinh sống và làm việc của vài trăm chuyên gia nói tiếng Nga của Công ty Liên doanh Vietsovpetro Các đại diện của Bộ phận liên lạc các giáo xứ ở ngoại quốc của Tòa thượng phụ Moskva thường xuyên thăm giáo xứ ở thành phố Vũng Tàu để tổ chức các thánh Lễ theo lịch phụng vụ Lễ Phục sinh và các thánh

Lễ tại nhà thờ khác

3.Phong tục

3.1 Khái niệm

Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành

trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất

Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chỉ một dòng họ, gia tộc Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành nhiều loại Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người, như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão Hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm, hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người

Trang 37

3.2 Một số phong tục ở Việt Nam

*Phong tục hôn nhân

Như ta đã biết; một trong hai đặc trưng cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng Mọi việc liên quan đến cá nhân cũng đồng thời liên quan đến cộng đồng; kể cả hôn nhân là lĩnh vực riêng tư nhất Hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không phải là việc hai người lấy nhau mà là việc “hai họ” dựng vợ gả chồng cho con cái Tục lệ này xuất phát từ quyền lợi của tập thể

Việc hôn nhân tuy là của hai người nhưng lại kéo theo việc xác lập quan hệ giữa hai gia tộc Vì vậy; điều cần làm đầu tiên chưa phải là lựa chọn một cá nhân

cụ thể; mà là lựa chọn một dòng họ; một gia đình xem cửa nhà hai bên có tương xứng không; có môn đăng hộ đối không

Tiếp theo; đối với cộng đồng gia tộc; hôn nhân là một công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực Để đáp ứng nhu cầu nhân lực của nghề trồng lúa (xem về tín ngưỡng phồn thực ở IV- §1.1); khi xem xét con người trong hôn nhân; người nông nghiệp Việt Nam quan tâm trước hết đến năng lực inh sản của họ

Kén dâu; lấy vợ thì phải chọn người Lưng chữ cụ; vú chữ tâm; phải là Đàn

bà thắt đáy lưng ong; Vừa khéo chiều chồng; vừa khéo nuôi con Năng lực sinh đẻ của người phụ nữ còn có thể nhìn thấy qua gia đình họ: Mua heo chọn nái; lấy gái chọn dòng; Ăn mày nơi cả thể; lâm rể nơi nhiều con; Lấy con xem nạ (nạ = mẹ) Hướng tới mục đích sinh đẻ là tục “giã cối đón dâu” đã nhắc đến ở trên (IV-§1.1.2)

và tục trải chiếu cho lễ hợp cẩn: gia đình nhờ một người phụ nữ đứng tuổi; đông con; phúc hậu; vợ chồng song toàn vào trải chiếu cho cô dâu chú rể: chiếu trải phải một đôi – một ngửa; một sấp (một âm một dương) úp vào nhau

Không chỉ duy trì dòng giống; người con tương lai còn có trách nhiệm làm lợi cho gia đình Con gái phải đảm đang tháo vát; đem lại nguồn lợi vật chất cho gia đình nhà chồng; con trai phải giỏi giang; đem lại vẻ vang (nguồn lợi tinh thần) cho gia đình nhà vợ: Chồng sang vợ được đi giày; Vợ ngoan chồng được tối ngày cậy trông; Trai khôn kén vợ chợ đông; Gái khôn kén chồng giữa chốn ba quân…

Trang 38

Mối quan tâm hàng đầu của người Việt Nam là sự ổn định của làng xã; vì vậy mà có truyền thống khinh rẻ dân ngụ cư Cũng nhằm tạo nên sự ổn định; đã hình thành quan niệm chọn vợ chọn chồng cùng làng: Ruộng đầu chợ; vợ giữa làng; Ruộng giữa đồng; chồng giữa làng; Lấy chồng khó giữa làng; hơn lấy chồng sang thiên hạ; Ta về ta tắm ao ta; dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn…

Nếu việc phân biệt “dân chính cư – dân ngụ cư” là phương tiện hành chính

để duy trì sự ổn định; cách nói “gắn bó với quê cha đất tổ”; với nơi “chôn nhau cắt rốn”; quan niệm chọn vợ chọn chồng cùng làng là phương tiện tâm lí; thì tục nộp cheo đóng vai trò phương tiện kinh tế: Khi lấy vợ; nhà trai phải nộp cho làng xã bên gái một khoản “lệ phí” gọi là “cheo” thì đám cưới mới được công nhận là hợp pháp Ca dao; tục ngữ có những câu: Nuôi lợn thì phải vớt bèo; Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng; Lấy vợ mười heo; không cheo cũng mất; Lấy vợ không cheo; tiền gieo xuống suối Người cùng làng lấy nhau thì nộp ít (có tính tượng trưng); gọi là cheo nội; lấy vợ ngoài làng thì cheo rất nặng; gấp đôi gấp ba cheo nội; gọi là cheo ngoại

Năm Cảnh Trị thứ nhất (1663); vua Lê Huyền Tông phải nhắc nhở trong 47 điều giáo hóa của mình rằng “Quan viên và binh lính ở xã thôn nhà gái không được viện cớ người ta lấy chồng làng khác mà đòi tiền cheo quá lạm” Từ năm Gia Long thứ ba (1804) có quy định: “Về tiền cheo thì nhà giàu phải nộp một quan năm tiền; nhà bậc trung nộp sáu tiền; nhà nghèo nộp ba tiền Nếu lấy người làng khác thì phải nộp gặp đôi”

Nhìn chung; lịch sử hôn nhân Việt Nam luôn là lịch sử hôn nhân vì lợi ích của cộng đồng; tập thể: từ các cuộc hôn nhân vô danh của thường dân đến những cuộc hôn nhân nổi danh như Mị Châu với Trọng Thủy; công chúa Huyền Trân với vua Chăm Chế Mân; công chúa Ngọc Hân với Nguyễn Huệ…; rồi vô số những cuộc hôn nhân của các con vua cháu chúa qua các triều đại được triều đình gả bán cho tù trưởng các miền biên ải nhằm củng cố đường biên giới quốc gia – tất cả đều

là làm theo ý nguyện của các tập thể cộng đồng lớn nhỏ: gia đình; gia tộc; làng xã; đất nước

Trang 39

Để cho quan hệ vợ chồng được bền vững; khi cưới; đôi vợ chồng trẻ thời Hùng Vương có tục trao cho nhau nắm đất và gói muối: nắm đất tượng trưng cho lời nguyền gắn bó với đất đai – làng xóm; gói muối là lời chúc cho tình nghĩa giữa hai người mặn mà thủy chung (Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau) Sau này; thay cho đất và muối; trong lễ vật dẫn cưới luôn có một loại bánh đặc biệt rất có ý nghĩa là hành su sê (tên đọc chệch đi của phu thê): Bánh “phu thê” (vợ chồng) hình tròn bọc bằng hai khuôn hình vuông úp khít vào nhau Đó chính là biểu tượng của triết lí âm dương (vuông tròn) và ngũ hành (ruột dừa trắng; nhân đậu vàng; rắc vừng đen; khuôn lá xanh; buộc lạt đỏ); biểu tượng cho sự vẹn toàn; hòa hợp – hòa hợp của đất trời và của con người Khi làm lễ hợp cẩn; còn có tục hai vợ chồng ăn chung một điã cơm nếp; uống chung một chén rượu: ý nghĩa của tục này cũng là cầu chúc cho hai vợ chồng luôn gắn bó với nhau: đính nhau như cơm nếp và say nhau như say rượu

Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu cũng rất được chú ý Mẹ chồng; nàng dâu vốn hay mâu thuẫn vì những chuyện không đâu; chẳng qua là do cả hai đều cảm thấy tình cảm của người con – người chồng đã không dành trọn cho mình Vì vậy mà khi cô dâu mới bước vào nhà; có tục mẹ chồng ôm bình vôi lánh sang nhà hàng xóm: Trong gia đình nông nghiệp Việt Nam; người phụ nữ được xem là nội tướng; người mẹ chồng lánh đi là có ý nhượng quyền “nội tướng” tương lai cho con dâu để cho trong gia đình trên thuận dưới hòa Nhưng đó là trong tương lai; còn hiện tại thì chưa; cho nên mẹ chồng mới ôm theo chiếc bình vôi – biểu tượng quyền lực của người phụ nữ

*Phong tục tang ma

Trong việc tang ma; người Việt Nam bị giằng kéo giữa hai thái cực: Một mặt

là quan niệm có tính triết lí cho rằng sau khi chết; linh hồn sẽ về nơi “thế giới bên kia” nên việc tang ma được xem như việc đưa tiễn; mặt khác là quan niệm trần tục coi chết là hết nên việc tang ma là việc xót thương

Xem tang ma như việc đưa tiễn và với thói quen sống bằng tương lai (sản phẩm của triết lí âm dương); cho nên người Việt Nam rất bình tĩnh; yên tâm đón chờ cái chết Chết già vì vậy được xem là một sự mừng: trẻ làm ma; già làm hội

Trang 40

Nhiều nơi có người già chết còn đốt pháo; chắt chút để tang cụ kị thì đội khăn đỏ; khăn vàng

Người Việt Nam chuẩn bị khá chu đáo cho cái chết của mình Các cụ già tự mình lo sắm áo quan (quan tài; còn gọi là cỗ hậu; cỗ thọ) Quan tài của người Việt Nam làm hình vuông – tượng trưng cho cõi âm; làm xong; kê ngay dưới bàn thờ như một việc hết sức bình thường Có cỗ thọ rồi; các cụ lo đến việc nhờ thầy địa lí

đi tìm đất; rồi xây sinh phần (mộ) Các vua chúa bao giờ cũng lo tất cả những việc này rất chu đáo thường là ngay từ khi mới lên ngôi; các lăng mộ vua còn giữ được

ở Huế đồng thời cũng là những nơi thắng cảnh là vì thế

Do chu đáo khi trong nhà có người hấp bối; việc quan trọng là đặt tên kèm (tên thụy) cho người sắp chết Đó là một tên mới (do người sắp chết tự đặt hoặc con cháu đặt cho) mà chỉ có người chết; con cháu và thần Thổ công nhà đó biết mà thôi Khi cúng giỗ; con trưởng sẽ khấn bằng tên hèm; Thổ thần có trách nhiệm chỉ cho phép linh hồn có “mật danh” đúng như thế vào thôi (vì vậy; tên này còn gọi là tên cúng cơm) Làm như vậy là để phòng ngừa những cô hồn lang thang vào ăn tranh

cỗ cúng sau này

Trước khi khâm liệm; phải làm lẽ mộc dục (tắm gội cho người chết) và lễ phận hàm: bỏ một nhúm gạo nếp và ba đồng tiền vào miệng (gạo để dùng thay bữa; tiền để đi hò – quan niệm của người vùng sông nước) Khi khâm liệm; phải có miếng vải đắp mặt người chết đế khỏi trông thấy cháu con sinh buồn Trong áo quan; từ thời Hùng Vương đã có tục chia tài sản cho người chết mang theo Trước khi đưa tang; người Việt cúng thần coi sóc các ngả đường để xin phép Trên đường đi; có tục rắc vàng giấy làm lộ phí cho ma quỷ Đến nơi; làm lễ tế Thổ thần xin phép cho người chết được “nhập cư”

Chôn cất xong; trên mộ đặt bát cơm; quả trứng; đôi đũa (cắm trên bát cơm)

có tua bông ở đầu (hoặc mớ bùi nhùi) Bát cơm là đất mẹ (âm); tua bông (hoặc mớ bùi nhùi) là mây trời (dương); đôi đũa nối âm dương hòa hợp Hoặc theo cách giải thích của những người Nho học thì tua bông (mớ bùi nhùi) tượng trưng cho thế giới hỗn mang; trong hỗn mang hình thành nên thái cực (tượng trưng bằng bát cơm); thái cực sinh ra ông nghi (đôi đũa); có lương nghi (âm dương) là có sự sống (tượng

Ngày đăng: 15/07/2022, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm