Giáo trình Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp tập trung vào những kiến thức và kỹ năng cơ bản có tính nguyên lý, căn bản về tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp, được cụ thể hóa cho lao động sản xuất và lao động thương mại, là những loại lao động chủ yếu trong doanh nghiệp. Phần 2 của giáo trình gồm 3 chương trình bày những nội dung về: tổ chức và định mức lao động quản lý trong doanh nghiệp; tổ chức và định mức lao động sản xuất trong doanh nghiệp; tổ chức và định mức lao động thương mại trong doanh nghiệp;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1- Mục tiêu, nhiệm vụ, ý nghĩa của tổ chức lao động quản lý
- Những nội dung cơ bản về phân công lao động quản lý, tổ chức nơi làm việc và phục vụ lao động quản lý
- Kỹ năng xác định định mức lao động đối với lao động quản lý
4.1 Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của tổ chức lao động đối với lao động quản lý trong doanh nghiệp
4.1.1 Đặc điểm và vai trò của lao động quản lý trong doanh nghiệp
4.1.1.1 Khái niệm lao động quản lý
Lao động quản lý là lao động thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp một cách có hiệu quả nhất
Quản lý là hoạt động cần thiết của một quá trình lao động khi đòi hỏi phải có sự phối hợp, kết hợp các hoạt động của doanh nghiệp để
nhằm đạt được mục tiêu
Lao động quản lý là loại lao động đặc biệt, thực hiện các chức năng quản lý cần thiết để phối kết hợp các hoạt động trong quá trình lao động của doanh nghiệp
Trang 2Lao động quản lý gồm lao động trực tiếp quản lý (gọi tắt là lao động quản lý) và lao động không trực tiếp quản lý (lao động phụ trợ và
phục vụ lao động quản lý)
Lao động quản lý là lao động trí óc, thực hiện quá trình quản lý thông qua việc ra quyết định quản lý, tổ chức thực hiện các quyết định quản lý, kiểm soát việc thực hiện quyết định và điều chỉnh để đạt được mục tiêu của quản lý
Các nhà quản trị và quản trị viên là lực lượng nòng cốt, chủ yếu thực hiện hoạt động, quản lý, do đó tổ chức lao động quản lý phải nhận thức đúng đắn những đặc điểm cơ bản về hoạt động của họ thì mới có thể
tổ chức lao động khoa học và phù hợp với thực tiễn đối với lao động
loại này
4.1.1.2 Đặc điểm của lao động quản lý trong doanh nghiệp
a Lao động quản lý là lao động gián tiếp: Lao động quản lý là lao
động thực hiện thông qua hệ thống tổ chức, người quản lý là người vạch đường lối, xác định mục tiêu, tổ chức phối hợp, kết hợp các hoạt động tập thể, kiểm tra việc thực hiện để đảm bảo thực hiện mục tiêu Người quản lý không trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp, mà đạt được mục tiêu tạo ra sản phẩm thông qua sự nỗ lực, phấn đấu của người khác Năng suất, chất lượng và hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào khả năng hoạch định, tổ chức bộ máy và điều khiển vận hành một cách khoa học của các nhà quản lý để
đạt được mục tiêu
b Lao động quản lý là lao động đặc biệt: Tính đặc biệt của lao
động quản lý được thể hiện ở chỗ:
Đối tượng của lao động quản lý là thông tin, là con người vì “Quản
lý thực chất là quản lý con người” do đó lao động quản lý không những đòi hỏi các kiến thức khoa học mà còn đòi hỏi phải có nghệ thuật Sản phẩm của lao động quản lý là các quyết định mà muốn có quyết định, muốn tổ chức thực hiện quyết định, kiểm tra và điều chỉnh quyết định thì
Trang 3phải có thông tin, do đó trong tổ chức là khoa học của người quản lý phải
có hệ thống thông tin đảm bảo cho hoạt động của họ
c.Công cụ của lao động quản lý là năng lực quản lý:Năng lực nhà
quản lý là các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và phương pháp quản lý, trong đó đặc biệt là kỹ năng tư duy và lao động quản lý thuộc loại lao động trí óc và năng lực của tổ chức bộ máy quản lý,ngoài ra đòi hỏi các phương tiện kỹ thuật khác phục vụ cho hoạt động quản lý và điều kiện,
môi trường làm việc của lao động quản lý
d.Sản phẩm của lao động quản lý là các quyết định: Các quyết định
cần phải được hoạch định đúng đắn, triển khai chúng một cách bài bản, chính xác mới đảm bảo thực hiện được mục tiêu một cách hiệu quả, tổ chức lao động khoa học của lao động quản lý cần phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố, điều kiện, môi trường cho việc đưa ra các quyết định và thực
hiện chúng một cách hiệu quả
e.Lao động quản lý là lao động trí óc, có tính đa dạng, phức tạp:Lao động quản lý khác với lao động chân tay ở chỗ chủ yếu là tư
duy,đưa ra các quyết sách,quyết định quản lý.Tính đa dạng, phức tạp của laođộng quản lý thể hiện ở chỗ đối tượng quản lý đa dạng, phức tạp luôn thay đổi trong môi trường luôn biến động Tính đa dạng, phức tạp dẫn đến sự căng thẳng,mệt mỏi của lao động quản lý, do đó trong tổ chức lao động quản lý phải tạo môi trường, tổ chức nơi làm việc và điều kiện làm việc thuận lợi, tránh được những căng thẳng,đồng thời nhà quản lý phải
quản trị thời gian một cách khoa học
Các đặc điểm trên đây của lao động quản lý cần phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ trong hoạt động phân công, hợp tác lao động, tổ chức nơi làm việc và điều kiện làm việc của lao động quản lý
Năng lực quản lý là tổng hợp các yếu tố cấu thành tạo nên khả năng quản lý bao gồm tổng hợp năng lực các nhà quản lý, các phương tiện kỹ thuật và điều kiện, môi trường làm việc của nhà quản lý.Do đó, để nâng cao năng lực quản lý của doanh nghiệp,trong tổ chức lao động khoa học
Trang 4quản lý vừa phải tổ chức phân công, hợp tác khoa học, đồng thời phải tạo môi trường và điều kiện làm việc thuận lợi cho nhà quản lý
4.1.1.3 Phân loại lao động quản lý trong doanh nghiệp
a Theo chức năng quản lý; lao động quản lý được chia thành: + Lao động quản lý kinh tế: Là những lao động do các chức danh
quản lý, lãnh đạo (giám đốc, phó giám đốc, trưởng phó bộ phận) hay nhân viên các phòng, bộ phận thực hiện chức năng quản lý như kế hoạch, tài chính kế toán, nhân lực, kinh doanh,
+ Lao động quản lý kỹ thuật: Là lao động có nhiệm vụ tổ chức, chỉ
đạo, hướng dẫn kỹ thuật hay nhân viên các phòng, ban kỹ thuật
+ Lao động quản lý hành chính: Là lao động thực hiện nhiệm vụ
quản lý hành chính, do lãnh đạo, nhân viên quản lý hành chính, văn phòng, thực hiện
b Theo vai trò thực hiện chức năng quản lý lao động quản lý được
chia thành:
+ Lao động lãnh đạo quản lý: Là những lao động của người có
chức danh lãnh đạo quản lý: Giám đốc, phó giám đốc, trưởng, phó bộ phận, quản đốc, trưởng, phó cửa hàng, kho, thực hiện các chức năng quản lý chung (cán bộ quản lý cấp cao) và quản lý bộ phận chức năng (trưởng, phó bộ phận) hoặc quản lý các đơn vị trực thuộc
+ Lao động chuyên gia: Là lao động không lao động trực tiếp mà thực hiện các nhiệm vụ, công việc chuyên môn, ví dụ: Lao động của
nhân viên kinh tế, kỹ thuật, hành chính, R & D, họ thực hiện vai trò tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo, quản lý ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định của lãnh đạo, quản lý
+ Lao động thực hành kỹ thuật:Là lao động thực hiện các công
việc giản đơn, lặp đi lặp lại mang tính thông tin, kỹ thuật và phục vụ quản lý: Lao động của nhân viên hạch toán, kiểm tra kỹ thuật, kiểm định,
đo lường chất lượng, giao nhận, kế toán, thủ quỹ, thủ kho, các nhân viên quản lý hành chính, văn phòng, đánh máy in, kỹ thuật viên vẽ, chuẩn bị tài liệu kỹ thuật, thiết kế, văn thư, lưu trữ,
Trang 5+ Lao động nhân viên phục vụ: Điện, điện thoại, văn phòng phẩm,
bảo vệ, tạp vụ, có nhiệm vụ phục vụ hoạt động quản lý trong doanh nghiệp
Bất kể một chức năng quản lý nào cũng gồm các loại lao động trên thực hiện Quá trình thực hiện chức năng quản lý đòi hỏi phải có sự thống nhất, phân công và phối hợp các nhiệm vụ, công việc để đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ thuộc chức năng của mình
4.1.2 Khái niệm và mục đích của tổ chức lao động đối với lao động quản lý trong doanh nghiệp
4.1.2.1 Khái niệm tổ chức lao động đối với lao động quản lý trong doanh nghiệp
Tổ chức lao động đối với lao động quản lý trong doanh nghiệp là
tổ chức lao động có tính đến đặc thù của lao động quản lý và dựa trên những thành tựu khoa học và kinh nghiệm tiên tiến trong phân công, hợp tác lao động, tổ chức và phục vụ nơi làm việc, điều kiện làm việc của lao
động quản lý
Tổ chức lao động quản lý cũng giống như tổ chức lao động nói chung, theo những nội dung và nguyên tắc cơ bản của tổ chức lao động khoa học song có những đặc thù của lao động quản lý đó là vai trò,
nhiệm vụ, đặc điểm lao động quản lý và nội dung của hoạt động quản lý
Cũng như tổ chức lao động đối với các loại lao động nói chung, tổ chức lao động khoa học đối với lao động quản lý đó là tập trung vào cách thức, phương pháp và tiếp cận nghiên cứu các vấn đề của tổ chức lao
động một cách khoa học
4.1.2.2 Mục đích của tổ chức lao động đối với lao động quản lý
trong doanh nghiệp
Mục đích của tổ chức lao động đối với lao động quản lý là nhằm đạt được kết quả hoạt động của bản thân nhà quản lý và tổ chức có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, đồng thời đảm bảo sức khỏe, an toàn vệ sinh lao động, phát triển toàn diện nhà quản lý và tập thể người lao
Trang 6độngtrong doanh nghiệp cũng như củng cố, phát triển mối quan hệ giữa nhàquản lý với người lao động và giữa những người lao động
trong doanh nghiệp
Ngoài mục đích đem lại năng suất chất lượng và hiệu quả cao của bản thân nhà quản lý, đảm bảo sức khỏe, vệ sinh, an toàn lao động và phát triển toàn diện, thì xuất phát từ vai trò, nhiệm vụ và tính chất gián tiếp của lao động đến kết quả quá trình lao động, tổ chức lao động đối với nhà quản lý phải nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao đối với toàn bộdoanh nghiệp, đảm bảo người lao động trong doanh nghiệp có đầy đủ sức khỏe, đảm bảo vệ sinh, an toàn lao động và được
làm việc trong một môi trường thuận lợi
Tổ chức lao động khoa học đối với lao động quản lý có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với bản thân nhà quản lý mà còn đối với doanh
nghiệp vì:
a.Tạo cơ sở và điều kiện cho người lao động nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc của bản thân họ, qua đó nâng cao năng
suất, chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
b.Sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong đó có nguồn nhân lực của
doanh nghiệp nói chung và nguồn nhân lực quản lý nói riêng
c.Phát huy được năng lực, trình độ, các tiềm năng, thế mạnh của
người lao động, quản lý, sử dụng tốt thời gian làm việc và nghỉ ngơi
d.Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho người lao động trong
đó có các nhà quản lý, tránh được những mệt mỏi, căng thẳng, rủi ro, tai nạn, đảm bảo sức khỏe và sự phát triển toàn diện của người lao động và
nhà quản lý
e.Tạo bầu không khí lành mạnh trong lao động
f.Thúc đẩy việc kiểm tra, giám sát hoạt động của tập thể và cá nhân thông qua việc thực hiện định mức lao động khoa học, các quy định về
phân công phối hợp hợp tác
Trang 74.1.3 Nhiệm vụ của tổ chức lao động đối với lao động quản lý trong doanh nghiệp
Xuất phát từ mục đích và đặc điểm của lao động và hoạt động quản lý,nhiệm vụ của tổ chức lao động đối với lao động quản lý là đưa ra được phương án hành động tốt nhất của bộ máy quản lý nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý và cá nhân các nhà quản lý Để thực hiện nhiệm vụ trên đây các nhà quản lý cần thiết phải thực hiện các bước
sau:
- Phân tích thực trạng tình hình tổ chức lao động đối với lao động quản lý, đánh giá thực trạng theo các nguyên tắc của tổ chức lao động khoa học và mục đích của tổ chức lao động khoa học đối với lao động quản lý Phát hiện những tồn tại, hạn chế, bất hợp lý trong tổ chức lao
động và nguyên nhân của chúng
- Đánh giá những tiềm năng, cơ hội, những điều kiện thực tế đề xuất các phương án, giải pháp hoàn thiện tổ chức lao động đối với lao
Tổ chức lao động quản lý đảm bảo khoa học, hợp lý sẽ góp phần quan trọng để nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý, bộ máy quản trị tinh gọn, với sự phân công các cá nhân, các bộ phận có chức năng, nhiệm
Trang 8phối hợp nhịp nhàng sẽ giúp giảm thiểu các mâu thuẫn, xung đột trong quản lý phát huy được năng lực, sở trường của các nhà quản trị nên đảm bảo năng suất lao động và sự sáng tạo cao hơn, xử lý công việc nhanh hơn, chuyên nghiệp và bài bản hơn
Tổ chức lao động quản lý khoa học, hợp lý, đảm bảo sự hợp tác giữa các cá nhân, bộ phận diễn ra đồng bộ, nhịp nhàng, ăn khớp, đảm bảo tính thống nhất cao trong các quyết định
Tổ chức và phục vụ nơi làm việc của lao động quản lý tốt, tạo điều kiện cho nâng cao năng suất, chất lượng của hoạt động quản lý
4.2 Nội dung chủ yếu của tổ chức lao động đối với lao động quản lý trong doanh nghiệp
4.2.1 Phân công, hợp tác lao động quản lý trong doanh nghiệp
4.2.1.1 Phân công, hợp tác lao động quản lý theo chức năng quản lý
Căn cứ đặc thù của lao động quản lý tổ chức và nguyên lý chung của tổ chức lao động khoa học Nội dung của tổ chức lao động đối với lao động quản lý bao gồm việc phân chia công việc quản lý theo các chức năng của quản lý, là dạng tổng quát nhất của việc phân chia các công việc quản lý cho lao động quản lý (phân công lao động quản lý) trong doanh nghiệp Việc phân chia những quyết định đặc thù của cơ cấu
tổ chức bộ máy quản lý cũng như cơ cấu lao động quản lý theo nghề nghiệp và trình độ chuyên môn, trình độ quản lý, đáp ứng yêu cầu công
việc, nhiệm vụ quản lý
Xây dựng tổ chức bộ máy quản lý ở đó quy định rõ sự phân công lao động để hình thành nên các bộ phận chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận và cơ chế phối hợp, hợp tác trong quá trình hoạt động Trong tổ chức bộ máy quản lý cũng quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lao động quản lý ứng với mỗi cấp bậc quản lý và cơ chế phối hợp, hợp tác giữa các cấp quản lý cũng như cá nhân các nhà quản lý trong
hoạt động quản lý doanh nghiệp
Trang 9Việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý cần tuân thủ các nguyên tắc khoa học trong đó có sự phân công cụ thể, rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi bộ phận, mỗi cấp quản
lý, đảm bảo sự phối hợp, hợp tác đồng bộ, nhịp nhàng, không chồng chéo
và cũng không bỏ sót các chức năng, nhiệm vụ của quản lý, đồng thời đảm bảo được yêu cầu gọn nhẹ, tiết kiệm, hiệu quả và cân đối Cụ thể việc xây dựng tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo được các yêu cầu cơ
bản sau:
a.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải tương thích với chức năng,
nhiệm vụ của tổ chức
b.Định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn trách nhiệm của mỗi
bộ phận, mỗi cấp quản lý và xây dựng cơ chế phối hợp và kết hợp hoạt động của các bộ phận, các cấp quản lý bằng việc ban hành các quy định, quy chế làm việc của mỗi bộ phận, mỗi cấp quản lý tuân thủ các nguyên
tắc của tổ chức bộ máy quản lý một cách khoa học
c.Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các nhà quản
lý và nghĩa vụ, quyền và trách nhiệm của nhân viên
Việc phân công nhiệm vụ phải đảm bảo tránh chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ và phải đảm bảo tính cân đối về nhiệm vụ công việc Giao quyền phải tương thích với trách nhiệm, nhiệm vụ.Việc phân công giao nhiệm vụ phải tính đến năng lực, sở trường, khả năng phát triển của cá nhân trong công việc và sự nghiệp, đảm bảo giải phóng các tiềm năng lao động của cá nhân người lao động tính đến điều kiện và môi trường,
hoàn cảnh
Sau cùng, tổ chức lao động khoa học đối với lao động quản lý là một quá trình liên tục thay đổi và hoàn thiện vì sự thay đổi, phát triển về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức và sự thay đổi của các yếu tố môi trường, của tiến bộ của khoa học và kinh nghiệm được định hướng trong
quản lý
Trang 10Quá trình phân công lao động quản lý cần phải xác định định mức đối với lao động quản lý các cấp tương ứng với mỗi chức danh, công việc, từ đó xác định các mức quản lý và tính toán lao động quản lý cần
thiết ở mỗi cấp, mỗi bộ phận, định biên lao động đối với mỗi bộ phận
4.2.1.2 Phân công, hợp tác lao động quản lý theo công nghệ quản
lý trong doanh nghiệp
Việc phân chia toàn bộ công việc quản lý theo công nghệ quản lý thực chất là phân chia công việc quản lý theo quá trình thông tin, dựa vào
đó để phân công, bố trí lao động phù hợp vào các khâu của quá trình thông tin, đảm bảo việc thu thập, xử lý, chế biến thông tin để ra quyết định và tổ chức triển khai quy định, nhận thông tin phản hồi để điều chỉnh các quy định cho phù hợp Quá trình hành động của các bộ phận, các cấp quản lý đều có mối liên hệ về thông tin, các dòng thông tin trên - dưới, thông tin ngang, thông tin chéo luôn tồn tại để triển khai và phối hợp các hoạt động Tổ chức tốt hệ thống thông tin trong quản lý là cơ sở đảm bảo cho hoạt động quản lý của toàn bộ hệ thống và cá nhân các nhà quản lý có hiệu quả
4.2.1.3 Phân công, hợp tác lao động quản lý theo mức độ phức tạp
của công việc quản lý doanh nghiệp
Theo đó toàn bộ công việc quản lý được chia thành các công việc tương ứng với các cấp quản lý đảm nhiệm: Cấp cao tập trung vào quản lý chiến lược và cấp trung, cấp cơ sở tập trung vào quản lý tác nghiệp Trong mỗi cấp quản lý cũng có sự phân công công việc quản lý, tùy theo mức độ phức tạp trong công việc quản lý của mỗi cấp mà lựa chọn người
có năng lực, trình độ đảm nhận và có trách nhiệm tương ứng toàn bộ tổ chức trong phân công và hợp tác lao động quản lý cần phải chú ý đến đặc
thù về mức lao động quản lý và thời gian lao động quản lý
a Mức lao động quản lý
Mức lao động quản lý được tính toán tuỳ thuộc vào nhóm các lao
động quản lý cụ thể:
Trang 11+Nhóm lao động mà khối lượng công việc có thể tính chuyên môn hóa được, định mức cho nhóm này thường tính bằng các loại mức thời
gian, mức sản lượng hay mức phục vụ
+Nhóm lao động mà khối lượng công việc được tính bằng mức quản lý (cán bộ quản lý các cấp) Mức quản lý là số người hay số bộ phận do một người hay nhóm người với trình độ quản lý và điều kiện tổ
chức kỹ thuật nhất định
+Nhóm còn lại được xác định qua các yếu tố khác với chức năng, nhiệm vụ mà họ đảm nhận, họ thường là các chuyên viên làm công việc
chuyên môn
b.Thời gian làm việc của lao động quản lý trong doanh nghiệp
Thời gian làm việc của lao động quản lý là thời gian người quản lý thực hiện nhiệm vụ, công việc thuộc chức năng quản lý do mình đảm nhiệm
Thời gian làm việc của lao động quản lý được chia thành: Thời gian thực hiện công việc thuộc nhiệm vụ lao động và công việc không thuộc nhiệm vụ lao động Trong đó thời gian làm việc thuộc nhiệm vụ lao động
là thời gian làm những công việc thuộc phạm vi, chức trách mà người quản lý đã được quy định cho mỗi vị trí, chức danh
Thời gian làm việc không thuộc nhiệm vụ là thời gian làm việc liên quan đến người khác có liên quan trong quá trình lao động quản lý Theo quá trình thực hiện công việc quản lý thì thời gian lao động quản lý được chia thành: Thời gian chuẩn bị, thời gian tác nghiệp, thời gian phục vụ nơi làm việc và thời gian kết thúc công việc
+ Thời gian chuẩn bị là thời gian thực hiện việc chuẩn bị thực hiện công việc, gồm: thời gian nhận nhiệm vụ, chuẩn bị các tài liệu, phương tiện cần thiết trước khi tác nghiệp thực hiện công việc
+ Thời gian tác nghiệp là thời gian trực tiếp xử lý công việc thời gian phục vụ nơi làm việc là thời gian chuẩn bị, chăm sóc, bảo dưỡng,
Trang 12duy trì nơi làm việc để đảm bảo các điều kiện tổ chức kĩ thuật, môi trường nơi làm việc được thuận lợi, bình thường
+ Thời gian kết thúc công việc là thời gian sau khi xử lý xong việc, chuẩn bị các báo cáo công việc đã hoàn thành, theo đó các tài liệu, phương tiện kỹ thuật sau khi kết thúc công việc
Do đặc điểm của lao động quản lý, thời gian tác nghiệp được chia thành:
+ Thời gian tổ chức hành chính: Là thời gian tổ chức, hướng dẫn các quá trình lao động, thực hiện các công việc hành chính, các thủ tục
và kiểm tra, giám sát các hoạt động của tổ chức do mình quản lý
+ Thời gian sáng tạo là thời gian thu thập, xử lý thông tin để đưa ra các quyết định, các giải pháp quản lý khoa học, hợp lý, hữu hiệu
+ Thời gian thực hiện các công việc kỹ thuật: Là thời gian thực hiện các công việc giản đơn, lặp đi lặp lại liên quan đến công việc phục
vụ nhận, truyền thông tin cho các bộ phận, các nhóm có liên quan và các
công việc mang tính “kỹ thuật” trong quá trình tác nghiệp ví dụ như việc
thao tác, sử dụng máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động tác nghiệp, điện thoại, máy in, máy fax
Việc phân loại các loại lao động trên làm cơ sở, tiền đề để định mức thời gian thực hiện cho các loại thời gian làm việc của người quản lý
4.2.2 Tổ chức và phục vụ nơi làm việc của lao động quản lý trong doanh nghiệp
4.2.2.1 Tổ chức nơi làm việc của lao động quản lý trong doanh nghiệp
Tạo môi trường tự nhiên, xã hội, văn hóa, tinh thần tốt là tiền đề tạo động lực cho lao động quản lý nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu
quả công việc
Trang 13Tổ chức khoa học nơi làm việc của lao động quản lý là toàn bộ các hoạt động, công việc nhằm tạo ra một không gian với trang bị đầy đủvà sắp xếp một cách khoa học các trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động quản lý của lao động quản lý có tính đến đặc điểm của từng
nơi làm việc, từng chức danh công việc mà họ đảm nhận
Bố trí nơi làm việc khoa học là việc xác định vị trí để đặt các nơi làm việc của các cá nhân, bộ phận quản lý theo trình tự nhất định phù hợp với quá trình quản lý, quy trình làm việc tạo thuận lợi cho sự chỉ đạo, phối hợp, hợp tác giữa các cá nhân, bộ phận quản lý và tạo thuận lợi
cho các loại lao động khác trong quá trình hoạt động
Thường các bộ phận, các nơi làm việc có quan hệ thường xuyên với nhau được bố trí gần nhau theo quy trình hợp lý.Việc trang bị cho nơi làm việc cần đáp ứng các yêu cầu như sau:
a.Trang bị đủ các dụng cụ, thiết bị, phương tiện, đặc biệt là các
trang thiết bị chuyên dùng, sử dụng thường xuyên
b.Trang thiết bị, dụng cụ phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, phù hợp với trình độ người sử dụng và được lao động quản lý sử dụng có
hiệu quả
c.Tài liệu, trang thiết bị được sắp đặt ở những chỗ nhất định để dễ
tìm, dễ lấy để sử dụng
d.Các dụng cụ, bàn ghế cần được thiết kế thích hợp, tạo sự thoải
mái, tránh mệt mỏi khi làm việc
e.Tổ chức tốt hệ thống thông tin quản lý, đặc biệt sử dụng công cụ
công nghệ thông tin và internet
Đặc thù của lao động quản lý là lập kế hoạch triển khai các hoạt động và kiểm soát thông qua các quyết định Tất cả các hoạt động đó đòi hỏi người quản lý phải có thông tin Nhà quản lý phải thiết lập hệ thống thông tin chính thức và phi chính thức để đảm bảo cho việc ra quyết định
và triển khai thực hiện quyết định lãnh đạo và quản lý
Trang 14Tổ chức hệ thống thông tin quản lý chính thức được thực hiện qua việc xây dựng hệ thống tổ chức, cùng với đó là tổ chức các kênh thông tin truyền tới các cấp quản lý do mình phụ trách và quy định chế độ phản hồi dưới dạng các báo cáo, hệ thống các tài liệu từ nội bộ và bên ngoài phải tổ chức các nguồn thông tin, thu thập và xử lý dữ liệu phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý kịp thời, chính xác Hệ thống thông tin quản lý phải đảm bảo các nguyên tắc tập trung, thống nhất theo quy định mang tính pháp lý của tổ chức, trong đó quy định chế độ báo cáo truyền thông, màu biển báo cáo, quy định và lưu trữ hồ sơ, tài liệu
Ngoài ra do đặc thù lao động trí óc nên cần phải đảm bảo nơi làm việc đủ ánh sáng, màu sắc phù hợp, yên tĩnh và tạo bầu không khí làm việc thuận lợi, thoải mái, tin tưởng lẫn nhau
4.2.2.2 Phục vụ nơi làm việc của lao động quản lý trong doanh nghiệp
Để đảm bảo hoạt động quản lý diễn ra bình thường theo kế hoạch, đảm bảo chất lượng và hiệu quả cần phải tổ chức phục vụ tốt nơi làm
việc của lao động quản lý
Tổ chức phục vụ tốt nơi làm việc của cán bộ quản lý gồm tổ chức
phục vụ kỹ thuật và tổ chức phục vụ dịch vụ
- Tổ chức phục vụ kỹ thuật là tổ chức các công việc phục vụ nhằm đảm bảo cung cấp, lắp đặt các trang thiết bị khi hết thời hạn sử dụng để đảm bảo cho hoạt động quản lý diễn ra liên tục, không bị ngưng trệ Tổ chức hệ thống tài liệu, dữ liệu và các phương tiện, công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ việc ra quyết định và triển khai các quyết định
quản lý
- Tổ chức phục vụ dịch vụ là tổ chức các hoạt động cung cấp các dịch vụ cần thiết cho nơi làm việc của cán bộ quản lý như cung cấp điện, nước sinh hoạt, sửa chữa các thiết bị, phương tiện, bảo quản, bảo dưỡng trang thiết bị, các dịch vụ đảm bảo an ninh, an toàn, chống cháy nổ, làm
vệ sinh đảm bảo môi trường xanh, sạch, đẹp, qua đó tạo thuận lợi, sựhứng thú và đảm bảo sức khỏe, nâng cao khả năng làm việc và tính
Trang 15sáng tạo của lao động quản lý, qua đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý
4.3 Định mức lao động đối với lao động quản lý trong doanh nghiệp
4.3.1 Khái niệm định mức lao động đối với lao động quản lý và mức quản lý trong doanh nghiệp
4.3.1.1 Định mức lao động đối với lao động quản lý
a Khái niệm
Định mức lao động đối với lao động quản lý là lượng hao phí lao động quản lý được quy định để sản xuất một đơn vị sản phẩm hay hoàn thành một khối lượng công việc đúng tiêu chuẩn chất lượng trong điều kiện tổ chức, kỹ thuật nhất định
b Nhiệm vụ định mức lao động quản lý trong doanh nghiệp
Do những đặc điểm của hoạt động lao động quản lý nên cán bộ định mức làm công tác định mức lao động đối với lao động quản lý phức tạp hơn nhiều so với định mức lao động đối với nhân viên Ngoài ra, công việc quản lý của các nhà quản lý cũng rất đa dạng, công việc này khác nhau cả về mặt tính chất lẫn nội dung, thời gian hoàn thành không giống nhau, đánh giá kết quả quản lý không chỉ dựa vào hao phí lao động
mà còn dựa vào kết quả đạt được chung của toàn doanh nghiệp, hoặc bộ phận doanh nghiệp Vì vậy, nhiệm vụ của cán bộ định mức đối với lao động quản lý gồm:
- Xác định số lượng hao phí lao động của từng loại công việc quản
lý của nhà quản lý
Cán bộ định mức xác định lượng lao động cần thiết cho từng loại công việc là để phân công và sử dụng lao động theo chức trách và trình
độ nhằm đảm bảo trả công theo số lượng, chất lượng lao động, phân tích
sự hợp lý của các quá trình lao động, để xác định nhu cầu về phương tiện
kỹ thuật và đánh giá thực hiện công việc
Trang 16- Xác định số lượng người cần thiết làm công tác quản lý
Cán bộ định mức xác định thành phần số người cần thiết chủ yếu là
để quy định tỷ lệ đúng đắn giữa các loại lao động quản lý, tổ chức hợp lý
bộ máy quản lý và kế hoạch hóa biên chế cũng như quỹ tiền lương Ngoài ra, định mức lao động quản lý còn là phương tiện để xác định hiệu quả kinh tế của các biện pháp cải tiến tổ chức lao động và tổ chức sản xuất cho doanh nghiệp
4.3.1.2 Mức quản lý
Mức quản lý đối với người lao động quản lý là số người, số bộ phận hay công việc do một người hay một nhóm người phụ trách với trình độ thành thạo và trình độ phức tạp tương ứng, phù hợp với điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định
Các nhà quản lý đảm nhiệm chức vụ quản lý làm việc trong cùng một doanh nghiệp, song họ đảm nhiệm những vị trí khác nhau Trong hệ thống cấp bậc quản lý tạo nên một đường phân chia giữa các vị trí khác nhau trong một doanh nghiệp
Các mức quản lý được áp dụng để định mức lao động cho cán bộ lãnh đạo thuộc tất cả các cấp bắt đầu từ đốc công và cuối cùng là lãnh đạo tổ chức hay giám đốc doanh nghiệp Sự khác nhau về nguyên tắc giữa các mức quản lý với các mức phục vụ là ở chỗ người mà lao động của cán bộ định mức được định mức là lãnh đạo các nhân viên khác chứ không phải là phục vụ họ
4.3.2 Các phương pháp định mức lao động đối với lao động quản lýtrong doanh nghiệp
Khi tiến hành định mức lao động đối với lao động quản lý cán bộ định mứckhông có sẵn các tiêu chuẩn và mức thời gian hoặc trong trường hợp khi trình độ tổ chức lao động cao hơn so với quy định trong các tài liệu tiêu chuẩn có sẵn thì định mức lao động được tiến hành bằng cách sử dụng các phương pháp trực tiếp nghiên cứu, xử lý các số liệu về tiêu hao thời gian làm việc Phương pháp này được áp dụng để định mức các công
Trang 17việc có điều kiện tổ chức - kỹ thuật đặc biệt ở các bộ phận khác nhau Ở đây cần phải xác định hao phí lao động cho những công việc cụ thể có lưu ý tới đặc điểm tổ chức lao động của các nhà quản lý thuộc bộ phận đang được nghiên cứu Việc định mức lao động bằng cách nghiên cứu trực tiếp tiêu hao thời gian làm việc có thể được áp dụng cho tất cả các chức vụ của lao động quản lý nếu như khi tiến hành quan sát đảm bảo
được mức độ chính xác cần thiết của việc nghiên cứu
Cán bộ định mức khi lựa chọn các phương pháp định mức cần thiết không chỉ lưu ý đến tính chất của đối tượng được định mức mà còn phải chú ý đến sự hiện có các tài liệu được định mức Cần làm thế nào để cho các chi phí có liên quan đến việc xây dựng các định mức có hiệu quả kinh tế
Các phương pháp định mức lao động đối với lao động quản lý khác
về tính chất khi sử dụng những tài liệu gốc để thiết kế mức, cho nên việc xác định hao phí thời gian cần thiết cho các công việc cụ thể hoặc tính toán số lượng người cần thiết trong các điều kiện cụ thể có thể được tiến hành theo 2 nhóm phương pháp định mức là phương pháp phân tích (dựa vào việc nghiên cứu tiêu hao thời gian làm việc) và phương pháp tổng hợp (dựa vào việc phân tích thống kê số lượng cán bộ quản lý)
Cán bộ định mức tính định mức lao động đối với lao động quản lý
có thể áp dụng 2 phương pháp phân tích là phương pháp phân tích tính toán và phương pháp phân tích khảo sát Tiêu hao thời gian cần thiết cho các công việc cụ thể có thể được xác định theo các tiêu chuẩn để định mức lao động quản lý đã được xây dựng trước hoặc bằng nghiên cứu trực tiếp tiêu hao thời gian làm việc có sử dụng phương pháp nghiên cứu xử
lý những tài liệu thực tế phù hợp
Cán bộ định mức lựa chọn phương pháp nào để áp dụng là tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại lao động quản lý và hiệu quả khi áp dụng phương pháp đó Đối với nhân viên thực hành kỹ thuật, lao động của họ có thể đo trực tiếp bằng các số đo tự nhiên, nên có thể tiến hành khảo sát bằng chụp ảnh và bấm giờ để xác định thời gian hao phí cần
Trang 18thiết Đối với lao động của các lãnh đạo và chuyên gia, cán bộ định mức
có thể khảo sát thông qua các phiếu khảo sát ý kiến hoặc phiếu tự chụp ảnh của chính họ, do lao động của nhóm này là rất phức tạp
Cán bộ định mức khi xây dựng định mức lao động cho nhà lãnh đạo cần phải chú ý một số vấn đề sau:
a.Tính chất phức tạp của công việc mà nhà lãnh đạo phải hoàn thành, như sự đa dạng về nhiệm vụ, mức độ độc lập của công việc, phạm
vi lao động, tính trách nhiệm thuộc công việc
b.Mức độ đa dạng của các tình huống mà trong đó công việc nhà lãnh đạo phải hoàn thành
c.Ảnh hưởng của kết quả công việc và quyết định của nhà lãnh đạo
đã được đưa ra và sử dụng đến hiệu quả công việc của cấp dưới
Khi sử dụng các phương pháp định mức lao động đối với lao động quản lý dựa vào phân tích thống kê thì số lượng người cần thiết trong các điều kiện cụ thể được xác định trên cơ sở các tài liệu tiêu chuẩn (các tiêu chuẩn biên chế, tiêu chuẩn phục vụ và quản lý) xây dựng trên cơ sở phương pháp toán học để xử lý số liệu thực tế thích hợp
4.3.3.Xác định định mức lao động đối với lao động quản lý trong doanh nghiệp
4.3.3.1 Mức lao động đối với các loại lao động quản lý
Lao động quản lý ở các doanh nghiệp bao gồm:
Ban lãnh đạo/Ban giám đốc
Trưởng, phó các phòng ban, bộ phận, quản đốc, cửa hàng, kho tàng, các đơn vị trực thuộc
Lao động chuyên gia, hành chính quản trị, thực hành kỹ thuật, lao động tiền lương, văn thư, đánh máy, trực điện thoại
Mức quản lý ở ba cấp độ là mức quản lý cấp cao, mức quản lý cấp trung và mức quản lý cấp thấp (cơ sở)
Trang 19Theo Đoàn Thế Lợi (2010), thông thường số lao động quản lý chiếm khoảng 10-15% lao động công nghệ và lao động phụ trợ xác định theo yêu cầu công việc
Sau khi xác định được định mức lao động chi tiết cho các lao động trên, cán bộ định mức lập bảng số lao động phục vụ, phụ trợ và lao động quản lý cho toàn bộ doanh nghiệp
4.3.3.2 Tính toán định mức lao động chi tiết đối với lao động quản lý
Tính chi phí lao động quản lý cho một đơn vị sản phẩm (Tql)
Thường chi phí lao động quản lý được tính dựa vào:
a.Tổng chi phí lao động trực tiếp sản xuất - kinh doanh và lao động phụ trợ cho một đơn vị sản phẩm
b.Tỷ trọng biên chế lao động làm công tác quản lý so với lao động trực tiếp sản xuất - kinh doanh trong doanh nghiệp và lao động phụ trợ (Kql)
Để định mức lao động cho các cán bộ lãnh đạo các đơn vị có đặc điểm riêng, cán bộ định mức cần xây dựng các bản quy định chức trách
có phân biệt với các bản quy định mẫu để xác định chính xác tên và khối
lượng các công việc được thực hiện Ví dụ: Nếu trong bộ phận nào đó có
công đoạn tách riêng nằm ở xa doanh nghiệp mà tổng cộng có 10 - 12 người làm việc và định mức quản lý tính theo tiêu chuẩn là 23 người thì trong trường hợp này vẫn phải bố trí 1 nhà quản lý phụ trách thêm, mặc
dù định mức quản lý lớn hơn gấp 2 lần Khi đó, trong bản quy định chức
vụ của nhà quản lý đó bên cạnh còn có các nhiệm vụ trực tiếp cần phải
kể cả các công việc được thực hiện ở công đoạn này và có thể được thực hiện vào thời gian thích hợp
Đối với các cán bộ lãnh đạo cấp cao hơn cũng có thể làm những công việc như vậy, doanh nghiệp dù nhỏ cũng phải có giám đốc nhưng
Trang 20chức trách mẫu và ngược lại ở doanh nghiệp lớn có thể có một hoặc một
số phó giám đốc để thực hiện một số chức năng của giám đốc
Ở các doanh nghiệp không lớn, giám đốc có thể lãnh đạo trực tiếp hoạt động của hầu như toàn bộ bộ máy quản lý Quy mô sản xuất càng tăng thì khối lượng việc (biên chế cán bộ theo từng chức năng) sẽ tăng lên nhiều và giám đốc thực hiện việc lãnh đạo qua các phógiám đốc, các trưởng phòng của mình
Các định mức lao động đối với lao động quản lý thường được biểu diễn bằng số cán bộ trực thuộc một lãnh đạo nhưng cũng có thể được biểu diễn bằng số cán bộ thuộc quyền quản lý của lãnh đạo qua một, hai
và một số cấp quản lý Ví dụ:Định mức quản lý đối với giám đốc được
biểu diễn bằng số đốc công hay công nhân
Đối với lao động của cán bộ lãnh đạo và chuyên gia thường dùng tiêu chuẩn số lượng và tiêu chuẩn quản lý để tính số lượng cán bộ theo từng chức năng và toàn bộ hệ thống quản lý tức là áp dụng phương pháp phân tích tính toán
Cán bộ làm công tác định mức dựa vào trị số các yếu tố ảnh hưởng
và thời gian lao động thực hiện chức năng quản lý các đốc công trong bộ phận sản xuất sản phẩm bằng phương pháp hồi quy, dựa vào phương pháp bình phương tối thiểu có công thức như sau:
Hqlđc = 117,5 Kc0.666 Cp-24 R-0.56 Trong đó:
Hqlđc: Mức quản lý của đốc công (số lượng công nhân do một đốc công phụ trách);
Kc: Hệ số chuyên môn hóa nơi làm việc (số nơi làm việc so với số bước công việc trong bộ phận sản xuất);
Cp: Cấp bậc công việc bình quân trong bộ phận sản xuất; R: Mức độ phức tạp trung bình của công việc sửa chữa thiết
bị trong bộ phận sản xuất
Trang 21Mức quản lý còn có thể xác định theo bậc quản lý bằng công thức:
H : Mức quản lý cho một lãnh đạo cụ thể
H , H , H … H : Mức quản lý cán bộ thứ nhất, thứ hai, thứ
ba, , thứ n theo các bậc quản lý
Ví dụ: Đối với một phân xưởng sản xuất cụ thể, đã xác định mức
quản lý cho đốc công là 20 lao động, cho đốc công trưởng là 4 đốc công, cho trưởng ngành là 3 đốc công trưởng và cho phân xưởng trưởng là 4 trưởng ngành Như vậy, định mức quản lý của cấp quản lý thứ tư (phân xưởng trưởng) là:
Ti = ti Ni Trong đó:
Ti: Tổng hao phí lao động để hoàn thành công việc theo chức năng;
ti: Tiêu chuẩn thời gian thực hiện công việc dạng i thuộc chức năng chung;
Ni: Số lượng công việc dạng i cần thực hiện
Trang 22Khi đó số lượng lao động quản lý được xác định như sau:
Tc: Lượng lao động của công việc chính;
Kb: Hệ số bận việc tối ưu của người lao động quản lý với công việc chính
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Thế nào là lao động quản lý, các loại lao động quản lý?
2 Đặc điểm và vai trò của lao động quản lý và ảnh hưởng của những đặc điểm này đến tổ chức lao động quản lý?
3 Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của tổ chức lao động quản lý?
4 Nội dung cơ bản của phân công lao động tổ chức lao động quản lý?
5 Tổ chức điều kiện làm việc của lao động quản lý?
6 Tổ chức phục vụ lao động quản lý?
7 Xác định định mức lao động đối với lao động quản lý?
Trang 23NỘI DUNG THẢO LUẬN
1 Đặc điểm lao động quản lý ảnh hưởng thế nào đến tổ chức và định mức lao động quản lý Liên hệ thực tế ở một doanh nghiệp sản xuất/thương mại
2 Nghiên cứu phân công lao động quản lý theo công nghệ quản lý tại một doanh nghiệp mà anh/chị biết và đưa ra những khuyến nghị
3 Nghiên cứu phân công lao động quản lý theo mức độ phức tạp của công việc quản lý tại một doanh nghiệp mà anh/chị biết và đưa ra những khuyến nghị
4 Đánh giá việc tạo điều kiện làm việc và phục vụ lao động quản lý
ở một doanh nghiệp mà anh/chị biết, từ đó hãy nêu những khuyến nghị
5 Nhận biết những khác biệt của định mức lao động quản lý với định mức lao động của nhân viên trực tiếp, nêu các luận cứ chỉ ra sự khác biệt này
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Nhà quản lý phân công lao động hợp lý
Sự phân công lao động được hình thành khi có sự phân tán tư liệu sản xuất vào tay nhiều người sản xuất hàng hóa độc lập với nhau Sự phân công lao động xã hội xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của xã hội
và đạt những người sản xuất hàng hóa độc lập “đối diện” với nhau, những người này chịu sự tác động rất lớn của quy luật cạnh tranh Đối với sự phân công lao động có một quy tắc chung là quyền lực càng ít chi phối sự phân công lao động trong xã hội bao nhiêu, thì sự phân sự phân công lao động trong doanh nghiệp ngày càng phát triển bấy nhiêu, ở đó lại càng phụ thuộc vào quyền lực của một cá nhân Sự phân công lao động trong xã hội làm cơ sở chung cho mọi nền sản xuất hàng hóa, chính
sự phân công lao động trong xã hội làm cho sức lao động trở thành
hàng hóa
Trang 24Sự phân công lao động đặt cơ sở cho việc hình thành những nghề nghiệp chuyên môn, những ngành chuyên môn nhằm nâng cao sức sản xuất
Câu hỏi:
a Anh (chị) hãy bình luận câu nói: “Quyền lực càng ít chi phối sự phân công lao động trong xã hội bao nhiêu, thì sự phân sự phân công lao động trong doanh nghiệp ngày càng phát triển bấy nhiêu”
b Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 ảnh hưởng như thế nào đến công việc của lao động quản lý?
Trang 25TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 4
TIẾNG VIỆT
1 Đoàn Thế Lợi (2010), Sổ tay hướng dẫn định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi,
NXB Nông nghiệp, Hà Nội
2 Vũ Thị Mai & Vũ Thị Uyên (2016), Giáo trình Tổ chức và định mức lao động, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
3 Lê Minh Thạnh & Nguyễn Ngọc Quân (1994), Tổ chức lao động khoa học trong xí nghiệp, NXB Giáo dục, Hà Nội
4 Nguyễn Tiệp (2011), Tổ chức lao động, NXB Lao động - Xã
hội, Hà Nội
5 D Lanielle, A.Cailat (1992), Kinh tế doanh nghiệp, Bản tiếng
Việt, NXB Khoa học - Kỹ thuật, Hà Nội
TIẾNG ANH
6 Byars, L.L, Rue, L.W (2016), Human resources management,
11th Edition, Mc Graw Hill publishing house
7 Cherrington, D.J (1995), The Management of Human Resource, Prentice Hall International, Inc
8 Griffin, R (2001), Human Resource Management, First
Edition, Hughton Mifflin Company
9 Hendry, C (1995), Human Resource Management: a Strategic Approach to Employment, Butterworth, Heinemann Ltd,
Trang 2612 Richard L Daft (1995), Organization theory and design, 5th
edition west publishing company
13 William, C (2000), Human Resource Management, 1st Edition, Texas Learning Company
Trang 27và kỹ năng cơ bản và cốt lõi về:
- Lao động sản xuất và tổ chức lao động sản xuất, các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp
- Xây dựng cơ cấu tổ chức lao động sản xuất hợp lý và tổ chức lao động sản xuất theo không gian và thời gian
- Các phương pháp tổ chức lao động sản xuất theo dây chuyền, sản xuất đơn chiếc và sản xuất theo JIT
- Các phương pháp định mức lao động sản xuất thông dụng
5.1 Tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp
5.1.1 Khái niệm và đặc điểm lao động sản xuất, tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp
5.1.1.1 Các khái niệm
a Sản xuất: Là quá trình biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm
hay dịch vụ để đáp ứng nhu cầu con người (cá nhân/xã hội)
Các nguồn lực gồm: Lao động, trang bị kỹ thuật, công nghệ, hàng hóa, nguyên vật liệu
b Lao động sản xuất: Là lao động tham gia vào quá trình sản xuất,
bao gồm lao động quản lý sản xuất, lao động chính, lao động phụ, lao
Trang 285.1.1.2 Đặc điểm của lao động sản xuất trong doanh nghiệp
Đặc điểm của lao động sản xuất chịu sự chi phối, quy định bởi các đặc điểm của hoạt động sản xuất, theo đó:
- Sản phẩm đầu ra của lao động sản xuất là sản phẩm hữu hình, có mức độ tiêu chuẩn hóa cao, được kiểm định chất lượng trước khi xuất bán, do đó sản phẩm của lao động sản xuất của lao động ở mỗi khâu, công đoạn phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng
- Lao động sản xuất tách bạch với khách hàng, tiêu thụ sản phẩm
Do đó lao động sản xuất không đòi hỏi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm giao tiếp, làm việc với khách hàng mà ngược lại đòi hỏi kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đối với nhiệm vụ, công việc sản xuất được phân công
- Lao động sản xuất có tính chuyên môn hóa cao, được bố trí theo máy, thực hiện một, một số bước công việc hay công việc nhất định gắn với quy trình công nghệ sản xuất và yêu cầu trình độ tay nghề nhất dịnh,
do đó lao động sản xuất phải đảm bảo trình độ chuyên môn, nghề nghiệp
và khả năng phối hợp, kết hợp trong lao động cao
Định mức kỹ thuật của lao động sản xuất được xác định rất tỉ mỉ, chi tiết, chính xác để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước công việc, công việc, các khâu của quá trình sản xuất, đảm bảo sự vận hành của quy trình sản xuất, quy trình công nghệ diễn ra liên tục, nhịp nhàng, thông suốt
5.1.1.3 Tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp
Tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp là tổ chức quá trình hoạt động sản xuất của người lao động của doanh nghiệp trong sự kết hợp giữa các yếu tố của quá trình lao động và mối quan hệ giữa những người lao động với nhau trong quá trình sản xuất
Trang 295.1.2.Nhiệm vụ và nguyên tắc của tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp
5.1.2.1 Nhiệm vụ của tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp
Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp là:
- Kế hoạch hóa lao động thực hiện các công việc khác nhau để thực hiện quá trình sản xuất trong một thời kỳ
- Tổ chức lao động thực hiện quá trình sản xuất
Trên cơ sở kế hoạch sản xuất đã xác lập, tổ chức lao động thực hiện các công việc, bước công việc của quá trình sản xuất, hướng dẫn, theo dõi việc thực hiện của người lao động (quản lý, lao động chính, lao động phụ trợ và phục vụ quá trình sản xuất)
- Đánh giá việc thực hiện, các biện pháp đã có trong tổ chức lao động sản xuất, đảm bảo thực hiện quá trình sản xuất trên cơ sở khai tháctriệt để, hợp lý các nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực là chủ thể thực hiện quá trình sản xuất
5.1.2.2 Nguyên tắc của tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp
Ngoài các nguyên tắc chung của tổ chức lao động trong doanh nghiệp, do đặc điểm của sản xuất, quá trình sản xuất nên tổ chức lao động sản xuất còn phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Lao động sản xuất được chuyên môn hóa cao khác với kinh doanh thương mại, dịch vụ mang tính tổng hợp Sản xuất, tổ chức sản xuất có tính chuyên môn hóa cao trong phân công lao động,sản xuất có nhiệm vụ chế tác sản xuất một hay một số sản phẩm theo một số chỉ tiêu hay một
số chi tiết thành phẩm (Ví dụ:Sản xuất trong các doanh nghiệp chế
tạo).Một số chi tiết cho xe máy, ô tô trong công nghiệp phụ trợ người lao động chỉ thực hiện một số thao tác, bước công việc nhất định, việc chuyên môn hóa cao lao động sản xuất phải đảm bảo cho việc chuyên môn hóa sản phẩm, đảm bảo trực tiếp thống nhất cho áp dụng tiến bộ kỹ
Trang 30thuật công nghệ Tổ chức phối hợp các khâu, công đoạn của quá trình sản xuất với hiệu quả cao Với những lợi thế của chuyên môn hóa lao động sản xuất chuyên môn hóa đã trở thành xu thế tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng đến năng suất chất lượng và hiệu quả của sản xuất
Đảm bảo sự cân đối của lao động giữa các khâu, bộ phận sản xuất, cân đối với các yếu tố nguồn lực khác của quá trình sản xuất
Trong tổ chức lao động sản xuất phải đảm bảo một tỷ lệ hợp lý giữa lao động với vốn, trang bị kỹ thuật và với đối tượng lao động, đảm bảo khai thác tối đa hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất
Đảm bảo sự cân đối lao động giữa các khâu, đơn vị sản xuất phụ trợ để đảm bảo tính đồng bộ, tránh lãng phí
Khác với doanh nghiệp thương mại, dịch vụ liên tục phụ thuộc vào khách hàng lao động sản xuất có thể hoạt động liên tục, kể cả không có khách hàng phục vụ Trên cơ sở dữ liệu báo cáo kế hoạch hóa sản xuất, các doanh nghiệp tổ chức, quá trình sản xuất một cách liên tục với sự phối hợp nhịp nhàng từ khâu chuẩn bị đến tiến hành sản xuất dự trù sản phẩm và tiêu thụ Doanh nghiệp bố trí lao động theo ca, kíp phù hợp với sản xuất không bị ngưng trệ, khai thác tối đa hết công suất thiết bị, công nghệ để đẩy nhanh khấu hao, hiện đại hóa sản xuất, qua đó đảm bảo hiệu quả và khả năng cạnh tranh
5.1.3 Nội dung tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp
Theo D Larue, A Caillat (1992),tổ chức lao động sản xuất được xem xét trên các góc độ khác nhau của tổ chức lao động,theo đó nội dung
chủ yếu của tổ chức lao động sản xuất gồm:
+ Hình thành cơ cấu tổ chức lao động sản xuất lao động hợp lý + Tổ chức lao động sản xuất theo không gian và theo thời gian + Tổ chức lao động gắn với các loại hình và phương pháp tổ chức sản xuất
Trang 315.1.3.1 Hình thành cơ cấu tổ chức lao động sản xuất hợp lý
Quá trình sản xuất diễn ra trên cơ sở phân công, phối hợp, hợp tác lao động trong nội bộ, tức là phân công lao động giữa sản xuất chính với
bộ phận phụ trợ, phục vụ mà trongnội bộ bộ phận này, bộ phận sản xuất chính có nhiệm vụ thực hiện các quá trình công nghệ, kiểm tra và vận chuyển, để thực hiện các quá trình này cần các yếu tố tổ chức công việc
cụ thể hóa thành các bước công việc và thao tác
Các công việc, bước công việc được cụ thể hóa ở mỗi nơi làm việc
và người lao động đảm nhận công việc đó
Phân chia các bước trong công việc càng nâng cao trình độ chuyên môn hóa lao động và thuận tiện cho việc thực hiện các bước công việc, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Tuy vậy, việc phân chia các bước công việc đối với công việc nhỏ, chi tiết chỉ phù hợp với lao động thủ công, kỹ thuật công nghệ lạc hậu, còn trong thời kỳ đại cơ khí công nghiệp hóa, tự động hóa cao thì hiện đang có xu hướng gộp các kiểu công việc nhỏ trở thành công việc lớn
Về hình thức tổ chức lao động sản xuất, có 2 loại tổ chức lao động sản xuất:
a Tổ chức lao động sản xuất chuyên môn hóa cao theo sản phẩm hay đối tượng lao động
Đây là hình thức cơ cấu tổ chức lao động sản xuất được phân chia thành các bộ phận sản xuất được giao nhiệm vụ sản xuất hoặc một số sản phẩm hay gắn với đối tượng lao động nhất định Hình thức này áp dụng với quy mô lớn, ổn định
b Tổ chức lao động sản xuất chuyên môn hóa theo công nghệ
Đây là hình thức phân chia các bộ phận sản xuất chính theo công nghệ sản xuất hoặc phương pháp công nghệ sản xuất sản phẩm, trong đó một bộ phận sản xuất đảm nhận một khâu, giai đoạn của quá trình công
Trang 32các bộ phận đảm bảo về số lượng, cơ cấu và trình độ chuyên môn, kỹ thuật phù hợp gắn với chức năng, nhiệm vụ công việc của một bộ phận
Tổ chức lao động sản xuất liên quan đến việc cơ cấu các bộ phận sản xuất:
+ Cơ cấu các bộ phận sản xuất
Cơ cấu tổ chức lao động sản xuất bao gồm: Bộ phận sản xuất chính,
Do đó, không phải bộ phận sản xuất nào trong doanh nghiệp cũng được coi là bộ phận sản xuất chính
(ii) Bộ phận sản xuất phụ:
Bộ phận sản xuất phụ là bộ phận sản xuất ra các sản phẩm trên cơ
sở tận dụng phế liệu, phế phẩm của bộ phận sản xuất chính Bộ phận sản xuất phụ tác động trực tiếp đến kết quả bộ phận sản xuất chính Các sản phẩm từ bộ phận này nằm ngoài danh mục các sản phẩm chính được thiết
kế chế tạo, sản xuất và lao động của bộ phận sản xuất phụ phải có trình
độ chuyên môn, tay nghề phù hợp với yêu cầu của bộ phận sản xuất phụ Lao động của bộ phận sản xuất phụ phải được tổ chức đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ với bộ phận sản xuất chính để sản xuất chính có thể diễn ra nhịp nhàng, liên tục, theo kế hoạch sản xuất
(iii) Bộ phận phụ trợ sản xuất:
Bộ phận phụ trợ sản xuất là bộ phận lao động phục vụ trực tiếp cho
bộ phận sản xuất chính, đảm bảo cho hoạt động bộ phận sản xuất diễn ra
Trang 33bình thường, liên tục theo kế hoạch sản xuất, đó là bộ phận cấp điện, nước, nguyên liệu, vật tư thiết bị, sửa chữa thiết bị, dụng cụ, v.v
+Các cấp sản xuất
Phân công lao động thành các cấp được thực hiện trên cơ sở kiểm tra và kế hoạch sản xuất của phân công lao động sản xuất trong nội bộ doanh nghiệp thành các cấp sản xuất gồm: Doanh nghiệp, phân xưởng, ngành/buồng máy và nơi làm việc
(i) Phân xưởng sản xuất
Là bộ phận lao động sản xuất chung cơ bản, chủ yếu có nhiệm vụ sản xuất một hay một số sản phẩm hoặc một khâu, giai đoạn trên dây chuyền công nghệ sản xuất Lao động trong các phân xưởng sản xuất phải đảm bảo được số lượng, cơ cấu và trình độ quy mô, kỹ thuật theo yếu tố nhiệm vụ, công việc đảm nhận trong quá trình sản xuất hay giữa trình độ công nghệ, các doanh nghiệp có quy mô lớn trên thường tổ chức các phân xưởng
(ii) Ngành/buồng máy
Được tổ chức dưới dạng các đơn vị sản xuất ở doanh nghiệp có quy
mô lớn, có nhiều nơi làm việc, có mối quan hệ mật thiết với nhau về công nghệ hay sản phẩm sản xuất Trong doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không tổ chức phân xưởng sản xuất mà ngành/buồng máy trở thành đơn vị sản xuất chính, chủ yếu Tổ chức lao động trong ngành/buồng máy tiết kiệm thời gian và chi phí do đối tượng lao động được vận động theo đường thẳng
(iii) Nơi làm việc
Là đơn vị sản xuất cấp cơ sở, là khâu đầu của tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp,nơi làm việc là phần không gian và một lao động hay một nhóm lao động sử dụng máy móc, trang bị kỹ thuật, dụng
cụ, v.v , để thực hiện công việc, bước công việc sản xuất tại nơi làm
Trang 34hành của lao động quản lý, sản xuất Cơ cấu bộ phận lao động sản xuất phụ thuộc vào quá trình sản xuất, quá trình công nghệ, phổ biến có các loại cơ cấu:
Doanh nghiệp - Phân xưởng - Ngành/buồng máy - Nơi làm việc; Doanh nghiệp - Phân xưởng - Nơi làm việc
Các cơ cấu trên thường áp dụng đối với doanh nghiệp sản xuất quy
mô lớn
Doanh nghiệp - Ngành - Nơi làm việc;
Doanh nghiệp - Nơi làm việc
Hai loại tổ chức lao động này thường áp dụng đối với đa số doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ
Ngoài các tổ chức lao động sản xuất trên cũng còn một số các tổ chức khác, đồng thời với tiến bộ của kỹ thuật công nghiệp các loại trên còn được thay đổi, hoàn thiện phù hợp với sự thay đổi của các yếu tố sản xuất và tiến bộ trong quản lý nơi làm việc và tổ chức lao động mới
5.1.3.2 Tổ chức lao động sản xuất theo không gian và thời gian
Tổ chức lao động sản xuất được thực hiện theo không gian và thời gian
a Tổ chức lao động sản xuất theo không gian
Tổ chức lao động sản xuất theo không gian bao gồm lựa chọn các hình thức tổ chức lao động đảm bảo sự cân đối giữa các bộ phận sản xuất
và mặt bằng, không gian sản xuất gắn với việc chuyên môn hóa theo công nghệ, theo đối tượng lao động và kết hợp cả 2 loại trên
(i) Tổ chức lao động sản xuất về không gian gắn với chuyên môn hóa công nghệ
Trên cơ sở mặt bằng, không gian tổng thể của doanh nghiệp, các phân xưởng sản xuất cũng được bố trí, sắp đặt theo trật tự các khâu, giai
Trang 35đoạn của quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm chính, theo đó các phân xưởng được bố trí lao động sản xuất gắn với máy móc, thiết bị cùng loại
thực hiện các khâu, giai đoạn của quá trình công nghệ, ví dụ trong nhà
máy cơ khí, các phân xưởng sản xuất chính gồm: Phân xưởng đúc, phân xưởng lắp ráp; các phân xưởng này được bố trí trên mặt bằng, không gian của doanh nghiệp theo trật tự các khâu của quá trình công nghệ sản xuất: Đúc, rèn đập, gia công cơ khí, nhiệt luyện và lắp đặt Bên cạnh các phân xưởng sản xuất chính trên còn bố trí các phân xưởng phụ trợ: Phân xưởng dụng cụ, làm mẫu, sửa chữa cơ khí, điện, nước , và bộ phận phục vụ: Kho chứa, bộ phận vận chuyển, v.v
Các phân xưởng bộ phận phụ trợ phục vụ được sắp xếp tối ưu theo mặt bằng, không gian đảm bảo thực hiện các công tác của tổ chức lao động theo công nghệ vừa đảm bảo thuận tiện trong vận hành vừa tiết kiệm thời gian và tiêu hao lao động
(ii) Tổ chức lao động sản xuất về không gian gắn với chuyên môn hóa sản xuất
Đây là hình thức tổ chức lao động sản xuất trong đó mỗi phân xưởng hay ngành/buồng máy được chuyên môn hóa cao, về sản xuất một loại sản phẩm hoặc chi tiết nhất định và quá trình sản xuất được khép kín
ở trong phân xưởng hay ngành/buồng máy
Tổ chức lao động sản xuất chuyên môn hóa sản phẩm được tổ chức dưới dạng các dây chuyền sản xuất khép kín Sự di chuyển của đối tượng lao động theo một đường thẳng liên tục, hiện đại, tiết kiệm được thời gian và chi phí lao động, chi phí vận chuyển, giảm bớt thời gian lãng phí
do phải ngừng nghỉ, chờ đợi trong quá trình sản xuất, tạo thuận lợi cho việc áp dụng lại hình thức mới các tổ chức lao động Sản xuất theo dây chuyền, theo nhóm và JIT Hình thức tổ chức lao động này chỉ thích hợp với sản xuất quy mô lớn, ổn định Trong trường hợp các yếu tố sản xuất thường thay đổi thì tổ chức lao động theo công nghệ phù hợp hơn, hiệu quả hơn
Trang 36(iii) Tổ chức lao động sản xuất không gian theo kiểu hỗn hợp
Đây là hình thức tổ chức lao động sản xuất phối hợp cả hai loại trên phụ thuộc vào địa điểm, điều kiện sản xuất đòi hỏi theo đó sẽ có một nhóm phân xưởng/ngành được tổ chức chuyên môn hóa theo công nghệ, một nhóm khác tổ chức lao động theo chuyên môn hóa sản phẩm
b Tổ chức lao động sản xuất theo thời gian
Tổ chức lao động sản xuất về thời gian liên quan đến việc bố trí hoạt động sản xuất và nghỉ chế độ, thực hiện các khâu công việc và phối hợp giữa các khâu, các giai đoạn của quá trình vận chuyển, để đảm bảo chu kỳ sản xuất
Chu kỳ sản xuất là khoản thời gian từ lúc đưa nguyên vật liệu vào quá trình sản xuất cho đến khi sản xuất ra sản phẩm, kiểm tra và nhập kho (Tcksx)
Thời gian của quy luật chu kỳ sản xuất bao gồm:
- Thời gian hoàn thành các biểu của quá trình công nghệ (Tbcn);
- Thời gian kiểm tra kỹ thuật (Tktkt);
- Thời gian gián đoạn trong quá trình sản xuất (sản xuất dở dang, ngày vận động, chế độ nhập kho, ca nghỉ việc ) (Tgđ);
- Thời gian vận chuyển (Tvc);
- Thời gian các bộ phận tác động đối tượng lao động (Tgttn)
(Tcksx)= Tbcn + Tktkt + Tgđ + Tvc + Tgttn Thời gian của một chu kỳ sản xuất phụ thuộc vào các yếu tố kỹ thuật và trình độ tổ chức lao động sản xuất, khâu sản xuất được thực hiện với công nghệ kỹ thuật tiên tiến, thời gian thực hiện và hoàn thành các bước công nghệ, thường kiểm tra kỹ thuật và thời gian lao động của các trình tự nguyên tắc đến đối tượng lao động tối giản Tổ chức lao động khoa học sẽ giúp giảm thiểu thời gian vận chuyển và thời gian gián đoạn
Trang 37do sản xuất bị ngưng trệ, từ đó góp phần rút ngắn được thời gian của một chu kỳ
Bên cạnh đó, đảm bảo thời gian của một chu kỳ sản xuất còn phải thực hiện đào tạo người lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật và làm tốt công tác định mức lao động, tổ chức tốt việc phối hợp giữa các khâu, công đoạn, các công việc và công việc trong quá trình sản xuất
5.1.3.3 Tổ chức lao động sản xuất theo các loại hình và phương pháp sản xuất
Với mỗi phương pháp sản xuất sẽ tương ứng một kiểu tổ chức lao động tương ứng với trình độ tổ chức kỹ thuật của loại hình sản xuất trong doanh nghiệp Các loại hình sản xuất của doanh nghiệp phải: Loại hình sản xuất khối lượng lớn, loại hình sản xuất đơn chiếc và loại hình sản xuất theo kiểu dự án, v.v
Mỗi phương pháp sản xuất đòi hỏi trong tổ chức lao động sản xuất phải tổ chức nơi làm việc, thực hiện các công việc và bước công việc, trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động cho phù hợp
Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ và trình độ tổ chức sản xuất đã xuất hiện các phương pháp sản xuất tiến bộ như phương pháp tổ chức theo dây chuyền, phương pháp sản xuất đơn chiếc, phương pháp tổ chức sản xuất đúng thời hạn (JIT)
a.Phương pháp tổ chức lao động sản xuất theo dây chuyền
Tổ chức sản xuất theo dây chuyền là một dạng tổ chức chuyên môn
hóa sản phẩm, thực hiện việc sản xuất một hay vài loại sản phẩm (ví dụ:
Dây chuyền sản xuất áo sơ mi, quần áo; dây chuyền sản xuất xe đạp, xe máy, v.v ) có quy mô sản xuất lớn, đồng nhất về quy trình công nghệ và
ổn định trong một thời gian tương đối dài Tổ chức lao động sản xuất theo kiểu dây chuyền phân chia thành những bước công việc, sắp xếp
Trang 38theo một trình tự nhất định, hợp lý Nơi làm việc được chuyên môn hóa cao, phân công thực hiện chuyên môn công việc trong quá trình công nghệ; trình độ tổ chức lao động cao để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu, bước công việc, đảm bảo hoạt động sản xuất liên tục, mỗi lao động chỉ thực hiện một hay vài bước công việc nên tính chuyên môn hóa cao, thành thục thao tác, do đó lao động cao
Trong sản xuất khối lượng lớn, mỗi nơi làm việc chỉ thực hiện một bước công việc của quy trình công nghệ
Tổ chức sản xuất nói chung và tổ chức lao động nói riêng trong sản xuất lao động theo dây chuyền cần phải tính toán cácchỉ số, từ đó tổ chức thực hiện và vận hành đảm bảo hiệu quả, hiệu suất của sản xuất theo dây chuyền Các chỉ số này gồm:
- Nhịp dây chuyền:
Nhịp dây chuyền là nhịp sản xuất trong bước dây chuyền, là khoảng thời gian trong bước để 2 sản phẩm kế tiếp nhau được sản xuất xong và đi ra khỏi dây chuyền sản xuất
Nhịp dây chuyền phụ thuộc vào thời gian cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm và số lượng thiết bị của dây chuyền Thời gian sản xuất ra một sản phẩm càng ngắn thì nhịp dây chuyền càng ngắn và ngược lại Số lượng thiết bị càng nhiều thì nhịp dây chuyền càng ngắn và ngược lại Thường thời gian sản xuất ra một sản phẩm với một loại công nghệ
và điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định thì ít thay đổi, do đó nhịp dây chuyền chủ yếu phụ thuộc và số lượng thiết bị Vì vậy, khi đã xác định nhịp dây chuyền thì có thể xác định số lượng thiết bị trong dây chuyền sản xuất nhờ công thức:
r TlvQtk
Trang 39Trong đó:
r: Là nhịp thiết kế của dây chuyền dự kiến trong năm kế hoạch; Tlv: Là thời gian làm việc của dây chuyền trong năm, không kể thời gian ngừng, nghỉ;
Qtk: Là tổng sản lượng trong năm theo thiết kế
Ví dụ: Thiết kế một dây chuyền sản xuất áo sơ mi có sản lượng
3.024.000 sp/năm; dây chuyền làm việc 2 ca/ngày; mỗi ca 7 giờ, số ngày thực tế làm việc trong năm là 360 ngày Khi đó:
Ví dụ: Một thời gian cần thiết để lắp ráp một ô tô là 3.600 phút
Nhịp dây chuyền dự kiến theo thiết kế là 720 phút/1 ô tô thì cần số nơi làm việc là: 3600/720 = 5 NLV
Trường hợp nếu tính ra số nơi làm việc có lẻ thập phân thì làm tròn lên
- Bước dây chuyền (Bdc)
Bước dây chuyền là khoảng cách giữa trung tâm của 2 nơi làm việc
kề nhau Bước dây chuyền phụ thuộc vào kích cỡ, khối lượng của sản phẩm, việc tiếp nối mà không gian đặt thiết bị, dụng cụ sản xuất tại nơi làm việc
Trang 40- Độ dài băng chuyền (Lbc)
Là độ dài thực tế để băng chuyền làm việc hợp lý, hiệu quả và được tính bằng:
Lbc= Bdl* Nlv Lbc= Bdc*Nlv
- Tốc độ của băng chuyền (Vbc)
Trong sản xuất theo dây chuyền thường tốc độ băng chuyền ổn định, vận hành đều đặn
mà môi trường làm việc thuận lợi cho người lao động
Người lao động trong dây chuyền sản xuất phải đảm bảo trình độ chuyên môn, nghề nghiệp thông thạo, ý thức kỷ luật lao động tốt, mới đảm bảo dây chuyền vận hành bình thường và an toàn cho người lao động thực hiện được kế hoạch sản xuất
b.Tổ chức lao động sản xuất đơn chiếc
Trong đó tổ chức sản xuất theo loại hình sản xuất đơn chiếc thì nơi sản xuất theo loại hình sản xuất nhiều loại sản phẩm, khối lượng nhỏ, trình độ chuyên môn tại nơi làm việc không cao Quy trình công nghệ không được lập một cách chi tiết mà người tổ chức quy định làm việc các bước công việc không cần tuân thủ
c.Tổ chức lao động sản xuất theo JIT
Mục tiêu của tổ chức sản xuất theo JIT là đáp ứng đúng lúc, đúng loại sản phẩm cho khách hàng, do đó tổ chức lao động cũng phải đảm bảo thực hiện mục tiêu này