1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp: Phần 1

144 180 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp
Tác giả Pgs. Ts. Phạm Công Đoàn, Ts. Chu Thị Thủy, Ths. Phạm Hà Phương, Ths. Nguyễn Đắc Thành
Người hướng dẫn Pgs. Ts. Phạm Công Đoàn
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Quản trị nhân lực doanh nghiệp
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp tập trung vào những kiến thức và kỹ năng cơ bản có tính nguyên lý, căn bản về tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp, được cụ thể hóa cho lao động sản xuất và lao động thương mại, là những loại lao động chủ yếu trong doanh nghiệp. Giáo trình được chia thành 6 chương, phần 1 gồm 3 chương trình bày về: tổng quan về tổ chức và định mức lao động; tổ chức lao động trong doanh nghiệp; định mức lao động trong doanh nghiệp;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Quá trình lao động đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các yếu tố của quá trình sản xuất: Người lao động, công cụ lao động và đối tượng lao động Trong đó con người có vai trò quan trọng nhất, vừa là người tham gia, vừa là người quản lý, điều khiển quá trình lao động Năng suất, chất lượng và hiệu quả của hoạt động lao động phụ thuộc chủ yếu vào việc tổ chức, sự phối hợp, kết hợp giữa các yếu tố của quá trình lao động với nhau và giữa người lao động với các bộ phận người lao động trong tổ chức, nói cách khác là phải thực hiện tổ chức lao động khoa học Để thực hiện tổ chức lao động khoa học cần thiết phải có các định mức kinh

tế - kỹ thuật, định mức lao động cho mọi khâu, công đoạn, chi tiết cũng như toàn bộ quá trình lao động Định mức lao động do đó vừa là cơ sở

để tổ chức lao động khoa học vừa là yếu tố đảm bảo tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động, phù hợp với khả năng và khai thác triệt để tiềm năng lao động Định mức lao động là cơ sở khoa học trong quản lý lao động và phải xác định bằng các phương pháp khoa học, gắn với thực tiễn các điều kiện tổ chức, kỹ thuật, môi trường hoạt động Nói tóm lại:

Tổ chức và định mức lao động là một trong những cơ sở, nền tảng của quản trị nhân lực trong các tổ chức, doanh nghiệp

Giáo trình “Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp”

là giáo trình của học phần trong chuyên ngành Quản trị nhân lực doanh nghiệp thuộc chương trình đào tạo theo Quyết định số 81/QĐ-ĐHTM ngày 10 tháng 02 năm 2017 được Hiệu trưởng phê duyệt và sử dụng trong giảng dạy, học tập ở Trường Đại học Thương mại cho chuyên ngành quản trị nhân lực doanh nghiệp, là tài liệu tham khảo cho các chuyên ngành khác có liên quan

Nội dung cốt lõi của giáo trình tập trung vào những kiến thức và kỹ năng cơ bản có tính nguyên lý, căn bản về tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp, được cụ thể hóa cho lao động sản xuất và lao động thương mại, là những loại lao động chủ yếu trong doanh nghiệp Giáo trình là tài liệu tham khảo để tổ chức và định mức trong các tổ chức kinh

tế, xã hội Giáo trình được biên soạn bởi một số thành viên trong bộ môn Kinh tế nguồn nhân lực và do PGS TS Phạm Công Đoàn - giảng viên cao cấp làm chủ biên Xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu và nội dung đã được phê duyệt, giáo trình được cấu trúc thành 6 chương:

Trang 4

Chương 1: Tổng quan về tổ chức và định mức lao động;

Chương 2: Tổ chức lao động trong doanh nghiệp;

Chương 3: Định mức lao động trong doanh nghiệp;

Chương 4: Tổ chức và định mức lao động quản lý trong doanh nghiệp; Chương 5: Tổ chức và định mức lao động sản xuất trong doanh nghiệp; Chương 6: Tổ chức và định mức lao động thương mại trong

doanh nghiệp

Trong mỗi chương của giáo trình, bên cạnh nội dung chính, phần cuối từng chương là câu hỏi ôn tập, nội dung thảo luận, bài tập thực hành và tài liệu tham khảo

Các tác giả được phân công biên soạn, cụ thể như sau:

PGS TS Phạm Công Đoàn biên soạn chương 1, 2, 5 và 6;

TS Chu Thị Thủy và ThS Phạm Hà Phương biên soạn chương 3; PGS TS Phạm Công Đoàn và TS Chu Thị Thủy biên soạn chương 4 Ngoài ra còn có sự tham gia biên soạn bài tập và tình huống thảo luận của ThS Nguyễn Đắc Thành

Trong quá trình biên soạn nhóm tác giả đã nhận được sự tham gia góp ý nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả của các thành viên Bộ môn Kinh tế nguồn nhân lực, Hội đồng Khoa Quản trị nhân lực và cá nhân các nhà khoa học Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng song khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tập thể tác giả mong muốn tiếp tục nhận được sự góp ý của Khoa, Bộ môn và các nhà khoa học trong và ngoài Trường để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn

Mọi ý kiến đóng góp xin vui lòng gửi về Bộ môn Kinh tế nguồn nhân lực - Khoa Quản trị nhân lực - Trường Đại học Thương mại

Xin trân trọng cảm ơn!

TẬP THỂ TÁC GIẢ

Trang 5

MỤC LỤC

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HỌC PHẦN TỔ CHỨC

VÀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC VÀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG 15

Chương 2 TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 47 2.1 Phân công lao động và hợp tác lao động trong doanh nghiệp 47

2.2 Tổ chức và phục vụ nơi làm việc trong doanh nghiệp 50

Trang 6

2.3 Tạo điều kiện lao động thuận lợi 64

2.3.1 Các yếu tố cơ bản thuộc về điều kiện lao động 64 2.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá điều kiện lao động trong doanh nghiệp 65 2.3.3 Hoạt động chủ yếu nhằm tạo điều kiện lao động thuận lợi

Chương 3 ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 73 3.1 Khái niệm và nguyên tắc xây dựng định mức lao động

3.1.1 Khái niệm định mức lao động trong doanh nghiệp 74 3.1.2 Nguyên tắc xây dựng định mức lao động trong doanh nghiệp 75

3.2 Phương pháp định mức lao động trong doanh nghiệp 76

3.2.1 Các phương pháp định mức lao động chi tiết trong doanh nghiệp 76

3.3 Quy trình xây dựng định mức lao động trong doanh nghiệp 110

3.3.1 Chuẩn bị tư liệu và căn cứ xây dựng định mức lao động 111 3.3.2 Xây dựng tiêu chuẩn định mức lao động và lựa chọn phương pháp

3.4 Định mức lao động đối với lao động nhân viên trong doanh nghiệp 117

3.4.1 Những nội dung chủ yếu của định mức lao động

3.4.2 Một số phương pháp định mức lao động đối với lao động nhân viên 121

3.5 Định mức lao động với vấn đề định biên trong tổ chức lao động

3.5.1 Định mức lao động là cơ sở cho định biên lao động 127

Trang 7

Câu hỏi ôn tập 137

Chương 4 TỔ CHỨC VÀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG

4.1 Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của tổ chức lao động

đối với lao động quản lý trong doanh nghiệp 145

4.1.1 Đặc điểm và vai trò của lao động quản lý trong doanh nghiệp 145 4.1.2 Khái niệm và mục đích của tổ chức lao động đối với lao động quản lý

4.1.3 Nhiệm vụ của tổ chức lao động đối với lao động quản lý

4.1.4 Ý nghĩa của tổ chức lao động quản lý đối với hoạt động quản lý

4.2 Nội dung chủ yếu của tổ chức lao động đối với lao động quản lý

4.2.1 Phân công, hợp tác lao động quản lý trong doanh nghiệp 152 4.2.2 Tổ chức và phục vụ nơi làm việc của lao động quản lý

4.3 Định mức lao động đối với lao động quản lý trong doanh nghiệp 159

4.3.1 Khái niệm định mức lao động đối với lao động quản lý

4.3.2 Các phương pháp định mức lao động đối với lao động quản lý

4.3.3 Xác định định mức lao động đối với lao động quản lý

Chương 5 TỔ CHỨC VÀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG SẢN XUẤT

5.1 Tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp 171

5.1.1 Khái niệm và đặc điểm lao động sản xuất, tổ chức lao động sản xuất

Trang 8

5.1.2 Nhiệm vụ và nguyên tắc của tổ chức lao động sản xuất

5.1.3 Nội dung tổ chức lao động sản xuất trong doanh nghiệp 174

5.2 Định mức lao động sản xuất trong doanh nghiệp 185

5.2.1 Khái niệm và phân loại định mức lao động sản xuất trong doanh nghiệp 185 5.2.2 Yêu cầu của định mức lao động sản xuất trong doanh nghiệp 186 5.2.3 Nội dung định mức lao động sản xuất trong doanh nghiệp 187 5.2.4 Một số phương pháp định mức lao động sản xuất thông dụng 189

Chương 6 TỔ CHỨC VÀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG THƯƠNG MẠI

6.1 Đặc điểm và phân loại lao động thương mại trong doanh nghiệp 197

6.2 Tổ chức lao động thương mại trong doanh nghiệp 200

6.2.1 Phân công hợp tác lao động thương mại trong doanh nghiệp 200 6.2.2 Tổ chức và phục vụ nơi làm việc của lao động thương mại

6.3 Định mức lao động thương mại trong doanh nghiệp 212

6.3.1 Xây dựng định mức lao động tổng hợp theo đơn vị sản phẩm 215

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Sơ đồ 1.1: Tổ chức bộ máy quản lý tổ chức lao động 33

Sơ đồ 3.1: Quy trình xây dựng định mức lao động

Sơ đồ 6.1: Sơ đồ tổ chức phục vụ nơi làm việc

Hình 6.1: Mối liên hệ giữa các hình thức phân công lao động 203

Trang 11

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HỌC PHẦN TỔ CHỨC VÀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG

TRONG DOANH NGHIỆP

Cũng giống như các môn khoa học khác, tổ chức và định mức lao động là khoa học được đúc rút từ thực tiễn hoạt động lao động của con người, phát triển cùng với sự phát triển của sản xuất xã hội loài người và được khái quát thành lý thuyết khoa học gắn liền với sự ra đời của khoa học quản trị; tổ chức và định mức lao động là một nội dung quan trọng của chức năng tổ chức của quản trị một tổ chức Các công trình đầu tiên

về khoa học quản trị nói chung và tổ chức lao động nói riêng thuộc về trường phái quản trị khoa học mà cha đẻ là F.W.Taylor - Tổ chức lao động theo kiểu dây chuyền được phát triển thêm bởi những người kế tục F.W.Taylor trong tổ chức lao động và định mức lao động (là cơ sở cho tổ chức lao động) cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, sự phát triển của khoa học, công nghệ xuất hiện các hình thức mới của tổ chức lao động (luân chuyển, mở rộng, làm phong phú nhiệm vụ, tổ chức lao động theo nhóm tự quản, bán tự quản ), với nội dung và phương pháp định mức khoa học đem lại hiệu quả của lao động cao hơn, hoàn thiện, tiến bộ hơn

Tổ chức lao động ngày nay là tổ chức lao động khoa học, là tổ chức lao động được ứng dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật công nghệ

và kinh nghiệm tiên tiến, đảm bảo quá trình lao động hợp lý, đạt hiệu quả cao hơn

1 Đối tượng nghiên cứu

Là một khoa học, tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp

có đối tượng nghiên cứu riêng Tổ chức lao động về bản chất là tổ chức quá trình lao động của con người trong sự kết hợp giữa 3 yếu tố của quá trình lao động, theo đó con người sử dụng công cụ lao động tác động lên quá trình lao động Trong nền sản xuất tập thể hóa, chuyên môn hóa lao động ngày càng cao đòi hỏi quá trình lao động của con người trong tập

Trang 12

thể phải có sự phân công, hợp tác khoa học, hợp lý hướng đến thực hiện mục tiêu của quá trình lao động, do đó đối tượng nghiên cứu của tổ chức

và định mức lao động trong doanh nghiệp là nghiên cứu các mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình lao động, qua đó đảm bảo sự phân công, hợp tác một cách hợp lý, khoa học trong tổ chức lao động Đồng thời để đảm bảo phối hợp một cách khoa học, nhịp nhàng, đồng bộ phải tiến hành định mức lao động đối với mỗi cá nhân, tập thể người lao động, là

cơ sở cho việc phân công, hợp tác một cách khoa học, qua đó đảm bảo năng suất, chất lượng, hiệu quả cao của quá trình lao động Như vậy, định mức lao động là cơ sở để tổ chức lao động khoa học Từ sự phân tích nội hàm của tổ chức lao động khoa học cho thấy nội dung nghiên cứu của tổ chức lao động khoa học trong doanh nghiệp là: Phân công và hợp tác lao động; Xây dựng định mức lao động khoa học làm cơ sở cho

tổ chức lao động trong doanh nghiệp; Tổ chức nơi làm việc và phục vụ nơi làm việc để đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho lao động của cá nhân, tập thể, khai thác tối đa các nguồn lực của quá trình lao động trong doanh nghiệp Bên cạnh đó tổ chức lao động phải tạo môi trường thuận lợi về thể chế (pháp luật của lao động), môi trường tự nhiên, xã hội và tâm lý, bầu không khí làm việc và văn hóa trong lao động đảm bảo kích thích động cơ lao động tích cực, đem lại hiệu quả cao của quá trình lao động trong doanh nghiệp

Để đạt mục tiêu học phần và chuyên ngành đào tạo, giáo trình được cấu trúc thành 6 chương, trong đó với ý tưởng là phần đầu trình bày các nguyên lý khoa học của tổ chức và định mức lao động làm cơ sở cho việc vận dụng vào nghiên cứu tổ chức và định mức đối với các loại lao động

cụ thể, chủ yếu trong doanh nghiệp là lao động sản xuất và lao động thương mại

Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp là một môn khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, gắn liền với khoa học tổ chức và quản trị nhân lực và có các mối quan hệ với các môn khoa học khác như luật lao động, quản trị học, quản trị nguồn nhân lực, thống

Trang 13

của học phần Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp là các quy luật, các lý thuyết khoa học về tổ chức, quản trị nhân lực, chính sách pháp luật của Nhà nước về lao động, các phương pháp khoa học trong định mức lao động; các quy luật xã hội tâm sinh lý trong lao động và các môn khoa học liên quan khác

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Là một môn khoa học thuộc lĩnh vực xã hội nhân văn, Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng để nghiên cứu quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật về lao động của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn cụ thể

2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Học phần Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống; đi từ mục đích của tổ chức và định mức lao động, mục tiêu và yêu cầu của học phần đối với chuyên ngành đào tạo “Quản trị nhân lực doanh nghiệp” từ đó xác định các nội dung cấu trúc và phương pháp theo trật tự logic để thực hiện mục đích

Phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát hóa được sử dụng để phân tích, luận giải các vấn đề lý luận từ đó khái quát hóa lý luận của từng chương, mục cũng như toàn bộ giáo trình

Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh sử dụng trong xác định các mức lao động, định mức lao động và định biên trong doanh nghiệp

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC

- Các hình thức và nội dung cơ bản của tổ chức lao động;

- Vai trò của định mức lao động và các nguyên tắc xây dựng định mức lao động;

- Các loại mức lao động

1.1 Tổ chức lao động

1.1.1 Khái niệm về tổ chức lao động

Lao động trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào cũng là hoạt động có mục đích của con người và đều diễn ra dưới sự kết hợp của 3 yếu tố: Công cụ lao động, đối tượng lao động và người lao động

Sự phát triển của xã hội loài người dẫn đến sản xuất không còn là một quá trình riêng lẻ mà mang tính tổng thể, xã hội, quá trình sản xuất chỉ có hiệu quả cao nếu con người biết kết hợp tối ưu 3 yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, tức là biết tổ chức tốt quá trình lao động của con người

Tổ chức lao động là tổ chức quá trình hoạt động của con người tác động lên đối tượng lao động trong sự kết hợp 3 yếu tố của quá trình lao động và mối quan hệ giữa những người lao động/tập thể người lao động với nhau trong quá trình lao động nhằm đạt được mục tiêu

Trang 16

Tổ chức lao động là công cụ không tách rời của quá trình sản xuất, phải căn cứ vào mục đích của quá trình sản xuất và hướng đến thực hiện mục đích của quá trình sản xuất nói chung và quá trình lao động nói riêng Với các yếu tố của quá trình sản xuất gồm có: Lao động, đối tượng lao động và công cụ lao động đã có thì yếu tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả của quá trình sản xuất là tổ chức lao động Song ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đặc biệt là của khoa học tổ chức và của quản trị nhân lực thì việc ứng dụng các thành quả của khoa học công nghệ vào tổ chức lao động đem lại kết quả cao hơn nhiều so với tổ chức lao động nói chung

Trong nền sản xuất tập thể hóa, chuyên môn hóa lao động trong tập thể đòi hỏi phải có sự phân công, phối hợp, hợp tác để đảm bảo thực hiện mục tiêu của quá trình lao động với một hiệu quả cao Mối quan hệ giữa những người lao động và tập thể người lao động được thực hiện thông qua sự phân công, phối hợp, hợp tác trong quá trình lao động

Tổ chức lao động khoa học giống tổ chức lao động ở chỗ đều là tổ chức quá trình lao động của con người tác động lên đối tượng lao động trong điều kiện môi trường nhất định, song tổ chức lao động khoa học khác so với tổ chức lao động ở phương pháp, cách thức giải quyết các vấn đề thực tiễn của tổ chức lao động được ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ, kinh nghiệm tiên tiến để nâng cao hiệu quả của quá trình lao động

1.1.2 Mục đích và nhiệm vụ của tổ chức lao động

1.1.2.1 Mục đích tổ chức lao động

Mục đích tổ chức lao động là nhằm đạt kết quả lao động cao, đồng thời đảm bảo tính khoa học, sự an toàn, phát triển toàn diện người lao động góp phần củng cố mối quan hệ lao động của con người trong lao động Mục đích trên xuất phát và dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn từ mục đích của nền sản xuất và vai trò của con người trong quá trình sản xuất vì xét đến cùng mục đích của nền sản xuất là phục vụ con người,

Trang 17

thỏa mãn nhu cầu phát triển của con người, sau nữa con người là yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất do đó mọi biện pháp cải tiến, hoàn thiện tổ chức lao động quá trình sản xuất đều phải hướng đến tạo điều kiện cho người lao động hiệu quả hơn, đảm bảo an toàn và phát triển của bản thân người lao động

1.1.2.2 Nhiệm vụ của tổ chức lao động

Với mục đích trên trong điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tổ chức lao động phải thực hiện các nhiệm vụ về mặt kinh tế, tâm sinh lý và xã hội

a.Về mặt kinh tế: Tổ chức lao động phải đảm bảo kết hợp yếu tố kỹ

thuật công nghệ với con người trong quá trình sản xuất để khai thác, phát huy các tiềm năng của lao động và các yếu tố nguồn lực khác nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất, tạo tiền đề để người lao động sản xuất mở rộng sức lao động, phát triển toàn diện

b.Về mặttâm sinh lý: Nhiệm vụ của tổ chức lao động là phải tạo cho

người lao động được làm việc trong môi trường và điều kiện tốt bao gồm các yếu tố môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa - xã hội, nhân khẩu học tạo sự hấp dẫn trong công việc tạo động lực phấn đấu trong lao động với những điều kiện về sức khỏe, sự an toàn và vệ sinh lao động và những điều kiện vật chất thuận lợi cho lao động, sự bình đẳng dân chủ được tôn trọng và quan tâm

c.Về mặt xã hội: Nhiệm vụ của tổ chức lao động là tạo điều kiện

được phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực và tâm lực, biến lao động không chỉ là phương tiện để con người sống và phát triển mà còn trở thành nhu cầu sống thông qua giáo dục, động viên con người trong lao động, tạo nhận thức đúng đắn của con người và sự hấp dẫn của công việc Các nhiệm vụ trên đây đều nhằm hướng đến thực hiện mục đích của tổ chức lao động và có mối quan hệ khăng khít tạo tiền đề, bổ sung cho nhau trong đó nhiệm vụ kinh tế tạo tiền đề để thực hiện các mục tiêu

Trang 18

tâm sinh lý và xã hội, đồng thời việc thực hiện tốt các nhiệm vụ về tâm sinh lý và xã hội sẽ thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế

1.1.3 Các nguyên tắc của tổ chức lao động

Xuất phát từ bản chất, mục đích và vai trò của tổ chức lao động, khi thực hiện tổ chức lao động phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

1.1.3.1 Nguyên tắc khoa học: Đây là nguyên tắc đòi hỏi các biện

pháp tổ chức lao động phải được thiết kế và áp dụng trên cơ sở vận dụng các kiến thức, nguyên lý khoa học, đáp ứng được các yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường, các nguyên lý của quản trị nói chung, quản trị nhân lực nói riêng và các môn khoa học có liên quan khác cũng như quan điểm, đường lối và các quy định pháp luật đối với người lao động của Đảng và Nhà nước, qua đó khai thác tối đa các nguồn tiềm năng của người lao động, nguồn lực lao động thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của quốc gia, tổ chức và doanh nghiệp, thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu phát triển tự do, toàn diện của người lao động

1.1.3.2 Nguyên tắc tác động tương hỗ: Khi nghiên cứu và thiết kế

tổ chức lao động, các vấn đề phải được xem xét trong mối quan hệ tác động tương hỗ, hữu cơ qua lại lẫn nhau, quan hệ giữa các khâu công việc, nhiệm vụ trong một bộ phận, quan hệ giữa các bộ phận với nhau và với tổng thể toàn tổ chức/doanh nghiệp; phải nghiên cứu nhiều mặt cả kinh tế lẫn xã hội, cái chung với cái riêng của cá nhân, từ đó tạo nên sức mạnh tổng hợpcủa mọi bộ phận và toàn bộ tổ chức/doanh nghiệp

1.1.3.3 Nguyên tắc đồng bộ: Nguyên tắc này đòi hỏi khi thực hiện

các biện pháp tổ chức lao động phải giải quyết, sự phối hợp đồng bộ các vấn đề liên quan bao gồm các công việc, các nhiệm vụ, các bộ phận, các cấp quản trị có liên quan vì lao động ở mỗi khâu, mỗi công việc, mỗi nhiệm vụ có mối liên hệ mật thiết đến các công việc/nhiệm vụ, các khâu của quá trình sản xuất, đòi hỏi phải có sự đồng bộ về tổ chức, vận hành, phải phối hợp giữa các cá nhân, bộ phận và các cấp quản lý mới đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra bình thường, không bị ách tắc

Trang 19

1.1.3.4 Nguyên tắc kế hoạch: Nguyên tắc này thể hiện trên haimặt: Một là: Các biện pháp tổ chức lao động phải được kế hoạch hóa

chặt chẽ, trên cơ sở những phương pháp khoa học, từ việc xác định mục tiêu của tổ chức lao động khoa học đến việc tổ chức điều hành, giám sát việc xây dựng và thực hiện các biện pháp tổ chức lao động Tổ chức lao động phải được kế hoạch hóa nghiêm túc theo các yêu cầu của công tác

kế hoạch

Hai là: Tổ chức lao động khoa học phải gắn với mục tiêu và yêu

cầu của kế hoạch của tổ chức/doanh nghiệp, tổ chức lao động là một nội dung, một bộ phận trong kế hoạch hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp nên nó phải đảm bảo thực hiện được kế hoạch hoạt động đã đặt ra với việc khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực, vật lực hiện có, và sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng với các kế hoạch khác

1.1.3.5 Nguyên tắc huy động tối đa sự tự giác, tính sáng tạo của người lao độngtrong xây dựng và thực hiện các biện pháp tổ chức lao động

Nguyên tắc này dựa trên cơ sở người lao động là người hiểu rõ công việc, nhiệm vụ và họ cũng là người trực tiếp thực hiện các công việc, nhiệm vụ, do đó việc khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện các biện pháp tổ chức lao động vừa đảm bảo phát huy được sự sáng tạo của người lao động vừa đảm bảo tính khả thi cao và tạo tâm lý tích cực cho họ trong thực thi công việc, nhiệm vụ qua đó thúc đẩy năng suất và hiệu quả công việc

1.1.3.6.Nguyên tắc tiết kiệm, đảm bảo thực hiện các quy định của pháp luật đối với người lao động

Nguyên tắc này dựa trên và đòi hỏi phải thực hiện trên thực tế đó là nguồn nhân lực là nguồn lực quý hiếm, phải sử dụng tiết kiệm và hiệu quả, đồng thời đây là nguồn lực đặc biệt cho nên tổ chức lao động phải đảm bảo các mục tiêu an toàn, vệ sinh lao động, đảm bảo công ăn việc làm, thực hiện trách nhiệm xã hội đầy đủ với người lao động, đảm bảo cho người lao động được phát triển tự do, toàn diện

Trang 20

1.1.4 Các loại hình tổ chức lao động

Với sự phát triển của công nghiệp, tổ chức lao động ra đời từ thế kỷ XIX (1880), đối lập với phương pháp của thợ thủ công, đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng loạt, quy mô lớn của công nghiệp với chi phí thấp Các công trình nghiên cứu về tổ chức lao động khoa học được quan tâmnhư F.W Taylor (1911) và tiếp sau cùng cả F và C Gilbeth; C Bedaux, H.B Maynard và H.L Gant

1.1.4.1 Tổ chức lao động theo Taylor F.W

Tổ chức lao động khoa học dựa vào nguyên tắc quản trị khoa học:

a.Chuyên môn hóa, tức là mỗi người luôn chỉ thực hiện một công

việc (theo quan điểm của CN Mác - Lê Nin chuyên môn hóa giúp nâng cao năng suất lao động, do người lao động chuyên môn hóa công việc

b.Sự phân đoạn quá trình sản xuất thành các nhiệm vụ, những động

tác/thao tác đơn giản, dễ thực hiện

c.Cá nhân hóa: Mỗi vị trí công tác được tổ chức sao cho tương đối

độc lập, ít quan hệ với những chỗ làm việc khác để tăng nhịp độ sản xuất,

vì khi bị lệ thuộc trong quá trình sản xuất thì người lao động khó tự mình độc lập hành động để nâng cao năng suất

d.Định mức thời gian bắt buộcđể hoàn thành một nhiệm vụ công việc: Điều không bắt buộc người lao động phải rèn luyện kỹ năng nghề

nghiệp đáp ứng được yêu cầu chủ doanh nghiệp mới tồn tại trong điều kiện chủ yếu sản xuất

e.Tách bạch việc thực hiện với việc kiểm tra: Tức là người thực

hiện nhiệm vụ, công việc trong quá trình sản xuất/lao động và người kiểm tra giám sát họ là những người khác nhau Đảm bảo tính khách quan trong đánh giá hoàn thành công việc, tránh tình trạng mẹ hát, con khen hay ,điều này là đòi hỏi người lao động phải phấn đấu tốt để hoàn thành nhiệm vụ

Trang 21

f.Tách biệt giữa thiết kế, phối hợp và thực hiện: Tức là tách bạch

giữa người quản lý (làm nhiệm vụ thiết kế phối hợp) với nhân viên thực hiện (tác nghiệp)

Nguyên tắc tổ chức lao động theo Taylor giúp người lao động tinh thông nghề nghiệp, cắt giảm được những động tác thừa, nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành Điều hạn chế của nguyên tắc tổ chức lao động theo Taylor là coi người lao động như cái đinh vít của một cỗ máy, hoạt động như một rô bốt trong khi người lao động là con người có đời sống tinh thần, văn hóa, có tâm tư nguyện vọng, tâm lý cần phải được quan tâm, động viên và khích lệ, tạo động cơ trong lao động

1.1.4.2.Tổ chức lao động của những người kế tục Taylor

Tiêu biểu trong số này là Gantt H.L, Gillberth,Bedaux, Maynard

a Gantt và nguyên tắc chia nhỏ công việc

Gantt H.L là cộng sự của Taylor, theo đuổi ý tưởng là chia nhỏ nhiệm vụ thành các công việc nhỏ đến mức có thể giao cho bất kỳ người lao động nào có trình độ trung bình, ông hợp lý hóa lao động theo dây chuyền để khai thác tối đa sức lao động Nguyên tắc của Gantt H.L cho phép khai thác tối đa lao động của doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp có những lao động ở trình độ thấp và được các doanh nghiệp loại này ứng dụng thành công, ngay cả Henry Ford - Ông chủ của ngành công nghiệp

ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ đã sớm áp dụng nguyên tắc này thành công

b.Gillberth và nguyên tắc chuẩn hóa các dãy thao tác thực thi công việc

Gillberth nghiên cứu hoạt động của người lao động và nhận thấy tất

cả các hoạt động của người lao động có thể chia thành một số động tác

cơ bản, phát hiện ra những động tác thiếu và động tác thừa, từ đó Gillberth loại bỏ những động tác thừa, chuẩn hóa các thao tác thành chuỗi trong quá trình hoạt động của người lao động qua đó tiết kiệm thời gian, hao phí lao động và nâng cao năng suất, điều này rất có ích trong rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp của người lao động, nhất là trong các

Trang 22

ngành công nghiệp hoạt động theo dây chuyền đòi hỏi độ chính xác cao của các bộ phận, mắt xích trong dây chuyền

c.Bedaux và bấm giờ

Bấm giờ để xác định thời gian chuẩn cho việc hoàn thành một công việc, để từ đó xác định hướng và thưởng phạt nếu hoàn thành công việc nhanh hay chậm Việc xác định thời gian hoàn thành công việc giúp định mức lao động hợp lý và thúc đẩy sự phấn đấu, rèn luyện kỹ năng tay nghề của người lao động, rút ngắn thời gian hoàn thành công việc, nâng cao năng suất, hiệu quả công việc, tuy vậy điều đó cũng có thể gây căng thẳng về mặt tâm lý, đối với người lao động có thể dẫn tới sự chống đối

d.Maynard và bảng thời gian

Việc bấm giờ người lao động dẫn đến sự chống đối, song với việc Maynard xây dựng bảng thời gian (Method time measurement), bảng này cho mỗi động tác cơ bản một thời gian chuẩn để hoàn thành, từ đó cộng thời gian hoàn thành các thao tác cho việc hoàn thành công việc, từ đó không cần phải có những người bấm giờ tại nơi làm việc dẫn đến những

ức chế tâm lý của người lao động

Taylor và những người kế tục Taylor đã thúc đẩy phát triển sản xuất hàng loạt tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp và tổ hợp công nghiệp lớn, song nói chung sự thay đổi đó khó được người lao động tiếp nhận vì sự căng thẳng về tâm lý, tính đơn điệu; người lao động kém hứng thú vì hạn chế sự sáng tạo trong lao động, sự căng thẳng, nhịp độ làm việc cao cũng dẫn đến tai nạn lao động và gia tăng sự vắng mặt, mâu thuẫn nội bộ tăng, dẫn đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm không được như mong muốn của Taylor và những cộng sự, tổ chức lao động theo Taylor và cộng sự như đã nói ở trên đã coi con người như một đinh vít trong cỗ máy, một rô bốt vô tri vô giác, họ quên đi hiệu quả hoạt động, phụ thuộc vào yếu tố con người trong hoạt động sản xuất

Cùng với sự phát triển của công nghệ, con người và quản lý đã xuất hiện các hình thức lao động mới, trong đó đáng kể là trường phái lao

Trang 23

động con người mà tiêu biểu là Elton Mayo và F Hezberg và các nhà nghiên cứu sau này đã phát triển các hình thức tổ chức lao động như đổi chỗ làm việc và mở rộng nhiệm vụ, làm phong phú nhiệm vụ, tổ chức nhóm bán tự quản và tổ chức hướng vào các nhóm

1.1.4.3 Những hình thức mới của tổ chức lao động

Theo D Larue, A Caillat (1990) các hình thức mới của tổ chức lao động gồm:

a Đổi chỗ làm việc và mở rộng nhiệm vụ

Đổi chỗ làm việc mục đích là tránh sự nhàm chán và căng thẳng, đơn điệu, đồng thời tạo điều kiện để nhân viên hiểu rõ, đầy đủ hơn nhiệm

vụ liên quan đến nhóm làm việc để phối hợp tốt hơn trong công việc, nâng cao trình độ nghề nghiệp, đồng thời qua đó cũng phát hiện được khả năng, tố chất của một người phù hợp với công việc, qua đó phát triển nghề nghiệp

Mở rộng nhiệm vụ là việc đưa thêm các công việc có liên quan đến công việc mà nhân viên đang làm, để chu kỳ hoạt động của nhân viên được kéo dài, tránh sự căng thẳng, mệt mỏi do công việc, nhiệm vụ được triển khai có chu kỳ ngắn

Mặc dù có những ưu điểm song nhìn chung theo G.Elgozy sự mở rộng nhiệm vụ hay đổi chỗ công việc nhìn chung cũng chỉ là “Một thứ chủ nghĩa Taylor đa dạng hóa”, nó làm giảm không nhiều sự đơn điệu, nhàm chán và không tạo động cơ cho người lao động Một người làm tuyển dụng nhân lực quản trị cũng không hứng thú nhiều khi việc tuyển dụng nhân viên diễn ra thường xuyên, đơn điệu Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp thì đổi chỗ nhiệm vụ và mở rộng công việc lại rất tốt trong việc

bố trí lao động thay thế những người vắng mặt hay bỏ đi và linh hoạt hơn trong bố trí công việc trong điều kiện kỹ thuật, công nghệ thay đổi nhanh

b Làm phong phú nhiệm vụ

Làm phong phú nhiệm vụ là hình thức đưa vào những công việc hấp dẫn hơn, lành nghề hơn, nâng cao trách nhiệm nhân viên với việc tạo

Trang 24

động lực làm việc cho họ, ví dụ thay vì chủ hay áp đặt thì nhà quản trị có

thể giao cho nhân viên tự xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai, tự đánh giá kết quả

c Nhóm bán tự quản: Là hình thức tổ chức lao động theo đó việc

mở rộng nhiệm vụ, làm phong phú nhiệm vụ không chỉ bó hẹp cho một

cá nhân người lao động mà triển khai trong một đơn vị trong doanh nghiệp Trong nhóm bán tự quản, lãnh đạo doanh nghiệp giao việc thực hiện toàn bộ nhiệm vụ cho nhóm người lao động (trong bộ phận) để họ tự

tổ chức các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo sự phân cấp, ví

dụ sau khi xác định mục tiêu cho phòng kinh doanh, giám đốc doanh

nghiệp giao quyền tự chủ theo phân cấp quản lý để phòng kinh doanh tự

tổ chức hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đã giao Phòng kinh doanh lại đặt mục tiêu và giao nhiệm vụ cho các nhóm trong phòng thực hiện, các nhóm tự tổ chức hành động và kiểm tra giám sát các hành động của mình

Tổ chức hoạt động nhóm tự quản bao gồm các giai đoạn:

Nhóm phi chính thức: Mục tiêu hoạt động nhóm do các thành viên nhóm thỏa thuận

Trang 25

+Xác định nguyên tắc làm việc của nhóm

Nguyên tắc chung hoạt động của nhóm:

Hoạt động của nhóm phải phát huy được tính sáng tạo, trách nhiệm của thành viên; tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tính dân chủ, phân quyền mạnh mẽ, quản trị nhóm theo mục tiêu

Đảm bảo sự phối hợp, hợp tác giữa các thành viên, bộ phận của nhóm khoa học, nhịp nhàng, đồng bộ

Nguyên tắc riêng của nhóm do các thành viên nhóm tự thỏa thuận

-Phân công công việc: Trong nhóm phải đảm bảo cân đối công việc

các thành viên; phân công công việc phải phù hợp với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của thành viên; khả năng hoàn thành công việc của nhóm

- Xác định tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc: Nhóm

phải xây dựng các tiêu chí kết quả, hiệu quả hoạt động, mức độ thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ của cá nhân, tinh thần, thái độ trong hợp tác,

Tổ chức lao động theo nhóm tự quản là thành tựu của lý luận và thực tiễn hoạt động quản trị tổ chức, được phát triển mạnh mẽ từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay Việc tổ chức lao động theo nhóm rất phù hợp với kinh tế thị trường đòi hỏi sự dân chủ hóa cao, khai thác tối đa những tiềm năng, thế mạnh của người lao động, tạo động lực mạnh mẽ cho người lao động và phù hợp với bối cảnh công nghệ cao và kinh tế chuyển dần sang kinh tế tri thức

Trang 26

1.1.5 Những nội dung cơ bản của tổ chức lao động

Tổ chức lao động phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau đây:

1.15.1.Phân công và hợp tác lao động

Phân công và hợp tác lao động là nội dung quan trọng của tổ chức lao động, qua phân công lao động các cơ cấu về lao động trong tổ chức/doanh nghiệp được hình thành, tạo ra bộ máy với các bộ phận cùng với các chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận đảm bảo thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp Hợp tác lao động là sự liên kết, phối hợp, tương tác lẫn nhau giữa các cá nhân, bộ phận của tổ chức/doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, nhằm hướng đến thực hiện mục tiêu chung của

tổ chức/doanh nghiệp và mục tiêu riêng của mỗi cá nhân, bộ phận được

ấn định bởi chức năng, nhiệm vụ được tổ chức giao phó

Để đảm bảo phân công và hợp tác lao động khoa học, hợp lý cần phải xác định định mức lao động khoa học, hợp lý Định mức lao động là

cơ sở để tổ chức lao động khoa học; định mức lao động là quy định về mức tiêu hao lao động sống cho một hay một số người lao động có nghề nghiệp và trình độ chuyên môn thích hợp để hoàn thành một công việc hay một đơn vị sản phẩm đáp ứng yêu cầu chất lượng trong điều kiện và môi trường nhất định Định mức lao động khoa học, hợp lý là yếu tố đảm bảo tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt động, phù hợp với khả năng lao động của người lao động

Thông thường, định mức lao động được tính theo thời gian, là mức thời gian cần thiết được quy định để một hay một nhóm người lao động

có trình độ lành nghề nhất định hoàn thành một công việc hoặc tính theo

số lượng sản phẩm được quy định đối với một người lao động hay nhóm người lao động có trình độ lành nghề nhất định phải hoàn thành với chất lượng đảm bảo trong một đơn vị thời gian

Để định mức lao động khoa học, hợp lý thì việc xác định định mức lao động phải dựa trên các cơ sở khoa học, phương pháp xác định khoa

Trang 27

học, căn cứ vào điều kiện tổ chức kỹ thuật và môi trường làm việc, vào bản thân của người lao động (các yếu tố về thể lực, trí lực và phẩm chất nghề nghiệp) đồng thời phải mang tính tiên tiến, khả thi tức là định mức lao động phải chuẩn để người lao động phấn đấu hoàn thành công việc, nhưng không quá cao dẫn đến thiếu tính khả thi và cũng không thấp dẫn đến sự nhàm chán, lãng phí nguồn lực

1.1.5.2 Tổ chức và phục vụ nơi làm việc

a Khái niệm

Tổ chức phục vụ nơi làm việc là cung cấp cho nơi làm việc các nhu cầu cần thiết để quá trình lao động diễn ra tại nơi làm việc được bình thường, liên tục và hiệu quả

Các nhu cầu cần thiết cho quá trình lao động là các nhu cầu đầu vào của quá trình lao động như nguyên vật liệu, hàng hóa, năng lượng, các dịch vụ khác để đảm bảo cho quá trình lao động diễn ra bình thường, liên tục và theo kế hoạch đã định

Để đảm bảo phục vụ cho nơi làm việc đồng bộ, hiệu quả thì tổ chức phục vụ nơi làm việc phải thực hiện các nguyên tắc:

(i) Phục vụ theo yêu cầu của từng chức năng (sản xuất, thương mại, tài chính, nhân sự, );

(ii) Phục vụ phải theo kế hoạch đảm bảo nhịp nhàng, ăn khớp với yêu cầu kế hoạch hành động của nơi làm việc;

(iii) Phải có dự trữ để dự phòng để tránh gián đoạn do thiếu nguồn cung cấp;

(iv) Phục vụ phải đảm bảo tính đồng bộ trong cung ứng các yếu tố đầu vào đáp ứng nhu cầu hoạt động của mỗi nơi làm việc và trong toàn đơn vị, đó là do hoạt động của các cá nhân, bộ phận có mối liên quan với nhau, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ;

(v) Phục vụ phải đảm bảo chất lượng, độ tin cậy cao để hoạt động được diễn ra liên tục, chất lượng đầu ra đảm bảo;

Trang 28

(vi) Phục vụ phải đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả, chính là việc cung cấp các yếu tố đầu vào để phục vụ quá trình lao động phải đảm bảo

dễ thay thế, khắc phục sự cố dẫn đến ngưng trệ quá trình lao động, đồng thời phải tiết kiệm chi phí

Nơi làm việc là phần diện tích và không gian được trang bị các phương tiện kỹ thuật cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ, công việc đã xác định

Trình độ tổ chức, phục vụ nơi làm việc ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, sự hứng thú và năng suất lao động của người lao động

b Nhiệm vụ tổ chức và phục vụ nơi làm việc

Tạo điều kiện vật chất, kỹ thuật cần thiết để tiến hành các hoạt động của người lao động với năng suất cao, đảm bảo cho hoạt động được liên tục và nhịp nhàng

Tạo những điều kiện thuận lợi nhất về môi trường, vệ sinh an toàn lao động, tạo hứng thú cho những người lao động làm việc

Cho phép áp dụng các phương pháp và thao tác lao động tiên tiến

c Tổ chức nơi làm việc: Thiết kế nơi làm việc, trang bị nơi làm

việc, bố trí sắp xếp nơi làm việc theo một trật tự nhất định

Thiết kế nơi làm việc là việc xây dựng các thiết kế mẫu cho các nơi làm việc tương ứng với các loại hình công việc, nhiệm vụ, nhằm đảm bảo tính khoa học và hiệu quả đối với hoạt động của người lao động

Trang bị nơi làm việc là trang bị, lắp đặt đầy đủ các loại thiết bị, máy móc, phương tiện cần thiết theo yêu cầu của hoạt động để thực hiện các nhiệm vụ/công việc của người lao động tương ứng với chức năng, nhiệm vụ mà họ đảm nhận Thiết bị phục vụ cho nơi làm việc gồm thiết

bị chính và thiết bị phụ

Bố trí nơi làm việc là sắp xếp một cách hợp lý, có trật tự các phương tiện, thiết bị, máy móc trong không gian nơi làm việc

Trang 29

1.1.5.3 Tạo điều kiện lao động thuận lợi cho người lao động

Quá trình lao động luôn diễn ra trong một môi trường nhất định với các yếu tố ảnh hưởng khác nhau tác động đến quá trình lao động, chúng hợp thành các điều kiện lao động Các điều kiện của môi trường tác động đến khả năng làm việc của người lao động

Các điều kiện lao động thường được chia thành 5 nhóm:

a Điều kiện về tâm, sinh lý: Theo đó tổ chức lao động phải đảm

bảo giảm sự căng thẳng về thể lực, thần kinh, sự nhàm chán, tính đơn điệu trong lao động

b Điều kiện môi trường tự nhiên thuận lợi: Môi trường làm việc

phải đảm bảo yêu cầu về không gian rộng thoáng, đảm bảo vệ sinh và tiếng ồn, độ ô nhiễm, bức xạ thấp

c Điều kiện về thẩm quyền: Đảm bảo quyền quyết định của người

tổ chức lao động trong bố trí, sắp xếp nơi làm việc, tạo độ hấp dẫn, giảm bớt sự căng thẳng, tạo tâm lý tích cực trong lao động

d Điều kiện tâm lý xã hội tại nơi làm việc: Tạo bầu không khí, văn

hóa trong nhóm, bộ phận, tổ chức/doanh nghiệp; các chế độ khuyến khích, thưởng - phạt hợp lý, khoa học, tạo thuận lợi cho sự cạnh tranh lành mạnh, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người lao động

e Các điều kiện, chế độ làm việc, nghỉ ngơi:Tạo các điều kiện cơ

sở vật chất, kỹ thuật,trang thiết bị,dụng cụ đầy đủ,không gian hoạt động, chế độ làm việc đảm bảo công việc hợp vớikhả năng chuyên môn, trình

độ, tính cách, tâm lý, bố trí ca, kíp và thời gian làm việc, nghỉ ngơi giữa các ca, kíp, độ dài thời gian làm việc, nghỉ ngơi và hình thức nghỉ ngơi, tích cực

Chế độ làm việc, nghỉ ngơi là trật tự luân phiên và độ dài thời gian của các giai đoạn làm việc và nghỉ ngơi bao gồm:Chế độ làm việc và nghỉ ngơi trong một ca, chế độ làm việc và nghỉ ngơi trong một tuần, chế

độ làm việc và nghỉ ngơi trong một năm

Trang 30

Nền sản xuất hiện đại đòi hỏi trình độ phân công, hợp tác lao động cao với trình độ và quy trình công nghệ phức tạp nên đòi hỏi chế độ làm việc và nghỉ ngơi phải tính toán khoa học, kỹ lưỡng vì chế độ làm việc và nghỉ ngơi ảnh hưởng đến tính đồng bộ, liên tục của quy trình sản xuất, đến sự mệt mỏi, căng thẳng, sức khỏe, thể chất và tinh thần của người lao động do đó sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động

Bên cạnh các nội dung trên đây, tổ chức lao động cần chú ý hoàn thiện các hình thức kích thích lợi ích vật chất và tinh thần đối với người lao động và tăng cường kỷ luật lao động mới đảm bảo thực hiện tiếp tục phân công hợp tác và thực hiện tốt các quy định về tổ chức và phục vụ nơi làm việc

Mục đích của nền sản xuất xã hội là làm thỏa mãn ngày càng đầy

đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng tăng của người lao động, đảm bảo người lao động được phát triển tự do và toàn diện, muốn đạt được điều đó phải không ngừng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả của sản xuất mà một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất, năng suất lao động là phải tạo ra và sử dụng hợp lý các kích thích về lợi ích vật chất và tinh thần đối với người lao động, đây là những động lực quan trọng, chủ yếu để kích thích sự say mê lao động, sáng tạo trong lao động, từ đó người lao động tạo ra một tỷ suất lao động, hiệu quả sản xuất cao hơn và hệ quả là họ sẽ có thu nhập từ lao động cao hơn để thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng của chính bản thân người lao động, đồng thời cũng đóng góp nhiều hơn cho tổ chức/doanh nghiệp và xã hội Các biện pháp kích thích lợi ích vật chất và tinh thần đối với người lao động phải được xây dựng dựa trên cơ sở quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người lao động trên các lý thuyết khoa học về lao động, các quy luật của kinh tế thị trường và phù hợp với các điều kiện thực tế của tổ chức/doanh nghiệp

1.1.5.4 Tăng cường kỉ luật lao động

Tổ chức lao động dựa trên các nguyên lý khoa học về sự phân

Trang 31

hợp lý; để đảm bảo quá trình lao động diễn ra bình thường, liên tục theo

kế hoạch và sự đặt ra cần phải thực hiện nghiêm túc sự phân công, phối hợp, hợp tác các định mức lao động được ban hành

Để đảm bảo kỷ luật lao động lãnh đạo tổ chức/doanh nghiệp cần phải ban hành các chuẩn mực, hành vi, nội quy, quy tắc và các quy định khác có liên quan đến việc thực thi các quy định đối với lao động, từ chế

độ giờ giấc làm việc, nghỉ ngơi, chấp hành các quy định về vận hành thiết bị, công nghệ, các định mức kinh tế - kỹ thuật, chất lượng sản phẩm

vệ sinh an toàn lao động ý thức tiết kiệm và trách nhiệm xã hội

Việc ban hành đầy đủ các quy định trên, giáo dục ý thức tự nguyện,

tự giác thực hiện cùng với việc tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện và thưởng phạt nghiêm minh sẽ tăng cường được kỷ luật lao động

1.1.6 Tổ chức bộ máy quản lý tổ chức lao động

Tổ chức lao động là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình lao động, qua đó tổ chức sự phối hợp, kết hợp các yếu tố của quá trình lao động vừa khoa học, hợp lý trong thực tiễn, đảm bảo nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường

Tổ chức lao động được thực hiện trong quy mô toàn bộ tổ chức/doanh nghiệp, ở các bộ phận và các cá nhân người lao động, với vai trò tác động đến kết quả, hiệu quả hoạt động của tổ chức, bộ phận và cá nhân người lao động nên rất cần phải có bộ phận/nhóm chuyên trách nghiên cứu, tham mưu cho nhóm tự quản các cấp thực hiện tốt hoạt động này

Về nguyên tắc các nhà quản trị các cấp, theo chức năng, nhiệm vụ được phân công đều phải tổ chức lao động quản lý trong phạm vi mình phụ trách và cá nhân người lao động phải tham gia hoạt động này

Tổ chức lao động quản lý là một nội dung quan trọng của tổ chức

và quản lý hoạt động của doanh nghiệp nói chung và là một trong những

Trang 32

chức năng, nhiệm vụ của bộ phận tổ chức và quản trị nhân lực Tùy theo quy mô, đặc điểm, tính phức tạp của tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp mà hình thành các nhóm hay cá nhân chuyên trách về tổ chức lao động Theo Vũ Thị Mai (2016) ở một số nước, biên chế bộ phận/nhóm phụ trách tổ chức lao động có số lượng biên chế thể hiện trong bảng sau đây:

Bảng 1.1: Biên chế người làm công táctổ chức lao động chuyên trách

ở một số nước

Số lượng công nhân viên

của doanh nghiệp (Người)

Tên gọi bộ phận

tổ chức lao động

Số người đảm nhận (Người)

Ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo yêu cầu, nhiệm vụ, quy mô và tính phức tạp của công việc, tổ chức lao động không lớn có thể bố trí 1 đến 2 biên chế, thậm chí những biên chế này có thể kiêm nhiệm những nhiệm vụ khác trong bộ phận tổ chức quản trị nhân lực hay bộ phận kỹ

thuật sản xuất nếu biên chế này thuộc bộ phận kỹ thuật sản xuất

Trang 33

Sơ đồ 1.1: Tổ chức bộ máy quản lý tổ chức lao động

Chức năng của bộ phận/nhóm/cá nhân chuyên trách hay kiêm nhiệm quản lý tổ chức lao động trong doanh nghiệp bao gồm:

(i) Tham mưu, tư vấn cho ban giám đốc/lãnh đạo doanh nghiệp ban hành các quyết định về tổ chức lao động và định mức lao động

(ii) Phối hợp với các phòng ban, bộ phận tác nghiệp triển khai các quy định về tổ chức và định mức lao động trong toàn doanh nghiệp (iii) Phối hợp với các nhóm chức năng khác trong bộ phận tổ chức quản trị nhân lực theo chức năng, nhiệm vụ được phân công

1.2 Định mức lao động

1.2.1 Khái niệm định mức lao động

Định mức lao động là lượng hao phí lao động được quy định để sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc hoàn thành một khối lượng công việc đúng tiêu chuẩn chất lượng trong điều kiện tổ chức và kỹ thuật nhất định

Trang 34

Định mức lao động được biểu hiện bằng mức thời gian để sản xuất

ra 1 đơn vị sản phẩm (theo giờ, phút, giây, ) hoặc số lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu chất lượng phải hoàn thành với một người hay một nhóm người có trình độ lành nghề nhất định trong một đơn vị thời gian, trong điều kiện tổ chức và kỹ thuật nhất định

Định mức lao động bao gồm hai vấn đề cơ bản:

Mức lao động là lượng lao động hao phí để sản xuất một đơn vị sản

phẩm hay khối lượng công việc theo tiêu chuẩn nhất định, đáp ứng với điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định

Quy định mức lao động phải dựa trên cơ sở nghiên cứu các điều

kiện tổ chức kỹ thuật thực hiện công việc, tổ chức lao động và tổ chức sản xuất một cách khoa học có tính đến các yếu tố kinh tế, tâm sinh lý xã hội của người lao động

Để xác định định mức lao động, người làm công tác định mức thường chia nhỏ quá trình lao động thành các bước công việc (nguyên công), tổ hợp thao tác, thao tác từ đó xác định định mức lao động đối với các yếu tố này và tổng hợp thành định mức lao động đối với công việc

Bước công việc (nguyên công) là một phần của quá trình sản xuất

do một người lao động hay một nhóm người thực hiện liên tục một đơn

vị công việc được giao tại một nơi làm việc với một đối tượng lao động

cụ thể, đặc trưng của bước công việc là sự cố định của các yếu tố: Người lao động, đối tượng lao động và nơi làm việc cụ thể

Thao tác là bộ phận của bước công việc (nguyên công), là tổng hợp

các động tác lao động thực hiện liên tục với một công cụ, thiết bị, đối tượng lao động nhất định nhằm đạt được mục tiêu nhất định (của thao tác)

Tổ hợp thao tác là tổng hợp các thao tác lao động của người lao

động khi thực hiện một phần của bước công việc

Trong sản xuất thương mại hay dịch vụ thì bước công việc (nguyên công) là đối tượng trực tiếp để định mức lao động Việc lấy các thao tác

Trang 35

khó khăn vì nó quá chi tiết, khó khăn cho việc quản lý định mức lao động

và kém hiệu quả, ngược lại lấy cả quy trình sản xuất làm đối tượng lao động để xác định định mức lao động cũng không được, vì định mức của quy trình sản xuất phải xác định từ định mức của các yếu tố cấu thành là nguyên công

1.2.2 Vai trò của định mức lao động

1.2.2.1 Định mức lao động là cơ sở để tổ chức lao động

Định mức lao động là cơ sở để xác định nhu cầu lao động trong tổ chức/doanh nghiệp về số lượng, chất lượng và cơ cấu đối với mỗi khâu, mỗi bộ phận và toàn bộ tổ chức/doanh nghiệp

Định mức lao động giúp loại bỏ được những lãng phí trong quá trình lao động cả về người lao động, thời gian lãng phí trong quá trình lao động do loại bỏ được những động tác thừa, do sự phối hợp nhịp nhàng ăn khớp giữa các khâu, công việc, nghiệp vụ trong quá trình hoạt động Định mức lao động mang tính tiên tiến, nên đòi hỏi người lao động phải phấn đấu, nỗ lực nâng cao hoạt động chuyên môn, thể chất, phẩm chất nghề nghiệp để đạt được mức này, tạo sự cạnh tranh trong lao động,

từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp

Định mức lao động tạo cơ sở khoa học cho phân công và hợp tác lao động, giúp bố trí, phân công sử dụng lao động hợp lý; tăng cường kỷ luật lao động và đánh giá kết quả hoạt động của người lao động

1.2.2.2 Định mức lao động là biện pháp quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm

Định mức lao động được xây dựng, tính toán trên cơ sở trung bình tiên tiến, đảm bảo kích thích người lao động (vì phải phấn đấu mới đạt), khai thác tối đa tiềm năng lao động khi tính đến các yếu tố thể lực, trình

độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và các yếu tố tâm lý, xã hội của người lao động gắn với môi trường, hoàn cảnh cụ thể

Trang 36

Định mức lao động tính đến hao phí lao động để hoàn thành một khối lượng sản phẩm nhất định gắn với yêu cầu chất lượng sản phẩm, do giảm thiểu lãng phí thời gian lao động qua đó góp phần nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành và đảm bảo chất lượng sản phẩm

Định mức lao động nghiên cứu các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, công nghệ và con người trong lao động nên góp phần huy động và khai thác tối đa các nguồn lực cho hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp

1.2.2.3 Định mức lao động hợp lý làm cơ sở khoa học, thực tiễn cho các chiến lược, kế hoạch của tổ chức/doanh nghiệp

Các mục tiêu, biện pháp, các chỉ tiêu của kế hoạch được hình thành trên cơ sở các định mức kinh tế, kỹ thuật và lao động - việc xác định chính xác các định mức này, trong đó có định mức lao động sẽ góp phần đảm bảo các chiến lược, kế hoạch, khai thác tối đa các nguồn lực, đảm bảo hiệu quả và tính khả thi cao vì các định mức lao động đã cân nhắc, tính toán nhằm đảm bảo phát huy tối đa yếu tố con người trong hoạt động gắn với việc huy động và sử dụng các nguồn lực khác

Định mức lao động cho phép tổ chức/doanh nghiệp xác định đầy

đủ, chính xác về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động, gắn với yêu cầu chuyên môn, bậc trình độ trong điều kiện tổ chức kỹ thuật cụ thể là công cụ quan trọng để xác định các chiến lược, kế hoạch của tổ chức/doanh nghiệp

1.2.2.4 Định mức lao động là cơ sở để đánh giá, đãi ngộ

Định mức lao động phản ánh mức hao phí lao động của người lao động và là cơ sở để đánh giá kết quả lao động của người lao động, thông qua đó thấy được năng lực, trình độ của người lao động, thấy được năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc mà họ tạo ra, đó là cơ sở cho đãi ngộ nhân lực

Trang 37

Định mức lao động tính đến hao phí sức lực cơ bắp, trí lực, thần kinh tâm lý,do đó khi xác định mức tiền công phải dựa trên cơ sở tính toán những hao phí này của người lao động

1.2.3 Nguyên tắc xây dựng định mức lao động

Khi xây dựng và điều chỉnh định mức lao động phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

- Định mức lao động tổng hợp cho đơn vị sản phẩm, kể cả sản phẩm quy đổi phải được hình thành từ định mức nguyên công và từ định mức biên chế của bộ phận cơ sở và bộ phận quản lý

- Quá trình tính toán định mức lao động phải căn cứ vào các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định cho sản phẩm, quy trình công nghệ, chế độ làm việc của thiết bị, kinh nghiệm tiên tiến, các quy định của Nhà nước đối với lao động

- Mức lao động quy định phải là mức lao động xây dựng trên cơ sở mức lao động trung bình tiên tiến đối với mỗi chức danh công việc Khi thay đổi công nghệ kỹ thuật sản xuất, điều kiện làm việc nói chung phải điều chỉnh định mức lao động cho phù hợp

Mức lao động mới áp dụng hoặc điều chỉnh phải được áp dụng thử

3 tháng rồi sau đó mới hoàn thiện và ban hành chính thức

Tổ chức/doanh nghiệp cần phải có hội đồng định mức lao động để

tổ chức xây dựng hoặc rà soát, điều chỉnh định mức lao động Thành phần hội đồng gồm giám đốc (thủ trưởng cơ quan), một số thành viên đủ chuyên môn, nghiệp vụ do giám đốc lựa chọn (trong đó có thành viên của bộ phận, tổ chức, nhân sự phụ trách mảng này), đại diện ban chấp hành công đoàn

1.2.4 Nội dung cơ bản của định mức lao động

1.2.4.1 Các loại mức lao động

Nội dung cơ bản của định mức lao động là tính toán các lượng lao động hao phí để sản xuất ra một sản phẩm hay hoàn thành một khối

Trang 38

lượng công việc gắn với điều kiện tổ chức và kỹ thuật nhất định, dựa trên tính toán các mức lao động

Các mức lao động được sử dụng trong thực tế được phân loại theo các tiêu thức khác nhau tùy thuộc mục đích sử dụng các định mức lao động trong tổ chức/doanh nghiệp

a Theo phương pháp định mức: Mức lao động được chia thành:

- Mức phân tích khảo sát: Là mức lao động được xây dựng theo

phương pháp phân tích khảo sát, theo đó mức lao động cho mỗi bước công việc được xác định dựa trên các căn cứ kỹ thuật và tài liệu khảo sát ngay tại nơi làm việc

- Mức phân tích tính toán: Là mức lao động được xây dựng theo

phương pháp phân tích tính toán, theo đó mức lao động được xác định bởi định mức kỹ thuật dựa trên cơ sở phân tích kết cấu bước công việc, các yếu tố ảnh hưởng đến hao phí thời gian, các chứng từ kỹ thuật, tiêu chuẩn các loại thời gian cho mỗi bước công việc

- Mức thống kê kinh nghiệm: Là mức lao động được xác định theo

phương pháp thống kê kinh nghiệm, theo đó mức lao động cho một bước công việc được xác định dựa trên số liệu thống kê năng suất lao động và kinh nghiệm của người làm công tác định mứclao động

- Mức thống kê phân tích: Là mức lao động được xây dựng theo

phương pháp thống kê phân tích, theo đó mức lao động cho mỗi bước công việc được xác định dựa số liệu thống kê năng suất lao động và phân tích tình hình sử dụng thời gian lao động của người lao động

- Mức so sánh điển hình: Là mức lao động cho mỗi bước công việc,

được xác định theo phương pháp so sánh điển hình, theo đó mức lao động cho mỗi bước công việc được xác định trên cơ sở so sánh hao phí thời gian lao động thực hiện bước công việc điển hình và các yếu tố ảnh hưởng quy đổi

Trang 39

b Theo đối tượng định mức: Mức lao động được chia thành:

- Mức chi tiết là mức lao động xây dựng cho một nguyên công hoặc

bước công việc

- Mức mở rộng là mức lao động được xây dựng cho một quá trình

tổng hợp gồm nhiều nguyên công hay bước công việc

- Mức lao động cho một đơn vị sản phẩm là tổng hao phí lao động

cho một đơn vị sản phẩm, bao gồm hao phí lao động công nghệ, lao động phục vụ, lao động quản lý

c Theo hình thức tổ chức lao động: Mức lao động được chia thành:

- Mức lao động cá nhân là mức lao động được xây dựng cho

nguyên công hay bước công việc được giao cho từng cá nhân thực hiện trong điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định

- Mức lao động tập thể là mức lao động xây dựng cho các công

việc, nhiệm vụ giao cho một tập thể lao động (bộ phận, nhóm, tổ, đội) thực hiện trong điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định

d Theo phạm vi áp dụng: Mức lao động được chia thành:

- Mức lao động thống nhất:Là mức lao động được xây dựng cho

các quá trình sản xuất, được mẫu hóa hoặc cho các quá trình sản xuất có điều kiện lao động giống nhau Mức lao động thống nhất được chia thành mức thống nhất ngành và nhà nước (liên ngành)

+ Mức lao động thống nhất ngành: Là mức lao động thống nhất được xây dựng và áp dụng cho một ngành

+ Mức lao động thống nhất liên ngành được xây dựng và áp dụng cho các công việc có cùng điều kiện tổ chức - kỹ thuật ở tất cả các đơn vị

sản xuất, kinh doanh trong toàn bộ nền kinh tế, ở tất cả các ngành

- Mức lao động cơ sở: Là mức lao động do các tổ chức/doanh

nghiệp tự xây dựng và áp dụng trong điều kiện tổ chức kỹ thuật, đặc thù

hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp cụ thể

Trang 40

- Mức mẫu:Là mức được xây dựng cho các quá trình công nghệ

mẫu trong điều kiện tổ chức - kỹ thuật mẫu khi trình độ tổ chức - kỹ thuật này chỉ đạt ở một số tổ chức, doanh nghiệp, mức mẫu do đó chỉ là mức có tính chất hướng dẫn, khuyến khích áp dụng (vì không phải tất cả các tổ chức/doanh nghiệp đều có các điều kiện tổ chức - kỹ thuật như mức mẫu)

e Theo hình thức phản ánh chi phí lao động: Mức lao động được

thể hiện qua mức thời gian, mức thời gian phục vụ, mức sản lượng, mức phục vụ, mức biên chế và mức nghiệp vụ

-Mức thời gian:Là chi phí thời gian lao động để hoàn thành một

đơn vị sản phẩm hay một nguyên công, một chi tiết sản phẩm, một bước công việc , gắn với tiêu chuẩn chất lượng nhất định do một người lao động hay nhóm người lao động có trình độ thành thạo nghề nghiệp nhất định trong điều kiện tổ chức - kỹ thuật xác định Một trong những dạng biến thể của mức thời gian là mức thời gian phục vụ

-Mức thời gian phục vụ:Là lượng thời gian ấn định cho một người

lao động hay nhóm người lao động có trình độ nghề nghiệp nhất định phục vụ một đơn vị, thiết bị, đơn vị diện tích kinh doanh , trong điều kiện tổ chức - kỹ thuật nhất định

Tổng hợp quy trình sản xuất do thực hiện một loại công việc với người lao động không đổi trong quá trình lao động thì xác định mức sản lượng

-Mức sản lượng:Là lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc quy

định cho một hay một nhóm người lao động có trình độ thành thạo nghề nghiệp xác định, phải hoàn thành trong một đơn vị thời gian gắn với tiêu chuẩn chất lượng quy định trong điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định Quan hệ mức sản lượng và mức thời gian được thể hiện qua công thức:

Ngày đăng: 15/07/2022, 16:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Biên chế người làm công táctổ chức laođộng chuyên trách ở một số nước - Giáo trình Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp: Phần 1
Bảng 1.1 Biên chế người làm công táctổ chức laođộng chuyên trách ở một số nước (Trang 32)
3.Các hình thức mới của tổ chức laođộng được vận dụng ở nước ta. Liên hệ thực tiễn ở tổ chức/doanh nghiệp mà anh/chị biết - Giáo trình Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp: Phần 1
3. Các hình thức mới của tổ chức laođộng được vận dụng ở nước ta. Liên hệ thực tiễn ở tổ chức/doanh nghiệp mà anh/chị biết (Trang 44)
Bảng 3.1: Mơ hình mức thời gian đối với laođộng nhân viên - Giáo trình Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp: Phần 1
Bảng 3.1 Mơ hình mức thời gian đối với laođộng nhân viên (Trang 124)
Bảng 3.2: Ví dụ số lượng nhân viên và cán bộ quản lý của doanh nghiệp B năm 2007 - 2019 - Giáo trình Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp: Phần 1
Bảng 3.2 Ví dụ số lượng nhân viên và cán bộ quản lý của doanh nghiệp B năm 2007 - 2019 (Trang 135)
Nhập bảng số liệu trên vào máy tính có chương trình đã cài đặt sẵn, tiến hành xử lý số liệu thống kê sẽ cho kết quả về số lượng cán bộ quản  lý  thời  kỳ  kế  hoạch - Giáo trình Tổ chức và định mức lao động trong doanh nghiệp: Phần 1
h ập bảng số liệu trên vào máy tính có chương trình đã cài đặt sẵn, tiến hành xử lý số liệu thống kê sẽ cho kết quả về số lượng cán bộ quản lý thời kỳ kế hoạch (Trang 136)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm