1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)

212 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Thương Mại Điện Tử Căn Bản: Phần 2
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Minh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Thương Mại Điện Tử
Thể loại giáo trình
Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nối tiếp phần 1, phần 2 của Giáo trình Thương mại điện tử căn bản tiếp tục trình bày những nội dung về: thanh toán trong thương mại điện tử; an toàn thương mại điện tử; các khía cạnh luật pháp, đạo đức và xã hội của thương mại điện tử; dự án thương mại điện tử; những lĩnh vực ứng dụng thương mại điện tử và tương lai của thương mại điện tử;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Chương 6 THANH TOÁN TRONG THƯƠNG MẠI

ĐIỆN TỬ

Mục đích nghiên cứu

 Tìm hiểu sự phát triển của thanh toán điện tử, các vấn đề liên quan đến việc phát triển các giải pháp thanh toán điện tử trong thương mại nói chung và thương mại điện tử nói riêng

 Mô tả thành phần và quy trình thực hiện trong các giao dịch thanh toán điện tử cơ bản sử dụng các loại thẻ, séc điện tử, lệnh chuyển tiền

 Giới thiệu các công nghệ thanh toán mới như thẻ thông minh, thanh toán ngang hàng, vi thanh toán điện tử và ứng dụng hiện nay trong thực tiễn

 Tìm hiểu về các giải pháp thanh toán điện tử B2B dùng cho các doanh nghiệp và xu hướng phát triển

6.1 Khái niệm và phân biệt thanh toán điện tử với thanh toán truyền thống

6.1.1 Khái niệm thanh toán điện tử

Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, trong đó sử dụng máy tính nối mạng để truyền các thông điệp điện tử, chứng từ điện tử giúp cho quá trình thanh toán nhanh chóng an toàn và hiệu quả Thanh toán điện tử là việc thanh toán qua thông điệp điện tử thay việc thanh toán tiền mặt

Quá trình thanh toán điện tử có sử dụng các phương tiện điện tử

và công nghệ thanh toán tài chính (ví dụ như mã hoá số thẻ tín dụng,

Trang 2

séc điện tử, hoặc ví điện tử) giữa ngân hàng, trung gian và các bên tham gia hợp pháp

Việc thanh toán được thực hiện qua mạng máy tính kết nối với các đơn vị thành viên tham gia thanh toán Việc sử dụng mạng để chuyển những chứng từ điện tử, dữ liệu tài chính điện tử giúp cho việc thực hiện thanh toán nhanh chóng, mở rộng khoảng cách và phạm vi thanh toán giữa các ngân hàng, doanh nghiệp và người tiêu dùng trên phạm vi quốc gia và toàn thế giới

6.1.2 Đặc điểm của thanh toán điện tử

Hệ thống thanh toán điện tử được thực hiện trên cơ sở kỹ thuật

số, chúng được xây dựng và phát triển để thực hiện các thanh toán trên mạng Internet Về bản chất, các hệ thống thanh toán điện tử là phiên bản điện tử của các hệ thống thanh toán truyền thống như tiền mặt, séc

và các loại thẻ tín dụng

Tuy nhiên, so với thanh toán truyền thống, các hệ thống thanh toán điện tử có hai điểm khác biệt:

Thứ nhất, các hệ thống thanh toán điện tử được thiết kế để có thể

thực thi việc mua - bán điện tử trên mạng Internet Việc sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện điện tử với khai thác mạng cho phép quá trình giao dịch và công cụ giao dịch được số hoá và được ảo hoá bằng những chuỗi bit;

Thứ hai, trong thanh toán truyền thống, chỉ ngân hàng mới có quyền phát hành tiền và các giấy tờ có giá trị khác Trong thanh toán

điện tử, các công ty và các tập đoàn tài chính cũng được phép phát triển các phần mềm đóng vai trò là các công cụ thanh toán Vì vậy, trong thanh toán điện tử, khách hàng có thể lựa chọn một trong nhiều cách thức thanh toán khác nhau trên cơ sở phần mềm của các công ty

và các tập đoàn tài chính Về hình thức, các cách thức thanh toán này

cơ bản giống nhau, chúng chỉ khác về mặt lôgíc, về quy trình thanh toán và một số dịch vụ đi cùng

Trang 3

6.1.3 Ưu thế của thanh toán điện tử

a) Thanh toán điện tử không bị hạn chế về không gian

Đặc điểm thứ nhất của thanh toán điện tử cho phép các bên thanh toán vào bất kì thời điểm nào và trong điều kiện nào miễn là hoạt động thanh toán hợp pháp, có sử dụng các phương tiện thanh toán hợp pháp Một trong những thành quả mà chúng ta đang hưởng thụ là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ thông tin và việc khai thác, ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực thanh toán cho phép các bên trong thanh toán thu hẹp khoảng cách địa lí, mở rộng phạm vi thanh toán trên toàn cầu Đây cũng là một trong những điều kiện để đẩy mạnh sự phát triển của thương mại quốc tế và thương mại điện tử Thanh toán điện tử cũng là nhân tố cấu thành của nền kinh tế số hóa

b) Thanh toán điện tử không hạn chế về thời gian

Thanh toán điện tử là hệ thống thanh toán thông qua mạng máy tính và viễn thông đạt được tốc độ thanh toán với thời gian thực Thông qua các mạng WAN, internet cho phép thực hiện thanh toán trên phạm vi toàn cầu, trong suốt 24/24 giờ trong ngày và 7 ngày/tuần

c) Thanh toán điện tử là phương thức thanh toán có nhiều ưu việt

Kỉ nguyên 21 là kỉ nguyên công nghệ thông tin và kinh tế tri thức Các phương thức thanh toán điện tử ra đời đẩy mạnh xu thế phát triển các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, hạn chế sử dụng tiền mặt trong thanh toán truyền thống và sẽ chiếm ưu thế thể hiện xu hướng tất yếu của thời đại Các quốc gia văn minh, các nền kinh tế phát triển luôn coi trọng vấn đề này

Thanh toán điện tử mở rộng sang các lĩnh vực mới: trao đổi dữ liệu tài chính điện tử, tiền điện tử, ví tiền số hoá, séc điện tử, thẻ thông minh, các loại thẻ thanh toán

Các hệ thống thanh toán điện tử trong lĩnh vực ngân hàng được khai thác tối đa như: Hệ thống chuyển tiền điện tử trong cùng hệ

Trang 4

thống ngân hàng, hệ thống thanh toán điện tử đa ngân hàng; hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc tế qua SWIFT

Ngoài ra, các dịch vụ thanh toán điện tử mới được các ngân hàng đưa vào khai thác như: E-Banking, Internet Banking, Phone Banking cũng đang phát triển rất nhanh

6.1.4 Các yêu cầu của hệ thống thanh toán điện tử

Tính độc lập (Independence) Một số phương thức thanh toán

điện tử đòi hỏi phần mềm hoặc thiết bị đặc biệt để thanh toán Hầu như tất cả các phương thức thanh toán điện tử đòi hỏi người bán hàng phải trang bị (cài đặt phần mềm, phần cứng) để có thể thực hiện thanh toán Yêu cầu là các hệ thống thanh toán mang tính độc lập, không phụ thuộc vào phần cứng và phần mềm chuyên dụng

Tính tương tác và dịch chuyển (Interoperability and Portability)

Các hệ thống thương mại điện tử phải được liên kết với nhau và liên kết với các hệ thống thanh toán Phương thức thanh toán điện tử phải phù hợp với hệ thống thương mại điện tử và hạ tầng công nghệ thông tin

Tính an toàn và bảo mật An toàn và bảo mật cho các giao dịch

tài chính qua các mạng mở như Internet là hết sức quan trọng vì đây

sẽ là mục tiêu tấn công của các loại tội phạm công nghệ cao, ăn cắp hoặc sử dụng thẻ tín dụng trái phép Do các dịch vụ trên Internet hiện nay được cung cấp toàn cầu với mọi tiện ích phục vụ cho mọi khách hàng, mọi thành phần trong xã hội, vì vậy các hệ thống thanh toán điện tử phải đảm bảo tính khả dụng nhưng cũng chống lại được sự tấn công đe dọa tính bí mật thông tin cá nhân, thông tin tài chính của các chủ thể tham gia giao dịch

Tính ẩn danh Không giống với thẻ tín dụng và séc, nếu người

mua dùng tiền mặt, rất khó truy tìm dấu tích người mua sau giao dịch, các hệ thống thanh toán điện tử nếu yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân, hình ảnh và những đặc điểm nhận dạng thì đặc điểm nhận dạng hoặc thông tin cá nhân của các chủ thể phải được giữ kín Phải đảm bảo không làm lộ các thông tin cá nhân của khách hàng

Trang 5

Tính phân đoạn (Divisibility) Hầu như người bán chấp nhận thẻ

tín dụng cho các giao dịch có giá trị giới hạn (Min-Max) Nếu giá trị giao dịch quá nhỏ (một vài $) hoặc quá lớn (giá một chiếc máy bay), thẻ tín dụng sẽ không là phương thức thanh toán khả thi

Tính dễ sử dụng cho bất kỳ ai và trong mọi doanh nghiệp, khách hàng có thể sử dụng

Tính tiết kiệm/hiệu quả (phí giao dịch) Chi phí cho mỗi giao

dịch nên chỉ là một con số rất nhỏ (gần bằng 0), đặc biệt với những giao dịch giá trị thấp Ví dụ với thẻ tín dụng có mức phí tối thiểu + 3% giá trị giao dịch, với giao dịch giá trị nhỏ, mức phí là bao nhiêu cho phù hợp

Tính thông dụng Khả năng sử dụng rộng rãi và tối thiểu hóa

hàng rào luật pháp, cạnh tranh - cho phép - chấp nhận Ví dụ: Paypal phải đấu tranh với những cáo buộc của hệ thống ngân hàng là minh họa về tính thông dụng

Tính hoán đổi, chuyển đổi từ hình thức này sang hình thức khác

Ví dụ: Tiền số có thể chuyển thành các kiểu loại tiền khác Có thể dễ dàng chuyển từ tiền điện tử sang tiền mặt hay chuyển tiền từ tiền điện

tử sang tài khoản cá nhân Từ tiền điện tử có thể phát hành séc điện tử, séc giấy Tiền số bằng ngoại tệ này có thể dễ dàng chuyển sang ngoại

tệ khác với tỷ giá tốt nhất

Tính linh hoạt Nên cung cấp nhiều phương thức thanh toán, tiện

lợi cho mọi đối tượng

Tính hợp nhất Để hỗ trợ cho sự tồn tại của các ứng dụng này thì

giao diện nên được tạo ra theo sự thống nhất của từng ứng dụng Khi mua hàng trên bất cứ trang web nào cũng cần có những giao diện với những bước gần giống nhau

Tính co dãn Cho phép khách hàng và những nhà kinh doanh có

thể tham gia vào hệ thống mà không làm hỏng cơ cấu hạ tầng, đảm bảo xử lý tốt dù khi nhu cầu thanh toán trong thương mại điện tử tăng

Trang 6

6.2 Các hệ thống thanh toán điện tử

Cuộc cách mạng trong lĩnh vực thanh toán đã cho ra đời các hệ thống thanh toán hiện đại, tồn tại song hành với các hệ thống thanh toán truyền thống và hỗ trợ đắc lực vào phát triển thương mại điện tử Những hệ thống thanh toán điện tử đầu tiên như công nghệ chuyển tiền bằng điện EFT (những dịch vụ của Western Union giúp một cá nhân có thể chuyển tiền cho người nào đó ở tại hai địa điểm khác nhau thông qua lệnh chuyển tiền của họ từ một quầy cung cấp dịch vụ của Western Union) đã phát triển từ những năm 1960-1970 và tiếp tục được khai thác trong thương mại điện tử với cấp độ hoàn thiện hơn

6.2.1 Chuyển tiền điện tử (EFT)

Chuyển tiền điện tử (chuyển khoản điện tử) là việc chuyển tiền

trực tiếp giữa các tài khoản ngân hàng áp dụng với các nghiệp vụ thanh toán trong ngày hoặc trong một vài ngày, thường được sử dụng khi chuyển các khoản tiền lớn liên ngân hàng

Hệ thống chuyển khoản điện tử là một trong các hệ thống thanh toán điện tử ra đời sớm nhất, mặc dù lúc đầu chúng chỉ mới được thực hiện trên các mạng nội bộ

Hình 6.1 Chuyển tiền điện tử truyền thống

Trang 7

Hình 6.2 Chuyển khoản điện tử trên Internet

6.2.2 Các thẻ thanh toán điện tử

a) Thẻ tín dụng, thẻ trả phí, thẻ ghi nợ

* Thẻ tín dụng

Thẻ tín dụng cung cấp một khoản tín dụng cố định cho chủ thẻ

để mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt Khoản tín dụng được đơn

vị phát hành thẻ giới hạn phụ thuộc vào yêu cầu và tài sản thế chấp hoặc tín chấp của chủ thẻ

Các đặc điểm của thẻ tín dụng:

Thẻ tín dụng có đặc điểm “chi tiêu trước trả tiền sau”: chủ thẻ sẽ trả những khoản tiền đã thanh toán bằng thẻ tín dụng khi nhận được thông báo của ngân hàng; Chủ thẻ không phải trả bất kỳ một khoản lãi nào nếu việc trả những khoản tiền trên được thực hiện đúng thời hạn

15 ngày kể từ ngày nhận được sao kê; Các tài khoản hoặc tài sản thế chấp để phát hành thẻ tín dụng độc lập với việc chi tiêu Hạn mức tín dụng được xác định dựa trên tài khoản hoặc tài sản thế chấp, nếu tài khoản thế chấp là tiền mặt, chủ thẻ sẽ được hưởng lãi suất ngân hàng với kỳ hạn phụ thuộc vào thời hạn hiệu lực của thẻ; Thẻ tín dụng quốc

Chuyển khoản điện tử qua Internet

Trang 8

tế có thể chi tiêu bằng tất cả các loại tiền; Chủ thẻ có thể thanh toán toàn bộ số dư phát sinh trong hóa đơn hoặc một phần số dư trong hóa đơn, tuy nhiên, phần số dư trả chậm sẽ phải chịu lãi suất và cộng dồn vào hóa đơn tháng tiếp theo; Đối với thẻ tín dụng, người bán hàng sẽ phải thanh toán toàn bộ các chi phí thực hiện giao dịch thanh toán Các khoản phí này không giống nhau trong những trường hợp khác nhau Nó tuỳ thuộc vào quy định của từng ngân hàng, vào quy mô của người bán hàng, vào độ lớn của các giao dịch, vào khối lượng các giao dịch thẻ tín dụng và từng loại hình kinh doanh cụ thể Thí dụ, các đơn đặt hàng qua thư tín (mail-order) thường phải thanh toán các khoản phí giao dịch thẻ tín dụng cao hơn so với các đơn đặt hàng tại cửa hàng (mua hàng trực tiếp tại cửa hàng) bởi vì trong trường hợp mua hàng qua thư tín, khách hàng không có mặt để ký nhận các hoá đơn thanh toán Các giao dịch loại này gọi là giao dịch "thẻ vắng mặt" Giao dịch này có độ rủi ro cao bởi vì nếu thẻ tín dụng đó là thẻ bị người mua đánh cắp thì nó sẽ không được thanh toán

Thanh toán thông qua thẻ tín dụng là hình thức phổ biến trong thanh toán trực tuyến áp dụng với các giao dịch thương mại bán lẻ; đặc biệt là các giao dịch tương tự như giao dịch truyền thống có sử dụng hình thức thanh toán thẻ tín dụng bao gồm các giao dịch như đặt mua báo, tạp chí, bản tin hoặc thanh toán cho các dịch vụ thông tin trực tuyến Và, vì khi tiến hành các giao dịch thẻ tín dụng phải trả một số khoản phí nhất định nên nó không thích hợp với các giao dịch nhỏ, riêng rẽ, những giao dịch mà phí phải trả cho giao dịch thanh toán thẻ tín dụng bằng, thậm chí lớn hơn một nửa giá trị của toàn bộ giao dịch Trong những trường hợp này, người ta thường dùng các hình thức vi thanh toán khác sẽ được trình bày ở phần sau

Thẻ tín dụng ảo

Mặc dù khối lượng hóa và lượng tiền mua sắm trực tuyến đang tăng đáng kể, một lượng lớn khách hàng vẫn rất không trung thực trong việc sử dụng số thẻ tín dụng trực tuyến của họ Thẻ tín dụng ảo được thiết kế để giải quyết vấn đề này Với một thẻ tín dụng ảo, người

Trang 9

mua trực tuyến được công ty phát hành thẻ cung cấp vào thời điểm mua một số thẻ phát hành ngẫu nhiên được ràng buộc với số thẻ thực

tế của người mua Người mua nhập số này chứ không phải nhập số thẻ thực tế để hoàn thành việc mua sắm Nhìn chung, số này chỉ được dùng một lần Đó là lý do vì sao thẻ tín dụng ảo cũng được biết đến như số thẻ sử dụng một lần

Mặc dù số thẻ sử dụng một lần ngăn chặn được một số gian lận nhất định, nhưng chúng vẫn có những hạn chế Việc mua sắm với những số thẻ sử dụng một lần không thể xác định được ở ngày sau đó

Ví dụ, nếu một người đặt trước vé máy bay và khách sạn trực tuyến và cần số thẻ để xác nhận nó vào ngày sau đó, không có cách nào để có thể lưu giữ được số cho những mục đích này Tương tự, nếu một người mua một món hàng, không có cách nào xác nhận được số thẻ sau đó vì số này sẽ mất đi Cuối cùng, không có cách nào để trả những hóa đơn định kỳ hoặc thuê bao với những số chỉ sử dụng một lần

loại thẻ ghi nợ như mô tả ở trên được gọi là thẻ ghi nợ ngoại tuyến,

Trang 10

bởi vì không cần bất cứ sự xin cấp phép nào tại thời điểm diễn ra các

giao dịch thanh toán Ngược lại, đối với một thẻ ghi nợ trực tuyến, khi

thanh toán đòi hỏi phải được cấp phép tại thời điểm diễn ra giao dịch

thông qua việc sử dụng mã số định danh cá nhân (PIN - Personal Identification Number) Các thẻ như vậy thường là các thẻ giao dịch

tự động (ATM card - Automated Teller Machine card) Người bán

hàng thường chấp nhận loại thẻ này từ các ngân hàng địa phương đối với một vài loại giao dịch Cũng giống như thẻ ghi nợ ngoại tuyến, khi thanh toán bằng loại thẻ này, số tiền sẽ được chuyển ngay lập tức từ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tương ứng

* Xử lý thẻ tín dụng trực tuyến

Xử lý các thẻ thanh toán có hai giai đoạn chính: cấp phép và thanh toán Xin cấp phép xác định liệu thẻ của người thanh toán còn hiệu lực hay không và liệu số tiền trong tài khoản có đủ để thực hiện giao dịch hay không Thanh toán liên quan đến việc chuyển tiền từ tài khoản của người mua đến tài khoản của người bán Những giai đoạn này được thực hiện theo cách thức nào, ở chừng mực nhất định phụ thuộc vào loại thẻ thanh toán Chúng cũng thay đổi tùy thuộc vào cấu trúc của hệ thống mà người bán sử dụng để xử lý việc thanh toán

Có ba cấu trúc cơ bản cho quá trình xử lý thanh toán trực tuyến Người bán hàng trong TMĐT có thể sử dụng:

- Sở hữu phần mềm thanh toán riêng: Người bán có thể mua một

mô đun xử lý thanh toán và tích hợp phần mềm này với những phần mềm TMĐT khác Mô đun này kết nối với một cổng thanh toán khác của một ngân hàng chấp nhận thanh toán hoặc của bên thứ ba

- Sử dụng hệ thống thiết bị đọc thẻ (POS: point of sale) được vận

hành bởi một ngân hàng Người bán có thể chuyển hướng chủ thẻ tới một POS được vận hành bởi một ngân hàng chấp nhận thanh toán POS này xử lý toàn bộ quá trình thanh toán và sau đó đưa người chủ thẻ trở về chỗ người bán khi mà quá trình thanh toán đã hoàn tất

Trang 11

Trong trường hợp này, hệ thống người bán chỉ phải xử lý những thông tin đặt hàng Trong mô hình này, rất quan trọng là tìm được một ngân hàng thanh toán mà có thể xử lý nhiều loại thẻ và công cụ thanh toán Nếu không, người bán sẽ phải kết nối với nhiều ngân hàng thanh toán

- Sử dụng POS được vận hành bởi nhà cung cấp dịch vụ thanh toán: Người bán có thể tin tưởng vào một bên thứ ba - nhà cung cấp

dịch vụ thanh toán (Payment Service Providers - PSPs) Trong trường hợp này, một PSP sẽ kết nối với những ngân hàng thanh toán thích hợp PSPs phải đăng ký với các tổ chức thẻ mà họ hỗ trợ

Đối với một loại thẻ thanh toán và hệ thống xử lý nhất định, các quá trình và những người tham gia về bản chất là giống nhau giữa mua bán ngoại tuyến (phải trình thẻ - card present) và trực tuyến (không trình thẻ - card not present) Ví dụ, Bảng 6.1 so sánh các bước liên quan đến việc mua sắm bằng thẻ tín dụng trực tuyến và ngoại tuyến Bảng 6.1 cho thấy có vài sự khác nhau nhỏ giữa hai loại hình này

Bảng 6.1: So sánh thanh toán bằng thẻ tín dụng trong thương mại truyền thống với TMĐT

Khách hàng xuất trình thẻ tín dụng cho

nhân viên thu ngân/ bán hàng

Nhân viên thu ngân kiểm tra các thông

tin trên thẻ, cà thẻ của khách hàng và

truyền các thông tin về giao dịch trên thiết bị

đọc thẻ POS (Point of Sale)

Thiết bị đọc thẻ gửi thông tin đến trung

tâm xử lý dữ liệu thẻ thông qua kết nối điện

thoại (dial up)

Trung tâm xử lý dữ liệu thẻ gửi thông

tin đến ngân hàng phát hành thẻ

Ngân hàng phát hành thẻ sẽ khước từ

hoặc chấp nhận giao dịch và chuyển kết

Khách hàng thực hiện việc khai báo thông tin về thẻ tín dụng trên trang web của người bán

Sau khi người bán nhận được thông tin của khách hàng trên website, người bán gửi thông tin về giao dịch đến nhà cung cấp dịch vụ thanh toán (Payment processing transaction - PPS)

Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán gửi thông tin đến trung tâm xử lý dữ liệu thẻ Trung tâm xử lý dữ liệu thẻ gửi thông tin đến ngân hàng phát hành thẻ

Ngân hàng phát hành thẻ sẽ khước từ

Trang 12

quả/mã số giao dịch hợp pháp ngược trở lại

cho trung tâm xử lý dữ liệu thẻ

Trung tâm xử lý dữ liệu thẻ gửi kết quả

cấp phép đến thiết bị đọc thẻ POS

Thiết bị đọc thẻ cho người bán biết có

được phép thực hiện giao dịch hay không

Người bán thông báo với chủ thẻ về kết

quả giao dịch

hoặc chấp nhận giao dịch và chuyển kết quả/mã số giao dịch hợp pháp ngược trở lại cho trung tâm xử lý dữ liệu thẻ

Trung tâm xử lý dữ liệu thẻ gửi kết quả cấp phép đến PPS

PPS chuyển kết quả cấp phép cho người bán

Người bán chấp nhận hoặc từ chối giao dịch

Trong bảng 6.1, những người tham gia chính trong xử lý thanh toán thẻ tín dụng trực tuyến bao gồm:

- Ngân hàng thanh toán: mở một tài khoản đặc biệt gọi là “Tài khoản người bán hàng Internet” cho phép cấp phép thẻ và xử lý thanh toán

- Hiệp hội thẻ tín dụng: Định chế tài chính cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ cho các ngân hàng (ví dụ như Visa và MasterCard)

- Khách hàng: Các cá nhân sở hữu thẻ thanh toán

- Ngân hàng phát hành: Định chế tài chính cung cấp cho khách hàng thẻ thanh toán

- Người bán hàng: Một công ty bán sản phẩm và dịch vụ

- Dịch vụ xử lý thanh toán: Dịch vụ cung cấp kết nối người bán, khách hàng và mạng lưới tài chính cấp phép và thanh toán Dịch vụ này được vận hành bởi các công ty như CyberSource (cybersource.com) và VeriSign (verisign.com)

- Bộ xử lý: Trung tâm dữ liệu xử lý các giao dịch thẻ tín dụng và thanh toán các khoản tiền cho người bán

* Các rủi ro trong thanh toán thẻ:

- Rủi ro đối với ngân hàng phát hành thẻ:

Rủi ro lớn nhất của ngân hàng phát hành thẻ xảy ra khi chủ thẻ

có hành vi gian dối Họ sử dụng thẻ thanh toán ở những điểm tiếp

Trang 13

nhận thẻ khác nhau với mức thanh toán thấp hơn hạn mức thanh toán

nhưng lại có tổng mức thanh toán cao hơn hạn mức thanh toán cho

phép

Thí dụ, một chủ thẻ tín dụng có hạn mức thanh toán ở cửa hàng

là 200 USD/1 ngày Anh ta sử dụng thẻ của mình để mua hàng hoá và

dịch vụ tại ba cửa hàng trong cùng một ngày như sau:

Điểm bán hàng

chấp nhận thẻ

Hàng hoá và dịch vụ được thực hiện

Giá trị giao dịch thanh toán

Tại điểm bán hàng chấp nhận thẻ thứ ba, khi chủ thẻ thực hiện

giao dịch bằng thẻ, nhân viên bán hàng cho rằng giao dịch có giá trị

thanh toán là 92 USD, thấp hơn hạn mức cho phép nên không cần xin

cấp phép Nhưng thực tế, nếu thực hiện giao dịch này, chủ thẻ đã chi

vượt quá hạn mức cho phép là 52 USD Điều đó đã tạo cơ hội cho chủ

thẻ thực hiện giao dịch quá khả năng thanh toán, có thể gây ra rủi ro

cho ngân hàng phát hành

Rủi ro do vượt quá hạn mức thanh toán cho phép chỉ bị phát hiện

khi ngân hàng phát hành kiểm tra và tổng hợp các hoá đơn do các đại

lý thanh toán gửi đến Trong trường hợp nếu chủ thẻ mất khả năng

thanh toán thì ngân hàng phát hành phải chịu toàn bộ rủi ro này

Một rủi ro nữa có thể xảy ra đối với loại thẻ tín dụng quốc tế là

lợi dụng tính chất của thẻ để lừa gạt ngân hàng phát hành thẻ

Thẻ tín dụng quốc tế (như Visa hay MasterCard) là loại thẻ được

sử dụng để thanh toán các giao dịch ở nhiều nước, nơi có đại lý thanh

toán thẻ tín dụng quốc tế Vì tính chất này, chủ thẻ có thể thông đồng

với người khác, giao thẻ cho người đó sử dụng ở các cơ sở bán hàng

Trang 14

chấp nhận thẻ mà không phải là nơi chủ thẻ cư trú (thí dụ ở nước ngoài) Khi có các thương vụ diễn ra, kiểm tra chữ ký trên hoá đơn và chữ ký trên thẻ khó có thể phát hiện sự giả mạo vì không ai có thể đảm bảo rằng tất cả các chữ ký khi ký đều giống hệt như nhau Khi ngân hàng phát hành đòi tiền, chủ thẻ sẽ đưa ra căn cứ: hộ chiếu không có thị thực nhập cảnh, hoặc xác nhận của nơi chủ thẻ làm việc rằng chủ thẻ hoàn toàn không vắng mặt trong thời điểm diễn ra thương

vụ, và từ chối thanh toán Trước những bằng chứng hoàn toàn hợp lý, ngân hàng phát hành thẻ cũng không thể quy trách nhiệm cho cơ sở chấp nhận thẻ bởi vì việc giao dịch bằng thẻ không đòi hỏi chủ thẻ phải xuất trình giấy tờ để xác minh người sử dụng thẻ có phải là chủ thẻ hay không; Chỉ có thể quy trách nhiệm cho cơ sở chấp nhận thẻ về việc kiểm tra chữ ký, nhưng vấn đề này không đơn giản như đã nêu: không ai đảm bảo rằng các chữ ký đều giống hệt nhau mặc dù là cùng một người ký Như vậy, ngân hàng phát hành thẻ phải đền bù

Chủ thẻ cũng có thể cố tình lấy tiền của ngân hàng bằng cách báo cho ngân hàng phát hành là thẻ đã bị thất lạc, nhưng sau đó vẫn sử dụng thẻ đó để thanh toán trong thời gian thẻ chưa kịp đưa vào danh sách "đen" (danh sách Bulletin) Chủ thẻ thay băng chữ ký bằng một băng chữ ký trắng và ký lại chữ ký hoàn toàn khác so với chữ ký cũ, khi thanh toán, chủ thẻ sẽ ký vào hoá đơn bằng chữ ký mới Như vậy, chủ thẻ có thể thoái thác được trách nhiệm thanh toán các thương vụ

do chính mình thực hiện Trường hợp này xảy ra khi cơ sở chấp nhận thẻ không phát hiện ra hoặc thông đồng với chủ thẻ Như vậy, rủi ro cũng hoàn toàn thuộc về ngân hàng phát hành

Ngoài những nguyên nhân chủ quan nêu trên, còn có những nguyên nhân khách quan khác như:

+ Việc sử dụng thẻ giả mạo trùng với thẻ đang lưu hành của ngân hàng phát hành thẻ

+ Chủ thẻ mất khả năng thanh toán bởi lý do khách quan như tai nạn bất ngờ, không còn khả năng làm việc và mất thu nhập

Trang 15

- Rủi ro tại ngân hàng thanh toán

Trong số các bên tham gia thanh toán thì ngân hàng thanh toán là nơi ít gặp rủi ro nhất vì họ chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán giữa

cơ sở chấp nhận thẻ và ngân hàng phát hành Song, cũng có thể xảy ra một số rủi ro:

+ Ngân hàng thanh toán có sai sót trong việc cấp phép, như chuẩn chi với giá trị thanh toán lớn hơn trị giá cấp phép;

+ Ngân hàng thanh toán không cung cấp kịp thời danh sách Bulletin cho cơ sở tiếp nhận thẻ, mà trong thời gian đó cơ sở chấp nhận thẻ lại thanh toán thẻ có trong danh sách này Lúc đó, ngân hàng thanh toán phải chịu rủi ro khi ngân hàng phát hành từ chối thanh toán

- Rủi ro cho cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ

Rủi ro đối với cơ sở chấp nhận thẻ là rủi ro khi họ bị ngân hàng phát hành từ chối thanh toán toàn bộ số tiền hàng hoá hoặc dịch vụ đã cung ứng Các rủi ro này hoàn toàn có thể khắc phục nếu cơ sở chấp nhận thẻ kiểm tra kỹ và không chủ quan khi chấp nhận thẻ Các rủi ro

+ Cơ sở chấp nhận thẻ cố tình tách thương vụ thành nhiều thương vụ nhỏ để không cần phải xin phép, nếu ngân hàng phát hành phát hiện ra sẽ từ chối thanh toán

+ Sửa chữa số tiền trên hoá đơn do ghi nhầm hoặc cố ý mà quên rằng phía chủ thẻ cũng giữ một hoá đơn nguyên vẹn, ngân hàng phát

Trang 16

hành có thể căn cứ vào sự sai phạm này để từ chối thanh toán toàn bộ

số tiền trên hoá đơn

- Rủi ro đối với chủ thẻ:

Thông thường, các loại thẻ tín dụng quốc tế đều có hai công dụng là thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt Chủ thẻ

là người duy nhất biết mã số định danh cá nhân (PIN) Trong trường hợp chủ thẻ do vô tình để lộ mã số này và đồng thời bị mất thẻ mà chưa kịp báo cho ngân hàng phát hành Do một sự trùng hợp nào đó, người lấy được thẻ cũng biết được số PIN và họ có thể dùng thẻ để rút tiền mặt tại máy giao dịch tự động (ATM) Do việc rút tiền qua máy chỉ hoàn toàn dựa trên số PIN nên không thể kiểm tra được người rút tiền có phải là chủ thẻ thực sự hay không Trường hợp này chủ thẻ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về số tiền bị mất

Ở một số quốc gia, như Mỹ, có quy định về trách nhiệm của chủ thẻ khi sử dụng thẻ tín dụng Cụ thể, khi chủ thẻ sử dụng thẻ hay mã

số thẻ tín dụng của mình vào những hành vi gian lận, nếu bị phát hiện

sẽ phải chịu khoản tiền phạt lên tới 50 USD Trường hợp chủ thẻ làm mất thẻ nhưng chưa kịp báo với ngân hàng phát hành, trong thời gian

đó, người lấy được thẻ sử dụng thẻ này vào những mục đích gian lận thì trách nhiệm sẽ hoàn toàn thuộc về chủ thẻ

* Các biện pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán thẻ

Trong thanh toán trực tuyến, người bán vẫn có thể là nạn nhân của các giao dịch gian lận Bên cạnh việc mất hàng hóa và chi phí vận chuyển, người bán còn phải gánh chịu thêm phí và tiền phạt của các tổ chức thẻ tín dụng Tuy nhiên, không phải chỉ có những chi phí đó Còn có những chi phí liên quan đến việc đối phó với những giao dịch gian lận Những chi phí này bao gồm chi phí công cụ và hệ thống để xem xét lại những đơn đặt hàng, chi phí xem xét những đơn đặt hàng một cách thủ công và doanh thu mất đi do từ chối những đơn đặt hàng còn hiệu lực Giao dịch thẻ tín dụng gian lận là một vấn đề ngày càng lớn đối với những người bán hàng trực tuyến dù họ đã có những nỗ lực để ngăn chặn gian lận

Trang 17

Các công cụ chủ yếu được sử đụng để ngăn chặn gian lận là:

- Hệ thống xác nhận địa chỉ (Address Verification System- AVS):

Phương pháp này được 82% người bán sử dụng Dịch vụ này so sánh địa chỉ khách hàng nhập vào trang Web với thông tin về địa chỉ của chủ thẻ trong cơ sở dữ liệu khách hàng lưu trữ tại ngân hàng phát hành Phương pháp này có thể dẫn đến một loạt các hệ quả không mong muốn, ví dụ người bán từ chối các đơn đặt hàng đích thực Chủ thẻ thường có những địa chỉ mới hoặc đơn giản chỉ là ghi sai địa chỉ

số hoặc mã số điện thoại AVS chỉ thực sự hữu ích ở Mỹ và Canada

- Rà soát thủ công: Phương pháp này được 73% người bán hàng

sử dụng Trong trường hợp này, đội ngũ nhân viên rà soát thủ công những đơn đặt hàng nghi ngờ Đối với những người bán hàng nhỏ, với khối lượng đơn đặt hàng không lớn, phương pháp này là hợp lý Đối với người bán hàng lớn thì phương pháp này không phù hợp lắm, chi phí quá cao và ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng Mặc dù có những hạn chế như vậy, tỷ lệ phần trăm người bán hàng sử dụng phương pháp này đang tăng lên cùng với tỷ lệ phần trăm các mặt hàng đang được rà soát lại

- Số kiểm tra trên thẻ (Card Verification Number - CVN):

Phương pháp này được 56% người bán hàng dùng, được thực hiện dựa trên việc so sánh số kiểm tra trên thẻ đã được in ở dải chữ ký phía sau của thẻ với thông tin trong cơ sở dữ liệu lưu trong hồ sơ tại ngân hàng phát hành thẻ Tuy nhiên, căn cứ vào những số này không cho phép phân biệt kẻ gian lận sử dụng thẻ bị đánh cắp

- Kiểm tra gian lận và mô hình quyết định: Phương pháp này

được 53% người bán hàng sử dụng Phương pháp dựa trên các quy tắc

tự động xác định xem liệu một giao dịch có nên được chấp nhận, từ chối hay nghi ngờ Yếu tố chủ chốt của phương pháp này là người bán hàng có thể thay đổi dễ dàng những quy tắc để phản ánh xu hướng thay đổi trong những gian lận chống lại công ty

- Hồ sơ phủ định: Phương pháp này được 45% người bán hàng

sử dụng Dữ liệu phủ định bao gồm những thông tin về khách hàng

Trang 18

(địa chỉ IP, tên, địa chỉ gửi hàng, số điện thoại liên hệ, v.v…) và trạng thái của khách hàng đó Giao dịch của khách hàng được so sánh với

dữ liệu này trên cơ sở đó người bán hàng quyết định việc tiến hành giao dịch

- Dịch vụ xác nhận người thanh toán của các hiệp hội thẻ: Dịch

vụ này được 25% người bán hàng sử dụng Hai năm gần đây, các hiệp hội thẻ đã triển khai một hệ thống mới các dịch vụ xác nhận người thanh toán (ví dụ hệ thống Verified được Visa và MasterCard SecureCode triển khai) Dịch vụ này đòi hỏi người chủ thẻ đăng ký với hệ thống và với người bán để chấp nhận và hỗ trợ cả hệ thống đang tồn tại và hệ thống mới

Tác động chung của những công cụ này là sẽ giúp người bán hàng loại bỏ được số lượng đáng kể những đơn đặt hàng nghi ngờ là gian lận Tuy nhiên, trong số các đơn đặt hàng bị từ chối có một số lượng lớn các đơn đặt hàng thực sự, và như vậy làm giảm doanh thu

Thẻ thông minh

Thẻ thông minh thường được sử dụng bên cạnh thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ truyền thống Chúng cũng được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ các ứng dụng phi tài chính và phi bán lẻ Một thẻ thông minh trông như một thẻ thanh toán nhựa, nhưng được phân biệt ở chỗ là trên thẻ thông minh có gắn vi mạch điện tử (microchip) Con chip được gắn có thể là mạch vi xử lý kết hợp với con chip lưu giữ thông tin hoặc chỉ có con chip lưu giữ thông tin với logic phi chương trình Thông tin trong thẻ có thể được thêm, bớt hoặc chịu các xử lý khác Thẻ có con chip lưu giữ thông tin thường là thẻ “chỉ đọc” tương tự như thẻ tín dụng Mặc dù bộ vi xử lý có khả năng chạy chương trình giống như một máy tính, nhưng nó không phải là máy tính độc lập Các chương trình và

dữ liệu phải được tải về và kích hoạt từ một số thiết bị khác (như một máy ATM)

Trang 19

Hình 6.3: Thẻ thông minh

* Các loại thẻ thông minh

Có hai loại thẻ thông minh Loại thứ nhất là thẻ tiếp xúc, loại thẻ này sẽ được kích hoạt khi đưa thẻ này vào thiết bị đọc thẻ Loại thứ hai là thẻ phi tiếp xúc, có nghĩa là thẻ chỉ phải đưa tới một khoảng cách nhất định so với thiết bị đọc thẻ để xử lý giao dịch Các thẻ lai là

sự kết hợp của hai loại trên thành một

Thẻ tiếp xúc có một tấm kim loại màu vàng có đường kính khoảng một inch rưỡi được bố trí ở mặt trước Khi đưa thẻ vào thiết bị đọc thẻ, tấm kim loại tạo ra sự tiếp xúc điện tử và dữ liệu được truyền đến và lấy ra từ con chip Thẻ tiếp xúc có thể có bộ nhớ chỉ đọc được (Electronically Programmable Read-Only Memory - EPROM) hoặc

bộ nhớ chỉ đọc có thể xóa bỏ điện tử (Electronically Erasable Programmable Read-Only Memory - EEPROM) Thẻ EPROM có thể không bao giờ bị xóa bỏ Thay vào đó, dữ liệu được viết vào khoảng trống trong thẻ Khi thẻ đầy, nó sẽ bị bỏ đi Thẻ EEPROM có thể xóa

bỏ hoặc sửa đổi Chúng có thể được sử dụng cho đến khi quá cũ hoặc

hư hỏng Hầu hết thẻ tiếp xúc là EEPROM

Bên cạnh con chip, thẻ không tiếp xúc còn có một ăng ten được gắn vào Dữ liệu và các ứng dụng được truyền vào và lấy ra khỏi thẻ

Trang 20

thông qua ăng ten của thẻ tới một ăng ten khác rồi đến thiết bị đọc thẻ hoặc thiết bị khác Thẻ không tiếp xúc được sử dụng trong những ứng dụng mà dữ liệu phải được xử lý thật nhanh (ví dụ như trả tiền xe buýt hoặc tàu) hoặc khi khó tiếp xúc (ví dụ do cơ chế an ninh khi đi vào các toà nhà) Thẻ này hoạt động ở khoảng cách gần, chỉ vài inch Đối với một số ứng dụng như thanh toán ở trạm thu tiền trên đường cao tốc, những thẻ này có thể hoạt động ở khoảng cách xa đáng kể

Đối với các thẻ thông minh hai giao diện hoặc lai thì hai loại giao diện thẻ được kết hợp thành một Thẻ thông minh lai có hai con chip tách rời nhau gắn ở trên thẻ Ngược lại, thẻ kết hợp hoặc thẻ hai giao diện có một con chip đơn hỗ trợ cho cả hai giao diện Lợi ích của

cả hai loại thẻ này là loại bỏ sự cần thiết phải mang nhiều thẻ để hỗ trợ cho những ứng dụng và thiết bị đọc thẻ khác nhau

Đối với tất cả các loại thẻ, thiết bị đọc thẻ là rất quan trọng trong

sự hoạt động của hệ thống Thiết bị đọc thẻ bản chất là một thiết bị đọc và ghi Mục đích chủ yếu của thiết bị đọc thẻ là hoạt động như thiết bị liên kết giữa thẻ và hệ thống chủ lưu giữ dữ liệu ứng dụng và

xử lý dữ liệu Có hai loại thẻ cơ bản nên có hai loại thiết bị đọc thẻ (tiếp xúc và phi tiếp xúc) phù hợp với các loại thẻ riêng

Việc sử dụng rộng rãi các thẻ thông minh cho những ứng dụng phức tạp đòi hỏi sự tiêu chuẩn hóa và khả năng tương tác của các loại thẻ và các công nghệ đọc thẻ khác nhau Nếu không như vậy, những người sử dụng cuối cùng sẽ phải mang những thẻ riêng cho mỗi thiết

bị đọc thẻ và ứng dụng Global Platform (globalplatform.org) là một hiệp hội thẻ thông minh quốc tế và phi lợi nhuận Mục đích chính của Hiệp hội là tạo ra và thúc đẩy các ứng dụng kỹ thuật tương tác cho thẻ tín dụng, thiết bị tiếp nhận và cơ sở hạ tầng của hệ thống Nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật về thẻ thông minh được thiết lập bởi tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO; iso.org) ISO/IEC 7816 và ISO/IEC 14443 là những tiêu chuẩn chính liên quan đến thẻ tiếp xúc và phi tiếp xúc Những tiêu chuẩn này là cơ sở cho những tiêu chuẩn khác

Trang 21

Giống như máy tính, thẻ thông minh có một hệ điều hành Hệ điều hành thẻ thông minh tiến hành quản lý các tệp tin, bảo mật, quản lý, nhập/xuất thông tin, thực thi các câu lệnh và cung cấp giao diện chương trình ứng dụng (API) thẻ Ban đầu, thẻ thông minh và hệ điều hành được thiết kế để điều khiển con chip đặc biệt gắn trên thẻ Ngày nay, thẻ thông minh đang chuyển sang hệ điều hành ứng dụng mở và phức tạp như MULTOS (multos.com) và Java Card (java.sun.com/products/javacard)

Hệ điều hành mới này có khả năng đưa thêm những ứng dụng mới vào trong quá trình hoạt động của thẻ

* Ứng dụng của thẻ thông minh

Sự thay đổi trong cách sử dụng thẻ thông minh được định hướng bởi những ứng dụng của nó Sau đây là những ứng dụng quan trọng nhất:

Thanh toán trong mua bán lẻ

Các hiệp hội thẻ tín dụng và các tổ chức tài chính đang chuyển đổi các loại thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng truyền thống sang thẻ thông minh đa ứng dụng

Thẻ thông minh an toàn hơn thẻ tín dụng truyền thống và có thể được mở rộng tới nhiều dịch vụ thanh toán khác Trong lĩnh vực bán

lẻ, nhiều loại dịch vụ này hướng đến những thị trường mà thanh toán thường được thực hiện bằng tiền mặt và tốc độ, sự tiện lợi là rất quan trọng, ví dụ các cửa hàng tiện dụng, trạm xăng, nhà hàng dịch vụ nhanh và thức ăn nhanh, rạp chiếu phim Ví tiền điện tử và thanh toán phi tiếp xúc là ví dụ cho loại hình dịch vụ giá trị gia tăng này

Với một ứng dụng thẻ thông minh ví tiền điện tử, tiền có thể được đưa vào thẻ, lấy ra từ tài khoản ngân hàng của chủ thẻ Tài khoản của chủ thẻ nhanh chóng được ghi nợ và số tiền được chuyển tới một tài khoản trôi (float account) ở ngân hàng hoặc tới người vận hành hệ thống Giao dịch này được thực hiện trực tuyến và được mã

số định dạng cá nhân (Personal Identification Number - PIN) bảo vệ giống như tiền được rút ra khỏi máy ATM Chủ thẻ có thể sử dụng ví

Trang 22

tiền điện tử ở bất cứ địa điểm bán hàng (Point of Sale - POS) nào mà

ví tiền điện tử được chấp nhận Khi ví tiền điện tử được sử dụng, số tiền được chuyển từ ví tiền điện tử tới thiết bị cuối và số tiền còn lại trong ví tiền sẽ được điều chỉnh Sau khi giao dịch, hệ thống chủ ví tiền số hóa ghi nợ cho tài khoản trôi của ngân hàng phát hành và ghi

có cho tài khoản của người bán

- Chuyển tiếp phí trong giao thông công cộng

Trong những thành phố lớn ở Mỹ nhiều nước khác, người đi làm thường phải lái xe tới nơi đậu xe, lên tàu và sau đó di chuyển qua một hoặc nhiều xe điện ngầm, xe buýt để tới nơi làm việc Nếu quá trình

đó đòi hỏi sự kết hợp của tiền mặt và nhiều loại vé khác nhau thì nó sẽ rất phức tạp và rắc rối Sự bất tiện này đã không khuyến khích người

đi làm sử dụng phương tiện công cộng Để loại bỏ sự bất tiện này, hầu hết người vận hành chuyển tiếp chính ở Mỹ đang thực hiện những hệ thống vé phí thẻ thông minh Chính phủ Liên bang Mỹ cũng khuyến khích những người chủ trợ cấp cho nhân viên sử dụng giao thông công cộng Các nhà vận hành chuyển tiếp của nhiều thành phố lớn trên thế giới đang chuyển từ hệ thống phí không hợp nhất, phức tạp sang hệ thống đòi hỏi chỉ một thẻ phí tiếp xúc duy nhất, dù có bao nhiêu kiểu giao thông hoặc có bao nhiêu hãng giao thông và các công ty liên quan tham gia

Một số nhà vận hành chuyển tiếp ở Mỹ đang tìm kiếm đối tác là các đại lý bán lẻ và các tổ chức tài chính để kết hợp thẻ chuyển tiếp của họ với thẻ thanh toán có thể được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ như bữa ăn nhỏ, phí qua cầu, phí đỗ xe, mua thức ăn trong nhà hàng hoặc cửa hàng tạp phẩm gần trạm chuyển tiếp

Bên cạnh việc giải quyết phí chuyển tiếp, thẻ thông minh và hệ thống thanh toán điện tử khác được sử dụng cho những ứng dụng giao thông khác, ví dụ chấp nhận thanh toán từ thẻ thông minh trả trước đối với tiền đỗ xe, phí giao thông

Trang 23

- Định dạng điện tử (electronic identification - e-ID)

Bởi vì thẻ thông minh có khả năng lưu trữ thông tin cá nhân bao gồm ảnh, nhận dạng sinh trắc học, chữ ký số hóa và chìa khóa an toàn

cá nhân nên chúng được sử dụng trong nhiều loại nhận dạng, kiếm soát truy cập và ứng dụng xác nhận Ví dụ, một vài nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Bỉ đã lên kế hoạch hoặc thử nghiệm đưa ra chương trình thẻ thông minh định dạng quốc gia Thẻ được thiết kế để giảm thủ tục ID và người dân có thể di chuyển tự do hơn trong nước Thẻ

ID có kích thước như thẻ ngân hàng tiêu chuẩn và sẽ sử dụng con chip phi tiếp xúc

- Bảo vệ sức khỏe

Nói chung, thẻ thông minh được sử dụng để lưu trữ dữ liệu, định dạng và xác nhận chủ thẻ, cho phép hoặc giới hạn khả năng truy cập tới các công trình vật lý hoặc nguồn thông tin Trong việc bảo vệ sức khỏe, thẻ thông minh có những khả năng khác nhau, bao gồm:

- Lưu trữ thông tin y khoa cần thiết trong các trường hợp khẩn cấp

- Tránh cho bệnh nhân phải cầm nhiều đơn thuốc của các bác sĩ khác nhau

- Kiểm tra định dạng của bệnh nhân và thông tin về bảo hiểm

- Rút ngắn thời gian làm thủ tục nhập viện và khi giải quyết các trường hợp khẩn cấp

- Cung cấp cho các bác sĩ đa khoa sự truy cập an toàn vào bệnh

án của một bệnh nhân

- Đẩy nhanh quá trình thanh toán và khiếu nại

- Bệnh nhân có thể truy cập vào hồ sơ bệnh án qua Internet Mặc dù thẻ thông minh bảo vệ sức khỏe đã được xúc tiến đối với việc lưu kho dữ liệu (ví dụ lưu giữ thông tin y khoa cần thiết), nhưng trên thực tế hầu hết những thẻ này chỉ được sử dụng để kiểm tra quyền đối với các dịch vụ bảo vệ sức khỏe Đây là lĩnh vực sử dụng trước hết của chúng, ví dụ ở Đức và Pháp có hai chương trình thẻ thông minh

bảo vệ sức khỏe lớn nhất thế giới

Trang 24

Một trong những xu thế khác trong bảo vệ sức khỏe là sử dụng PKI để đảm bảo an toàn truy cập vào dữ liệu bảo vệ sức khỏe được lưu giữ trên các mạng Trong trường hợp này, thẻ thông minh chứa đựng không chỉ mã khóa cần thiết đối với bác sĩ đa khoa bảo vệ sức khỏe truy cập vào dữ liệu của bệnh nhân, mà còn truy cập tới dữ liệu được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của những mạng khác Ở Pháp, thế hệ tiếp theo của thẻ an toàn xã hội điện tử được sử dụng trong thanh toán bảo vệ sức khỏe đang tích hợp hệ thống mật mã trên cơ sở PKI Chương trình thẻ thông minh cho bảo vệ sức khỏe đang được triển khai ở một số nước châu Âu và châu Á bao gồm Úc, Bỉ, Cộng hòa Séc, Phần Lan, Đức, Ý, Hàn Quốc, Malayxia, Netherland, Na Uy, Rumani, Slôvenia, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Đài Loan và Vương Quốc Anh Trong tất cả các nước này, vấn đề bảo vệ sức khỏe do nhà nước cấp ngân sách hoặc nhà nước thực hiện Vì lý do này, nhiều nước đã tiến hành hoặc đang trong quá trình triển khai thẻ thông minh

ID ứng dụng đa năng bổ sung thêm chức năng bảo vệ sức khỏe Thẻ

ID của Malayxia đã có thông tin bảo vệ sức khỏe Do lo lắng về quyền

tự do công dân và bí mật riêng tư, nhiều người do dự về dữ liệu sức khỏe cá nhân của họ bị lẫn lộn với dữ liệu khác trong một thẻ Hầu hết mọi người thích mang thẻ riêng, mặc dù thực tế là hệ điều hành thẻ thông minh có thể đảm bảo sự tách biệt an toàn ứng dụng này với ứng dụng khác

* Đảm bảo an toàn thẻ thông minh

Thẻ thông minh lưu trữ và cung cấp khả năng truy cập vào các tài sản có giá trị khác (ví dụ tiền điện tử) hoặc thông tin nhạy cảm (ví

dụ như bệnh án) Vì vậy, chúng phải được đảm bảo an toàn chống lại những kẻ trộm, gian lận hoặc lạm dụng Nói chung, thẻ thông minh an toàn hơn các thẻ thanh toán thông thường trước đây Nếu một số người lấy trộm được một thẻ thanh toán, số thẻ cũng như chữ ký của người chủ thẻ nhìn thấy rõ ràng Mặc dù khó có thể giả mạo chữ ký, nhưng trong một số trường hợp người bán hàng chỉ đòi hỏi số thẻ để thực hiện thanh toán Sự bảo vệ duy nhất đối với người chủ thẻ là có

sự giới hạn trong số tiền họ sẽ chịu trách nhiệm (ví dụ ở Mỹ là 50$)

Trang 25

Nếu như thẻ lưu trữ giá trị bị đánh cắp (hoặc chủ thẻ làm mất), người chủ thẻ ban đầu có thể bị lạm dụng

Mặt khác, nếu thẻ thông minh bị mất cắp, kẻ cắp khó có khả năng sử dụng thẻ Một số thẻ thông minh chỉ ra số tài khoản, nhưng nhiều thẻ không chỉ ra thông số này Trước khi sử dụng thẻ, người chủ thẻ có thể bị yêu cầu nhập số PIN kết nối với thẻ Về mặt lý thuyết, khó có thể “hack” vào một thẻ thông minh Hơn nữa, hầu hết các thẻ hiện giờ lưu trữ thông tin ở dạng mã hóa Thẻ thông minh có thể cũng

mã hóa và giải mã dữ liệu được tải về hoặc đọc từ thẻ Do những nhân

tố này, khả năng hack một thẻ thông minh được xếp vào cuộc tấn công

“loại 3”, nghĩa là chi phí hack và sử dụng thẻ lớn hơn nhiều lợi ích thu được

Thẻ lưu trữ giá trị (Stored value card)

Thẻ lưu trữ giá trị trông giống thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, hoạt

động giống thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng Giá trị tiền tệ của thẻ lưu trữ giá trị được tải về trước trên thẻ Xét từ góc độ kỹ thuật và vật lý, thẻ lưu trữ giá trị khác biệt đối với thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng Thẻ lưu trữ giá trị làm bằng nhựa và có vạch từ tính ở mặt sau thẻ, có thể không

có tên của chủ thẻ in trên thẻ Giá trị tiền tệ của thẻ được lưu trong vạch từ tính Điều này phân biệt thẻ lưu trữ giá trị với thẻ thông minh Với thẻ thông minh, giá trị được lưu trong con chip Thẻ lưu trữ giá trị cũng có thể được sử dụng để thanh toán trực tuyến hoặc ngoại tuyến giống như cách thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng được sử dụng - nhờ vào cùng mạng lưới, truyền thông mã hóa và giao thức ngân hàng điện tử

Sự khác biệt về thẻ lưu trữ giá trị là mọi người có thể có thẻ mà không cần có điều kiện tài chính tiên quyết hoặc một tài khoản ngân hàng hiện hành bên cạnh

Thẻ lưu trữ giá trị có hai loại: thẻ mua hàng sử dụng với một mục đích và thẻ mua hàng sử dụng với nhiều mục đích Thẻ mua hàng sử dụng với một mục đích được phát hành bởi một người bán đặc biệt hoặc nhóm người bán, và chỉ có thể được sử dụng để mua hàng từ người bán hoặc nhóm người bán đó Thẻ phố buôn bán (mall cards), thẻ lưu trữ, thẻ

Trang 26

quà, thẻ điện thoại trả trước là những ví dụ của thẻ mua hàng với một mục đích Ngược lại, thẻ mua hàng sử dụng với nhiều mục đích có thể được sử dụng để thực hiện giao dịch ghi nợ ở nhiều cửa hàng bán lẻ Thẻ mua hàng với nhiều mục đích cũng có thể sử dụng cho mục đích khác như nạp tiền trực tiếp hoặc rút tiền từ máy ATM Một số thẻ sử dụng với nhiều mục đích được phát hành bởi các định chế tài chính và các hiệp hội thẻ có danh tiếng như Visa hoặc MasterCard Chúng có thể được sử dụng

ở mọi nơi mà loại thẻ này được chấp nhận Thẻ trả lương (Payroll), thẻ phúc lợi chính phủ và thẻ ghi nợ trả trước là ví dụ cho loại thẻ mua hàng

sử dụng với nhiều mục đích

Thẻ lưu giữ giá trị có thể có được bằng nhiều cách thức khác nhau Người chủ hoặc cơ quan chính phủ có thể phát hành thẻ như thẻ trả lương hoặc thẻ phúc lợi thay cho séc hoặc tiền gửi trực tiếp Thẻ quà được mua và tải về bởi người bán hoặc nhóm người bán Thẻ ghi

nợ trả trước có thể được mua qua điện thoại, trực tuyến hoặc ở cá nhân nào đó tại các định chế tài chính và đại lý phi tài chính Thẻ ghi nợ trả trước có thể được cấp quỹ bởi tiền mặt, chuyển giao ngân hàng hữu tuyến, lệnh chi tiền, séc tiền mặt, thẻ tín dụng khác, hoặc trực tiếp từ tiền trả lương và các khoản chi trả của chính phủ

Cùng với nhiều vấn đề khác, sự lựa chọn thẻ ghi nợ trả trước góp phần tạo nên một cách thức tương đối ít rủi ro để giáo dục cho thanh thiếu niên tinh thần trách nhiệm về phương diện tài chính Các doanh nghiệp, tổ chức có xu hướng mở rộng chương trình chi trả tiền trực tiếp vào tài khoản nhân viên, điều này góp phần tăng trưởng thị trường thẻ ghi nợ trả trước Giống như chi trả tiền trực tiếp vào tài khoản, thẻ tiền lương có thể giảm đáng kể sự quá tải về hành chính Thẻ tiền lương đặc biệt hữu ích đối với những công ty trong các ngành y tế, bán lẻ và những ngành khác nơi mà lực lượng lao động là lao động bán thời gian hoặc lao động thời vụ, hầu như không có tài khoản ngân hàng

6.2.3 Vi thanh toán

Là hình thức thanh toán với những đơn hàng có giá trị thấp, thường dưới 10 USD Một số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ: BitPass

Trang 27

(bitpass.com); Paystone (paystone.com); PayLoadz (payloadz.com); Peppercoin (peppercoin.com) Như đã nói ở trên, thẻ tín dụng không hoạt động tốt với những thanh toán nhỏ như vậy Người bán chấp nhận thẻ tín dụng phải trả một phí giao dịch tối thiểu từ 25 đến 35 cents, và trả thêm từ 2 đến 3% trị giá món hàng Phí này tương đối không đáng kể đối với các giá trị thanh toán thẻ tín dụng trên 10$, nhưng là quá cao đối với những giao dịch nhỏ Thậm chí nếu phí giao dịch nhỏ hơn, phần lớn các thanh toán giá trị nhỏ được thực hiện bởi những người dưới 18 tuổi mà nhiều người trong số đó không có thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ

Nhiều công ty đã ra sức phát triển các hệ thống thanh toán điện

tử giá trị nhỏ Mặc dù mỗi sản phẩm thanh toán dưới 10$, nhưng các công ty thực hiện thanh toán theo nhiều cách khác nhau:

- BitPass: Để sử dụng BitPass (bitpass.com), người tiêu dùng

trước hết thiết lập một “tài khoản người mua” và nhập tiền vào tài khoản thông qua PayPal hoặc thẻ tín dụng, giống như việc làm với thẻ trả trước hoặc thẻ lưu trữ giá trị Đối với người bán và người cung cấp, BitPass có thể được lưu gửi hoặc thực hiện bằng thêm phần mềm cổng vào BitPass tới site TMĐT Khi người mua nhấp chuột vào nội dung kích hoạt BitPass, họ sẽ được phần mềm BitPass nhắc nhở nhập mật khẩu Một khi người mua được xác nhận và chấp nhận, tài khoản BitPass của người mua được ghi nợ và người bán được thanh toán hoặc qua PayPal hoặc bằng chuyển tiền điện tử BitPass có khoảng

1000 người bán và cung cấp trong chương trình

- Paystone: Với Paystone (paystone.com), người mua thiết lập

một tài khoản trả trước sử dụng dịch vụ thanh toán hóa đơn của ngân hàng người mua hoặc bằng cách chuyển mặt vào bất kỳ tài khoản nào thuộc Ngân hàng Mỹ Người bán hoặc người cung cấp thực hiện Paystone bằng cách thêm đường dẫn đặc biệt tới hệ thống thanh toán điện tử giá trị nhỏ của Paystone Khi người mua nhấp chuột vào đường dẫn tới Paystone, người mua được đưa đến hệ thống Paystone, nơi mà người mua nhập mật khẩu của họ Tài khoản của người mua được ghi nợ và người mua được dẫn trở lại nội dung mà họ đã mua

Trang 28

- PayLoadz: PayLoadz (payloadz.com) hoạt động kết hợp với

PayPal Người mua thực sự mua nội dung thông qua PayPal Để sử dụng PayLoadz, người bán hoặc người cung cấp cần thiết lập tài khoản ở cả PayPal và PayLoadz và thêm đường dẫn PayLoadz đặc biệt tới trang thanh toán điện tử của họ Khi việc mua được thực hiện, site của PayLoadz hoạt động đằng sau site của PayPal để hoàn thành giao dịch và để báo cho người mua bằng thư điện tử nơi họ có thể lấy được nội dung họ đã mua

- Peppercoin: Với Peppercoin (peppercoin.com) không có sự trả

trước Người sử dụng nhập thông tin thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ khi

họ muốn mua hàng Để tránh phí giao dịch liên quan đến việc mua bán bằng thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, phần mềm Peppercoin hoạt động trên nền, tập hợp những cuộc mua của nhiều người mua và người bán khác nhau thành một vài giao dịch lớn Theo cách này sẽ giảm được chi phí giao dịch cho người bán và người mua

6.2.4 Hệ thống thanh toán séc điện tử

Việc sử dụng séc điện tử đang phát triển nhanh chóng Người bán hàng trên Web hy vọng rằng séc điện tử sẽ làm tăng doanh thu bằng cách tiếp cận khách hàng không có thẻ tín dụng hoặc không sẵn sàng cung cấp số thẻ tín dụng trực tuyến

Một séc điện tử là một phiên bản điện tử hoặc đại diện cho séc giấy Séc điện tử chứa đựng thông tin tương tự như séc giấy, có thể được sử dụng ở bất cứ chỗ nào mà séc giấy được sử dụng và dựa trên khung pháp lý tương tự Séc điện tử hoạt động về cơ bản là giống séc giấy, nhưng ở hình thức thuần túy điện tử với ít các bước thủ công hơn Với việc mua bằng séc điện tử trực tuyến, người mua đơn giản cung cấp cho người bán số tài khoản của mình, số chỉ dẫn ngân hàng chín ký tự, loại tài khoản ngân hàng, tên trong tài khoản ngân hàng, và

số tiền thanh toán Số tài khoản và số chỉ dẫn được trình bày ở cuối tờ séc trong các ký tự và các số nhận dạng ký tự mực từ tính (MICR -Magnetic Ink Character Recognition)

Trang 29

Séc điện tử dựa trên hoạt động ngân hàng và kinh doanh hiện hành và có thể được sử dụng bởi bất kỳ doanh nghiệp nào có tài khoản séc, bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể áp dụng các hình thức thanh toán điện tử khác (như thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ) Séc điện tử và những hình thức thanh toán tương đương cũng có thể được sử dụng đối với mua hàng giữa cá nhân với nhau Trong trường hợp này, người bán nhận một séc giấy từ người mua tại điểm bán hàng,

sử dụng thông tin MICR và kiểm tra số chỉ dẫn ngân hàng để hoàn thành giao dịch, sau đó làm mất giá trị và trả nó về cho người mua Hầu hết các doanh nghiệp dựa vào phần mềm bên thứ ba để thực hiện thanh toán séc điện tử CheckFree, Telecheck, AmeriNet, Paymentech và Authorize.Net là một số hãng lớn bán phần mềm và hệ thống cho phép người bán trực tuyến chấp nhận và xử lý séc điện tử trực tiếp từ một website Phần lớn những phần mềm được các hãng khác nhau cung ứng hoạt động theo cùng một cách thức

Hình 6.4: Quy trình thanh toán séc điện tử của Authorize.Net

Tài khoản ngân

hàng của người bán

Người bán

Ngân hàng của người mua

Ngân hàng của Authorize.net

Trung tâm thanh toán

bù trừ tự động Người mua

Trang 30

Hệ thống được chỉ ở hình 6.4 dựa trên Authorize.Net, là điển hình cho các quá trình cơ bản thường được sử dụng để hỗ trợ cho séc điện

tử Về cơ bản, quá trình gồm bảy bước Đầu tiên, người bán nhận được

sự cấp phép viết tay hoặc điện tử từ khách hàng nạp tiền vào tài khoản ngân hàng của họ (bước 1) Tiếp theo, người bán truyền một cách an toàn các thông tin về giao dịch đến máy chủ cổng thanh toán của Authorize.Net (bước 2) Giao dịch được chấp nhận hoặc bị từ chối là dựa vào tiêu chí của cổng thanh toán Nếu được chấp nhận, Authorize.Net định dạng thông tin giao dịch và gửi chúng như một giao dịch thanh toán bù trừ tự động tới ngân hàng ODFI (Originating Depository Financial Institution) của Authorize.Net với phần còn lại của giao dịch được nhận ngày hôm đó Ngân hàng của Authorize.Net tiếp nhận thông tin giao dịch và gửi chúng đến Mạng trung tâm thanh toán bù trừ tự động để xử lý Mạng trung tâm thanh toán bù trừ tự động

sử dụng thông tin tài khoản ngân hàng đã được cung cấp với giao dịch

để xác định ngân hàng nắm giữ tài khoản của khách hàng (bước 4) Mạng trung tâm thanh toán bù trừ tự động hướng dẫn ngân hàng nắm giữ tài khoản của khách hàng thực hiện thanh toán hoặc hoàn trả lại tài khoản khách hàng (khách hàng là người nhận) Ngân hàng nắm giữ tài khoản của khách hàng chuyển tiền từ tài khoản của khách hàng sang Mạng trung tâm thanh toán bù trừ tự động (bước 5) Mạng trung tâm thanh toán bù trừ tự động chuyển tiếp tiền tới ngân hàng của Authorize.Net Ngân hàng của Authorize.Net gửi trả lại Authorize.Net (bước 6) Sau giai doạn xử lý ngân quỹ, Authorize.Net thiết lập một giao dịch thanh toán bù trừ tự động riêng biệt để đưa tiền thu được dạng séc điện tử tới tài khoản ngân hàng của người bán (bước 7)

Như hình 6.4 minh họa quá trình thanh toán bằng séc điện tử ở

Mỹ dựa hoàn toàn vào Mạng trung tâm thanh toán bù trừ tự động (Automated Clearing House -+HC) Mạng trung tâm thanh toán bù trừ

tự động là một hệ thống chuyển khoản điện tử định hướng khối toàn quốc cung cấp dịch vụ bù trừ tự động thanh toán điện tử liên ngân hàng cho tất cả các định chế tài chính tham gia Hệ thống Dự trữ Liên bang và Mạng thanh toán điện tử hoạt động như các trung tâm thanh

Trang 31

toán bù trừ tự động Chúng chuyển và nhận các dòng thanh toán ACH Các dòng ACH có hai loại: các dòng tín dụng hoặc các dòng ghi nợ Một dòng tín dụng ACH ghi có vào tài khoản của người nhận Ví dụ, khi một khách hàng thanh toán một hóa đơn được một công ty gửi tới, công ty là người nhận mà tài khoản của công ty được ghi có Mặt khác, dòng ghi nợ ghi nợ cho tài khoản của người nhận Ví dụ, nếu một khách hàng cấp phép thanh toán trước cho một công ty, sau đó, khách hàng là người nhận và tài khoản của khách hàng được ghi nợ Thanh toán bằng séc điện tử có rất nhiều lợi ích :

- Người bán cắt giảm được chi phí quản lý

- Người bán nhận được tiền từ người mua nhanh hơn, an toàn hơn và không mất thời gian xử lý giấy tờ

- Cải tiến hiệu quả quy trình chuyển tiền đối với cả người bán và

- Tiết kiệm so với thanh toán bằng thẻ tín dụng cho người bán

- Nhanh và tiện lợi hơn so với séc giấy

* Phương pháp sử dụng séc điện tử

- Phương pháp in và thanh toán “Print & Pay” Để sử dụng

phương thức này khách hàng phải mua một phần mềm cho phép mình

in những tấm séc ra và chuyển séc đó đến ngân hàng của mình để nhận tiền Quá trình xử lý séc trực tuyến cũng giống như séc thông thường, khi phát sinh thanh toán séc được chuyển đến ngân hàng và phải được ngân hàng chứng nhận thì séc đó mới có giá trị

Trang 32

- Trung tâm giao dịch, giống như phương pháp “Print and Pay”,

người sử dụng séc phải nhập tất cả các thông tin trên séc vào form tại

cửa hàng ảo Những thông tin đó sẽ được mã hoá và chuyển trực tiếp tới ngân hàng và sẽ được xử lý trong vòng 48 giờ Sau đó, toàn bộ số tiền của giao dịch sẽ được chuyển từ tài khoản của người mua sang tài khoản của người bán Kèm theo đó, là một “báo có” trực tuyến vào tài khoản của người bán và một “báo nợ” được gửi bằng email cho người mua Phương pháp này nhanh hơn phương pháp “print & pay” bởi vì tất cả các thông tin cần thiết của khách hàng sẽ được nhập trực tiếp trên mạng ngay khi giao dịch đang được thực hiện, và những tấm séc

đó luôn được đảm bảo có giá trị

6.2.6 Hệ thống xuất trình và thanh toán hóa đơn điện tử

Hóa đơn là một chứng từ yêu cầu thanh toán đối với một đơn hàng đã được thực hiện trước đó

Hóa đơn điện tử cũng được nói tới như một hệ thống xuất trình

và thanh toán hóa đơn điện tử (Electronic Bill Presentment and Payment - EBPP) Xuất trình liên quan đến việc lấy thông tin được in trên hóa đơn và lưu nó trong máy chủ web xuất trình hóa đơn Khi hóa đơn có hiệu lực trên máy chủ Web thì khách hàng có thể truy cập vào hóa đơn thông qua trình duyệt, xem lại và thanh toán hóa đơn qua phương tiện điện tử Sau khi đã nhận được thanh toán, hóa đơn phải được đưa trở lại hệ thống báo thu tài khoản của chủ hóa đơn Nói chung, thanh toán được chuyển từ tài khoản séc của khách hàng thông qua ACH Trong hệ thống hóa đơn điện tử, khách hàng có thể là các

cá nhân hoặc là công ty

Cho đến nay, phần lớn khách hàng vẫn thanh toán hóa đơn theo cách truyền thống bằng cách gửi séc giấy thông qua bưu điện, tuy nhiên hóa đơn điện tử ngày càng được sử dụng nhiều hơn

* Các phương thức thanh toán hóa đơn điện tử

Có 3 cách để thanh toán hóa đơn trên internet:

- Thanh toán thông qua một ngân hàng trực tuyến: Khách hàng

đăng ký sử dụng dịch vụ thanh toán hóa đơn trực tuyến của một ngân

Trang 33

hàng và thực hiện tất cả việc thanh toán từ một website duy nhất Một

số ngân hàng cho phép sử dụng miễn phí đối với tài khoản ký gửi, nhưng có một số ngân hàng đề nghị miễn phí nếu chủ tài khoản duy trì một bản cân đối tối thiểu Những ngân hàng khác lại yêu cầu phí hàng tháng từ 5 đến 7$

- Thanh toán trực tiếp tại site người lập hóa đơn: Khách hàng

thực hiện việc thanh toán tại website của người lập hối phiếu hoặc bằng thẻ tín dụng, hoặc cung cấp cho người lập hối phiếu thông tin cần thiết để hoàn thành việc rút tiền trực tiếp từ tài khoản của khách hàng

Hình 6.5 Quy trình thanh toán bằng hóa đơn điện tử

Hình 6.5 chỉ ra những bước chung trong quá trình EBPP của người lập hóa đơn Người lập hóa đơn cung cấp những thông tin hóa đơn cần thiết cho khách hàng trên website của mình hoặc ở trên những trang Web cung cấp dịch vụ thanh toán hóa đơn (bước 1) Khi khách hàng nhìn thấy hóa đơn (bước 2), khách hàng sẽ cấp phép và bắt đầu việc thanh toán trên website đó (bước 3) Việc thanh toán có thể được thực hiện bởi thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ hoặc ghi nợ ACH Sau đó, người lập hóa đơn tiến hành một giao dịch thanh toán (bước 4), chuyển tiền thông qua hệ thống thanh toán, ghi có cho người lập hóa đơn và ghi nợ cho khách hàng (bước 5)

- Người cung cấp dịch vụ hóa đơn: Khách hàng đăng ký để nhận

và thanh toán hóa đơn cho nhiều người lập hóa đơn (đăng ký dịch vụ) Thông tin đăng ký của khách hàng được chuyển tiếp tới tất cả người lập hóa đơn Đối với mỗi chu kỳ thanh toán hóa đơn, người lập hóa

Tổ chức tài chính

của khách hàng Nhà cung cấp dịch vụ tài chính của người lập hóa đơn

1 2 3

4 5

Trang 34

đơn gửi một bản tổng hợp hóa đơn hoặc chi tiết hóa đơn cho người cung cấp dịch vụ hóa đơn (xuất trình) Bản tổng hợp hóa đơn liên kết với chi tiết hóa đơn lưu cùng với người lập hóa đơn hoặc người cung cấp dịch vụ hóa đơn được chuyển đến người tập hợp dữ liệu và sẵn sàng được khách hàng sử dụng (xuất trình) Khách hàng xem xét hóa đơn và thực hiện theo lời chỉ dẫn thanh toán (thanh toán) Người cung cấp dịch vụ khách hàng (CSP) hoặc người tập hợp dữ liệu thực hiện một giao dịch thanh toán tín dụng chuyển tiền thông qua hệ thống thanh toán tới người lập hóa đơn (thanh toán) Dữ liệu về số tiền chuyển được cung cấp cho người lập hóa đơn là người đưa những thông tin này tới hệ thống báo thu tài khoản của chính mình (đưa thông tin lên)

* Lợi ích của hóa đơn điện tử

Trên quan điểm của một số hãng hóa đơn, hóa đơn điện tử có một số ưu việt Lợi ích dễ nhận thấy nhất là giảm chi phí liên quan tới lập hóa đơn và xử lý thanh toán Con số ước tính cho thấy chi phí đối với mỗi hóa đơn giấy là từ 0,75 đến 2,70 đô la, còn hóa đơn điện tử là

từ 0,25 đến 0,30 đô la mỗi hóa đơn Có những ngành cho biết trung bình tiết kiệm chi phí từ 1 đến 5 đô la cho mỗi hóa đơn điện tử Hóa đơn điện tử cũng làm cho dịch vụ khách hàng tốt hơn Khách hàng không những được các đại diện chăm sóc khách hàng phục vụ, có thể nhìn thấy trực tiếp hóa đơn được xuất trình như thế nào, mà còn có thể truy cập tới Hệ thống các câu hỏi thường gặp và Hộp thư trợ giúp Một ưu việt khác liên quan đến quảng cáo Một hóa đơn giấy có thể bao gồm cả phần quảng cáo và marketing kèm thêm, tuy nhiên mọi khách hàng đều thường nhận được những quảng cáo và tài liệu giống nhau Với hóa đơn điện tử, phần nội dung gắn kèm có thể được

cá biệt hóa đối với từng khách hàng Nếu như khách hàng trả lời phần nội dung gắn kèm thì rất dễ dàng đánh giá được quảng cáo có kết quả như thế nào

Hóa đơn điện tử cũng đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng Hóa đơn điện tử giúp giảm những chi phí khách hàng loại bỏ chi phí séc,

Trang 35

bưu phẩm phí và phong bì Hóa đơn điện tử làm đơn giản hóa và tập trung hóa việc xử lý thanh toán và làm thuận lợi hóa quá trình hạch toán Khách hàng có thể xem lại và thanh toán hóa đơn gần như mọi lúc Với cách này, khách hàng kiểm soát trực tiếp thời gian thanh toán

Đã từ lâu, CheckFree (checkfree.com) là nhà bán hóa đơn điện

tử bên thứ ba hàng đầu CheckFree được thành lập vào năm 1981 và hiện giờ có trụ sở ở Atlanta, bang Georgia CheckFree là bên cung cấp dịch vụ hóa đơn, tập hợp tất cả những hóa đơn của một khách hàng thành một xuất trình thanh toán đơn nhất Nó có thể thực hiện thanh toán với những công ty không thực hiện hóa đơn điện tử CheckFree phục vụ khoảng 6 triệu khách trong hơn 1000 doanh nghiệp và trên

350 tổ chức tài chính (bao gồm hầu hết các ngân hàng Mỹ) Bên cạnh những dịch vụ này, CheckFree còn quản lý doanh mục vốn đầu tư, các sản phẩm và dịch vụ điều hòa, chuyển khoản séc, xử lý hóa đơn điện

tử và thanh toán, phân phối báo cáo điện tử, TMĐT khách hàng, và trong nhiều năm nó dẫn đầu trong xử lý các thanh toán ACH Hiện nay, hơn hai phần ba các thanh toán ACH toàn quốc được CheckFree thực hiện CheckFree nhắc nhở người sử dụng nếu có vấn đề nảy sinh với bất kỳ vụ thanh toán nào, người sử dụng có thể gửi những thông tin về giao dịch cho Quicken hoặc Microsoft Money.See để hỗ trợ

6.2.7 Thanh toán điện tử trong giao dịch B2B

Thanh toán B2B thường rộng hơn và phức tạp hơn nhiều so với các thanh toán B2C Giá trị thanh toán lên đến hàng trăm nghìn đô la, việc mua sắm và thanh toán liên quan đến nhiều mặt hàng và phương tiện vận chuyển, thường gây ra những cuộc tranh cãi cần những biện pháp đặc biệt để giải quyết Hóa đơn điện tử đơn giản và hệ thống EBPP thiếu tính nghiêm ngặt và an toàn để thực hiện thanh toán B2B

a) Thực trạng thanh toán B2B

Thanh toán B2B là một phần của chuỗi cung ứng tài chính rộng lớn bao gồm mua sắm, quản lý hợp đồng, thực hiện, tài chính, bảo hiểm, phân loại tín dụng, xác nhận gửi hàng, theo dõi đơn hàng, chấp nhận thanh toán, kết nối chuyển tiền, vào sổ cái chung Đứng trên góc

Trang 36

độ người mua, chuỗi cung ứng bao gồm quá trình từ mua đến thanh toán Trên phương diện người bán, chuỗi cung ứng nói trên liên quan đến chu kỳ từ nhận đơn đặt hàng đến thu tiền Không phụ thuộc vào góc độ người bán hay người mua, trong quản lý chuỗi cung ứng tài chính, mục đích là tối ưu hóa các tài khoản (A/P) và tài khoản nhận (A/R), quản lý tiền mặt, vốn luân chuyển, chi phí giao dịch, rủi ro tài chính và quản lý tài chính

Không giống như chuỗi cung ứng lớn (vật lý), chuỗi cung ứng tài chính của hầu hết công ty còn phi hiệu quả tạo nên bởi các một loạt các nhân tố, bao gồm :

- Thời gian cần thiết để tạo lập, chuyển khoản và xử lý các thủ tục giấy tờ

- Chi phí và lỗi liên quan đến việc tạo lập và chỉnh sửa thủ công các tài liệu

- Thiếu tính minh bạch trong kiểm kê và tiền mặt khi hàng hóa đang vận động trong chuỗi cung ứng

- Có nhiều tranh cãi do dữ liệu sai sót hoặc thiếu

- Các giải pháp bị tách biệt, không chỉ ra cách xử lý đồng bộ cả chu kỳ kinh doanh

Những nhân tố phi hiệu quả này đặc biệt dễ nhận thấy trong A/P

và A/R, nơi mà việc thanh toán vẫn được thực hiện trên giấy tờ

Các cuộc khảo sát doanh nghiệp cho thấy phần lớn các thanh toán B2B cho đến nay vẫn thực hiện bằng các phương pháp truyền thống Đa số thanh toán B2B vẫn được thực hiện bằng séc và những rào cản đối với thanh toán điện tử về bản chất vẫn như vậy Tuy nhiên, nhiều tổ chức tỏ ý sẵn sàng chuyển từ thanh toán bằng séc sang thanh toán điện tử trong tương lai

Thanh toán điện tử được sử dụng ngày càng rộng rãi để giải ngân

và thu ngân khi mà các doanh nghiệp là người cung ứng hoặc khách hàng lớn Tuy nhiên, không phụ thuộc vào mối quan hệ thương mại

Trang 37

giữa các doanh nghiệp, tín dụng ACH là hình thức thanh toán điện tử được sử dụng rộng rãi nhất, sau đó là chuyển khoản hữu tuyến Thẻ mua sắm và ghi nợ ACH ít khi được sử dụng

Có nhiều rào cản đối với thanh toán điện tử Hầu hết các công ty đều có thể liệt kê hàng loạt nhân tố kìm hãm việc chuyển sang thanh toán điện tử Bốn rào cản chính là: thiếu đội ngũ nhân viên tin học, chưa có sự tích hợp giữa thanh toán và hệ thống kế toán, thiếu định dạng tiêu chuẩn hóa cho các thông tin chuyển tiền và sự thiếu khả năng của các đối tác thương mại trong việc gửi hoặc nhận thanh toán điện tử với thông tin chuyển tiền đầy đủ

b) Hệ thống xuất trình và thanh toán hóa đơn doanh nghiệp (Enterprise Invoice Presentment and Payment - EIPP)

Quá trình mà trong đó các công ty xuất trình hóa đơn và thực hiện thanh toán đối với một công ty khác qua Internet gọi là Xuất trình

và thanh toán hóa đơn doanh nghiệp (Enterprise Invoice Presentment and Payment - EIPP) Đối với nhiều doanh nghiệp, việc xuất trình và thanh toán tốn nhiều chi phí và thời gian Chi phí có thể lên đến 15$

để có một hóa đơn giấy rồi từ 25 đến 50$ để giải quyết một hóa đơn

có tranh cãi Còn về mặt thanh toán, có khi mất 3 đến 5 ngày để gửi một séc bằng bưu điện Điều này có nghĩa là hàng triệu đô la trong thanh toán B2B đang bị lãng phí, đồng thời làm giảm dòng tiền của người nhận và tăng lượng tiền họ phải vay để bù vào khoản đó Cũng như vậy, xử lý hóa đơn và tiền trả hàng năm có thể dẫn đến các sai sót, và tiếp đó gây nên các tranh cãi làm chậm việc thanh toán Mỗi công ty hàng năm thực hiện hàng nghìn hóa đơn và thanh toán, việc giảm thời gian, chi phí hoặc giảm sai sót có thể giúp tiết kiệm hàng triệu đô la Theo như cuộc khảo sát gần đây của Quỹ tài trợ nghiên cứu tín dụng, Mỹ (Credit Research Foundation), nguyên nhân chính

mà các công ty chuyển sang giải pháp EIPP là để thúc đẩy dòng tiền, dịch vụ khách hàng trong quá trình xử lý hóa đơn, chuyển tiền và hoàn thiện những dữ liệu có thể được sử dụng để giúp giảm chi phí xử lý hóa đơn

Trang 38

* Các mô hình EIPP

EIPP tự động hóa dòng công việc liên quan đến xuất trình và thanh toán Giống EBPP, có ba mô hình EIPP: trực tiếp người bán, trực tiếp người mua và người cung cấp dịch vụ

- Trực tiếp người bán: Giải pháp này liên kết một người bán với

nhiều người mua về việc xuất trình hóa đơn Người mua truy cập vào website của người bán rồi đăng nhập chương trình EIPP của người bán Người bán khởi tạo hóa đơn trong hệ thống và thông báo cho người mua tương ứng rằng họ đã sẵn sàng để xem xét Người mua truy cập vào website người bán để xem xét và phân tích hóa đơn Người mua có thể cho phép thanh toán hoá đơn hoặc tiến hành thương lượng Trên cơ sở các quy tắc đã định trước, thương lượng có thể được chấp nhận, từ chối hoặc xem xét lại một cách tự động Khi việc thanh toán đã được cho phép và thực hiện, tổ chức tài chính của người bán

sẽ xử lý giao dịch thanh toán

Mô hình này được sử dụng điển hình khi có quan hệ đã được thiết lập từ trước giữa người mua và người bán Nếu một người bán phát hành nhiều hóa đơn hoặc hóa đơn có giá trị cao, thì sau đó có thể nhận được khoản thưởng đáng kể khi thực hiện EIPP Chính vì lý do này mà mô hình thường được các công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, viễn thông, ngành phục vụ công cộng, chăm sóc sức khỏe, ngành dịch vụ tài chính áp dụng

- Trực tiếp người mua: Trong mô hình này, có một người mua

trong khi nhiều người bán Người bán đăng nhập vào hệ thống EIPP của người mua ở website của người mua Người bán gửi hóa đơn tới EIPP của người mua, sử dụng định dạng của người mua Khi một hóa đơn được gửi, người mua sẽ được thông báo Người mua xem xét và phân tích hóa đơn trên hệ thống Người mua thông báo mọi bất đồng đến người bán tương ứng Trên cơ sở các quy tắc đã được quy định từ trước, tranh luận có thể được chấp nhận, từ chối hoặc xem xét lại một cách tự động Một khi hóa đơn được chấp nhận, người mua sẽ cho phép thanh toán và tổ chức tài chính của người mua tiến hành xử lý giao dịch

Trang 39

Đây là mô hình đang phát triển, dựa trên vị trí chi phối của người mua trong các giao dịch B2B Nó được sử dụng khi người mua thực hiện khối lượng lớn hóa đơn Các công ty như Wal-Mart đang tiến hành thiết lập EIPP trực tiếp người mua

- Người cung cấp dịch vụ: Đây là mô hình nhiều người bán -

nhiều người mua, trong đó người cung cấp dịch vụ đóng vai trò là trung gian thu gom và tập hợp hóa đơn từ nhiều người bán và thanh toán từ nhiều người mua khác nhau Người cung cấp dịch vụ là bên thứ ba không chỉ cung cấp dịch vụ EIPP mà còn các dịch vụ tài chính khác (ví dụ như bảo hiểm, giữ các bản giao kèo) Trong mô hình này, người bán và người mua đăng ký với hệ thống EIPP của người cung cấp dịch vụ người bán thiết lập và chuyển thông tin hóa đơn cho hệ thống EIPP Người cung cấp dịch vụ thông báo cho tổ chức người mua tương ứng là hóa đơn đã sẵn sàng Người mua xem xét lại và phân tích hóa đơn Thương lượng có thể được thực hiện thông qua người cung cấp dịch vụ EIPP Trên cơ sở các quy tắc đã được định trước, tranh luận có thể được chấp nhận, từ chối hoặc xem xét lại một cách tự động Khi người mua cho phép thanh toán hóa đơn, người cung cấp dịch vụ tiến hành việc thanh toán Việc thanh toán có thể được thực hiện hoặc bởi tổ chức ngân hàng của người mua hoặc bởi tổ chức ngân hàng của người bán

Mô hình người cung cấp dịch vụ giúp tránh được nhiều phiền phức kéo theo khi thực hiện và hoàn tất một EIPP Mô hình này đã phát triển ổn định trong những ngành mà nhiều người mua cùng tin tưởng vào những người bán Mạng lưới dịch vụ thanh toán Xing (XPSN, xing.com), dịch vụ trao đổi toàn cầu (GXS), TradeGid (gxs.com) và Mạng lưới các nhà cung cấp thương mại mở hoàn hảo (OSN, perfect.com) là những nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba liên kết hàng nghìn nhà cung ứng và người mua XPSN có hơn 10000 nhà cung ứng hoạt động trong mạng lưới của họ, thực hiện hơn 20 tỷ đô la trong các giao dịch Trading Grid của GSX duy trì thương mại trực tuyến giữa 30000 khách hàng trên hơn 60 nước, thực hiện hơn một tỷ giao dịch điện tử trị giá một nghìn tỷ đô la hàng hóa và dịch vụ OSN

Trang 40

của Công ty Thương mại hoàn hảo kết nối hơn 8000 nhà cung ứng Mỗi mạng lưới này đều giúp loại trừ việc tiếp xúc điểm - điểm giữa người bán và người mua, tự động hóa các chức năng cơ bản của quá trình A/P bao gồm nhận hóa đơn, sự thông qua, gửi hoá đơn, quản lý tranh chấp, chấp thuận và thanh toán, bổ sung và tích hợp với hệ thống mua sắm hiện hành của người mua và người bán

* Các phương án thực hiện thanh toán trong EIPP

Có nhiều phương án trực tuyến để thực hiện thanh toán trong hệ thống EIPP Các phương án khác nhau về chi phí, tốc độ, khả năng kiểm tra, mức độ tiếp cận và kiểm soát Lựa chọn phương án cụ thể nào phụ thuộc vào yêu cầu của người bán và người mua Có một số phương án thanh toán B2B thường xuyên được dùng như sau:

- Mạng ACH: Mạng ACH chính là mạng làm nền tảng cho quá

trình xử lý séc điện tử (đã đề cập ở mục 6.2.3) Sự khác nhau là thanh toán B2B bị giới hạn bởi ba loại thay đổi phụ thuộc vào lượng thông tin chuyển tiền đi kèm theo các thanh toán Thông tin chuyển tiền giúp người mua và người bán kiểm tra chi tiết hóa đơn hoặc một thanh toán

cụ thể Ba loại dòng thanh toán ACH trong các giao dịch B2B là: (1), Tập trung và giải ngân tiền mặt (CCD - Cash Concentration or Disbursement) là hình thức thanh toán đơn giản sử dụng cho các hóa đơn đơn lẻ, không có các dữ liệu chuyển tiền đi kèm, được người mua khởi tạo và ghi có cho tài khoản người bán; (2), Tập trung và giải ngân tiền mặt với phụ lục (CCD+ - Cash Concentration or Disbursement with Addenda), giống như hình thức thanh toán CCD ngoại trừ nó có lượng nhỏ dữ liệu (đến 80 ký tự) về chuyển tiền kèm theo; (3), Trao đổi thương mại tập đoàn (CTX - Corprate Trade Exchange) thường được sử dụng để thanh toán các hóa đơn khác nhau

và có lượng dữ liệu chuyển tiền lớn (đến 9.999 dòng ghi, mỗi dòng đến 80 ký tự) kèm theo

Không yêu cầu phần cứng đặc biệt bắt buộc phải có để sử dụng mạng ACH Chi phí của phần mềm để khởi tạo các giao dịch ACH phụ thuộc vào khối lượng giao dịch CTX Khối lượng CTX lớn đòi

Ngày đăng: 15/07/2022, 16:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6.1. Chuyển tiền điện tử truyền thống - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 6.1. Chuyển tiền điện tử truyền thống (Trang 6)
Hình 6.2. Chuyển khoản điện tử trên Internet - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 6.2. Chuyển khoản điện tử trên Internet (Trang 7)
Hình 6.3: Thẻ thông minh - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 6.3 Thẻ thông minh (Trang 19)
Hình 6.4: Quy trình thanh toán séc điện tử của Authorize.Net - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 6.4 Quy trình thanh toán séc điện tử của Authorize.Net (Trang 29)
Hình 6.5. Quy trình thanh toán bằng hóa đơn điện tử - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 6.5. Quy trình thanh toán bằng hóa đơn điện tử (Trang 33)
Hình 7.1: Môi trường an toàn thương mại điện tử - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 7.1 Môi trường an toàn thương mại điện tử (Trang 47)
Hình 7.2: Các vấn đề chung về an toàn Website thương mại điện tử - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 7.2 Các vấn đề chung về an toàn Website thương mại điện tử (Trang 52)
Hình 7.3: Những điểm yếu trong môi trường thương mại điện tử. - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 7.3 Những điểm yếu trong môi trường thương mại điện tử (Trang 56)
Bảng 7.1: Một số loại mã nguy hiểm (malicious code) - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Bảng 7.1 Một số loại mã nguy hiểm (malicious code) (Trang 59)
Hình 7.1: Phương pháp mã hoá khoá riêng - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 7.1 Phương pháp mã hoá khoá riêng (Trang 73)
Bảng 7.2: So sánh phương pháp mã hoá khoá riêng - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Bảng 7.2 So sánh phương pháp mã hoá khoá riêng (Trang 76)
Hình 7.3. Chữ ký số - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 7.3. Chữ ký số (Trang 77)
Hình 7.4: Chứng thực điện tử. - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 7.4 Chứng thực điện tử (Trang 81)
Hình 7.5: Qui trình giao dịch của SET - Giáo trình Thương mại điện tử căn bản: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (Chủ biên)
Hình 7.5 Qui trình giao dịch của SET (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm