Giáo trình Tài chính quốc tế được biên soạn nhằm cung cấp tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên thuộc các khối ngành Kinh tế và Quản trị kinh doanh nói chung, sinh viên các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng nói riêng của nhà trường, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các độc giả quan tâm đến lĩnh vực này. Giáo trình được kết cấu thành 9 chương và chia làm 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: đầu tư quốc tế; tín dụng quốc tế; viện trợ phát triển chính thức; thuế quan và liên minh thuế quan; cán cân thanh toán quốc tế;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Chương 5
Đầu tư quốc tế là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ra nước ngoài nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và các mục tiêu kinh tế - xã hội khác Dưới góc độ tài chính quốc tế, đầu tư quốc tế là sự di chuyển một luồng vốn
từ quốc gia này sang quốc gia khác để kinh doanh với mục tiêu đa dạng hóa thị trường nhằm tối đa lợi nhuận và tối thiểu hóa rủi ro
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hình thức dầu tư kinh doanh quốc tế cũng ngày càng phong phú và đa dạng Mỗi hình thức đầu tư có những đặc điểm riêng về cách thức đầu tư vốn, về tính chất liên kết và phân chia kết quả đầu tư, kết quả kinh doanh
Nội dung chương 5 Giáo trình sẽ giới thiệu cùng bạn đọc 2 hình thức đầu tư quốc tế phổ biến, đó là: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp với những đặc điểm, lợi ích và bất lợi của mỗi hình thức đầu tư xét trên 2 góc độ chủ thể đầu tư và chủ thể tiếp nhận vốn đầu tư; tính toán và đo lường ngân sách đầu tư và tỉ suất sinh lợi; đồng thời phân tích một số khó khăn, vướng mắc trong đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư nước ngoài
5.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của FDI
• Khái niệm
Như đã nêu ở chương 1, FDI là hình thức đầu tư dài hạn của một chủ thể (cá nhân hay công ty) nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh và chủ thể đầu tư sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh đó
Như vậy, FDI gắn liền với sự di chuyển một khối lượng nguồn vốn dài hạn, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đàu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vào các dự án, các doanh nghiệp nhàm dành quyền điều hành và quản lí đối tượng mà họ đã bỏ vốn đầu tư
155
Trang 2Nguồn: Báo cáo đầu tư toàn cẩu 2008 (UNCTAD), Đánh giá của UNCTAD về luồng
vổn FDI trong bổi cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu (tháng 1/2009)
• Những nhân tố thúc đấy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
- Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpman và Sibert, Richard s Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có đừợc do dùng thêm một dơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn đến
sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận
- Chu kỳ sản phâm
Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới đầu được phát minh
và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường nội địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay
Trang 3thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
Raymond Vemon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá
và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sán xuất thấp hơn
- Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Stephen H Hymes (1960, công bố năm 1976), John H Dunning (1981), Rugman A A (1987) và một số người khác cho ràng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn nàng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng
- Tiêp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại, còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương Đe đối phó với những rào càn trong xuất khẩu hàng hóa, Nhật Bản dã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu
- Khai thác chuyên gia và công nghệ
Không phải FDI chỉ di theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế
Trang 4xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tưcmg tự Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL - Thompson Electroincs, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy.
- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Đe có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú Thông qua FDI, nhà đầu
tư tận dụng được ưu thế của nước tiếp nhận đầu tư nhưng nhà đầu tư vẫn đảm bảo được quyền sở hữu, quản lí, kiểm soát của mình, nhờ đó làm gia tăng thu nhập Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự
• Đặc điểm của FDI
- Được thực hiện chủ yếu bàng nguồn vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, không có các ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế
- Chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành hoặc tham gia điều hành
dự án, doanh nghiệp đầu tư theo tỉ lệ góp vốn
- Vốn đầu tư trực tiếp được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản hữu hình (tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, tài nguyên ), tài sản vô hình (bí quyết kĩ thuật, bàng phát minh, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp )
• Vai trò của FDI
—► Đối với chủ đầu tư
Đứng trên giác độ người đầu tư, khi thực hiện hoạt động FDI sẽ có một
số lợi ích cơ bản sau:
Trang 5- FDI tạo điều kiện thu hút nhu cầu mới Khi nhu cầu về một loại sản phẩm nào đó ở trong nước suy giảm hoặc trở nên bão hòa, việc cân nhắc để lựa 'chọn thị trường nước ngoài - nơi có nhu cầu tiểm ẩn về sản phẩm đó thông qua FDI là giải pháp có tính khả thi.
- Tận dụng được lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư: chi phí sử dụng đất, lao động rẻ, sử dụng nguyên liệu thô để sản xuất tại chỗ nhằm giảm chi phí vận chuyển do phải nhập nguyên vật liệu, sử dụng công nghệ hiện hữu của nước ngoài (thông qua mua lại doanh nghiệp) nhờ đó giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi nhuận
- ứng phó với các hạn chế thương mại, các hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước Trong một số trường hợp, các nhà đầu tư có thể sử dụng FDI như một chiến lược phòng ngự hơn là tấn công Chẳng hạn, nhà máy sản xuất ô tô của Nhật sẽ thành lập ở Mĩ do tiên đoán rằng việc xuất khẩu ô tô sang Mĩ sẽ chịu ảnh hưởng của những hạn chế thương mại ngặt nghèo Mặt khác, FDI giúp chủ đầu tư có điều kiện đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh
- Ngoài ra, thực hiện FDI nhà đầu tư có cơ hội để tận dụng những lợi thế do sự thay đổi về tỉ giá, bành trướng sức mạnh kinh tế, tài chính, nâng cao uy tín, mở rộng thị trường tiêu thụ
Bàng 5.2: Tóm tắt lợi ích và cách thức sử dụng FDI để khai thác lợi ích
Lợi ích Cách thức sử dụng FDI để khai thác lợi ích
Thu hút nhu cầu mới Thiết lập một chi nhánh hoặc mua lại một đối thủ cạnh tranh trên
thị trường nước ngoài.
Sừ dụng đất đai và lao
động ở nước ngoài
Thiết lập chi nhánh, công ty ở thị trường có chi phí đất đai và lao động thấp, bán thành phẩm tới các nước mà ờ đó chi phí sản xuất cao hơn.
Sừ dụng nguyên liệu thô Thiết lập chi nhánh, công ty ở thị trường có nguyên liệu thô rẻ và
có thẻ dùng được, bán thành phẩm ở các nước có nguyên liệu thó đắt hơn.
Trang 6—‘^■Đối vói nước nhận đầu tư
+ Lợi ích cùa thu hút FDỈ
- Bổ sung cho nguồn von trong nước
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI
- Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý
Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bàng "chính sách thắt lưng buộc bụng" Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bàng chính sách đó Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bàng những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý dó ra cả nước thu hút đau tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước
- Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ doanh nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các doanh nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có
cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu
- Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công
Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương Trong quá trình thuê mướn dó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp,
mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được doanh nghiệp cung cấp Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dường nghiệp vụ ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 7- Nguồn thu ngân sách lớn
Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp
ô tô Ford chiếm 50% số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006
+ Hạn chế của FDỈ
FDI cũng có những hạn chế nhất định Thông thường luồng vốn FDI chỉ đi vào những nước có môi trường kinh tế - chính trị ổn định, môi trường đầu tư hấp dẫn Nếu nước nhận đầu tư không có quy hoạch đầu tư chi tiết,
cụ thể và khoa học dễ dẫn tới tình trạng đầu tư tràn lan, tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực khác bị khai thác cạn kiệt, khó bố trí dầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ Nếu việc thẩm định dự án đầu tư không chặt chẽ, nước thu hút vổn đầu tư còn có thể trở thành nơi nhập khẩu máy móc, thiết
bị, công nghệ lạc hậu Nếu chính sách, pháp luật cạnh tranh của nước tiếp nhận vốn đầu tư không đầy đủ có thể dẫn tới tình trạng doanh nghiệp nước ngoài chèn ép doanh nghiệp trong nước
Ở Việt Nam, Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam được ban hành năm 1987 đã thể chế hóa đường lối của Đảng, mở đầu cho việc thu hút
và sử dụng hiệu quà nguồn vốn ĐTNN, theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật ĐTNN đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000; cùng với các văn bản dưới Luật đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật thông thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế Pháp luật ĐTNN và các văn bản pháp luật liên quan đến ĐTNN được ban hành đã tạo môi trường pháp lý đồng bộ cho các hoạt động ĐTNN tại Việt Nam Cùng với việc hoàn thiện hệ thông pháp luật, khung pháp lý song phương và đa phương liên quan đến ĐTNN cũng không ngừng được mở rộng và hoàn thiện với việc nước ta đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước và vùng lãnh thổ Vì vậy, ngay trong điều kiện
cơ chế thị trường của Việt Nam chưa hoàn thiện, các nhà ĐTNN vẫn có thể tiến hành các hoạt động đầu tư thuận lợi ở Việt Nam mà không có sự khác biệt đáng kể so với một số nước có kinh tế thị trường truyền thống
Trang 8Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo
sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu
tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư
có hiệu lực từ ngày 01/7/2006, thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn ĐTNN, một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù họp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ĐTNN Thực tế đã chứng minh việc ban hành Luật Đầu tư đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những chuyển biến tích cực của tình hình ĐTNN vào Việt Nam kể từ năm 2006 tới nay
Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm) Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, đến cuối năm 2007 có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD.Trong hoạt động FDI tại Việt Nam, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng
có tỷ trọng lớn nhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký hơn
50 tỷ USD, chiếm 66,8% về số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện
Bảng 5.3: Tình hình FDI tại Việt Nam đến năm 2007
Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
TT Chuyên ngành Số dự án Vốn đầu tư (USD) Vốn thực hiện (USD)
Trang 9Trong khu vực dịch vụ, ĐTNN tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất động sản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp (42% tổng vốn ĐTNN trong khu vực dịch vụ), du lịch - khách sạn (24%), giao thông vận tải - bưu điện (18%).
Bảng 5.4: Tình hình FDI tại Việt Nam đến năm 2007
Nguồn: Bộ Kể hoạch và Đầu tư
Các dự án ĐTNN trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở phía Nam Vùng Đông Nam bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành, đồng bằng sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung bộ 15% Miền Bắc và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bàng sông Hồng lượng vốn đãng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước
Trang 10Bảng 5.5: Tinh hình FDI tại Việt Nam đến năm 2007
Lĩnh vực Nông, Lâm và Ngư nghiệp
Ngành Số dự án Vốn đăng kỷ (USD) Vốn thực hiện (USD)
1 Nông, Lâm nghiệp 803 4.014.833.499 1.856.710.521
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm 2008, tổng số dự án FDI được cấp mới vào Việt Nam cả năm là 1.171 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 60,217 tỷ USD (bên Việt Nam chiếm khoảng 10%) tăng 222% so với năm 2007 Trong năm 2008, số dự án tăng vốn cũng rất lớn với 311 dự án đăng ký tăng vốn với tổng số vốn đăng
ký tăng thêm 3,74 tỷ USD Chỉ tính riêng số vốn tăng thêm của các dự án đang hoạt động tại Việt Nam trong năm 2008 đã tương đương với tổng số vốn đăng ký mới trong một năm của đầu những năm 2000 Do đó, tính chung cả vốn đăng ký cấp mới và vốn đăng ký tăng thêm, tổng số vốn FDI đăng ký tại Việt Nam năm 2008 đạt 64,011 tỷ USD, tăng 199,9% so với năm 2007 Tổng số vốn giải ngân trong năm 2008 của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam lên con số 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007 Trong năm 2008, vốn đăng ký mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về sổ dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực dịch
vụ có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự
án và 45,4% về vốn đầu tư đãng ký số còn lại thuộc lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp Các dự án ĐTNN trong năm 2008 thực hiện chủ yếu theo hình thức 100% vốn nước ngoài (882 dự án, vốn đăng ký 31,16 tỷ USD), chiếm 75,3% về số dự án và 51,7% về vốn đăng ký số dự án theo Hình thức liên doanh có 213 dự án với vốn đăng ký 27,16 tỷ USD, chiếm 18,2% về số dự
án và 45,1% về vốn đăng ký Còn lại là các dự án theo hình thức khác
Trong 6 tháng đầu năm 2009 cả nước có 306 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 4,7 tỷ USD Tuy chỉ bằng 13,3% so với cùng
kỳ năm 2008 nhưng 4,7 tỷ USD đăng ký mới cũng là con số khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay và bằng tổng mức vốn đăng ký mới của cả năm 2005 Cũng trong 6 tháng đầu năm 2009, có 68 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,1 tỷ USD, tăng 13,8%
Trang 11so với cùng kỳ năm 2008, thể hiện niềm tin của các nhà đầu tư vào khả năng phục hồi và tiềm năng phát triển của nền kinh tế Việt Nam Trong thời gian nửa đầu năm 2009, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 4 tỷ USD, bàng 81,6% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó vốn từ nước ngoài dự kiến 3,3 tỷ USD So với mục tiêu giải ngân 8 tỷ USD năm
2009, nhìn chung các dự án ĐTNN đang triển khai phù họp với tiến độ dự kiến
Tính lũy kế đến 19/6/2009, cả nước có 10.409 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 164,7 tỷ USD
Đơn vị: triệu USD
Bảng 5.6: Diễn biến FDI vào Việt Nam từ 2001-2009
Vốn đăng ký 3.142,8 2.998,8 3.191,2 4.547,6 6.839,8 12.004,0 21.347,8 64.011,0 21.480 Vốn thực hiện 2.450,5 2.591,0 2.650,0 2.852,5 3.308,8 4.100,1 8.030,0 11.600,0 10.000 Giá trị TB của
1 dự án
5,6627 3,7113 4,0343 5,6073 7,0513 12,162 13,826 54,6635
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Những tảc động tích cực của FDI vào Việt Nam
- ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tứ đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế, đóng góp đáng kể vào NSNN (năm 2008, khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,982 tỷ USD, tạo ra trên 200 nghìn việc làm mới, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1,467 triệu người) FDI đã có những tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc
tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu
- ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp FDI đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may
Trang 12- ĐTNN thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò
và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy
- Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN có tác động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN Mặt khác, các doanh nghiệp ĐTNN cũng tạo ra động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa
- ĐTNN góp phần giúp Việt Nam mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại
và đầu tư Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức cùa ASEAN, APEC, ASEM và WTO Nước ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo
hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, hoạt động ĐTNN tại Việt Nam cũng còn những mặt hạn chế nhất định Đó là, sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ; tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyết kịp thời; đặc biệt là sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp ĐTNN thường cao hơn mặt bàng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước ta Tuy vậy, một số trường hợp các nhà ĐTNN đã lợi dụng sơ hở của pháp luật Việt Nam, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra, giám sát tại các cửa khẩu nên đã nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết
bị có công nghệ lạc hậu thậm chí là những phế thải của các nước khác.Trong thời gian tới, dự báo vốn ĐTNN vẫn sẽ tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi về địa lý - tự nhiên, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm Để tăng cường thu hút ĐTNN tại những vùng có điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, bên cạnh những ưu đãi đối với ĐTNN tại các vùng
đó, đòi hỏi phải tăng cường đầu tư xây dựng nhanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, điện, nước ở các vùng kinh tế khó khăn bàng nguồn vốn nhà nước, vốn ODA và nguồn vốn tư nhân
Trang 13Tập trung thu hút đầu tư, lấp đầy các KCN - K.CX - KCNC, khu kinh
tế đã được Chính phủ phê duyệt góp phần đẩy nhanh việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng Tận dụng những khu vực đất trống, đồi trọc,
ít giá trị nông nghiệp để phát triển KCN, xây dựng nhà máy, hạn chế xây dựng KCN - KCX -KCNC trên đất canh tác nông nghiệp truyền thống.Cùng với hoạt động FDI tại Việt Nam, FDI của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài cũng có xu hướng tăng trong những năm gần đây, góp phần không nhỏ trong việc khai thác những tác động tích cực từ hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Bảng 5.7: Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam (2006-2007)
Năm Số dự án
Tổng vốn đăng kí (triệu USD)
Lĩnh vực công nghiệp (triệu USD)
Lĩnh vực nông nghiệp (triệu USD)
Lĩnh vực dịch vụ (triẹu USD)
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch & Đằu tư
Thị trường đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam cũng không ngừng gia tăng, đến nay thị trường FDI của Việt Nam đã vươn tới 35 nước và vùng lãnh thổ Tuy nhiên, ngoại trừ một số dự án thăm dò khai thác dầu khí tại Angiêri, Iraq, Madagasca, phần lớn các dự án còn lại được tập trung tại 3 nước Lào, Cămpuchia và Liên bang Nga Tính đến ngày 20 tháng 12 năm
2008, Việt Nam đã có 146 dự án đầu tư sang Lào với tổng vốn đầu tư đăng
ký 1,52 tỷ USD, quy mô bình quân một dự án là 10,4 triệu USD Lào là địa bàn thu hút nhiều nhất đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài
Bảng 5.8: sổ dự án và vốn FDI của Việt Nam tại ba nước
Trang 145.1.2. Các hình thức FDI
FDI bao gồm nhiều loại khác nhau Tùy theo mục đích nghiên cứu và quản lí, người ta có thể phân chia FDI theo những tiêu thức phân loại nhất định
• Phân theo bản chất đầu tư
Theo bản chất đầu tư, FDI bao gồm:
- Đầu tư phương tiện hoạt động
Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào Ngoài ra, đầu tư phương tiện hoạt động còn thể hiện qua hình thức mua lại doanh nghiệp.Mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp là hình thức đầu tư theo
đó nhà đầu tư nhận chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp Khi mua lại doanh nghiệp nhà đầu tư phải thanh toán tiền cho chủ doanh nghiệp cũ và do đó nó cũng làm tăng khối lượng vốn đầu tư
- Sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức đầu tư được thực hiện thông qua việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của một hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị sáp nhập) vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào
• Phăn theo tỉnh chất dòng vốn
Theo tính chất dòng vốn đầu tư, FDI bao gồm:
- Đầu tư 100%, hoặc góp vốn để thành lập doanh nghiệp
Nhà đầu tư nước ngoài góp tiền vốn, tài sản, bí quyết công nghệ với chủ đầu tư trong nước, hoặc bỏ 100% vốn đầu tư để thành lập doanh nghiệp mới
- Đầu tư chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản
lý của công ty
Trang 15- Tái đầu tư, đầu tư phát triến
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm
Nhà đầu tư cũng có thể thực hiện đầu tư phát triển kinh doanh bằng cách bỏ vốn để mở rộng quy mô, nâng cao năng lực hoạt động của cơ sở kinh doanh Đầu tư phát triển kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư hiện có, đồng thời bổ sung vốn đầu tư mới, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững của cơ sở kinh doanh
• Phân theo động cơ của nhà đầu tư
Theo động cơ đầu tư, FDI bao gồm:
- Đầu tư tìm kiếm tài nguyên
Đây là các hoạt động đầu tư nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp, hoặc khai thác nguồn lao động có kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cao Hình thức đầu tư này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu (như các điểm du lịch nổi tiếng), các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh
- Đầu tư tìm kiếm hiệu quả
Đây là hoạt động đầu tư nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu
tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v
- Đầu tư tìm kiếm thị trường
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường, hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định họp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu
Ở Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm các hình thức sau:
Trang 16Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong đầu tư quốc tế là hình thức đầu tư dược kí kết giữa chủ đầu tư nước ngoài với chủ đầu tư nước chủ nhà để tiến hành sán xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên co sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới.Hình thức đầu tư theo hợp đồng, đầu tư vốn để kinh doanh của nhà đầu
tư được tiến hành trên cơ sờ hợp đồng được giao kết giữa các nhà đầu tư, hoặc giữa nhà đầu tư với nhà nước (các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) Nhà đầu tư trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh với tư cách pháp lí của mình phù hợp với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng Khi nhà đầu tư lựa chọn đầu tư theo họp đồng, ngoài việc phải tuân thủ Luật đầu tư, việc giao kết thực hiện hợp đồng còn phải phù hợp với các quy định chung về hợp đồng trong kinh doanh, thương mại Đầu tư theo họp đồng bao gồm các hình thức sau:
- Các họp đồng thương mại và họp đồng giao nguyên liệu lấy sản phẩm Hợp đồng mua bán hàng hóa trả chậm và các họp đồng khác mà không thực hiện phân chia lợi nhuận hoặc kết quả kinh doanh không phải là hợp đồng họp tác kinh doanh Trong quá trình kinh doanh, các bên của hợp đồng có thể thỏa thuận thành lập Ban điều phối (điều hành) dể theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng họp tác kinh doanh Ban điều phối hợp đồng họp tác kinh doanh không phải là đại diện pháp lý cho các bên
- Đầu tư theo hình thức họp đồng Họp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) và Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): BOT, BTO và BT là những hình thức đầu tư thông qua hợp đồng được kí giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài Theo đó, nhà đầu tư bỏ vốn dể xây dựng, kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng trong thời hạn nhất định và chuyển giao cho nhà nước theo những phương thức thanh toán, đền bù khác nhau
Các hình thức BOT, BTO và BT có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, sản xuất và kinh
Trang 17doanh điện, cấp thoát nước, xử lí chất thải ) Thay vì phải dầu tư vốn xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng, Nhà nước áp dụng những chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư để có được hệ thống cơ sở hạ tầng thông qua việc nhận chuyển giao quyền sở hữu các công trình từ nhà đầu tư, bàng những phương thức chuyển giao khác nhau.
về mặt pháp lí, sự khác nhau chủ yếu giữa các hình thức đầu tư BOT, BTO và BT thể hiện ở thời điểm chuyển giao quyền sở hữu công trình gắn với quyền quản lí, vận hành, khai thác công trình của nhà đầu tư cho nhà nước và phương thức thanh toán, dền bù của Nhà nước cho nhà đầu tư Trong hình thức BOT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư quản lí
và kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư
và có lợi nhuận hợp lí, hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình cho Nhà nước Với hình thức BTO, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư chuyển giao quyền sở hữu công trình cho nhà nước; nhà dầu tư được Nhà nước dành cho quyền kinh doanh công trình trong thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lí Ớ hình thức BT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư chuyển giao quyền
sở hữu công trình cho Nhà nước; nhà đầu tư được nhà nước tạo điều kiện thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lí hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh này có đặc điểm:
- Các bên họp tác kinh doanh cùng thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên trên cơ sở các điều khoản của họp đồng đã kí
- Không hình thành pháp nhân mới
- Thời hạn hợp đồng do hai bên thỏa thuận phù họp với tính chất hoạt động kinh doanh và mục tiêu của hợp đồng
- Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải đề cập trong văn bản họp đồng
5.1.2.2 Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh (DNLD) là một tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau trên cơ sở cùng góp vốn, cùng kinh doanh, nhàm thực hiện các cam kết trong hợp đồng liên doanh và Điều
lệ DNLD, phù hợp với khuôn khổ luật pháp nước nhận đầu tư
Trang 18Doanh nghiệp liên doanh ở Việt Nam là doanh nghiệp do hai bên, hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh, hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, hoặc
là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài họp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liên doanh họp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sờ hợp đồng liên doanh Doanh nghiệp liên doanh còn bao gồm cả doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam liên doanh với các doanh nghiệp Việt Nam, cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học ở trong nước đáp ứng các điều kiện
do Chính phủ Việt Nam quy định
DNLD có các đặc điểm sau:
- Hình thành một pháp nhân mới: DNLD, có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư, chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm
vi vốn điều lệ của liên doanh (vốn pháp định)
- Trong doanh nghiệp liên doanh luôn có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài và bên hoặc các bên nước tiếp nhận đầu tư
- Thời gian hoạt động, cơ chế tổ chức quản lí doanh nghiệp tùy thuộc vào luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư
- Các bên liên doanh, hay các thành viên của doanh nghiệp liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định (vốn điều lệ), có quyền lợi theo tỉ lệ góp vốn
Ở Việt Nam, để thành lập doanh nghiệp liên doanh, các bên Việt Nam
sẽ góp một phần vốn pháp định, phần còn lại do các nhà đầu tư nước ngoài góp Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, khi quy định về vốn của doanh nghiệp liên doanh, các nhà đầu tư nước ngoài luôn phải đảm bảo tỷ lệ vốn góp ít nhất bằng 30% vốn pháp định của công ty liên doanh, một số trường họp quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp liên doanh có thể cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định khi có những thay đổi về mục tiêu, quy mô dự án, đối tác, phương thức góp vốn và các trường hợp khác nhưng không được làm giảm tỷ lệ vốn pháp định xuống dưới mức quy định trên và phải được cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chuẩn y Các bên trong doanh nghiệp liên doanh có quyền chuyển nhượng giá trị phần vốn góp của mình nhưng phải ưu tiên chuyển nhượng cho các bên trong doanh
Trang 19nghiệp liên doanh Trong trường hợp chuyển nhượng cho doanh nghiệp ngoài liên doanh thì điều kiện chuyển nhượng không được thuận lợi hơn so với điều kiện đã đặt ra cho các bên trong doanh nghiệp liên doanh.
5.1.2.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có các đặc điểm cơ bản sau:
- Chủ thể thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài chỉ bao gồm một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài mà không có sự tham gia của bên Việt Nam Đây là điểm khác biệt cơ bản so với doanh nghiệp liên doanh;
- Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ vốn, tài sản để thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Theo đó các nhà đầu tư nước ngoài chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi phần vốn góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp kể cả khi doanh nghiệp đó do một
cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, thành lập và làm chủ;
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước tiếp nhận đầu tư, chịu trách nhiệm trong kinh doanh trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp (vốn pháp định)
Theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 (sửa đổi năm 2000), vốn pháp định của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu
hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự
án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn đầu
tư và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được giảm vốn pháp định
5.1.3 Đánh giá và lựa chọn dự án FDI
5.1.3.1 Dự báo các yếu tố liên quan đến dự án
Khi phân tích, đánh giá và ra quyết định đầu tư đối với các dự án đầu tư dài hạn nói chung, dự án FDI nói riêng, người ta thường quan tâm đến kết quả dự báo một số yếu tố như: vốn đầu tư ban đầu; nhu cầu của người tiêu
Trang 20dùng, giá cả, chi phí biến đổi và chi phí cố định đối với sản phẩm; tuổi thọ, giá trị thu hồi của dự án, các chính sách thuế và các hạn chế chuyển vốn hoặc thu nhập của nước tiếp nhận vốn đầu tư; tỉ giá và tỉ suất sinh lợi yêu cầu đối với dự án.
- vốn đầu tư ban đầu
Vốn đầu tư ban đầu là yếu tố không thể thiếu đối với mỗi dự án Nó có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như vốn điều lệ (vốn pháp định), vốn vay Lượng vốn này không chỉ cần thiết dể bắt đầu dự án, để hình thành các tài sản cố định, mà còn cần để bổ sung vốn lưu động trong quá trình đầu tư, khi mà dự án chưa đi vào hoạt động và chưa tạo ra thu nhập Tùy theo mỗi loại dự án mà nhu cầu vốn đầu tư ban đầu có thể cao, thấp khác nhau
- Nhu cầu của người tiêu dùng
Dự báo chính xác nhu cầu của người tiêu dùng đối với một sản phẩm là
cơ sở để xác định chính xác khối lượng sản phẩm tiêu thụ và luồng tiền vào của dự án Nhưng giống như các dự báo khác, việc dự báo nhu cầu và khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án là một công việc không hề dễ dàng Thực
tế cho thấy, việc dự báo thường dựa vào số liệu thống kê trong quá khứ có xem xét đến ảnh hưởng của tổng hợp nhiều yếu tố trong điều kiện mới, các chỉ báo về những thay đổi trong tương lai Tuy nhiên, lịch sử có thể không lặp lại, điều này dẫn đến kết quả dự báo đôi khi thiếu chính xác và đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cũng như hiệu quả thực tế của các dự án đầu
tư Kết quả là nhiều dự án đã phải ngừng hoạt động trước thời hạn
- Chi phí cố định
Chi phí cố định là các chi phí không thay đổi hoặc thay đổi không đáng
kể khi quy mô sản xuất kinh doanh, sản lượng hoặc doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng lên hay giảm đi cần lưu ý ràng: thuật ngữ chi phí cố định phản ánh theo quan điểm tổng chi phí trong kì không thay đổi Nếu tính chi phí
Trang 21trên 1 đơn vị sản phẩm thì loại chi phí này lại giảm đi khi quy mô sản xuất kinh doanh, sản lượng hoặc doanh thu tăng lên và ngược lại Nhóm yếu tố chi phí này thường bao gồm chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê ngoài và các chi phí cố định khác
Xét ở khía cạnh dự báo, chi phí cố định có thể dễ dự báo hơn so với chi phí biến đổi bời nó thường không nhạy cảm với sự thay đổi của nhu cầu sản phẩm trên thị trường Tuy nhiên, nó lại nhạy cảm với bất cứ sự thay đổi nào trong mức lạm phát của nước chủ nhà
- Chi phí biến đối
Chi phí biến đổi là các chi phí luôn thay đổi theo nhu cầu sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm Khi nhu cầu sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm tăng lên, chi phí này cũng tăng lên và ngược lại cần lưu ý rằng: thuật ngữ chi phí biến đổi phản ánh theo quan điểm tổng chi phí trong kì Nếu tính chi phí trên 1 đơn vị sản phẩm thì loại chi phí này lại không thay đổi theo sản lượng hoặc doanh thu tiêu thụ Nhóm yếu tố chi phí này thường bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí lãi vay
Giống như việc dự báo giá tiêu thụ sản phẩm, dự báo chi phí biến đổi
có thể được phát triển từ việc đánh giá chi phí so sánh hiện thời của các yếu
tố chi phí hợp thành sản phẩm Các chi phí này cũng chuyển dịch cùng hướng với mức lạm phát trong tương lai của đồng tiền nước chủ nhà Trên thực tế, chi phí biến đổi của các dự án thường khác nhiều so với chi phí dự báo ban đầu
- Thời gian hoạt động của dự án
Việc xác định thời gian hoạt động của dự án đầu tư nước ngoài thường
dễ dàng hơn so với các dự án trong nước bởi những quy định của nước tiếp nhận vốn đầu tư Tuy nhiên, trong một số trường hợp do các sự kiện chính trị, hoặc những nguyên nhân khách quan khác mà các dự án có thể kết thúc sớm hơn so với kế hoạch đã thiết lập và khả năng xảy ra những sự kiện này
sẽ là rất khác nhau đối với mỗi quốc gia
- Giá trị thu hồi của dự án
Do dự án hoạt động trong thời gian dài nên giá trị thu hồi của dự án rất khó dự báo Nó tùy thuộc vào một số nhân tố như sự thành công của dự án
và thái độ của nước chủ nhà đối với dự án Trường hợp xấu nhất xảy ra đối với chủ đầu tư dự án là chính phủ nước chủ nhà có thể thực hiện chính sách
Trang 22trưng thu dự án, hoặc bồi thường không tưorng xứng với giá trị còn lại thực
- Luật thuế
Thuế là yếu tố tác động trực tiếp đến luồng tiền của dự án Vì vậy, khi lập ngân sách dự án đầu tư cần thiết phải nghiên cứu yếu tố này Tuy nhiên, luật thuế của mỗi quốc gia thường rất phức tạp, không giống nhau và cũng không ổn định Chính sách thuế của một số nước có thể cho phép giảm, chậm, hoặc miễn thuế đối với những ngành, vùng cần thu hút đầu tư Đối với nhà đầu tư, để lựa chọn thị trường đầu tư tối ưu và xây dựng chính sách quản trị tài chính công ty thích hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho chủ dự án, cần cân nhắc cẩn trọng các chính sách thuế hiện tại và dự báo những thay đổi của nó trong tưorng lai Ngược lại, đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư, nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đánh quá cao so với các quốc gia khác nhưng không có chính sách quản lí tốt, tình trạng các công ty nước ngoài sử dụng biện pháp chuyển giá để hạn chế và giảm thiểu
số thuế thu nhập phải nộp là điều khó tránh khỏi
- Tỉ giá
Khác với các dự án đầu tư trong nước, bất kể dự án FDI nào cũng chịu
sự tác động của tỉ giá và nó là căn cứ để xác định luồng tiền vào, ra của dự
án Vì vậy, khi lập ngân sách dự án, cần tính toán và dự báo yếu tố này Tỉ giá biến động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thực trạng cán cân thanh toán quốc tế, tốc độ lạm phát, quan hệ cung cầu ngoại tệ của nước chủ nhà
- Mức lợi tức yêu cầu
Tùy theo thực tế hoạt động của chủ đầu tư, lãi suất trung bình trên thị trường, tốc độ lạm phát, chi phí sử dụng vốn bình quân của nhà đầu tư, mức rủi ro tiềm ẩn của dự án mà mức sinh lời yêu cầu của mỗi dự án sẽ khác
Trang 23nhau Thông thường, đối với các dự án được đánh giá có mức rủi ro tiềm ẩn cao, người ta thường sử dụng mức chiết khấu có điều chỉnh rủi ro theo mức rủi ro tương ứng trong mỗi thời kì.
5.13.2 Phương pháp đánh giá và lựa chọn dự án
Giống như các dự án đầu tư trong nước, chu trình của một dự án bao gồm nhiều giai đoạn: từ ý tưởng về dự án đến chuẩn bị và lập dự án đầu tư, đánh giá và lựa chọn dự án, triển khai dự án và cuối cùng là tổng kết quyết toán dự án Đánh giá và ra quyết định lựa chọn dự án FDI là một khâu quan trọng trong chu trình dự án Để có được quyết định chính thức, chủ đầu tư phải thu thập, phân tích, đánh giá nhiều loại thông tin như: thông tin về sản phẩm và thị trường, thông tin về hiệu quả tài chính, thông tin về hiệu quả kinh tế xã hội, thông tin kĩ thuật, thông tin về nhân sự và quản lí dự án Với phạm vi nghiên cứu của môn học, việc đánh giá và lựa chọn dự án chỉ xem xét trên khía cạnh hiệu quả tài chính của dự án
Có nhiều phương pháp đánh giá và lựa chọn dự án FDI về mặt tài chính như phương pháp NPV, phương pháp IRR trong đó NPV là phương pháp được sử dụng phổ biến hơn cả
• Khái niệm NPV
NPV (Net Present Value) là giá trị hiện tại thuần của dự án đầu tư, nó được xác định bằng cách ước tính giá trị hiện tại của các dòng tiền thu được trong tương lai của dự án đầu tư trừ đi chi phí ban đầu cho dự án đó
• Cách xác định NPV
n ACFị NPV = X -—- -10
' 1 (1+rỹTrong đó:
- NPV là giá trị hiện tại thuần, tính bằng nội tệ
- ACFị là thu nhập ròng dự kiến năm i của dự án đầu tư (tính bằng nội tệ)
- r là tỉ lệ hiện tại hóa hay tỉ lệ chiết khấu Tỉ lệ này có thế dùng lãi suất trung bình trên thị trường, hoặc chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp, hoặc tỉ suất sinh lợi nhà đầu tư đòi hỏi từ dự án FDI
- n là thời gian hoạt động của dự án
-10 là vốn đầu tư ban đầu của dự án (tính bằng nội tệ)
Trang 24ACFj (tính bằng ngoại tệ) được xác định như sau:
+ Trường hợp dự án được thực hiện bàng vốn chủ sở hữu
Tiền thuế chuyển thu Giá trị thu hồi từ nhập ra nước ngoài + dự án năm i năm i (nếu có) (nếu có)
+ Trường họp dự án được thực hiện vừa bàng vốn chủ sở hữu và vốnvay
ACFi
Lợi nhuận Tiền
sau thuế + khấu hao
TNDN năm i
năm i
Tiền trà nợ Tiền thuế Giá trị thu vay - chuyển thu nhập + hồi từ dự án (nợ gốc) ra nước ngoài năm i năm i năm i (nếu có) (nếu có)
Lợi nhuận sau
thuế TNDN năm i
Tổng doanh thu năm i
Tổng chi Thuế TNDN phí năm i ■ năm i
Tổng doanh thu, tổng chi phí được xác định dựa vào kết quả dự tính về khối lượng và giá bán sản phẩm, các chi phí cố định và chi phí biến đổi mỗi năm
Sau khi tính được ACFj bàng ngoại tệ, dựa vào kết quả dự báo tỉ giá giữa ngoại tệ và nội tệ mỗi năm, chính sách thuế thu nhập của nước đầu tư
sẽ xác định được ACFị bằng nội tệ mỗi năm
Thu nhập thực nhận Thu nhập nhận Tiền thuế thu nhập nhận từ được từ nước ngoài = được từ nước - nước ngoài phải nộp nếu có (nội tệ) ngoài (nội tệ) (nội tệ)
1 Đầu tư ban đầu: 7.000.000 USD
2 Dự kiến dự án hoạt động trong 5 năm
Trang 253 Giá cả, nhu cầu về sản phẩm và chi phí biến dổi trên 1 chai như sau:
Năm Giá 1 chai
(VND)
Nhu cầu (chai)
Chi phí biến đổi (VND/chai)
7 Chính phủ Việt Nam cam kết sẽ mua lại cơ sở sản xuất sau khi dự án kết thúc với số tiền là 500.000.000 VND (Chính phủ Việt Nam không đánh thuế thu nhập đối với khoản thu nhập này)
8 Công ty yêu cầu mức lợi tức đối với dự án là 15%
Yêu cầu:
1 Đánh giá dự án đầu tư trên theo phương pháp NPV để cho biết dự án
có tính khả thi không nếu công ty yêu cầu tỷ lệ lợi tức đối với dự án là 15%/ năm?
2 Nếu tỷ lệ lợi tức yêu cầu đối với dự án là 20%/ năm thì có chấp nhận
dự án không?
Trang 26Nêu mức lợi tức yêu câu là 20%, kêt quả như sau:
Chi tiêu Năm 0 Nâm Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
5.1.4. Những khó khăn trong đánh giá dự án FDI
Khác với đầu tư trong nước, NPV của dự án FDI chịu tác động của nhiều nhân tố như tỉ giá, chính sách tài trợ, chính sách quản lí tài chính đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tất cả những điều đó sẽ ảnh hưởng đến thực tế của dự án
- Ảnh hưởng của tỉ giá hối đoái
Khi ngoại tệ tăng giá so với đồng nội tệ sẽ làm thu nhập của dự án tính bằng nội tệ tăng lên và ngược lại Đối với FDI, phần lớn các dự án đều là
Trang 27dài hạn Vì vậy, việc dự báo không chính xác tỉ giá sẽ ảnh hưởng đến tính chính xác của ACFj và NPV.
0 ví dụ trên nếu tỷ giá giữa USD với VND thực tế là:
Tỷ giá 17.000 17.100 17.200 17.300 17.400
Kết quả dự án sẽ thay đổi như sau:
Chi tiêu Năm 0 Năm 1 Nám 2 Năm 3 Nám 4 Nãm 5
3 1.866.329,48
0 2.194.683,908
- Clúnli sách tài trợ cho dự án
Một dự án FDI có thể tài trợ bằng một hoặc nhiều nguồn khác nhau: tài trợ bằng nguồn vốn của công ty mẹ - vốn chủ sở hữu, tài trợ bằng nguồn vốn vay hoặc thuê tài chính ở nước chủ nhà, nước tiếp nhận vốn đầu tư Sự thay đổi về cấu trúc tài trợ và chi phí sử dụng vốn cũng sẽ ảnh hưởng đến tính chính xác của ACFị và NPV
Ví dụ trên tính toán với giả thiết dự án được tài trợ 100% bằng vốn chủ sở hữu Nếu thay đổi cơ cấu tài trợ bàng 1 phần vốn vay, hoặc một phần tài sản thuê hoạt động sẽ làm thay đối các dòng tiền khấu hao, chi phí lãi vay, dòng tiền trà nợ gốc và do đó sẽ tác động đến ACFị và NPV thực cúa dự án
- Chính sách quản lí tài chính của Chính phũ nước chủ nhà
Đe quản lí và điều tiết hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kể
cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, Chính phủ các nước có thể ban hành nhiều chính sách khác nhau như: chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế
Trang 28thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, thuế nhận thu nhập từ nước ngoài, chính sách thanh toán và chuyển tiền, hạn chế hoặc phong tỏa việc chuyển tiền ra nước ngoài Sự khảo sát không đầy đủ, hoặc không chính xác các chính sách quản lí tài chính của nước chủ nhà cả ở hiện tại cũng như dự báo sự thay đổi trong tương lai sẽ là nhân tố ảnh hưởng đến tính chính xác của ACFi và NPV.
Thực tế cho thấy, để giảm chi phí thuế phải nộp cho Chính phủ nước chủ nhà, nhiều doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp như chuyển giá, xây dựng chính sách tài trợ linh hoạt Ngược lại, về phía Chính phủ nước nhận vốn tài trợ, để ngăn chặn tình trạng chuyển giá, gây thất thu thuế Chính phủ
có thể áp dụng các biện pháp áp giá đối với những hàng hóa mà giá ghi trên hợp đồng chênh lệch quá lớn so với giá thực tế trên thị trường
Với ví dụ trên, nếu khi dự án đi vào hoạt động, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ờ Việt Nam đối với công ty là 28%, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài là 0%; thuế suất thuế thu nhập ở Mỹ là 45% nhưng được khấu trừ số thuế thu nhập đã nộp ở Việt Nam thì NPV sẽ thay đổi như thế nào?
Chì tiêu Năm 0 Năm 1 Năm 2 Nãm 3 Năm 4 Năm 5
Trang 29Như vậy, khi chính sách thuế thu nhập của Việt Nam và Mĩ thay đối, NPV từ +652.082,7 giảm xuống còn +204.251,098 Tuy nhiên NPV>0 Nếu
tỉ suất sinh lợi đòi hỏi đối với dự án không thay đổi, dự án vẫn được chấp nhận, nhưng NPV giảm 447.831,602 USD (652.082,7 - 204.251,098)
- Ảnh hưởng của dự án tới tổng thu nhập của nhà đầu tư
Khi phân tích dự án dầu tư, ngoài những nhân tố trên càn đánh giá ảnh hưởng của dự án tới tổng thu nhập mới giúp chủ đầu tư có được những quyết định đầu tư xác đáng
Chẳng hạn, công ty ABC đã và đang xuất khẩu hàng hóa sang Mĩ - nước mà công ty đang có dự định triến khai dự án FDI Doanh số xuất khau những năm trước và hiện tại của công ty sang Mĩ được đánh giá là cao và tương đối ổn định; khi dự án FDI dược triển khai và đi vào hoạt động, công
ty sẽ có thu nhập từ dự án FDI nhưng doanh số xuất khẩu sang Mĩ chẳc chắn
sẽ giảm Nếu dự báo trong tương lai Mĩ ban hành chính sách hạn chế thương mại đối với mặt hàng xuất khẩu này của công ty thì việc triển khai dự án FDI sẽ giúp công ty duy trì và phát triển dược thị trường Mĩ, do đó dự án này sẽ có nhiều lợi thế cho công ty Ngược lại, nếu các chính sách không có
gì thay đổi, việc quyết định có triển khai dự án FDI ở Mĩ hay không cần phải cân nhắc cẩn trọng tất cả những lợi ích và bất lợi tổng thể đối với công ty
5.2.1 Khái niệm và đặc điếm của FPI
• Khái niệm FPI
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Đầu tư gián tiếp nước ngoài (viết tẳt là FPI - Foreign Portfolio Investment hoặc FII - Foreign Indirect Investment)
là hoạt động mua chứng khoán được phát hành bởi một công ty hoặc cơ quan chính phủ của một nước khác FP1 là hoạt động đầu tư thông qua thị trường tài chính, là hoạt động đầu tư tài chính không kèm theo việc chuyển giao các tài sản vô hình ví dụ như bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lí Đây là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới Nó ám chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhàm kiếm lời Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và điều hành nghiệp vụ của doanh nghiệp giống như trong hình thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 30Các dòng vốn FDI thường khó tính toán chính xác vì nó xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Do đó rất khó dể phân biệt sự khác nhau giữa FDI
và FPI, bởi vì hai hình thức này đôi khi chồng chéo nhau, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư cổ phiếu Đe phân tách FDI và FPI người ta đưa ra các ranh giới về
tỉ trọng sở hữu Ví dụ: theo các tiêu chuấn của IMF thì một khoản đầu tư được coi là FD1 khi nhà đầu tư nắm giữ ít nhất 10% số lượng cố phiếu phổ thông hoặc cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức phát hành Dưới mức 10%
là FPI Tất nhiên, ngưỡng 10% này không phải chuẩn mực chung
Theo pháp lệnh Ngoại hối của Việt Nam, khoản 13, Điều 4 “Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam là việc người không cư trú mua bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác và góp vốn, mua cổ phần dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật Việt Nam mà không trực tiếp tham gia quản lí”
Theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam, “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu lư thông qua việc mua cổ phần, cố phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ dầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”Như vậy, dù giải thích FPI theo cách nào thì “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cố phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư
và các giấy tờ có giá khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành chứng khoán”
• Các kênh FPI
Xét trên bình diện quốc tế, FPI có hai kênh chính: FPI trực tiếp và FPI gián tiếp
-I- FPI trực tiếp bao gồm các hình thức:
- Mua các chứng chỉ đầu tư nước ngoài tại thị trường nước ngoài Ví dụ: các nhà đầu tư nước ngoài dầu tư cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chímg khoán Việt Nam Việc đầu tư này phải tuân thủ các quy định đầu tư gián tiếp của Việt Nam
- Mua chứng chỉ đầu tư nước ngoài tại thị trường trong nước Ví dụ: các nhà đầu tư nước ngoài mua trái phiếu do Chính phủ Việt Nam phát hành trên thị trường Mĩ Việc phát hành và dầu tư các chứng từ này phải tuân thủ các quy định về phát hành và đầu tư chứng khoán của Mĩ
+ FP1 gián tiếp bao gồm các hình thức:
Trang 31- Mua các trái phiếu châu Âu có quyền mua cổ phiếu (Equity - linked eurobonds) Trên thị trường tài chính có hai loại trái phiếu châu Âu: trái phiếu gẳn với quyền mua cổ phiếu (eurobond with warrante) và trái phiếu chuyển đổi (transaction eurobond).
- Mua cố phiếu của các công ty đa quốc gia (các công ty đa quốc gia luôn có các hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào các quốc gia khác)
- Đầu tư thông qua các quỹ tương hỗ quốc tế (International Mutual Funds)
Xét theo các công cụ đầu tư, đầu tư gián tiếp quốc tế bao gồm:
- Mua cổ phiếu công ty
- Mua trái phiếu công ty
- Mua trái phiếu chính phủ
- Mua các chứng từ có giá khác do Chính phú, hoặc do các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp phát hành
Nghiên cứu các kênh và hình thức FPI có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với nhà đầu tư mà cả đối với các nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Đối với những nước chuyển đối và "mới phát triển về kinh tế” như Việt Nam, để tăng mức hấp dẫn trong thu hút FPI, góp phần nâng cao hiệu quả
và tăng trưởng bền vững nền kinh tế, việc xây dựng và phát triển đa dạng hóa các kênh, các hình thức FPI nhằm khai thác và đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của các nhà đầu tư là giải pháp quan trọng
• Dặc điểm của FPI
- Trong các hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quàn lí, điểu hành quí! trình thực hiện và sử dụng các nguồn lực đẩu tư.
Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp quốc tế đều bao gồm hình thức đầu
tư chứng khoán và các giấy tờ có giá khác trên các thị trường tài chính nước ngoài, thị trường tài chính khu vực và thị trường tài chính toàn cầu Tuy nhiên, trong đầu tư gián tiếp, nhà dầu tư không tham gia quản lí điều hành công ty và do đó không có cơ hội tiếp thu công nghệ, kĩ thuật hiện đại cũng như kinh nghiệm quản lí tiên tiến của nước tiếp nhận đầu tư Nhà đầu tư chỉ được hưởng các lợi ích kinh tế từ hoạt động đầu tư như: cổ tức, trái tức, chênh lệch giá chứng khoán và các thu nhập khác do hoạt dộng đầu tư
Trang 32chứng khoán mang lại Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa các hình thức đầu tư trực tiếp và các hình thức đầu tư gián tiếp Hai hình thức này được phân biệt bởi mức độ, phạm vi quản lí và kiểm soát của chủ đầu tư đối với hoạt động sử dụng các nguồn lực đầu tư.
- Sự di chuyển vốn đầu tư trong FPI dễ dàng hơn FDI.
Do đầu tư gián tiếp được thực hiện chủ yếu thông qua việc mua chứng khoán, nên khi nhà đầu tư muốn chuyển hướng đầu tư từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, hoặc muốn thu hồi vốn đầu tư thì có thể tiến hành dễ dàng và nhanh chóng bàng cách đem bán chúng trên TTCK Thời gian chuyển đổi từ chứng khoán thành tiền và ngược lại là khá nhanh, có thể từ 1 -3 ngày (tùy thuộc vào cơ chế thanh toán của mỗi thị trường)
- Đầu tư gián tiếp thường bị giới hạn bởi các quy định về tỉ lệ tham gia đầu tư của Chính phủ nước chủ nhà.
Do đặc điểm dễ di chuyển của vốn đầu tư gián tiếp, để ngăn chặn tình trạng tháo chạy khỏi cổ phiếu, trái phiếu, rút vốn 0 ạt gây nên những cú sốc cho nền kinh tế và đảm bảo an toàn an ninh tài chính quốc gia, Chính phủ các nước thường quy định các giới hạn về tỉ lệ góp vốn đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhà dầu tư nước ngoài trên TTCK của quốc gia
đó Ví dụ: ở Indonesia, Thailand ti lệ góp vốn đầu tư mua cổ phiếu trong một doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài là < 49%, Malaysia < 30%, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông quy định hạn mức theo ngành Ở Việt Nam theo Thông tư số 90/2005/TT-BTC ngày 17/10/2005 hướng dẫn thi hành Quyết định số 238/2005/QĐ-TTG ngày 29/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ về tỉ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCK Việt Nam: Tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư tại SGDCK được nắm giữ tối đa 49% tổng số cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư của một tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch hoặc một quỹ đầu tư chứng khoán Riêng đối với cổ phiếu của NHTM, giới hạn tổng sở hữu tối đa là 30%, trong đó 1 nhà đầu tư không sở hữu quá 15% vốn một NHTM Việt Nam Trong trường họp có phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, mức sở hữu tối đa của một nhà đầu tư có thể lên tới 20% Tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán trái phiếu lưu hành của một tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch tại SGDCK không bị hạn chế tỷ lệ nắm giữ
Trang 33Thực trạng đầu tư gián tiếp vào Việt Nam
So với đầu tư trực tiếp nước ngoài, quy mô vốn dầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam còn nhỏ và chiếm tỷ lệ thấp so với vốn FDI Các nước trong khu vực tỷ lệ thu hút FP1/FDI trong khoảng 30-40%
Sau khủng hoảng năm 1997, nguồn vốn FPI vào Việt Nam có xu hướng gia tăng Biểu hiện rõ nhất là việc đầu tư vào thị trường chứng khoán của các tập đoàn tài chính quốc tế trong thời gian qua dã không ngừng tăng lên Nếu như năm 2003 số tài khoản giao dịch chứng khoán (TK.GDCK.) của nhà đầu tư nước ngoài là 99 tài khoản, với số vốn đầu tư là 1 tỉ USD thì đến cuối năm 2008, số TKGDCK cùa nhà đầu tư nước ngoài đã lên đen con số 12.700 tài khoản với số vốn đầu tư 4,6 tỉ USD
Bàng 5.9: Hoạt động FP1 trên TTCK Việt Nam
Số TKGDCK của nhà đầu tư nước ngoài 45 99 436 7000 12.700
Số lượng CTCK có vốn đầu tư nước ngoài 2 3 13 15
Số lượng công ty quản lí quỹ nước ngoài 3
Số lượng v.phòng đại diện của CTQLQNN 29
Số lượng V.phòng đại diện của CTCKNN 12
Nguồn: ủy ban chứng khoán Nhà nước
Bàng 5.10: Danh sách các Quỹ đầu tư nước ngoài, công ty quản lí quỹ và quy mô
hoạt động tại Việt Nam (6/2006)
TT Công ty quàn lí quỹ Quỹ Quy mô
(triệu USD)
Loại quỹ
Niêm yết
1 Vinacapital Vietnam Oppotunity Fund
(VOF)
171,0 Đóng London
(AIM) VinaLand Fund 320,0 N/A London
(AIM)
2 Dragon Capital Ltd Vietnam Enterprise
Investment Fund (VEIL)
109,1 Đóng Dublin
(NCB)
Trang 34TT Công ty quàn lí quỹ Quỹ Quy mô
(triệu USD)
Loại quỹ
Niêm yết Vietnam Growth Fund
(VGF)
100,0 Đóng Dublin
(NCB) Vietnam Dragon Fund 35,0 N/A Dublin
(NCB)
3 Keppel Land Keppel Fund 100,0 N/A Tư nhân
4 International Data
Group (IDG)
IDG Ventures Vietnam 100,0 Đóng Tư nhân
5 Prudential Vietnam Prudential Fund 318,4 N/A Tư nhân
6 Indochina Capital Indochina Land Holdings 242,0 Đóng Tư nhân
7 PXP Vietnam Asset
Management
PXP Vietnam Fund 25,8 Đóng Dublin
(NCB) Vietnam Emerging Equity
Vietnam Equity Fund 18,1 Đóng N/A
13 BIDV partner (BVIM) BVIM 100,0 Đóng Tư nhân
14 Korea Investment Trust
112,0 Đóng London
(LSE)
Nguồn: ủy ban chứng khoán nhà nước
Theo các nhà đầu tư, lý do để họ hướng về Việt Nam là Chính phủ đã khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển của nền kinh tế, tính chuyên nghiệp hoá từng bước của môi trường đầu tư và sự thành công của những nhà đầu tư hiện hữu Bên cạnh đó, phải kể đến những bước tiến mới trong lĩnh vực tài chính của Việt Nam như việc phát hành trái
Trang 35phiếu chính phủ ra nước ngoài, việc phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp tư, việc thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC); quá trình cổ phần hoá đang diễn ra tại Việt Nam bao gồm cả ngân hàng thưcmg mại quốc doanh; sự tăng cường dầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt
là hệ thống điện và giao thông, những cải cách khung pháp lý dành cho các nhà đầu tư nước ngoài
Trong thời gian tới, để có thể thu hút thêm nguồn vốn FPI tương xứng với tiềm năng của nền kinh tế và thị trường, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cải thiện môi trường đầu tư, đặc biệt là khung pháp lý, cơ chế
và chính sách phát triển thị trường chứng khoán
Một số quan điểm về thu hút FPI của Việt Nam trong những năm tới là:
- Đấy mạnh thu hút tất cả các hình thức FPI, đồng thời tính toán cân đối giữa các hình thức, cân đối với năng lực tiếp nhận của nền kinh tế, bảo đảm tính hiệu quả của FPI
FPI có các hình thức đa dạng, mỗi hình thức có đặc điểm riêng và hiệu ứng tác động khác nhau Việc đa dạng hóa các hình thức FP1 có tác dụng cơ bản là khai thông các kênh đầu tư - dẫn vốn có thể có, tạo điều kiện cân dối các nguồn và các kênh dẫn vốn theo nguyên tắc thị trường Ví dụ: việc Nhà nước cho phép Paciffíc Airlines bán cổ phần cho công ty nước ngoài đã mang lại sức sống cho công ty này, nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh của công ty Hoặc, Nhà nước sử dụng hình thức bán trái phiếu chính phủ trên thị trường tài chính quốc tế, thu tiền về cho tập đoàn Vinashin vay lại, điều này đã giải quyết được bài toán khó khăn về vốn đầu tư phát triển ngành đóng tàu Việt Nam Hoặc, Nhà nước cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần trên TTCK Việt Nam đã có tác dụng rõ rệt, góp phần nâng cao tính thanh khoản và hiệu quả hoạt động của TTCK
- Chú ý khuyến khích đầu tư FPI cá chiều vào và ra
Việt Nam là nền kinh tế mới nổi nên có sức hấp dẫn nhất định trong thu hút FPI vào Tuy nhiên FPI cũng có mặt trái của nó Các nền kinh tế phát triển đều có các dòng đầu tư vào và ra rất cân đối, đảm bảo khi có những biến động nào đó, sự đa dạng và cân đối của dòng tiền giúp nền kinh tế tự
ốn định được Thực tế ở Việt Nam những năm qua, mặc dù dòng vốn đầu tư
từ nước ngoài vào là áp đảo so với đầu tư ra, nhưng nhu cầu và tiềm năng đầu tư ra tăng nhanh trong quá trình phát triến Neu không chú ý phát triến dòng vốn đầu tư ra (bằng cách tạo khung khổ, thể chế pháp lí và áp dụng các
Trang 36biện pháp đảm bảo, khuyến khích) sẽ kìm hãm các nguồn lực đầu tư và cuối cùng kìm hãm tính hiệu quả và sự phát triển của nền kinh tế.
- Phát triển FPI cần gắn với việc hội nhập thị trường tài chính Việt Nam với thị trường tài chính quốc tế
Việc thu hút hoặc đẩy mạnh FPI phải phù hợp với đặc điểm kinh tế quốc gia trong từng giai đoạn phát triển, nhưng phải phù hợp với các thông
lệ quốc tế về FPI Thực hiện quan điểm này là điều kiện cần thiết bảo đảm cho các hoạt động FPI của Việt Nam không trái với các thông lệ, các điều ước quốc té, đảm bảo FPI phát triển bền vững
5.2.2 Vai trò của FPI
FP1 có vai trò to lớn trong nền kinh tế toàn cầu nói chung và đối với từng nước nói riêng FPI có tác động nhiều mặt, cả tích cực và tiêu cực đối với nước đau tư và nước tiếp nhận đầu tư
5.2.2.1 Vai trò của FPI đối với nước tiếp nhận vốn dầu tư
đó góp phần làm giảm gánh nặng cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện xây dựng một thị trường tài chính quốc gia có cấu trúc hoàn chỉnh
Thực tế cho thấy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Trong khi nguồn vốn FDI
có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì FPI lại có tác dộng kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò quản lý nhà
Trang 37nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế.
Việc đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào TTCK gia tăng đóng góp đáng kể cho sự phát triển TTCK trên nhiều khía cạnh như nâng cao tính thanh khoản cho thị trường, tạo sự ổn định và hỗ trợ tâm lí tốt cho các nhà đầu tư trong nước, mang đến cho thị trường kinh nghiệm về quản lí hoạt động đầu tư chuyên nghiệp đặc biệt đối với các TTCK mới hình thành và phát triển như Việt Nam
- Thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của chính phủ
Sự hoàn thiện và phát triển của thị trường tài chính nói chung, sự hoàn thiện của thể chế thị trường nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó không thể phủ nhận vai trò của FPI Chính sự gia nhập thị trường của bộ phận này là nhân tố thúc đẩy việc xây dựng, củng cố, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp lí để bảo vệ nhà đầu tư trong nước, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, thúc đẩy thị trường phát triến ổn định, bền vũng và hiệu quả
Đối với Việt Nam, thu hút nguồn vốn FP1 mang một ý nghĩa rất quan trọng Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, Việt Nam cần một lượng vốn đầu tư rất lớn (khoảng 140 tỷ USD) cho giai đoạn (2006- 2010) để xây dựng, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng
xã hội Các doanh nghiệp Việt Nam đang trong quá trình cải cách và cổ phần hóa nhằm gia tăng năng lực và hiệu quả cạnh tranh, cổ phần hóa phải
đi đôi với việc hình thành các thị trường vốn, các kênh huy động vốn mà hạt nhân là TTCK Các mối quan hệ kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyến nhanh sẽ góp phần tạo ra các hiệu ứng tốt tác động đến các doanh nghiệp Lợi ích của hội nhập không những được đánh giá thông qua sự luân chuyển (vào, ra) dễ dàng của dòng hàng hóa, mà còn có cả dòng vốn Việc tham gia của các nhà đầu tư FPI sẽ có tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính, giúp cho thị trường tài chính minh bạch và hoạt động hiệu quả hon, xác lập giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết một cách chuyên nghiệp, giảm thiểu những dao động “phi thị trường” và góp phần giải quyết một cách cơ bản các mối quan hệ kinh tế (vốn, công nghệ, quản lý )
• Những tác động tiêu cực của FPI
- Nếu dòng vốn FPI vào tăng mạnh, nền kinh tế tiếp nhận dễ rơi vào tình trạng phát triển quá nóng (bong bóng), nhất là các thị trường tài sản tài chính của nó
Trang 38FPI tăng mạnh tiềm ẩn rủi ro bong bóng trên TTCK và thị trường bất động sản Thực tế huy động vốn FPI của các nước cho thấy, trong giai đoạn đầu hình thành bong bóng, nền kinh tế có xu hướng tăng trưởng nóng (cả tăng trưởng kinh tế và lạm phát đều tăng cao), do chi tiêu, tiêu dùng tăng mạnh trên cơ sở thu nhập của người dân gia tăng đột biến Đây sẽ là một thách thức trong điều hành kinh tế vĩ mô bời nếu bong bóng vờ, nền kinh tể
sẽ rơi vào tình trạng suy thoái kéo dài, rất khó khắc phục Trường hợp kinh
tế Nhật Bản những năm 90 của thế kỉ XX là một minh chứng sống cho tình trạng này
- Vốn FPI có đặc điểm là di chuyển (vào và ra) rất nhanh, khiến cho hệ thống tài chính trong nước dễ bị tổn thương và rơi vào khủng hoảng tài chính một khi gặp phải các cú sốc từ bên trong cũng như bên ngoài nền kinh
tế Vì vậy, nếu Nhà nước không có một cơ chế quản lí thích hợp, mỗi khi có
sự bất ổn về tình hình kinh tế - chính trị, hiện tượng rút vốn 0 ạt tất yếu sẽ xảy ra Và đây có thể là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng của thị trường tài chính tiền tệ
Khi Chính phủ vay vốn nước ngoài thông qua phàt hành trái phiếu, Chính phủ phải trích một phần thu nhập quốc dân để trả nợ Do đó, nếu nguồn vốn này sử dụng không có hiệu quả sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho an ninh tài chính quốc gia Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập quốc tế, nếu cơ che quản lí nợ không hiệu quả và thiếu thận trọng trong mở cửa thị trường, nhất là đối với các khoản vay qua phát hành trái phiếu ngắn hạn thì rủi ro tháo chạy vốn (rút vốn đột ngột) ra nước ngoài sẽ gia tăng Khi thực tế tháo chạy này xảy ra, buộc ngân hàng trung ương phải sử dụng dự trữ ngoại tệ để
ổn định tỉ giá hối đoái Trong trường hợp dự trữ ngoại hối quốc gia hạn hẹp, không đủ khả năng chi trả và thanh toán, nền kinh tế sẽ có thể bị khủng hoảng Thực tế các cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài, những đột biến rút tiền gửi ở Mexico (1994 -1995), ở châu Á những năm 1997-1998, ở Achentina năm 2000 - 2001, Ngân hàng TNHI I Nepal năm 2006, Northern Rock của Anh (tháng 9/2007), Indymac của Mĩ (tháng 7/2008) là những minh chứng cụ thể cho hiện tượng này
Ngoài ra, vốn vay qua phát hành trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ chuyển cho các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng của quốc gia, nếu quản lí và sử dụng kém hiệu quả, dẫn đến mất khả năng thanh toán thì gánh nặng nợ nước ngoài sẽ tăng lên, thất thoát vốn sẽ đe dọa nghiêm trọng đến an ninh tài chính quốc gia và làm giảm sút uy tín của chính phủ Tệ hại hơn, khi mà
Trang 39TTCK ở vào trào lưu suy thoái kéo dài, là hậu quả của nhiều nhân tố và đến lượt mình nó sẽ gây ra nhiều hệ lụy tai hại cho doanh nghiệp, ngân sách nhà nước, dân cư và nhiều trường hợp là sự suy giảm của cả nền kinh tế.
- FPỈ làm giảm tính độc lập cùa chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái
Sự tăng trưởng mạnh mẽ của dòng vốn FPI có thể do nhiều nguyên nhân trong đó độ mở quá cao, ‘"roonT' cho nhà đầu tư nước ngoài quá lớn là một nguyên nhân quan trọng Bên cạnh lợi ích, chính sách này cũng có thể gây nên những tổn thương cho nền kinh tế như: dễ bị các nhà đầu tư nước ngoài thao túng; diễn biến cung cầu vốn, mức độ biến động kinh tế vĩ mô, tình hình lưu thông tiền tệ trở nên phức tạp hơn do các hành vi hoạt động đầu tư, thu hồi vốn đầu tư quá mau lẹ Tất cả những điều đó có thể gây nên những rủi ro cho cả hệ thống kinh tế - tài chính quốc gia
Cùng với sự phát triển nóng của TTCK, hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho các nhà đầu tư chứng khoán cũng sẽ tạo nhiều sức ép cho quản lí vĩ mô về chính sách tiền tệ và tỉ giá hối đoái Neu không cẩn trọng, chính sự tăng trưởng của luồng vốn FPI sẽ làm giảm tính độc lập của các chính sách vĩ mô, gây sức ép lên giá đồng bản tệ, làm cho tính cạnh tranh của nền kinh tế yếu đi Đồng thời, sự tăng trưởng mạnh mẽ của nguồn vốn này sẽ làm tăng tài sản có nước ngoài ròng (NFA), từ đó làm tăng tiền dự trữ (MB) Trong trường hợp hệ số nhân tiền (m) không thay đổi, MB tăng
do NFA sẽ làm tăng tổng phương tiện thanh toán (M2), tăng áp lực lạm phát Điểm đáng chú ý là, sự gia tăng của NFA là yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ương, nên muốn kiểm soát M2 cần phải diều chỉnh chỉ tiêu tín dụng trong nước ròng trên cơ sở dự báo các luồng ngoại tệ nói chung, trong đó có luồng vốn FPI Mặt khác, trước sức ép tăng giá của nội tệ, ngân hàng trung ương phải thực hiện can thiệp đế bình ổn giá
cả Việc liên tục mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước được thực hiện thông qua kênh nghiệp vụ thị trường mở, chiết khấu và tái chiết khấu
về lâu dài sẽ chịu sức ép tăng chi phí của việc can thiệp, đồng thời tác động đến tỉ giá hối đoái
5.2.2.2 Vai trò của FPI đối với nhà đầu tư
• Những lợi ích cùa FPI
+ Khi thực hiện đầu tư vào chứng khoán trên thị trường quốc tế, nhà đầu tư cũng có thể nhận được lợi tức chứng khoán, lãi vốn và các khoản thu nhập khác giống như đầu tư chứng khoán trên thị trường nội dịa
Trang 40- Hưởng thu nhập từ lợi tức chứng khoán
Tùy theo loại chứng khoán đầu tư, trong thời gian nắm giữ chứng khoán nhà đầu tư có thể nhận được: cổ tức, trái tức Loại thu nhập này có thể được xác định trước, hoặc thay đổi tùy theo kết quả kinh doanh của công
ty cổ phần phát hành cổ phiếu, chính sách chi trả cổ tức, hoặc theo lãi suất thị trường
- Hưởng thu nhập từ sự tăng giá chứng khoán
Giá chứng khoán trên thị trường không cố định mà thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động: môi trường kinh tế chính trị, tình hình lãi suất, lạm phát, đặc điểm phát triển của ngành, kết quả kinh doanh hiện tại và triển vọng phát triển trong tưong lai của doanh nghiệp phát hành chứng khoán Thông thường khi tình hình kinh tế chính trị ổn định và phát triển, lạm phát được kiểm soát ở mức độ vừa phải, lãi suất thị trường có xu hướng ổn định hoặc giảm xuống, doanh nghiệp phát hành chứng khoán kinh doanh có hiệu quả thì chứng khoán có xu hướng tăng giá và ngược lại Vì vậy, khi đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư có thể nhận được lãi từ chênh lệch giữa giá bán và giá mua chứng khoán
Ngoài ra, nhà đầu tư còn có thể nhận được các khoản thu nhập khác như: thu nhập từ các quyền và chứng quyền do sở hữu chứng khoán mang lại
+ Ngoài những khoản thu nhập nhận được giống như đầu tư chứng khoán trên thị trường tài chính nội địa, đối với đầu tư gián tiếp nước ngoài, nhà đầu tư còn có thể có thu nhập cao hon do ngoại tệ ở thời điểm thu hồi vốn tăng giá so với thời điểm đầu tư Đồng thời, việc đa dạng hóa thị trường đầu tư sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro cho tổng thể, giảm chi phí vốn từ đó nâng cao lợi nhuận và hiệu quả của hoạt động đầu tư
Đa dạng hóa cơ cấu đầu tư cho phép các nhà đầu tư có thể chuyển vốn đến những thị trường mới nổi có mức lợi nhuận kinh doanh cao (kèm theo
hệ số rủi ro lớn hơn) Bằng cách đầu tư FPI, các nhà đầu tư có thể nhanh chóng khắc phục xu hướng lợi nhuận bình quân giảm dần, nâng cao hiệu quả kinh doanh Đặc biệt khi đa dạng hóa cơ cấu đầu tư ra thị trường nước ngoài, sẽ giúp nhà đầu tư san sẻ rủi ro kinh doanh sang các khu vực khác
So với FDI, khả năng san sẻ rủi ro qua FPI nhạy bén hơn và đa dạng hơn