1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri

176 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2
Tác giả TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Thể loại giáo trình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế trình bày tóm tắt các học thuyết kinh tế với nguyên tắc phản ánh trung thực nhất các học thuyết của các nhà kinh tế. Giáo trình kết cấu gồm 9 chương và chia thành 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: học thuyết J.M.Keynes và trường phái Keynes; trường phái Chính hiện đại; lý thuyết tăng trưởng kinh tế và thương mại quốc tế;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

CHƯƠNG 6

HỌC THUYẾT J.M.KEYNES

VÀ TRƯỜNG PHÁI KEYNES

6.1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM

ra cách thức sản xuất tốt nhất với phương thức sản xuất hiện tại đang phát sinh các vấn đề mà về mặt lý thuyết kinh tế chưa đáp ứng và lý giải một cách thuyết phục14 Như vậy, đối với trường phái Tân cổ điển, người tiêu dùng lúc này trở thành vấn đề trọng tâm vì họ là người thực hiện giá trịcủa hàng hóa Quá trình thỏa mãn nhu cầu khi tiêu dùng sản phẩm là quá trình gia tăng sự bão hòa nhu cầu, cường độ nhu cầu giảm dần Với sựgia tăng số lượng thì công dụng của từng đơn vị hàng hóa sẽ giảm dần

Từ đây xuất hiện nguyên lý tính hữu dụng giảm dần Giá trị trong quan điểm của trường phái Tân cổ điển là sự đánh giá giá trị chủ quan của người tiêu dùng, nó thể hiện rằng cần có bao nhiêu đơn vị hàng hóa đểthỏa mãn nhu cầu Lượng dự trữ vật phẩm hiện có càng lớn thì giá trị của

nó càng nhỏ Người tiêu dùng đánh giá các vật phẩm có độ lớn đã biết tính theo độ hữu dụng biên của chúng Giá trị trao đổi ở đây được hiểu

14 Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb.

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 382.

Trang 2

rộng hơn so với lý thuyết giá trị của trường phái Cổ điển vì họ giải thích giá trị của sản phẩm được tạo ra trong sản xuất và trong lưu thông Theo

họ, nguyên lý cơ bản của quản lý tối ưu đối với cả hàng hóa tiêu dùng lẫn các yếu tố sản xuất là nguyên lý cân bằng tính hữu dụng biên Các nhà Tân cổ điển cho rằng sự thịnh vượng của xã hội, số lượng sản phẩm hiện

có không chỉ được tạo ra nhờ sự tăng số lượng của các yếu tố sản xuất

mà còn do sự phân phối tốt hơn giữa các khả năng khai thác khác nhau số lượng hiện có của các yếu tố sản xuất như lao động, tư bản, đất đai, Việc thay đổi về mặt nhận thức các vấn đề trọng tâm của nền kinh tế, việc lần đầu tiên toán học và mô hình, đồ thị được ứng dụng vào phân tích kinh tế, những nỗ lực đưa các biến động kinh tế vào các mô hình, chú trọng đến vấn đề phân phối, tích lũy, những cố gắng trong việc tìm hiểu về sự vận hành của nền kinh tế và sự cần bằng,… thể hiện ở các nhà kinh tế học thuộc trường phái Tân cổ điển chính là những gợi mở cho sự phân tích của các nhà kinh tế tiếp theo, các trường phái tiếp theo ở tầm vĩ

mô đầu thế kỷ XX Bên cạnh đó, sự thành công của lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nền kinh tế kế hoạch hoá trong thực tiễn ở Liên Xô (trước đây) vừa bắt buộc, vừa tạo tiền đề cho các nhà kinh tế học tư sản, tính đến khả năng của Nhà nước trong điều tiết kinh tế

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt đầu những năm 30 của thế kỷ XX tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nước Anh và thế giới có nhiều biến động lớn Ngay từ đầu thế kỷ XX ở Anh cũng như ở các nước tư bản đã công nghiệp hoá, lực lượng sản xuất phát triển mạnh

cả về quy mô, trình độ và đặc biệt là tính chất xã hội hóa cao Với một nền kinh tế khổng lồ có tính chất xã hội hóa cao và sự cạnh tranh gia tăng đòi hỏi phải có sự điều chỉnh của nhà nước vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Thời điểm này, các mâu thuẫn kinh tế - xã hội ở các nước tư bản (trước hết ở Mỹ và Anh) diễn ra gay gắt Sự hoạt động tự phát của nền kinh tế đã dẫn đến những cuộc khủng hoảng lớn cho nền kinh tế Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1921 mà đặc biệt là cuộc đại khủng hoảng kinh

tế thế giới kéo dài từ 1929 - 1933 bắt đầu ở Mỹ sau đó lan sang các nước

tư bản khác, khủng hoảng kinh tế kéo dài, các nhà máy đóng cửa, sa thải hàng loạt công nhân Người lao động không có thu nhập hoặc thu nhập

Trang 3

quá thấp làm cho sức mua càng giảm sút, mâu thuẫn xã hội diễn ra gay gắt càng đe doạ sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản Tại Anh, chủ nghĩa bảo thủ đang thống trị, chế độ bản vị vàng đựơc áp dụng trở lại, sức mua tiền

tệ tăng khuyến khích nhập khẩu, do vậy càng hạn chế đầu tư, gánh nặng của thất nghiệp càng leo thang

Hộp 6.1

Trong thời kỳ này, sản xuất công nghiệp giảm sút mạnh, thất nghiệpxuất hiện với mức độ lớn Nếu lấy 1929 làm chuẩn là 100% thì ở Anh, sản xuất công nghiệp năm 1931 chỉ đạt 23,8%; ở Đức: 40,6%; ở Mỹ: 46,2%;

ở Pháp: 31,4% Mức sản xuất công nghiệp ở Anh chỉ bằng mức sản xuất của năm 1913 So với năm 1929, công nghiệp đóng tàu của Anh vào năm

1933 giảm 91% (gần như tê liệt), sản xuất quặng sắt năm 1932 giảm 52,9%, sản xuất thép năm 1931 giảm 46% Trước chiến tranh thế giới thứnhất, tỷ lệ thất nghiệp ở Anh giao động khoảng 2% - 7% Trong những năm khủng hoảng, tỷ lệ này là 22% Ở Mỹ, giai đoạn này thất nghiệp là 25% Vấn đề thất nghiệp từ một hiện tượng của nền kinh tế đã trở thành vấn đề cơ bản có tính chất hệ thống và thời đại

Nguồn: Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 383 - 384.

Những biến động về kinh tế, xã hội đã phá vỡ các quan niệm vốn đã

và đang thống trị của các nhà kinh tế trường phái Cổ điển và Tân cổ điển

Họ cho rằng trong chủ nghĩa tư bản tất yếu có việc làm đầy đủ, cơ chếgiá cả và tiền lương linh hoạt, luôn đảm bảo cung ngang cầu Giá cả biến động đủ để đảm bảo cho các nhà sản xuất bán hết sản phẩm Tiền lương biến động đủ để tất cả công nhân muốn làm việc với mức lương hiện hành có thể tìm được việc làm Giả sử có thất nghiệp thì đó là thất nghiệp

tự nguyện Chính sách của Nhà nước không nên và không thể tác động vào mức thất nghiệp và sản lượng Nó chỉ có thể ảnh hưởng đến mức giá

cả Trước tình hình đó, nhu cầu thực tiễn đặt ra là phải có một học thuyết kinh tế mới cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản đang suy thoái, giúp nền kinh

tế tư bản thoát ra khỏi khủng hoảng

Lý thuyết kinh tế của J.M.Keynes là sản phẩm của một trí tuệ và tổng hợp tất cả các hoàn cảnh cơ bản trên Trường phái Keynes do John Maynard Keynes (1883 - 1946) sáng lập Ông sinh ra tại Cambridge, Anh,

Trang 4

là nhà kinh tế nổi tiếng ở Anh và thế giới, là nhà khoa học cần cù, nghiêm túc có năng lực bẩm sinh, sinh ra trong một gia đình trí thức điển hình và được đào tạo trong một môi trường thuận lợi Bố ông, John Neville Keynes giảng dạy tại trường đại học Cambridge về logic học và kinh tế chính trị học Mẹ ông, Florence Ada là một trong những người phụ nữ đầu tiên tốt nghiệp đại học Newham College Bà là người phụ nữ đầu tiên trở thành cố vấn thị chính ở Cambridge và năm 1932 được bầu làm thị trưởng, là người rất có ảnh hưởng đến J.M.Keynes Trong sự nghiệp khoa học của ông, cũng như A.Marshall, thầy giáo trực tiếp xuất sắc của mình, J.M.Keynes bắt đầu từ toán học Năm 14 tuổi, với vị trí thứ nhất về toán, ông vào trường đại học Eton và tốt nghiệp với “điểm ưu toàn diện” ông được quyền vào trường đại học Hoàng gia của Cambridge với môn học lựa chọn là toán học Giống như A.Marshall và chính A.Marshall đã khuyến khích “cậu học trò” J.M.Keynes trở thành nhà kinh tế học Năm 1909, ông làm trợ lý giảng dạy tại trường Ông là một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ, làm cố vấn cho Nhà vua và Chính phủ Anh về ngân khố quốc gia, một người hoạt động thực tiễn và là một nhà thương lượng trong liên minh Anh, Pháp, Mỹ và Nga chống chủ nghĩa phát xít Năm 1911 ông là tổng biên tập tạp chí “Kinh tế” (The Economic Journal) thuộc “Hội kinh tế học Hoàng gia” (Royal Economic Society) và làm cho đến cuối đời Ông viết nhiều tác phẩm như “Tiền tệ Ấn Độ và tài chính” (1913); “Cải cách tiền tệ” (1923); “Bàn về tiền tệ (1930); “Làm thế nào để trả tiền cho chiến tranh”(1940);… Tuy vậy, nổi tiếng nhất là tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936), đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử học thuyết kinh tế và là tác phẩm trình bày đầy đủ nhất các tư tưởng, luận điểm của J.M.Keynes Việc biên soạn quyển sách này diễn ra trong bối cảnh suy thoái Từ đầu những năm 1930, Keynes quan tâm nhiều đến khủng hoảng việc làm, vốn rất sâu sắc ở Mỹ và Anh, ông nêu vấn đề này trong một số thông cáo gửi đến tổng thống Roosevelt, kể cả lá thư ngỏ nổi tiếng đăng trên tờ The New York Times J.M.Keynes khuyên rằng nên kiên quyết thực hiện chính sách tài chính (thuế của Chính phủ và các chính sách về chi phí) để bổ sung vào cơ chế thị trường của bộ phận tư nhân mà theo ông là không thể tự giải quyết được vấn đề việc làm Thực

tế, dường như Roosevelt đã áp dụng lời khuyên của J.M.Keynes nhưng ở

Trang 5

mức thận trọng Cho dù tình tiết đó có ý nghĩa gì đi nữa, nhưng rõ ràng cho thấy bối cảnh những năm 1930 phần lớn diễn ra như quan điểm của J.M.Keynes trước khi ông biên soạn quyển sách nổi tiếng này15.

6.1.2 Đặc điểm cơ bản của trường phái J.M.Keynes

6.1.2.1 Đặc điểm về nội dung

Thứ nhất, đối lập với tư tưởng của trường phái Cổ điển và Tân cổđiển, ông không đồng ý với quan điểm về sự cân bằng kinh tế dựa trên cơ

sở tự điều tiết của thị trường tự do Ông kịch liệt phê phán chính sách kinh tế của chủ nghĩa bảo thủ và cho rằng tình trạng không ổn định của nền kinh tế, khủng hoảng và thất nghiệp ngày càng gia tăng không phải là hiện tượng nội sinh của chủ nghĩa tư bản, mà là do chính sách kinh tế lỗi thời, bảo thủ thiếu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế đã gây ra Theo ông, vấn đề nan giải nhất, nguy hiểm nhất đối với chủ nghĩa tư bản không phải là khủng hoảng, lạm phát… mà là thất nghiệp Vì vậy, trong

lý thuyết kinh tế của ông đều tập trung vào giải quyết hai vấn đề lớn là tăng trưởng và việc làm trên cơ sở phát huy vai trò điều tiết nền kinh tếcủa nhà nước

J.M.Keynes đã tiến hành phân tích nền kinh tế ở tầm vĩ mô, trong

cuốn sách “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ”, ông viết:

“Tôi đặt tên cho cuốn sách này là lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, trong đó nhấn mạnh đến chữ tổng quát Đặt tên cho cuốn sách

như vậy vì tôi muốn nhấn mạnh rằng bản chất các lập luận và các kết luận của tôi đối lập với lý thuyết Cổ điển về chủ đề này, lý thuyết mà tôi

đã được đào tạo, lý thuyết đang thống trị trong quan điểm kinh tế, cả về

lý thuyết và thực hành, của các Chính phủ và giới khoa học thế hệ ngày nay cũng như trong suốt 100 năm gần đây Tôi sẽ chứng minh những định đề của lý thuyết Cổ điển không áp dụng được cho trường hợp tổng quát mà chỉ cho trường hợp đặc biệt, bởi vì tình trạng được giả định trong

lý thuyết này là trường hợp giới hạn cho những hoàn cảnh cân bằng có thể Hơn nữa, những đặc trưng của trường hợp đặc biệt mà lý thuyết Cổđiển giả định không tồn tại trong nền kinh tế xã hội ngày nay của chúng

ta Vì vậy, áp dụng các lý thuyết Cổ điển vào cuộc sống hiện nay là lạc

15 Robert Burton Ekelund, jr và Robert Fry Hébert (2004), Lịch sử các học thuyết kinh

tế, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr 520.

Trang 6

hướng và sẽ nhận lấy những kết quả tai hại” Trong lời tựa lần xuất bản

bằng tiếng Pháp của tác phầm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ”, J.M.Keynes đã giải thích thuật ngữ “Lý thuyết chung” Với thuật

ngữ này, J.M.Keynes muốn “chú trọng đến cách ứng xử của hệ thống kinh tế nói chung với tổng thu nhập, tổng lợi nhuận, tổng sản lượng, tổng

số việc làm, tổng số vốn đầu tư, tổng số tiến tiết kiệm chứ không chỉ đơn thuần về thu nhập, lợi nhuận, sản lượng, việc làm, vốn đầu tư và tiết kiệm của các ngành, các công ty hoặc các cá nhân riêng biệt”.16

Thứ hai, lý thuyết của J.M.Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng, của lĩnh vực trao đổi, coi đây là nhiệm vụ số một mà các nhà kinh tế học phải giải quyết Theo ông khi việc làm tăng lên thì thu nhập cũng tăng lên, do đó, có sự tăng lên của tiêu dùng Nhưng do khuynh hướng tâm lý nên mức tăng của tiêu dùng chậm hơn mức tăng của thu nhập nên cầu tiêu dùng giảm và do đó cầu có hiệu quả giảm xuống Đây là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, thất nghiệp và trì trệ trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Muốn đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cân đối cung và cầu thì cần phải tăng cầu tiêu dùng, tìm biện pháp kích thích cầu có hiệu quả Rõ ràng lý thuyết của J.M.Keynes là lý thuyết trọng cầu

6.1.2.2 Đặc điểm về phương pháp

Thứ nhất, cũng như các đại biểu của trường phái Tân cổ điển,phương pháp nghiên cứu của J.M.Keynes dựa trên cơ sở tâm lý chủ quan Tuy vậy, nếu các nhà kinh tế học thuộc trường phái Tân cổ điển, dựa vào tâm lý cá biệt thì ngược lại, phương pháp của J.M.Keynes lại dựa vào tâm lý xã hội khi đưa ra mô hình kinh tế vĩ mô với 3 đại lượng (đại lượng xuất phát, đại lượng khả biến phụ thuộc và đại lượng khả biến độc lập) làm cơ sở cho việc nghiên cứu J.M.Keynes chỉ ra rằng điều kiện bảo đảm cho tái sản xuất bình thường, thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết tình trạng khủng hoảng và thất nghiệp là đầu tư bằng tiết kiệm (I = S), khuyến khích đầu tư Trong lý thuyết của ông những phạm trù phản ánh tâm lý

xã hội sống động như khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng tiết kiệm… được sử dụng phổ biến

16 J.M.Keynes (1994), Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, Người dịch: Đỗ

Trọng Hợp, Trần Mạnh Chín, Lê Minh Nguyệt, Nxb Giáo dục, tr 31.

Trang 7

Thứ hai, ngược lại với các nhà Tân cổ điển, phương pháp phân tích kinh tế của ông là phương pháp phân tích vĩ mô có hệ thống Theo ông việc phân tích kinh tế phải xuất phát từ các tổng lượng lớn để nghiên cứu mối liên hệ của các tổng lượng đó và khuynh hướng chuyển biến của chúng Trên cơ sở nghiên cứu những tổng lượng này có thể rút ra những kết luận chung vận dụng cho các đơn vị kinh tế cá biệt

Thứ ba, học thuyết kinh tế của J.M.Keynes ra đời thực sự đã trở thành phương thuốc hữu hiệu cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản đang trong thời kỳ suy thoái và là cơ sở lý luận cho sự điều tiết kinh tế của nhà nước trong chủ nghĩa tư bản độc quyền Học thuyết này được các nhà kinh tế học, giai cấp tư sản và nhà nước tư bản đánh giá cao Tuy vậy, phương pháp luận của ông có tính siêu hình vì ông coi lý thuyết của mình đúng trong mọi chế độ xã hội phát triển

6.2 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ VIỆC LÀM CỦA J.M.KEYNES 6.2.1 Khái quát lý thuyết chung về việc làm của J.M.Keynes

Trong lý thuyết của J.M.Keynes “việc làm” là một khái niệm tổng hợp,

nó không chỉ xác định tình trạng thị trường lao động, sự vận động của thất nghiệp mà còn bao gồm cả tình trạng sản xuất, tổng cầu, khối lượng sản phẩm, quy mô của thu nhập, tiết kiệm, đầu tư, Do vậy “việc làm” ở đây được hiểu như là sự cụ thể hoá tình trạng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và làm cơ sở cho việc điều tiết toàn bộ nền kinh tế của Nhà nước

- Nguyên nhân thất nghiệp

J.M.Keynes lập luận: khi việc làm tăng lên thì tổng thu nhập thực tếtăng lên Do tâm lý xã hội là khi thu nhập tăng thì tiêu dùng cũng tăng Nhưng tốc độ tăng tiêu dùng chậm hơn so với tăng thu nhập vì họ có khuynh hướng dành một phần thu nhập để tiết kiệm nhằm một mục đích hay do một động cơ nào đó Sản xuất sẽ bị giảm sút vì các nghiệp chủ sẽ

bị thua lỗ nếu sử dụng toàn bộ số lao động tăng thêm để sản xuất sản phẩm thoả mãn nhu cầu dự kiến trực tiếp tăng thêm tương ứng với tổng thu nhập của họ Đây là trường hợp tổng cầu không tương ứng với thu nhập Do sản xuất giảm tương đối nên cầu lao động giảm Đó là nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp

Trang 8

- Biện pháp giải quyết thất nghiệp

Theo J.M.Keynes, muốn khắc phục tình trạng trên, cần phải có một khối lượng đầu tư nhằm kích thích quần chúng tiêu dùng phần tiết kiệm của họ tức kích thích cầu hiệu quả Hoặc nói cách khác là muốn giải quyết vấn đề thất nghiệp thì phải tăng đầu tư để mở rộng sản xuất, tăng cầu lao động Vì vậy với một tỷ lệ nào đó của “khuynh hướng tiêu dùng” của quần chúng thì mức cân bằng việc làm sẽ tuỳ thuộc vào số đầu tư hiện tại Khối lượng đầu tư hiện tại đến lượt nó lại phụ thuộc vào các yếu

tố kích thích đầu tư Yếu tố kích thích đầu tư chính là lợi nhuận, hiểu đơn giản là sự chênh lệch giữa “hiệu quả giới hạn” của tư bản và lãi suất Khi phân tích nền kinh tế thị trường tự do tư bản chủ nghĩa, J.M.Keynes nhận thấy tồn tại một mâu thuẫn, cái mà cơ chế tự do tự nó không giải quyết được Đó là: muốn giải quyết thất nghiệp, phải tăng đầu

tư, đầu tư tăng thì yếu tố kích thích đầu tư giảm vì “hiệu quả giới hạn” của tư bản giảm còn lãi suất tương đối ổn định Muốn giải quyết vấn đề này ông nhận thấy cần phải có sự can thiệp, tác động từ bên ngoài vào

Đó chính là cách mà J.M.Keynes giải thích cho sự cần thiết và là cơ sở để xây dựng chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của chính phủ

Cụ thể khi phân tích ông đưa ra ba đại lượng làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình kinh tế vĩ mô

Một là đại lượng xuất phát (đại lượng xác định) Đây là những đại lượng được coi là không thay đổi hay thay đổi chậm, gồm các yếu tố như: trình độ chuyên môn và số lượng hiện thời của lực lượng lao động sẵn có, chất lượng và số lượng thiết bị của thiết bị sẵn có, kỹ thuật hiện có, mức

độ cạnh tranh, các thị hiếu và thói quen của người tiêu dùng cũng như cấu trúc xã hội Thực tế đây không phải là những yếu tố bất biến mà ở đây ông cho là không xét hoặc không tính đến những hậu quả thay đổi của chúng

Hai là đại lượng khả biến độc lập (những đại lượng có thể thay đổi độc lập) Đó là những khuynh hướng tâm lý như khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng tiết kiệm, khuynh hướng đầu tư, ưa chuộng tiền mặt, đồ thị hiệu quả biên của vốn và lãi suất Tuy nhiên, những đại lượng khả biến độc lập cũng phụ thuộc vào rất nhiều những nhân tố khách quan và

Trang 9

chủ quan khác Nhóm này chính là cơ sở hoạt động của mô hình, là đòn bẩy bảo đảm cho sự hoạt động của các tổ chức kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Ba là, đại lượng khả biến phụ thuộc (là những đại lượng một mình nó không thể thay đổi được): Tổng sản phẩm, tổng việc làm, thu nhập quốc dân Đại lượng này cụ thể hoá tình trạng nền kinh tế Các đại lượng này thay đổi theo sự tác động của các biến cố độc lập hay do các đại lượng khả biến độc lập chi phối Giữa các đại lượng khả biến độc lập và khảbiến phụ thuộc có mối liên hệ với nhau

Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm là nội dung trung tâm và cốt lõi của toàn bộ học thuyết kinh tế của J.M.Keynes Từ đây, vấn đề đặt ra trong hàm ý của nghiên cứu của J.M.Keynes là sự cần thiết phải có điều tiết của Nhà nước (Sơ đồ 6.1)

Sơ đồ 6.1 Khái quát lý thuyết chung về việc làm của J.M Keyenes

Nguồn: Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 388

Nếu ký hiệu AD là tổng cầu, Q là tổng sản phẩm (giá trị sản lượng),

R là thu nhập, C là tiêu dùng, I là đầu tư và S là tiết kiệm

Tổng thu nhập (R)

Tiêu dùng (C)

Tiết kiệm (S)

Đầu

tư (I)

TỔNG CẦU Nhà nước

điều tiết

Trang 10

Tổng sản phẩm = Tổng thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm (Q = R =

C + I)

Tiêu dùng + Đầu tư bằng tổng chi tiêu hay tổng cầu (Tổng cầu = C + I) Tổng cầu quyết định tổng việc làm mới, đến đây quá trình trên được lặp lại

Theo sơ đồ 6.1:

- Không phải lao động tạo ra của cải mà là việc làm tạo ra của cải, việc

làm mới là nguồn gốc của của cải Trong tác phẩm Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, thực chất J.M.Keynes cũng nghiên cứu nguồn gốc,

bản chất và các phương thức làm tăng của cải của quốc gia “Việc làm” cụ thể hơn “lao động”, việc làm ngoài “lao động” còn muốn nói đến cả những điều kiện của lao động hay tư bản Đứng trên phương diện vĩ mô thì không phải tổng lao động (bao gồm cả số lượng và chất lượng lao động) tạo ra tổng sản phẩm, tổng thu nhập mà là tổng việc làm tạo ra tổng sản phẩm, tổng thu nhập Tổng việc làm quy định vấn đề tăng trưởng

- Tổng việc làm do tổng cầu quy định chứ không phải chỉ phụ thuộc vào đầu tư

- Tổng cầu do tổng tiêu dùng và tổng đầu tư quyết định

- Tổng cầu còn phụ thuộc vào lãi suất, do vậy tiền không chỉ đóng vai trò trung gian trong trao đổi mà tiền tệ và lãi suất còn có tác động làm tăng hay giảm tổng cầu

- Tiết kiệm có xu hướng tăng, còn đầu tư có xu hướng giảm tương đối và chỉ trong điều kiện đặc biệt (hoàn hảo) thì tiết kiệm mới bằng đầu

tư (tức S = I trong điều kiện lý tưởng)

- Tổng sản phẩm chỉ bằng tổng cầu trong trường hợp đặc biệt, nền kinh tế tự phát luôn ở trạng thái trì trệ

Sơ đồ 6.1 cho ta thấy rõ tư tưởng của J.M.Keynes về vai trò điều tiết

vĩ mô của nhà nước Thực chất là nhà nước bằng những lực lượng kinh tế của mình, tác động vào những đại lượng khả biến độc lập, tiền tệ và lãi suất để thay đổi tổng cầu, đến lượt nó sẽ làm thay đổi tổng việc làm, tổng sản phẩm, tổng thu nhập Trước hết, nhà nước tác động vào tỷ lệ phân chia giữa tiêu dùng và tiết kiệm bằng chính sách thuế Thuế thực chất là lấy vào tiết kiệm để hình thành ngân sách nhà nước Thuế và tăng thuế

Trang 11

đều làm cho tiết kiệm giảm Còn việc chi tiêu ngân sách cũng sẽ làm thay đổi tỷ lệ giữa tiêu dùng và đầu tư, thay đổi tổng cầu Như vậy, chính sách tài khóa có tác động mạnh mẽ trong việc điều tiết tổng cầu Chính sách tiền tệ (tiền tệ và lãi suất) cũng có tác động đến phân chia tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm Khi lạm phát thực chất đã làm giảm tiết kiệm vì cùng một số tiền tiết kiệm nhưng mua được ít hàng hơn, phần tiết kiệm ít đi đã làm gia tăng tiêu dùng Lãi suất có tác động mạnh đến việc biến tiết kiệm thành đầu tư và kích thích đầu tư để gia tăng tổng cầu Với chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, nhà nước có thể tác động một cách chủ động làm thay đổi tổng cầu, điều tiết tổng việc làm, chủ động trong việc ổn định và tăng trưởng kinh tế.17

Học thuyết của J.M.Keynes đánh giá cao vai trò tiêu dùng, của lĩnh vực trao đổi, coi tiêu dùng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà kinh tế học phải giải quyết Theo ông, cùng với sự tăng lên của việc làm, thì cũng có

sự tăng lên của thu nhập, do đó, có sự tăng lên của tiêu dùng Nhưng mức tăng tiêu dùng chậm hơn mức tăng thu nhập nên cầu tiêu dùng, do đó cầu

có hiệu quả giảm xuống Đây là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, thất nghiệp, trì trệ trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Vì thế đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cân đối cung và cầu thì cần phải nâng cầu tiêu dùng, tìm biện pháp kích thích cầu có hiệu quả Cho nên, học thuyết của ông được gọi là học thuyết trọng cầu

6.2.2 Các phạm trù cơ bản trong lý thuyết chung về việc làm

17 Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb.

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 389-390.

Trang 12

những bộ phận cấu thành của tổng cầu hàng hóa Điểm chính trong sốnày là tổng tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tư nhân, nghĩa là hàm tiêu dùng Hàm tiêu dùng liên kết tiêu dùng mọi hàng hóa và dịch vụ tư nhân với tổng mức thu nhập18 Tổng cầu trong lý thuyết của J.M.Keynes được

đề cập đến cầu tiêu dùng và cầu đầu tư vì quan điểm cơ bản trong lý thuyết về việc làm của J.M.Keynes là nguyên nhân của thất nghiệp chính

là tổng cầu không đủ độ lớn cần thiết Muốn tăng việc làm cần tăng tổng cầu, do đó cần khuyến khích tiêu dùng, khuyến khích đầu tư

a Cầu tiêu dùng

- Tiêu dùng

Trong “lý thuyết chung” của J.M.Keynes vấn đề tiêu dùng (hay lýthuyết về cầu) có một vai trò đặc biệt quan trọng Ở đây, ông rất quan tâm đến những vấn đề mà các nhà cổ điển bỏ qua (như D.Ricardo bỏ qua vấn đề tổng cầu) hay nêu ra nhưng lại không phù hợp (quan điểm “cung tạo ra cầu của chính nó” của J.B.Say) Đồng thời ông dành nhiều sự chú

ý đến nghiên cứu cầu tiêu dùng và khuynh hướng tiêu dùng Với ông, cầu tiêu dùng có vai trò xác định độ lớn của thu nhập quốc dân đồng thời phụthuộc vào thu nhập quốc dân

Hạt nhân của lý thuyết của J.M.Keynes là “việc làm” Ông nhận thấy khối lượng nhân công được xác định bởi giao điểm giữa hàm số cầu tổng hợp và hàm số cung tổng hợp vì tại điểm này dự kiến mức lợi nhuận của nghiệp chủ đạt được mức tối đa Hay số lượng việc làm phụ thuộc vào tổng cung và tổng cầu (hay cầu thực tế) Tuy nhiên, khác với các nhà Cổđiển và Tân cổ điển, Keynes cho rằng trong hai nhân tố tác động xác định khối lượng việc làm thì tổng cầu có vai trò quyết định Số lượng lao động

mà các nghiệp chủ quyết định sử dụng tuỳ thuộc vào tổng cầu Đến lượt mình tổng cầu bao gồm số tiền mà cộng đồng định tiêu dùng và số tiền

mà cộng đồng định dành cho đầu tư mới và do vậy nó phụ thuộc vào các yếu tố: mức chi tiêu cá nhân của mỗi gia đình, mức chi tiêu cho đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu ròng của nước ngoài đối với hàng hoá sản xuất trong nước (xuất khẩu ròng) Theo ông, trong một nền kinh

tế khá phát triển, tổng cầu thường không theo kịp với tổng cung vì lúc đó

18 Robert Burton Ekelund, jr và Robert Fry Hébert (2004), Lịch sử các học thuyết kinh

tế, Nxb Thống kê, Hà Nội.

Trang 13

xu hướng tiết kiệm một phần thu nhập cao sẽ tăng lên Do vậy tồn tại một nghịch lý đó là sự “bần cùng giữa sự phồn vinh” Vì tình trạng cầu thực

tế không đủ khiến cho mức tăng việc làm phải dừng lại trước khi đạt được tình trạng toàn dụng nhân công

Sự thiếu hụt cầu thực tế sẽ cản trở quá trình sản xuất và với những cộng đồng càng giàu có thì khoảng cách giữa mức sản xuất thực tế và mức sản xuất tiềm năng sẽ càng rộng vì vậy, các nhược điểm của hệthống kinh tế càng rõ rệt và càng trầm trọng hơn

- Khuynh hướng tiêu dùng

Tiêu dùng là một trong những bộ phận của tổng cầu Theo J.M.Keynesthu nhập được chia thành tiêu dùng và tiết kiệm Từ đó ông thấy có hai khuynh hướng xảy ra đối với tiêu dùng và tiết kiệm Trong đó khuynh hướng tiêu dùng là tương quan hàm số giữa thu nhập và chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập đó Theo Keynes, số tiền mà cộng đồng chi cho tiêu dùng tùy thuộc vào những nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng19

Những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng:

(1) Sự thay đổi trong đơn vị tiền lương;

(2) Sự thay đổi về chênh lệch giữa thu nhập và thu nhập ròng: số tiềntiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập ròng chứ không phải thu nhập, vì thu nhập ròng là cái mà người tiêu dùng chủ yếu quan tâm đến trước khi quyết định mức chi tiêu của mình;

(3) Những thay đổi bất ngờ về giá trị - tiền vốn không được tính đến trong thu nhập ròng Sự chi tiêu của tầng lớp giàu có rất dễ bị chi phối bởi những thay đổi không thể lường trước được về mặt giá trị tài sản của

họ tính bằng tiền Đây là nhân tố cần được xem như là một trong những nhân tố quan trọng có thể gây ra những thay đổi ngắn hạn trong khuynh hướng tiêu dùng

(4) Những thay đổi trong tỷ lệ chiết khấu theo thời gian, nghĩa là những thay đổi về tỷ lệ trao đổi giữa các hàng hóa hiện tại và hàng hóa tương lai Theo J.M.Keynes, khi lãi suất giảm xuống rất thấp, mức tăng

19 Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb.

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 395.

Trang 14

của tỷ lệ giữa sức mua hàng năm của một khoản tiền nhất định và tiền lãi hàng năm thu được từ số tiền này có thể tạo nên một nguồn tiết kiệm tiêu cực quan trọng, bằng cách khuyến khích những người già mua sổ góp tiền hàng năm lấy tiền lãi để bảo đảm cho tuổi già.

(5) Những thay đổi về chính sách tài khóa: thuế thu nhập, thuế lợi nhuận vốn, thuế tài sản thừa kế và nhiều loại thuế khác cũng có tác động thiết thực như lãi suất;

(6) Những thay đổi trong các dự kiến về quan hệ giữa mức thu nhập hiện tại và tường lai Theo J.M.Keynes, nhân tố này có tác động đáng kểtới khuynh hướng tiêu dùng của một cá nhân riêng biệt, nhưng đối với cộng đồng, thì không có tác động đáng kể do bị bình quân hóa

J.M.Keynes khẳng định: “Trong một hoàn cảnh nhất định, khuynh hướng tiêu dùng có thể được coi như một hàm số khá ổn định, miễn là chúng ta loại trừ những biến động trong đơn vị tiền lương tính bằng tiền, Mức chi tiêu dùng tính bằng đơn vị tiền lương tùy thuộc chủ yếu vào khối lượng sản xuất và số việc làm”20

Nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng:

Đây là nhóm nhân tố thứ hai tác động tới mức tiêu dùng tương ứng

từ một mức thu nhập nhất định Đó là những động cơ chủ quan và xã hội quyết định cần phải tiêu dùng bao nhiêu khi biết mức thu nhập tổng hợp tính bằng đơn vị tiền lương và những nhân tố khách quan có liên quan.Theo J.M.Keynes, có các nhân tố hạn chế (cản trở) tiêu dùng:

(1) Dự phòng: Lập một khoản dự trữ dành cho những chi tiêu bất ngờ; (2) Nhìn xa, thấy trước: Dự phòng để đáp ứng cho các nhu cầu chi

tiêu tương lai vì mối quan hệ giữa thu nhập và các nhu cầu của cá nhân

và gia đình không còn giống nhau như hiện tại nữa Chẳng hạn như dựphòng cho khi tuổi già, tiền học phí cho con cái trong gia đình, nuôi con khi còn chưa đến tuổi tự lập;…

(3) Tính toán chi li: Thu thêm lợi tức và mức gia tăng giá trị tiền vốn

để đảm bảo có một sự tiêu dùng thực sự cao hơn về sau này so với mức tiêu dùng trước mắt còn hạn chế hơn;

20 J.M.Keynes (1994), Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, Người dịch: Đỗ

Trọng Hợp, Trần Mạnh Chín, Lê Minh Nguyệt, Nxb Giáo dục, tr 136.

Trang 15

(4) Cải thiện mức sống: Tăng dần mức chi tiêu vì khuynh hướng chung

của mọi người thường hướng về một đời sống luôn luôn được cải thiện chứkhông phải ngược lại, mặc dù khả năng hưởng thụ có thể bị suy giảm;

(5) Tự lập: Tạo cho bản thân một ý thức độc lập và có khả năng làm

những điều mình muốn dù chưa có một ý kiến rõ ràng hoặc một ý định nào đó về một hành động cụ thể:

(6) Kiêu hãnh: Làm giàu và để lại một gia tài cho con cháu;

(7) Hà tiện: Thỏa mãn tính hà tiện, vô lý nhưng dai dẳng nhằm đề

phòng những khoản chi thực sự

Bên cạnh đó cũng có các nhân tố kích thích tiêu dùng như: Hưởngthụ, thiển cận, hào phóng, thiếu suy tính, phô trương và ngông cuồng

- Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn

Lý thuyết khuynh hướng tiêu dùng giới hạn (khuynh hướng biêntrong tiêu dùng) được J.M.Keynes tập trung phân tích Đây là một trong những nội dung mà ông đặc biệt quan tâm Vấn đề này được coi như là một mắt xích trong hệ thống tự động dẫn đến mâu thuẫn mà nền kinh tếthị trường tự phát J.M.Keynes viết trong chương VIII, lý thuyết chung

về việc làm, lãi suất và tiền tệ”: “Quy luật tâm lý cơ bản mà chúng ta có quyền dựa vào với một sự tin tưởng sâu sắc, vừa do có sự hiểu biết của chúng ta về bản chất con người, vừa do có những kinh nghiệm thực tế, cho thấy là con người luôn luôn sẵn sàng tăng mức tiêu dùng khi mức thu nhập của họ tăng, nhưng con người không tăng mức tiêu dùng bằng mức thu nhập” Đó chính là khuynh hướng tiêu dùng giới hạn

J.M.Keynes nhận thấy khi thu nhập quốc dân tăng lên thì tiêu dùng cũng tăng nhưng với tốc độ chậm hơn (dẫn đến tổng cầu không đủ) Tỷ lệtiêu dùng so với tỷ lệ thu nhập giảm dần J.M.Keynes giải thích điều này bằng sự thích ứng chậm trễ của thói quen tiêu dùng và tâm lý tiêu dùng

Đó là, trong thời gian ngắn, không đủ để thói quen tiêu dùng thích ứng với những với những hoàn cảnh đã thay đổi, khi thu nhập thấp thì tiêu dùng hết thu nhập Khi thu nhập dư thừa thì mong muốn tiết kiệm trỗi dậy, tốc độ thu nhập ngày càng tăng cùng với sự gia tăng của thu nhập thực tế Việc tính đến yếu tố tâm lý (tâm lý cộng đồng) trong việc nghiên cứu các hành vi kinh tế vĩ mô là một đóng góp rất quan trọng của

Trang 16

J.M.Keyens Ngày nay, yếu tố tâm lý người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết sách của công ty, chính phủ.

Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn là tương quan tỷ lệ giữa phần thu nhập gia tăng dành cho tiêu dùng so với mức gia tăng thu nhập Nếu ký hiệu khuynh hướng tiêu dùng giới hạn là dC/dR Trong đó:

dC: Tiêu dùng gia tăng tính theo đơn vị tiền lương

dR: Thu nhập gia tăng

Như vậy, dC là số tiền tiêu dùng, dR là số tiền thu nhập (cả hai đềutính theo đơn vị tiền lương) thì dC và dR cùng dấu (cùng chiều), nhưng nhỏ hơn về số lượng, nghĩa là dC/dR là số dương và nhỏ hơn 121

Theo J.M.Keynes trạng thái tinh thần của cộng đồng là: Khi tổng thu nhập thực tế tăng lên, thì tổng tiêu dùng cũng tăng lên, nhưng không phải là cùng môt tổng số như nhau, cả dC và dR có dấu hiệu giống nhau nhưng dR lớn hơn dC Theo ông khi thu nhập thấp hơn hoặc chỉ bằng với mức tiêu dùng cần thiết, người ta phải dành toàn bộ thu nhập cho tiêu dùng Khi thu nhập vượt quá mức này sẽ xuất hiện thiên hướng dành một phần thu nhập cho tiết kiệm mặc dù mức tiêu dùng có tăng lên Khi thu nhập tuyệt đối tăng lên nữa, đặc biệt khi họ đạt được mức tiện nghi nào đó rồi, họ sẽ trích từphần thu nhập tăng thêm cho tiết kiệm nhiều hơn còn phần cho tiêu dùng thêm ít đi Nói cách khác theo ông khuynh hướng tiêu dùng giới hạn giảm dần cùng với mức tăng của thu nhập, ngược lại khuynh hướng tiết kiệm thì tăng lên Ông nhận xét là các quốc gia hay cộng đồng càng giàu có thì khuynh hướng tiêu dùng giới hạn càng kém đi

Theo J.M.Keynes, dC/dR có tác động ổn định, trong thời kỳ nền kinh

tế phồn vinh, nó kìm hãm sự tăng quá mức của tổng cầu vì cầu tiêu dùng tăng chậm hơn sự tăng của thu nhập quốc dân Còn trong thời kỳ khủng hoảng nó phanh sự rơi xuống của tổng cầu vì cầu tiêu dùng giảm ở mức

độ nhỏ hơn sự giảm của thu nhập quốc dân Theo J.M.Keynes, cần kích thích tiêu dùng để làm tăng tổng cầu, qua đó tăng việc làm

Từ sự phân tích trên ông đi đến kết luận là: Cùng với việc làm tăng

sẽ làm tăng thu nhập, vì vậy, cũng làm tăng tiêu dùng Song, do khuynh

21 J.M.Keynes (1994), Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, Người dịch: Đỗ

Trọng Hợp, Trần Mạnh Chín, Lê Minh Nguyệt, Nxb Giáo dục, tr 137.

Trang 17

hướng tiêu dùng giới hạn giảm dẫn đến sự giảm sút tương đối cầu tiêu dùng Đó là nguyên nhân gây ra tình trạng trì trệ và thất nghiệp ở các cộng đồng giàu có Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn biến động trong khoảng từ 0 đến 1 (Bảng 6.1)

- Tiền lương:

J.M.Keynes bác bỏ lý thuyết tiền lương và giá cả linh hoạt của trường phái Cổ điển và Tân cổ điển Ông cho rằng, tiền lương và giá cả không linh hoạt Bởi vì: (1) Tiền lương được trả theo hợp đồng đã thỏa thuận, do đó tiền lương không biến động; (2) Giá cả nhiều mặt hàng do nhà nước điều tiết, có điều chỉnh nhưng không phải ngay lập tức có tác dụng, thường từ vài tháng đến 1 năm trước khi ủy ban điều chỉnh thực hiện; (3) Sức ỳ của các tổ chức lớn; (4) Những chấn động về cung và cầu chỉ tác động đến giá cả và tiền lương sau một thời gian khá dài

Trường phái Tân cổ điển cho rằng, việc giảm tiền lương trong trường hợp có thất nghiệp sẽ làm tăng việc làm, do đó muốn tăng việc làm thì giảm tiền lương J.M.Keynes cho rằng, muốn làm tăng việc làm cần làm tăng tổng cầu Sự giảm tiền lương làm tăng việc làm chỉ đúng cho doanh nghiệp hoặc ngành công nghiệp Trên phạm vi toàn xã hội, thì sự thay đổi của tiền lương chỉ có thể tác động đến mức việc làm thông qua sự thay đổi của tổng cầu Muốn biết được điều này thì cần xem xét tác động của việc giảm tiền lương đến khuynh hướng tiêu dùng, đến độ lớn của tổng cầu Theo ông, không thể đo được tác động này Ông phản đối quan điểm của trường phái Cổ điển và Tân cổ điển cho rằng tiền lương linh hoạt có vai trò điều tiết, chính sách tiền lương mềm dẻo là cách để có công ăn việc làm đầy đủ Ông đưa ra một số khả năng: nếu giá cả giảm ít hơn sự giảm của tiền lương thì khuynh hướng tiêu dùng, qua đó là cầu tiêu dùng

và công ăn việc làm giảm (vì thu nhập giảm); tiền lương giảm, đồng thời chi phí sản xuất giảm, tạo thuận lợi cho xuất khẩu thì nó làm tăng công

ăn việc làm, nếu các nhà đầu tư nhận định rằng việc giảm tiền lương chỉ

là tạm thời, trong tương lai tiền lương sẽ tăng lên thì đó là hoàn cảnh tạo

ra lợi nhuận mong đợi Và điều đó kích thích họ sử dụng khả năng tiền lương thấp hơn, tăng dần đầu tư hiện tại và việc làm Nhưng nếu họ tính đến việc tiền lương tiếp tục giảm thì họ sẽ hoãn đầu tư, và khi đó công ăn việc làm sẽ không tăng J.M.Keynes cho rằng, nhà nước có thể dùng

Trang 18

chính sách kinh tế vĩ mô để tác động làm tăng cầu tiêu dùng và cầu đầu

tư, góp phần làm tăng việc làm, tăng thu nhập quốc dân

Nhà kinh tế học thuộc trường phái Trọng tiền Milton Friedman (1912 - 2006), đã nhận xét: “Một trong những kết quả quan trọng nhất của cuộc cách mạng Keynes là quan điểm đã trở thành phổ biến, quan điểm coi tiền lương và giá cả không linh hoạt như là điểm xuất phát của sự phân tích những thay đổi kinh tế có thời hạn ngắn Nghĩa là mức độ thay đổi của tổng cầu danh nghĩa sẽ được phản ánh hoàn toàn trong sự thay đổi của sản lượng

và được phản ánh ở mức độ nhỏ trong sự thay đổi của giá cả”22

b Cầu đầu tư

- Tiết kiệm và khuynh hướng tiết kiệm:

Tiết kiệm là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng Cũng tương tự như vậy, tiết kiệm ròng là phần dôi ra của thu nhập ròng so với tiêu dùng Tiết kiệm = Thu nhập - Tiêu dùng; Hay S = R - C

Bảng 6.1: Xu hướng tiêu dùng và tiết kiệm Thu nhập (R) Tiêu dùng (C) Tiết kiệm (S)

Tổng số (C)

Tăng thêm (dC)

Tổng

số (S)

Tăng thêm (dS)

Trang 19

phân tích khuynh hướng tiêu dùng giới hạn, ông đã làm rõ là, với mọi cộng đồng khi thu nhập đạt mức cao hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu đều xuất hiện khuynh hướng dành một phần thu nhập để tích luỹ Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn giảm bởi khuynh hướng tiết kiệm tăng (dS) (bảng 6.1) Nguyên nhân của sự gia tăng tiết kiệm chủ yếu là do tác động của yếu tố tâm lý chủ quan Những yếu tố chủ quan do tác động hạn chế tiêu dùng chính là các nhân tố khuyến khích tiết kiệm

Ví dụ: Với 1 $ thu nhập tăng thêm, dành 0,8 $ cho tiêu dùng thêm và 0,2 $ cho tiết kiệm thêm thì ta sẽ có dC=0,8$, và dS =0,2$

- Đầu tư

Sự phân tích đầu tư của J.M.Keynes được thực hiện cùng với những nghiên cứu về tiết kiệm Đầu tư hiện tại, theo ông, đó là sự tăng thêm giá trị hiện tại cho số trang thiết bị, là kết quả của các hoạt động sản xuất trong thời kỳ đó Tổng mức đầu tư (I) là số chênh lệch giữa số tiền mà nghiệp chủ bỏ ra để mua thành phẩm của các nghiệp chủ khác so với chi phí đã sử dụng trang thiết bị của thời kỳ dó Phần chênh lệch này là số tăng thêm vào trang thiết bị sản xuất do kết quả của các hoạt động sản xuất của thời kỳ này, ông gọi đó là đầu tư của của thời kỳ này Còn số gia tăng ròng cho trang thiết bị sản xuất, sau khi đã trừ đi phần giảm giá trị thông thường của trang thiết bị, do hao mòn qua sử dụng và những thay đổi không lường trước được về giá trị trang thiết bị đó được ghi vào tài khoản vốn, ông gọi đó là đầu tư ròng của thời kỳ đó

Khi phân tích đầu tư J.M.Keynes khẳng định đầu tư và tiết kiệm là phù hợp với nhau Khối lượng đầu tư là kết quả của thái độ chung của các nghiệp chủ và cá thể, nó phải bằng với khối lượng tiết kiệm vì cả hai đều là phần dôi ra của thu thu nhập so với tiêu dùng

- Số nhân đầu tư

Số nhân đầu tư được trình bày gắn liền với khuynh hướng tiêu dùng giới hạn vì cái trước có quan hệ nhân quả với cái sau Số nhân đầu tư là quan hệ

tỷ lệ giữa gia tăng thu nhập so với gia tăng đầu tư Nó phản ánh mức tăng thu nhập khi đầu tư tăng và cho chúng ta biết khi đầu tư tăng thì thu nhập sẽ được khuyếch đại lên bao nhiêu lần “Nó cho chúng ta biết rằng khi có một lượng thêm về đầu tư tổng hợp, thì thu nhập sẽ tăng thêm một lượng bằng k lần mức tăng đầu tư” J.M.Keynes ký hiệu k là số nhân:

Trang 20

dI

k = Trong đó: dR: là gia tăng thu nhập; dI: là gia tăng đầu tư

Từ phương trình trên có thể suy ra: dR = k x dI

Rõ ràng là với một mức gia tăng đầu tư (dI) nào đó, thu nhập sẽ được khuyếch đại bằng đúng k lần Nguyên nhân của sự gia tăng thu nhập khi gia tăng đầu tư nằm ở chính quan hệ giữa thu nhập và đầu tư của tất cả các tầng lớp kinh doanh và tiêu dùng của cộng đồng đó Đầu tư của lớp người này biến thành thu nhập của lớp người kia, thu nhập này trở thành đầu tư mới của họ, đầu tư mới này lại tạo thành thu nhập của lớp người sau nữa Cứ như vậy với một lượng gia tăng tổng hợp ban đầu, nó hình thành một chuỗi biến hoá về đầu tư và thu nhập Hậu quả tích cực của số nhân trước hết là phóng đại thu nhập lên, kéo theo sự gia tăng của cầu bổ sung công nhân Do đó số nhân có một ý nghĩa trực tiếp lớn đối với vấn

đề “việc làm”

Theo J.M.Keynes số nhân có mối liên hệ phụ thuộc với khuynh hướng tiêu dùng giới hạn Từ việc cho rằng đầu tư (I) bằng tiết kiệm (S) nên theo ông dI = dS, tức là mức gia tăng đầu tư bằng mức gia tăng tiết kiệm Thay dI = dS vào phương trình trên để tính k ta có:

dR

dR dS

dR k

Thuần tuý về mặt toán học, k chỉ phụ thuộc và tỷ lệ thuận với khuynh hướng tiêu dùng giới hạn (dC/dR); khuynh hướng tiêu dùng giới hạn càng tăng thì số nhân càng lớn và ngược lại “Nếu khuynh hướng tiêu dùng gần bằng 1, thì những biến động nhỏ về đầu tư sẽ dẫn đến những biến động lớn hơn về việc làm; nhưng đồng thời, một lượng tăng thêm đầu tư tương đối nhỏ sẽ dẫn đến tình trạng có việc làm đầy đủ Mặt khác nếu khuynh hướng tiêu dùng giới hạn không lớn hơn số 0 bao nhiêu thì những biến động nhỏ về đâu tư sẽ dẫn tới những biến động nhỏ tương ứng về việc làm, nhưng đồng thời, việc này có thể đòi hỏi một lượng lớn

về đầu tư để tạo ra tình trạng có việc làm đầy đủ”

Trang 21

Hình 6.2: Vai trò của đầu tư đối với thu nhập

Nguồn: Robert Burton Ekelund, jr và Robert Fry Hébert (2004), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr 527

Theo hình 6.2, khi đầu tư tăng từ I sang I’ thì hàm tổng cầu sẽ thayđổi theo hướng lên trên (dI), thu nhập cũng tăng từ R0

lên R1

Ví dụ: Nhà nước đầu tư 2 tỷ $ (dI = 2) để xây dựng một cảng biển.Giả sử khuynh hướng tiêu dùng giới hạn trong xã hội là 0,75 (dC/dR = 0,75) thì số nhân k = 1/(1-0,75) = 4 Lúc này với đầu tư của nhà nước là

2 tỷ $ thì thu nhập trong xã hội sẽ tăng thêm 8 tỷ $ (dR = 4 x 2 tỷ $ = 8

tỷ $)

Sử dụng khái niệm số nhân, J.M.Keynes nhằm giải thích về ý nghĩa của các chính sách đầu tư của nhà nước vào các công trình công cộng Tuy vậy hiệu quả của số nhân trong nước có thể bị phá bỏ do tiết kiệm và nhập khẩu; ngược lại gia tăng xuất khẩu có thể làm tăng hiệu quả của số nhân

Ý nghĩa của số nhân đầu tư: Dưới tác động của số nhân, sự cân bằng mong muốn tiết kiệm và mong muốn đầu tư có thể được thực hiện ở mức công ăn việc làm không đủ Tức là cầu và cung hàng hóa có thể cân bằng

mà không cần thực hiện cân bằng trên thị trường lao động Nền kinh tế vẫn

Trang 22

có thể đi vào cân bằng cùng với sự tồn tại của thất nghiệp Việc tìm ra sốnhân đầu tư là một đóng góp lớn của J.M.Keynes cho lý thuyết điều tiết vĩ

mô nền kinh tế, cho việc phân tích nền kinh tế ở tầm vĩ mô Nó là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tế học vĩ mô hiện đại Ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm số nhân đầu tư trên cơ sở tiếp thu khái niệm "số nhân" mà ông gọi là số nhân việc làm của Richard Ferdinand Kahn (1905 - 1989), nhà kinh tế học người Anh, người có ảnh hưởng rất lớn tại Cambridge từ những năm 30 tới những năm 70 của thế kỷ XX

6.2.2.2 Hiệu suất biên của vốn

Các nhà kinh tế trường phái Cổ điển và Tân cổ điển cho rằng, khảnăng đầu tư trong chủ nghĩa tư bản là vô hạn, tiết kiệm tự động chuyển thành đầu tư Đối lập với quan điểm trên, Keynes nhấn mạnh rằng, tiết kiệm tự bản thân nó không mang lại đầu tư Tiết kiệm chỉ trở thành đầu

tư trong điều kiện nhất định Những yếu tố xác định độ lớn của đầu tư

là những yếu tố cực kỳ không chắc chắn Các nhà kinh doanh so sánh thu nhập của tư bản (tức là giá trị đã được khấu trừ lãi suất mà đã được hình thành của những thu nhập thuần túy, hàng năm có thể mong đợi của tư bản) với giá cung của tư bản cố định Nếu giá trị này lớn hơn giá trị cung của tư bản cố định thì mới đáng để đầu tư J.M.Keynes thấy cần phải tìm một tỷ suất chiết khấu làm cho thu nhập thuần túy triển vọng của tư bản ngang bằng với giá cung của tư bản cố định Tỷ suất đó J.M.Keynes gọi là hiệu suất biên của vốn

Theo J.M.Keynes: “Hiệu suất biên của vốn là bằng tỷ suất chiết khấu

mà sẽ làm cho giá trị hiện nay của các khoản tiền thu được hàng năm từ các khoản tiền lời được dự tính do tài sản cố định mang lại trong suốt thời gian sử dụng tài sản đó đúng bằng giá cung của tài sản đó”23

Mức đầu tư thông thường hiện nay sẽ được nâng lên đến mức mà ở đó không còn có bất cứ loại tài sản cố định nào có hiệu suất biên vượt quá lãi suất hiện hành Nói một cách khác, tỷ lệ đầu tư sẽ được đẩy đến điểm mà ở

đó hiệu suất biên của đồng vốn nói chung bằng lãi suất thị trường

Hiệu suất biên của vốn biểu hiện và được xác định theo mối quan hệgiữa lợi tức triển vọng của tư bản cố định với giá cung của tư bản cố định

23 J.M.Keynes (1994), Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, Người dịch: Đỗ

Trọng Hợp, Trần Mạnh Chín, Lê Minh Nguyệt, Nxb Giáo dục, tr 177.

Trang 23

“Nó tùy thuộc vào tỷ suất lợi tức dự kiến thu được từ số tiền mà người ta đầu tư vào một tài sản mới” Điều cần lưu ý ở đây là hiệu suất biên của vốn khác về bản chất với lãi suất hiện hành Hiệu suất biên của vốn chi phối các điều kiện theo đó có thể vay các khoản cho đợt đầu tư mới, trong khi đó thì lãi suất chi phối điều kiện cung ứng các khoản tiền này J.M.Keynes coi đầu tư có vai trò cơ bản trong việc xác định độ lớn của tổng cầu Nhờ tăng đầu tư mà tổng cầu tăng, cầu tiêu dùng và việc làm tăng Ông cho rằng chỉ tiêu đầu tư là chỉ tiêu có sức mạnh lớn Công

ăn việc làm không đủ là do tổng cầu không đủ độ lớn cần thiết Tổng cầu không đủ do cầu tiêu dùng tăng chậm hơn sự tăng của thu nhập quốc dân,

do cầu đầu tư phụ thuộc vào những yếu tố không lường trước được trong

hệ thống kinh tế xã hội, muốn có việc làm đầy đủ cần tăng tổng cầu,

khuyến khích tiêu dùng và khuyến khích đầu tư

Mục đích của bất cứ nhà đầu tư nào cũng là để tìm kiếm lợi nhuận hay làm cho vốn của mình sinh lợi Khi nghiên cứu hiệu suất biên của vốn và lãi suất J.M.Keynes phân biệt nhà tư bản cho vay với doanh nhân Nhà tư bản cho vay là người có vốn hoặc có thể không có vốn phải đi vay

tư bản đầu tư kinh doanh nhằm thu lợi nhuận

Khi doanh nhân mua một khoản tài sản đầu tư hay tài sản cố định, tức người đó mua quyền để thu về một loạt các khoản lợi tức trong tương lai do sử dụng các khoản tài sản đầu tư đó sinh ra J.M.Keynes gọi các khoản thu nhập đó là “lợi tức triển vọng của vốn đầu tư” hay “thu hoạch tương lai” của vốn đầu tư Đó là chênh lệch giữa số tiền bán hàng với phí tổn cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó Ngược lại, với “thu hoạch tương lai” của vốn đầu tư là giá cung của tài sản tư bản Mức giá này không phải là giá thị trường mà tài sản tư bản đó có thể được mua mà là mức giá đủ khuyến khích nhà sản xuất làm thêm một đơn vị tài sản đó

Những phân tích tiếp theo của J.M.Keynes cho thấy cùng với việc tăng lãi suất của vốn đầu tư, thì “hiệu suất biên của vốn” sẽ bị giảm xuống, có thể nêu hai nguyên nhân cơ bản là:

Thứ nhất, đầu tư tăng sẽ làm khối lượng hàng hoá trên thị trường tăng hay tăng cung Điều này làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường giảm xuống và kéo theo sự giảm sút của “thu hoạch tương lai”

Trang 24

Thứ hai, đầu tư tăng, sản xuất được mở rộng do vậy cầu về tài sản tư bản tăng lên làm giá cung của nó tăng theo tức là phí tổn thay thế tăng (hình 6.3)

Hình 6.3: Quan hệ giữa hiệu suất biên của vốn và vốn đầu tư

Hình 6.3 cho chúng ta thấy mối quan hệ nghịch giữa đầu tư với “hiệu suất biên của vốn” Quan hệ này bước đầu cho ta có ý niệm về “tính chất hai mặt” của đầu tư

6.2.2.3 Giá cả và lãi suất

- Giá cả:

Trước hết J.M.Keynes nêu lên nguyên tắc chung về sự phụ thuộc của giá cả đối với cung và cầu Ông phân chia giá cả làm hai loại: Mức giá riêng ngành và mức giá chung

Mức giá riêng ngành, trong một ngành riêng lẻ, tuỳ thuộc một phần vào tỷ suất thù lao cho các yếu tố sản xuất bao trùm trong chi phí giới hạn, và một phần vào quy mô sản xuất Còn mức giá chung tuỳ thuộc một phần vào tỷ suất thù lao cho các yếu tố sản xuất bao hàm trong chi phí giới hạn và một phần vào quy mô sản xuất nói chung, nghĩa là tuỳ thuộc thuộc vào khối lượng việc làm

Trang 25

Trở lại với các yếu tố quyết định giá cả, ông cho rằng sự biến động của cung, theo quan điểm mới của ông, dường như là rất nhỏ, trong khi cầu thì tỷ lệ với khối lượng tiền tệ Ông cho rằng khi lượng tiền tăng thì thu nhập bằng tiền tăng, cầu về hàng hoá tiêu dùng sẽ tăng và do đó giá

cả tư liệu tiêu dùng tăng Ngược lại giá đầu tư (lãi suất) lại giảm và do đó mang lại nhiều lợi nhuận cho nhà đầu tư, họ gia tăng đầu tư Khi đầu tư tăng, cầu về lao động tăng và đó là cách để giải quyết thất nghiệp

- Lãi suất:

Những nghiên cứu của J.M.Keynes về lãi suất được xây dựng trên cơ

sở tư tưởng phê phán quan điểm lợi tức của các nhà “Tân cổ điển” như A.Marshall, Cassel, L.Walras đặc biệt là Bohm Bawerk cho rằng lợi tức

là cái “giá phải trả cho sự hy sinh tiêu dùng hiện tại” Ông cho rằng hiển nhiên lãi suất không nhất thiết là khoản lợi tức do việc tiết kiệm hoặc nhịn chi tiêu vì nếu một người dù tích trữ tiền mặt nhiều bao nhiêu vẫn không thể thu được môt món lãi nào Trái lại, lãi suất là khoản thù lao cho việc mất khả năng chuyển đổi trong một thời hạn nhất định, là việc

đo lường sự tự nguyện của người có tiền không sử dụng tiền mặt của họ

Nó không phải là cái giá làm cân bằng ý muốn giữa của cải dưới dạng tiền mặt với số lượng tiền mặt có sẵn Điều này nói lên rằng, nếu lãi suất thấp hơn, tức là nếu khoản thù lao cho việc không sử dụng tiền mặt giảm xuống thì tổng lượng tiền mặt mà dân chúng muốn giữ sẽ lớn hơn mức cung tiền mặt, và nếu lãi suất nâng lên, thì có một số dư tiền mặt mà không một ai muốn giữ

Theo J.M.Keynes, lãi suất phụ thuộc vào hai nhân tố quy định trong những trường hợp nhất định Cụ thể:

Một là, khối lượng tiền tệ Ông cho rằng, lãi suất tỷ lệ nghịch với lượng tiền đưa vào lưu thông Lượng tiền đưa vào lưu thông giảm (lượng cung tiền mặt giảm) thì lãi suất tăng và ngược lại khi lượng tiền đưa vào lưu thông tăng thì lãi suất giảm

Hai là, nhân tố cơ bản thứ hai ảnh hưởng lãi suất là “ưu tiên chuyển hoán” hay sự ưa chuộng tiền mặt Theo J.M.Keynes, sự ưa chuộng tiền mặt là tiềm năng hay khuynh hướng có tính chất hàm số ấn định khối lượng tiền mà dân chúng muốn giữ theo mức lãi suất nhất định Đây là nhân tố phụ thuộc tâm lý của dân chúng Nếu r là lãi suất, M là lượng tiền và L là hàm ưu tiên chuyển

Trang 26

hoán (ưa chuộng tiền mặt), thì ta có M = L(r) Điều đó chứng tỏ lượng tiền phụ thuộc vào sự ưa chuộng tiền mặt

Đầu tư có ý nghĩa rất lớn để giải quyết việc làm Đến lượt nó, sự khuyến khích đầu tư lại phụ thuộc một phần vào lãi suất Ngay cả khi người ta có vốn tư bản thì người ta cũng chỉ tiếp tục đầu tư khi “hiệu quả giới hạn” của nó lớn hơn lãi suất Trong trường hợp vay vốn để đầu tư thì tình hình còn rõ ràng hơn Như vậy, lãi suất chính là giới hạn tối thiểu của việc tính toán lỗ lãi để đầu tư hay nói chính xác hơn là sự chênh lệch giữa “hiệu quả giới hạn” của tư bản với lãi suất chính là giới hạn của các cuộc đầu tư Chênh lệch giữa “hiệu quả giới hạn” của tư bản và lãi suất càng lớn thì sự khuyến khích đầu tư càng tăng lên và ngược lại Vì hiệu suất biên của vốn và lãi suất tạo nên giới hạn của các cuộc đầu tư vì vậy,

để kích thích đầu tư, cần tìm biện pháp giảm lãi suất, tức nhà nước phải tăng thêm tiền mặt trong lưu thông hay in thêm tiền để đưa vào lưu thông

Bảng 6.2: Quan hệ giữa vốn đầu tư, lãi suất và hiệu suất biên của vốn Vốn đầu

Chênh lệch (%)

Trang 27

được xác định trên cơ sở hai biến số là những sự kiện hiện tại và những

sự kiện xảy ra trong tương lai, nhưng chưa biết trước

6.2.3 Vai trò kinh tế của nhà nước theo học thuyết Keynes

Để giải quyết việc làm cần điều chỉnh sự thiếu hụt của cầu tiêu dùng, tăng tiêu dùng sản xuất Đầu tư tăng, sản xuất được mở rộng, nhu cầu lao động tăng lên Như vậy, khối lượng đầu tư đóng vai trò quyết định đến quy mô việc làm Khối lượng đầu tư phụ thuộc vào ý muốn đầu tư của nghiệp chủ hay phụ thuộc vào sự kích thích đầu tư tức là lợi nhuận Các nghiệp chủ sẽ đầu tư cho tới khi hiệu suất biên của vốn giảm xuống bằng mức lãi suất

Nhưng trong nền kinh tế thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản mâu thuẫn ở chỗ: Muốn giải quyết việc làm thì phải tăng hiệu quả nhưng thực

tế là khi đầu tư tăng thì hiệu suất biên của vốn giảm, cộng với lãi suất cho vay lại tương đối ổn định Chính điều đó đã tạo ra giới hạn chật hẹp của các cuộc đầu tư mới và do đó ảnh hưởng tới việc làm

Theo J.M.Keynes cơ chế thị trường tự nó không giải quyết được mâu thuẫn đó, bởi vậy để giải quyết tình trạng trên nhà nước phải can thiệp vào kinh tế Nhà nước thông qua các chính sách và công cụ kinh tế vĩ mô như đầu tư, tài chính, tín dụng, tiền tệ… nhằm tập trung giải quyết các mâu thuẫn như trì trệ, khủng hoảng và đặc biệt là thất nghiệp

6.2.3.2 Các chính sách và công cụ kinh tế điều tiết của nhà nước

a Chính sách đầu tư

J.M.Keynes cho rằng để thoát ra khỏi khủng hoảng và giải quyết việc làm, trước hết nhà nước phải có một chương trình đầu tư lớn Có thể khái quát chương trình đầu tư của nhà nước theo hai nội dung chính

Trang 28

Thứ nhất, nhà nước phải là người trực tiếp đầu tư, phải thông qua việc sử dụng ngân sách đầu tư đặc biệt vào các công trình công cộng nhằm thu hút việc làm

Thứ hai, nhà nước phải thông qua các chính sách và công cụ khuyến khích tư nhân đầu tư như thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống mua của nhà nước, từ ngân sách để trợ cấp về tài chính, tín dụng tạo sự ổn định về lợi nhuận và đầu tư cho tư bản

Tóm lại, với chương trình đầu tư lớn của nhà nước để sử dụng số tư bản nhàn rỗi và lao động thất nghiệp Số người được tuyển dụng mới khi nhận được thu nhập sẽ tham gia vào thị trường mua sắm hàng hoá Do đó sức cầu tăng lên, giá cả hàng hoá tăng lên, “hiệu quả” của tư bản tăng lại khuyến khích doanh nhân mở rộng sản xuất, khủng hoảng và thất nghiệp được ngăn chặn

J.M.Keynes chứng minh sự cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế Ông cho rằng trong trường hợp có thất nghiệp không tự nguyện, nếu đầu tư cá nhân không đủ để tạo nên tổng cầu cần thiết cho mức việc làm đầy đủ thì chính sách cần tạo ra cầu cần thiết, bằng các chi tiêu của chính phủ Các chi tiêu của chính phủ trong trường hợp này cùng với các đầu tư cá nhân làm tăng thu nhập quốc dân

b Sử dụng hệ thống tài chính - tín dụng, tiền tệ và thuế khoá (Chính sách tài khóa)

Theo J.M.Keynes, để nghiên cứu những nhân tố quyết định đến sản lượng và việc làm nói chung thì cần phải có một lý thuyết hoàn chỉnh về nền kinh tế tiền tệ J.MKeynes cho rằng “lãi suất có chức năng duy trì sự cân bằng giữa cung và cầu về tiền tệ, tức là mức cầu về tiền mặt và những

Trang 29

phương tiện thỏa mãn nó Ông coi mức giá như là một tổng thể được xác định cũng chính xác như các giá riêng biệt, tức là bị chi phối bởi quy luật cung cầu” Khối lượng tiền tệ chi phối việc cung ứng các phương tiện dễchuyển đổi và từ đó chi phối cả lãi suất, và cùng với các yếu tố khác (đặc biệt là lòng tin) chi phối động cơ đầu tư mà động cơ này lại xác định mức cân bằng của thu nhập, sản lượng và việc làm và mức giá cả nói chung thông qua các ảnh hưởng của cung và cầu đã được thiết lập24.

J.M.Keynes tập trung vào nghiên cứu lãi suất - tiền tệ, một yếu tốquan trọng đối với đầu tư và tổng mức cầu vì nó tác động đến chi phí đầu

tư Ông nhấn mạnh vai trò đặc biệt của của tiền tệ so với lãi suất tài sản vốn khác Tiền có vai trò đặc biệt ở chỗ: nó có khả năng thanh toán ởmức độ lớn, nó là thứ có thể trao đổi dễ dàng trong khi giá trị của nó tương đối ổn định Tiền tệ có hai đặc tính cần thiết để làm cho lãi suất tiền tệ có ý nghĩa nhất trong các lãi suất tài sản Đó là, sự co giãn trong sản xuất tiền tệ là rất nhỏ, không thể tái sản xuất tự do ra tiền; và không

có vật thay thế cho tiền "Khi giá trị trao đổi của tiền tăng lên thì không

có xu hướng thay thế tiền bằng một nhân tố nào đó như là trong trường hợp các nhân tố sinh lợi vì độ thỏa dụng của nó chỉ phát sinh từ giá trịtrao đổi của nó nên cả hai đều tăng và giảm một cách đồng điệu"25

Theo J.M.Keynes, thị trường tiền tệ bị chi phối bởi sự phối hợp giữa mong muốn nắm giữ tiền của công chúng và chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Tổng cầu tiền tệ của các cá nhân là kết quả tổng hợp của các động cơ khác nhau Ông xếp các động cơ này thành 3 loại chính: (1) Động cơ giao dịch (thu nhập và kinh doanh) biểu hiện nhu cầu giữtiền mặt để giao dịch hàng ngày cho những nhu cầu cá nhân, nhu cầu tiền mặt để trang trải trong khoảng thời gian tử lúc trả chi phí kinh doanh đến lúc nhận được thu nhập từ bán hàng; (2) Động cơ dự phòng biểu hiện nhu cầu giữ tiền để đề phòng những trường hợp bất trắc cần chi tiêu đột xuất, hoặc không bỏ lỡ cơ hội mua bất ngờ có lợi, hoặc để giữ một tài sản có giá trị cố định bằng tiền để thanh toán một khoản nợ sau này được xác

24 J.M.Keynes (1994), Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, Người dịch: Đỗ

Trọng Hợp, Trần Mạnh Chín, Lê Minh Nguyệt, Nxb Giáo dục, tr 34.

25 J.M.Keynes (1994), Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, Người dịch: Đỗ

Trọng Hợp, Trần Mạnh Chín, Lê Minh Nguyệt, Nxb Giáo dục, tr 277-278.

Trang 30

định bằng tiền; (3) Động cơ đầu cơ biểu hiện nhu cầu giữ tiền nhằm mục đích kiếm lời do biết dự đoán tốt hơn về tương lai của thị trường chứng khoán hoặc giữ tiền theo họ là cách tốt nhất để của cải của họ không bị giảm giá Các ưu tiên chuyển đổi phụ thuộc vào 3 loại động cơ này Cầu tiền cho động cơ giao dịch và động cơ dự phòng phụ thuộc vào hoạt động chung của hệ thống kinh tế và mức thu nhập bằng tiền Cầu tiền cho động cơ đầu cơ rất nhạy cảm với những thay đổi từ trong lãi suất Những thay đổi trong nhu cầu về tiền để thỏa mãn động cơ đầu cơ luôn luôn gắn liền với những thay đổi trong lãi suất, bị chi phối bởi những thay đổi trong giá cả của các trái phiếu và các tài khoản có kỳ hạn thanh toán khác nhau Các nghiệp vụ thị trường mở có thể tác động đến lãi suất bằng cách làm thay đổi dự kiến về chính sách trong tương lai của ngân hàng trung ương hoặc chính phủ J.M.Keynes nhận thấy, trong trường hợp đơn giản nhất, nếu các cá nhân ở trong những điều kiện như nhau, cùng có sự hiểu biết và nhận định giống nhau thì sự thay đổi về hoàn cảnh và dự kiến sẽ không tạo ra dịch chuyển về tiền mà chỉ có sự thay đổi lãi suất ở mức độ cần thiết để thay đổi lượng tiền mặt hiện có của cá nhân cho phù hợp với dự tính và hoàn cảnh mới Do mọi người, trong trường hợp đơn giản nhất này sẽ thay đổi nhận định của mình (về việc lãi suất nào sẽ làm họ thay đổi lượng tiền mặt của họ) với mức độ như nhau nên sẽ không có giao dịch Ứng với mỗi tập hợp hoàn cảnh và dự tính sẽ

có một lãi suất thích hợp Tuy nhiên sự thay đổi hoàn cảnh hoặc dự tính

sẽ buộc mỗi cá nhân, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể và cách xử lý thông tin của riêng mình và người ta điều chỉnh lượng tiền mặt hiện có của mình và lãi suất cân bằng mới sẽ tương ứng với sự phân phối lại số tiền đang giữ Sự thay đổi của lãi suất là sự phản ứng rõ ràng nhất sự thay đổi về thông tin

J.M.Keynes nhấn mạnh sự đàn hồi của lãi suất và của cầu tiền tích trữ nhằm chỉ ra chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến độ lớn của lãi suất bằng cách nào Ông cho rằng các ngân hàng trung ương bằng việc tăng khối lượng tiền

tệ đã làm giảm lãi suất, thúc đẩy đầu tư, qua đó thúc đẩy việc tăng thu nhập quốc dân, mang lại thế cân bằng mới bằng lãi suất cân bằng thích hợp Như vậy, thông qua các hoạt động giao dịch thị trường mở có thể thay đổi số lượng tiền tệ, ngân hàng trung ương hoặc chính phủ tùy thuộc vào tình hình

Trang 31

cụ thể có thể đưa ra những thay đổi trong chính sách tiền tệ Qua việc nghiên cứu cầu tiền tích trữ, J.M.Keynes chỉ ra những giới hạn của chính sách tiền

tệ Đó là sự hoạt động của các nhà đầu cơ làm giảm giá các loại trái khoán,

sẽ hạn chế tác động của chính sách tiền tệ Nếu qua các hoạt động giao dịch thị trường mở, ngân hàng trung ương mua trái khoán, thì sẽ làm tăng giá trái khoán, làm giảm lãi suất Các nhà đầu cơ là những người muốn làm giảm giá trái khoán sẽ tăng cường bán trái khoán, làm cho cung trái khoán tăng lên Điều này làm chậm sự tăng lên của giá trái khoán và làm chậm sự giảm xuống của lãi suất26

Trong hệ thống lý thuyết kinh tế của J.M.Keynes, vai trò của công cụtài chính - tín dụng, tiền tệ và thuế là vô cùng quan trọng Đây là những công cụ kinh tế vĩ mô điều tiết nền kinh tế có hiệu quả Mục đích sử dụng các công cụ này nhằm:

Thứ nhất, thông qua việc sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng, tiền tệ

để kích thích tính tích cực đầu tư của các nhà kinh doanh Để đạt mục tiêu đó ông chủ trương tăng thêm khối lượng tiền tệ vào lưu thông, thực hiện “lạm phát có kiểm soát” Một mặt, tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông để giảm lãi suất cho vay, khuyến khích doanh nhân mở rộng quy

mô vay vốn, mở rộng đầu tư tư bản Mặc khác, khi khối lượng tiền tệtrong lưu thông tăng và lạm pháp, giá cả hàng hoá tăng, tăng “hiệu suất biên của vốn”, doanh nhân sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn nếu chi phí chưa thay đổi Vì vậy ông cho rằng lạm phát là biện pháp hữu hiệu đểkích thích thị trường mà không gây ra nguy hiểm Tăng khối lượng tiền

tệ vào lưu thông và lạm phát liên tiếp, nới rộng giới hạn cho các cuộc đầu

tư tư bản mới

Thứ hai, ông chủ trương in thêm tiền giấy để cấp phát cho ngân sách hoạt động, nhằm bù đắp những thiếu hụt của ngân sách nhà nước khi gia tăng đầu tư Đây cũng là nguồn bổ sung cho ngân sách mở rộng đầu tưnhà nước và đảm bảo chi tiêu cho chính phủ Ngoài ra, việc in thêm tiền cũng chính là việc Nhà nước trực tiếp bổ sung thêm lượng tiền tệ vào lưu thông qua đó nó phát huy những tác dụng như việc khuyến khích người tiêu dùng tích cực đưa tiền vào lưu thông

26 J.M.Keynes (1994), Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, Người dịch: Đỗ

Trọng Hợp, Trần Mạnh Chín, Lê Minh Nguyệt, Nxb Giáo dục, tr 422.

Trang 32

Thứ ba, ông chủ trương sử dụng công cụ thuế để điều tiết kinh tế Nội dung của nó, theo ông, đối với người lao động cần tăng thuế Mục đích là để điều tiết bớt một phần tiết kiệm từ thu nhập của họ đồng thời đưa phần này vào ngân sách nhà nước để mở rộng đầu tư Ngược lại, đối với nhà kinh doanh, ông chủ trương giảm thuế để nâng cao hiệu quả của

tư bản nhằm khuyến khích nhà kinh doanh tích cực đầu tư sản xuất, bởi

những khoản thu nhập này của họ thường trực tiếp biến thành vốn đầu tư

c Các chính sách tạo việc làm

Ngoài những biện pháp gián tiếp để giải quyết việc làm, J.M.Keynes cho rằng việc mở rộng các hình thức đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực nào cũng tốt, kể cả những việc làm có tính chất ăn bám, như sản xuất vũ khí, quân sự hoá nền kinh tế hay tạo ra những công việc mà đối với nhu cầu xã hội tưởng chừng như dư thừa Theo ông khi tăng đầu tư như vậy sẽ giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập, chống được khủng hoảng và thất nghiệp

d Khuyến khích tiêu dùng cá nhân

Với tư tưởng “trọng cầu”, ngoài chủ trương khuyến khích gia tăng đầu tư, J.M.Keynes còn chủ trương khuyến khích tiêu dùng cá nhân, đây

là một giải pháp để kích cầu có hiệu quả nhằm mở rộng giới hạn của sản xuất, tăng cầu việc làm và giải quyết thất nghiệp, khuyến khích tiêu dùng

cá nhân đối với mọi tầng lớp trong xã hội, không chỉ đối với các nhà tư bản, tầng lớp giàu có mà ngay cả với người nghèo

Tóm lại, theo J.M.Keynes nhà nước có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết việc làm, khắc phục khủng hoảng kinh tế và tăng trưởng Sự xuất hiện lý thuyết J.M.Keynes được coi như một cuộc

“cách mạng” trong lý luận kinh tế tư sản lúc bấy giờ, nó góp phần làm thay đổi quan điểm cũ, đặt nền tảng hình thành những quan điểm mới về hoạt động kinh tế, nhất là quan điểm coi trọng vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước

6.2.3.3 Lý thuyết về chu kỳ kinh tế

Sống trong thời kỳ có nhiều biến động về kinh tế và chính trị, đặc biệt là khủng hoảng kinh tế năm 1929 - 1933 khiến J.M.Keynes phải thừa nhận tính chất chu kỳ của nền kinh tế như là sự biến động tất yếu chứ không phải hiện tượng ngẫu nhiên

Trang 33

Theo ông, nguyên nhân dẫn đến chu kỳ kinh tế là do những biến động về khuynh hướng tiêu dùng, về tính ưa chuộng tiền mặt và về hiệu quả biên của vốn

Trước hết, với tư cách là người “trọng cầu”, ông phê phán việc cho rằng nguyên nhân của khủng hoảng là tăng cung quá mức Ông cho rằng, nguyên nhân chính là ở chỗ: ở những thời điểm có thu nhập cao do khuynh hướng tiêu dùng giảm làm cho cầu hiệu quả giảm và không tương ứng với mức tăng sản lượng Điều này càng đặc biệt đúng khi nền kinh tế đạt đến giai đoạn thịnh vượng cao Sự chênh lệch giữa sản lượng cung và cầu hiệu quả giảm tương đối lên đỉnh cao tất yếu sẽ làm bùng nổ một cuộc khủng hoảng

Thứ hai, đó là do tăng lãi suất dưới ảnh hưởng của cầu về tiền mặt tăng

vì mục đích thương mại và đầu cơ tích trữ Hơn nữa, sự ưa chuộng tiền mặt còn tăng lên do tâm lý chán nản và không chắc chắn về tương lai đi theo cùng sự suy sụp về hiệu suất biên của vốn và do đó lãi suất tăng lên

Thứ ba, tuy nhiên, theo J.M.Keynes nguyên nhân tiêu biểu cho sự dao động của nền kinh tế mang tính chu kỳ là do một sự suy sụp đột ngột

về hiệu quả giới hạn của vốn

Về tính đều đặn của thời gian (thường là từ ba và năm năm) chu kỳ kinh tế J.M.Keynes giải thích do các yếu tố tác động gồm:

Một là, đó là do tuổi thọ của tài sản lâu bền so với tốc độ tăng tưởng bình thường của một thời kỳ nào đó

Hai là, chi phí bảo quản hàng hoá dư thừa tồn kho

Như vậy, khi giải thích nguyên nhân của chu kỳ hay tính ổn định của

nó J.M.Keynes chủ yếu dựa vào yếu tố tâm lý của xã hội Để khắc phục tình trạng “khủng hoảng” hướng giải quyết vấn đề chu kỳ kinh tế, trước hết, quan điểm của ông cho rằng phương thuốc thích hợp nhất đối với chu kỳ kinh tế không phải là xoá bỏ thời kỳ thịnh vượng, và như vậy duy trì tình trạng thường xuyên bán suy thoái mà phải xoá bỏ suy thoái và duy trì thường xuyên tình trạng thịnh vượng

Ông phê phán cách lập luận cho rằng muốn giải quyết suy thoái hay chống chu kỳ bằng cách giảm cung lao động tìm việc chứ không phải bằng cách tăng tiêu dùng hoặc đầu tư hay chủ trương ngăn chặn thời kỳ thịnh

Trang 34

vượng ngay từ những giai đoạn đầu bằng việc nâng cao lãi suất Ngược lại theo ông phương thuốc hữu hiệu đối với thời kỳ thịnh vượng để chủ động điều tiết chu kỳ không phải nâng cao lãi suất mà là hạ thấp lãi suất.

Tóm lại, lý thuyết của J.M.Keynes có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành chính sách kinh tế và sự phát triển kinh tế trong các nước tư bản chủ nghĩa từ những năm 30-60 của thế kỷ XX, đặc biệt ở Anh và Mỹ Chỉ trong một thời gian ngắn, lý thuyết kinh tế của J.M.Keynes đã được truyền bá rộng rãi và trở thành lý thuyết thống trị trong các nước tư bản thời kỳ trong và sau chiến tranh thế giới thứ 2 Tại Anh, theo đề nghị của J.M.Keynes, chính phủ chấp nhận mở rộng hệ thống thanh toán và kiểm soát giá cả nghiêm ngặt, điều này làm giảm cơ bản những khó khăn trong tình trạng đình trệ của nền kinh tế Anh lúc bấy giờ Năm 1941, giá cả tại Anh tăng chậm, đến sau năm 1942, giá cả ở mức tương đối thấp Tại Mỹ, sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, trong báo cáo hàng năm của Hội đồng

cố vấn kinh tế của Tổng thống, lý thuyết của J.M.Keynes được sử dụng một cách có hệ thống Đến những năm 60, trong Hội đồng cố vấn của Tổng thống Kennendy có các nhà kinh tế của trường phái J.M.Keynes như: J Tobin, Heller,… Trong tác phẩm: "Lạm phát và các cuộc khủng hoảng của nền kinh tế Mỹ những năm 70" (Erdós Péter và Moknár Ferenc) đã viết: "ít nhất là từ thời tổng thống Roosevelt đã xuất hiện những thay đổi trong chính sách tài khóa và tiền tệ của nước Mỹ Hoàn toàn có thể gọi là những thay đổi này về đại thể chúng đều trùng với những chính sách do J.M.Keynes đề nghị, hay đúng hơn chúng đều trùng với những tư tưởng của J.M.Keynes".27

Việc áp dụng lý thuyết J.M.Keynes đã mang lại những kết quả tích cực cho nền kinh tế thời kỳ khủng hoảng, suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp cao Với cách nhìn tổng quát về các vấn đề kinh tế, đối lập với các quan điểm kinh tế

cơ bản của trường phái Cổ điển và Tân cổ điển, lý thuyết kinh tế của J.M.Keynes với việc tìm kiếm cơ sở lý luận cho vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước đã mang lại một sự thay đổi lớn trong lịch sử các học thuyết kinh

tế, định hướng cho việc nghiên cứu kinh tế ở tầm vĩ mô Ở góc độ này có thể

27 Erdós Péter và Moknár Ferenc: Infláció és válságok a hetvenes évek amerikai gazdságban (Lạm phát và các cuộc khủng hoảng của nền kinh tế Mỹ những năm 70), tiếng Hungary, Budapest, Kõzgazdaság és Jogi Kõnyvkiadó, 1982, tr 23.

Trang 35

nói J.M.Keynes là nhà cách mạng của lý thuyết kinh tế, người sáng lập kinh

tế vĩ mô hiện đại Nhà kinh tế học người Hungary: Káldor Miklós (1908

-1986) đã viết trong Lý thuyết kinh tế - Chính sách kinh tế: “môn kinh tế học

vĩ mô, J.M.Keynes đã mở ra một khả năng vô hạn trước các tư tưởng mới cảtrong lý thuyết lẫn trong lĩnh vực chính sách”.28

Có thể nói, J.M.Keynes đã có những đóng góp lớn trong lịch sử phát triển của tư tưởng kinh tế: Ông đã vượt qua khỏi những quan điểm truyền thống của trường phái Cổ điển và Tân cổ điển để nhìn nhận vấn đề theo một cách mới, phân tích các phạm trù kinh tế ở tầm “tổng quát”, nghiên cứu nền kinh tế ở tầm vĩ mô Ông là người khởi đầu cho việc chia kinh tếthành hai nhánh: Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô J.M.Keynes đã giải thích được khủng hoảng kinh tế, tìm ra nguyên nhân của khủng hoảng, đưa ra được cách khắc phục nạn thất nghiệp, đưa ra lý thuyết sốnhân đầu tư, đưa ra lý thuyết về quản lý tiền trong hệ thống kinh tế trên

cơ sở phân tích tác động của lãi suất với động cơ đầu cơ, tích lũy tiền29.Trong hoàn cảnh hệ thống kinh tế tư bản thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng trầm trọng, trong điều kiện thế giới trải qua cuộc chiến tranh với những hậu quả tàn khốc nặng nề cả về tinh thần và vật chất, những tư tưởng kinh tế của J.M.Keynes và những giải pháp mà ông đềxuất đã có những đóng góp tích cực và hiệu quả cho việc vực dậy nền kinh tế đang suy sụp, đặc biệt ở Anh và Mỹ Lý thuyết J.M.Keynes đã có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chính sách kinh tế của các chính phủcuối những năm 30 đến những năm 60 thế kỷ XX

Tuy nhiên, lý thuyết của J.M.Keynes còn những hạn chế sau đây: Phương pháp phân tích kinh tế của J.M.Keynes dựa trên cơ sở tâm lýchứ không phải chủ yếu dựa vào sự tác động của các quy luật kinh tếkhách quan

J.M.Keynes không nghiên cứu các tác động kinh tế trong thời hạn dài, nhất là những tác động liên quan đến sự chi trả cho những chi tiêu của

28 Káldor Miklós: Gazdaságelmélet - Gazdaságpolitika (Lý thuyết kinh tế - Chính sách

kinh tế), tiếng Hungary, Budapest, Kõzgazdaság és Jogi Kõnyvkiadó, 1989, tr 97.

29 Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb.

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 430.

Trang 36

Chính phủ Những vấn đề này cùng với quan điểm đối ngược với trường phái Cổ điển của lý thuyết J.M.Keynes đã vấp phải sự phê phán sắc sảo của các nhà kinh tế học theo trường phái Tân cổ điển Nhất là vào những năm 70 khi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa rơi vào tình trạng lạm phát cao,

đi cùng với sự đình trệ thì các chính sách kinh tế dựa trên những nguyên

lý của J.M.Keynes đã không còn phát huy được tác dụng tích cực Việc

áp dụng các chính sách này nhằm kích thích đầu tư và giảm thất nghiệp

đã dẫn tới tình trạng làm tăng lạm phát vốn đang trên đà tăng mạnh Phân tích của J.M.Keynes về mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản mới dừng lại ở những hiện tượng bề ngoài mà chưa đi vào những vấn đề có tính bản chất, chưa tìm được nguyên nhân sâu xa của những mâu thuẫn, khó khăn đó

J.M.Keynes nhận thấy sự cần thiết can thiệp của Nhà nước vào kinh

tế và đưa ra lý thuyết “chủ nghĩa tư bản được điều tiết” Song khi đánh giá cao vai trò kinh tế của Nhà nước, ông lại bỏ qua vai trò điều tiết của

cơ chế thị trường

Mục tiêu bao trùm của lý thuyết “việc làm” của J.M.Keynes là thông qua việc sử dụng các chính sách và công cụ kinh tế của nhà nước chủ động nhằm giải quyết các vấn đề thất nghiệp, duy trì tăng trưởng và điều tiết chu kỳ kinh tế, chống khủng hoảng Song qua thực tế vận dụng lý thuyết này, ngay cả đối với các nước mà nó được đánh giá rất cao như ở Anh và Mỹ, kết quả đạt được không như điều mà họ mong muốn Trong các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, đội quân thất nghiệp và bán thất nghiệp lại tăng lớn Trong một loạt ngành sản xuất quan trọng thường xuyên không sử dụng hết công suất, khủng hoảng kinh tế chu kỳ xảy ra thường xuyên

Khi sử dụng công cụ lãi suất để kích thích đầu tư và góp phần ổn định kinh tế, kết quả cũng không đạt được như dự kiến vì J.M.Keynes chưa tính đến một xu hướng thực tế là việc di chuyển của các luồng tư bản từ nước này sang nước khác Việc nâng lãi suất thu hút thêm đầu tư

tư bản nước ngoài, do đó làm tăng cường thêm đầu tư Ngược lại, việc giảm lãi suất trong thời kỳ suy thoái để kích thích đầu tư gia tăng sản xuất cũng không thực hiện được vì tư bản lại được gửi ra nước ngoài, đến nơi có lãi suất cao Việc phát hành thêm tiền giấy đưa vào lưu thông

Trang 37

không những không xoá được thất nghiệp, ngược lại còn làm cho lạm phát càng trầm trọng hơn Đặc biệt chủ trương tăng đầu tư công cộng, giải quyết việc làm, thậm chí ủng hộ cho việc chạy đua vũ trang, quân sự hoá nền kinh tế cũng không giải quyết được khủng hoảng kinh tế và nạn thất nghiệp Từ đó vào giữa những năm 50 đặc biệt những năm 60 - 70,

sự phê phán trường phái J.M.Keynes trở nên mạnh mẽ hơn Đặc biệt với

sự phục hồi lý thuyết tự do kinh doanh của trường phái Tân cổ điển

6.3 LÝ THUYẾT CỦA TRƯỜNG PHÁI KEYNES Ở MỘT SỐ NƯỚC

Lý thuyết của J.M.Keynes sau khi được công bố (1936) đã được cácnhà kinh tế học tư sản và nhà nước tư bản đánh giá cao Nó được dịch ra nhiều thứ tiếng và được truyền bá rộng rãi không chỉ ở Tây Âu mà ở cảnước Mỹ Các nhà kinh tế Mỹ cho rằng lý thuyết của J.M.Keynes không chỉ cần thiết để chữa chạy cho chủ nghĩa tư bản Tây Âu khỏi ốm yếu mà còn làm “lành mạnh” chủ nghĩa tư bản Mỹ, ở Đức nó đã được dùng làm

cơ sở cho sự điều tiết của nhà nước phát xít Đức

Cũng từ đó lý thuyết của J.M.Keynes được các nhà kinh tế học tư sản

kế thừa và phát triển Dựa trên cơ sở lý thuyết của J.M.Keynes các nhà kinh tế học tiếp tục xây dựng thành trường phái J.M.Keynes Các nhà kinh tế theo trường phái J.M.Keynes phát triển các lý thuyết kinh tế trong điều kiện mới trên cơ sở thừa nhận những luận điểm cơ bản của lý thuyết Keynes Đó là: nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng kinh tế và sự tồn tại của thất nghiệp không tự nguyện là tổng cầu không đủ độ lớn cần thiết

để cân bằng với tổng cung, có nhiều tác động mạnh không mang tính chất tiền tệ bắt nguồn từ kinh tế tư nhân, từ các khuynh hướng tiêu dùng,… tác động đến tổng cầu; tiền lương và giá cả không linh hoạt Sựthay đổi (đặc biệt trong thời kỳ suy thoái) chủ yếu đến từ tổng cầu, kinh

tế tư nhân không ổn định, nguyên nhân là do những lợi nhuận kỳ vọng có thể mong đợi của các khoản đầu tư là không chắc chắn Do đó, cần phải

có chính sách ổn định, khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng Cần phải có sự can thiệp của Nhà nước Một số đại biểu của trường phái Keynes: các nhà kinh tế học người Anh: Roy Harrod (1900 - 1978), Joan Violet Robinson (1903 - 1983), Miklos Káldor (1908 - 1986 - người Anh gốc Hungary); nhà kinh tế học người Ba Lan: Michael Kalecki (1899 -

Trang 38

1970); các nhà kinh tế học người Mỹ: James Tobin (1818 - 2002), Alvin

H Hansen (1887 - 1975) ;30…

Trường phái này bao gồm ba trào lưu: thứ nhất, “trường phái” Keynes cánh hữu, ủng hộ các nhóm tư bản độc quyền, chạy đua vũ trang, quân sự hoá nền kinh tế Thứ hai, “trường phái” Keynes tự do, bảo vệ lợi ích tư bản độc quyền, song không ủng hộ chạy đua vũ trang Thứ ba

“trường phái” Keynes cánh tả, chống lại độc quyền, bảo vệ quyền lợi của tầng lớp tư bản vừa và nhỏ Về sau hai trào lưu đầu kết hợp hình thành nên “những người Keynes chính thống”, còn trào lưu thứ ba tiếp tục được phát triển dưới tên gọi “những người sau Keynes”

Trong một thời gian dài, lý thuyết Keynes đã giữ vị trí thống trị trong

hệ thống tư tưởng kinh tế tư sản, đặc biệt phát triển ở Mỹ và Pháp

6.3.1 Trường phái Keynes ở Mỹ

Các nhà kinh tế học Mỹ đánh giá cao vai trò lý thuyết “việc làm” củaJ.M.Keynes, đồng thời họ còn bổ sung và phát triển lý thuyết đó, đặc biệt

là những nghiên cứu của Alvin Hansen (1887 - 1975), John Maurice Clark (1844 - 1963)

A.Hansen đã đưa ra lý thuyết “sự ngừng trệ” để giải thích nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế Theo ông, khủng hoảng kinh tế chủ yếu là

do các động lực phát triển kinh tế bị yếu đi Có rất nhiều nhân tố tác động tạo nên lực cản làm giảm động lực phát triển kinh tế Tuy vậy có thể chia làm hai nhóm các yếu tố bên ngoài và bên trong

Nhóm các yếu tố bên ngoài có thể trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến động lực phát triển kinh tế nhưng nhìn chung không nằm trong cơcấu của khủng hoảng như: quan hệ giữa thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư Theo A.Hansen và các nhà kinh tế học Mỹ: dân số tăng lên chậm, tiến bộ kỹ thuật chậm, không còn các vùng đất “tự do”, các cuộc chiến tranh, chu kỳ kinh doanh, chính trị liên quan đến các cuộc bầu cử Từ lý thuyết này, họ đưa ra lý thuyết chu kỳ kinh doanh chính trị Theo đó, sau các cuộc bầu cử, các nhà chính trị để 1 đến 2 năm thực hiện chính sách khắc khổ đối với nền kinh tế, nâng mức thất nghiệp, tăng số nhà máy

30 Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb.

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 428.

Trang 39

không hoạt động để làm giảm sức ép của lạm phát Sau đó, khoảng 1 năm trước ngày bầu cử, họ tìm cách kích thích nền kinh tế phát triển lên nhưgiảm thuế, tăng lương, thuyết phục cục dự trữ liên bang Mỹ giữ lãi suất ởmức thấp Do vậy, người dân đến hòm phiếu bầu cử chỉ còn thấy sự phồn thịnh chứ không thấy suy thoái kinh tế…

Những yếu tố bên trong làm suy yếu động lực phát triển kinh tế là nhân tố làm cho tác dụng của số nhân giảm đi cùng với thời gian, sản xuất trì trệ thậm chí suy sụp Yếu tố đó chính là sự “rò rỉ” trong các luồng chi phí hay chi tiêu bởi một bộ phận tiết kiệm tăng mà không được chi tiêu Hiệu quả của số nhân sẽ không còn khi tất cả sự tăng lên ban đầu sức mua hay cầu tiêu dùng dừng lại

Trên cơ sở đó J.M.Clark và A.Hansen kết hợp đưa ra nguyên lý “gia tốc” để bổ sung cho nguyên lý số nhân của J.M.Keynes để hình thành lý thuyết số nhân - gia tốc Nguyên lý “gia tốc” nhằm mục đích mở rộng tác động liên tục của số nhân, thực chất nó là lý thuyết về các nhân tố quyết định đầu tư Nó phản ánh mối quan hệ dường như theo chiều ngược lại của “số nhân” tức là quan hệ giữa tăng sản lượng sẽ làm cho đầu tư tăng lên như thế nào

Để thực hiện cơ cấu số nhân - gia tốc các nhà kinh tế học Mỹ đưa ra các giải pháp: thực hiện rộng rãi đơn đặt hàng của nhà nước, phát triển hệthống mua của nhà nước… để tiếp sức cho kinh tế tư nhân Tuy nhiên muốn thực hiện được các giải pháp này cần phải tăng ngân sách của nhà nước vì vậy họ rất coi trọng đến chính sách tài chính Nhằm tăng nguồn thu ngân sách để bảo đảm các khoản chi phí tăng của nhà nước họ chủtrương thực hiện các biện pháp chủ yếu như:

Thứ nhất, một số người đề nghị phải tăng thuế đối với dân cư Họcho rằng 25 - 30% chưa phải là giới hạn nộp thuế mà nhà nước có thể thu thuế tới 60% tiền lương

Thứ hai, một số khác đề nghị tăng nợ nhà nước Họ coi đây là biện pháp chủ yếu để thu hút vốn cho ngân sách Ở Mỹ, thời kỳ này xuất hiện

lý thuyết mới về "nợ nhà nước" Lý thuyết này khẳng định khả năng tăng lên không ngừng của nợ nhà nước để bù đắp cho sự thâm hụt ngân sách.Nhóm thứ ba chủ trương in thêm tiền đưa vào lưu thông để bù đắp chi phí nhà nước Thực chất họ muốn ủng hộ giải pháp “lạm phát có mức độ”

Trang 40

Các nhà kinh tế học Mỹ cho rằng ngân sách nhà nước là cơ chế chủ yếu để điều chỉnh kinh tế Mỹ Theo đó, bằng cách tăng thuế lợi nhuận cũng như nợ của nhà nước, nhà nước thu được một phần tư bản nhàn rỗi không sinh lợi nhuận để tạm thời bổ sung cho cầu có khả năng thanh toán nói chung, do vậy nó có thể tạm thời làm chậm sự xuất hiện của khủng hoảng kinh tế

Ngân sách nhà nước được các nhà kinh tế học Mỹ đánh giá cao Họ coi ngân sách nhà nước như là “công cụ ổn định bên trong” của nền kinh

tế Họ muốn sử dụng các bộ phận cấu thành thu chi của ngân sách như thuế thu nhập, bảo hiểm xã hội, các khoản trợ cấp xã hội (như trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp của người già, người thương tật…) một cách linh hoạt trong từng thời kỳ của chu kỳ kinh doanh A.Hansen chủ trương tăng thuế trong thời kỳ hưng thịnh và giảm thuế trong thời kỳ khủng hoảng Ngược lại đối với các khoản trợ cấp và bảo hiểm thì cần tăng lên trong thời kỳ khủng hoảng và giảm xuống trong thời kỳ hưng thịnh

Các bộ phận cấu thành trên đây là quan trọng trong ngân sách nhà nước và đời sống kinh tế Tuy vậy, tác dụng của chúng nhằm tạo ra sự cân bằng kinh tế là không lớn Thứ nhất, trợ cấp thất nghiệp chỉ nuôi sống một bộ phận rất nhỏ những người thất nghiệp Thứ hai, mặc dù quỹ trợ cấp thất nghiệp là do doanh nghiệp đóng góp, nhưng thực tế chi phí này lại được tính vào chi phí sản xuất, do vậy làm tăng giá cả hàng hóa Điều đó là giảm cầu có khả năng thanh toán của dân cư Điều này cũng xảy ra với trợ cấp của người già và thương tật Các phương tiện để thực hiện mục đích này được thu từ chính người lao động Thứ ba, vai trò của thuế đối với dân cư, như đã xem xét sẽ làm tăng cầu nhà nước mà giảm cầu tiêu dùng của dân cư Vì vậy, việc làm cho tình hình thị trường tốt hơn chỉ có thể dựa vào thuế lợi nhuận của tư bản Song, điều này lại đụng chạm đến lợi ích của các nhà tư bản độc quyền Vì vậy, công cụ ổn định bên trong không thể ngăn chặn và không thể giảm nhẹ được khủng hoảng Bên cạnh công cụ ổn định bên trong, các nhà kinh tế học còn đưa ra các biện pháp "điều hòa"

Ngoài các công cụ ổn định bên trong và để tiếp sức cho nó các nhà kinh tế học Mỹ còn đưa ra các biện pháp “điều hoà” Đây là phương pháp chủ động điều chỉnh đầu tư tư nhân bằng việc sử dụng linh hoạt chi phí

Ngày đăng: 15/07/2022, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Mai Ngọc Cường (2011), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb. Lý luận chính trị, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các học thuyết kinh tế
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2011
[4]. Phạm Ngọc Linh (2011), Giáo trình kinh tế phát triển, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Phạm Ngọc Linh
Nhà XB: Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2011
[5]. Nguyễn Ngọc Sơn (2012), Giáo trình kinh tế phát triển, Nxb. Tài chính, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn
Nhà XB: Nxb. Tài chính
Năm: 2012
[6]. Đinh Thị Thu Thủy (2003), Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb. Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế
Tác giả: Đinh Thị Thu Thủy
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2003
[8]. A.Smith (1982), Aninquiry into the nature and cause of the wealth of nations, Volume 1. Indianapolis, IN, Mỹ: Liberty Fund Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aninquiry into the nature and cause of the wealth of nations
Tác giả: A.Smith
Năm: 1982
[9]. Daron Acemoglu (2007), Introduction to Modern Economic Growth Department of Economics, Massachusetts Institute of Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction to Modern Economic Growth Department of Economics
Tác giả: Daron Acemoglu
Năm: 2007
[10]. David Ricacdo (1817), On the Principles of political economy and taxation, Batoche Books, Kitchener, Ontario, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: On the Principles of political economy and taxation
[11]. Daron Acemoglu (2007), Introduction to Modern Economic Growth, Department of Economics, Massachusetts Institute of Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction to Modern Economic Growth
Tác giả: Daron Acemoglu
Năm: 2007
[12]. Doktor Ingenieur (2014), Methododology and statistical analysis of sustainable transporation criteria for certificaion systems, Bergische University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Methododology and statistical analysis of sustainable transporation criteria for certificaion systems
Tác giả: Doktor Ingenieur
Năm: 2014
[13]. Gandolfo, Giancarlo (1998), International Trade Theory and Policy: With 12 Tables, Springer, ISBN 3-540-64316-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Trade Theory and Policy: With 12 Tables
Tác giả: Gandolfo, Giancarlo
Năm: 1998
[17]. Pau R. Krugman (2012), International economics: theory and policy, Maurice Obstfeld, 8 th , ISBN - 10: 0-13-214665-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International economics: theory and policy
Tác giả: Pau R. Krugman
Năm: 2012
[18]. Paul A.Samuelson & William D.Nordhaus (1989), Kinh tế học II, Viện Quan hệ quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học II
Tác giả: Paul A.Samuelson & William D.Nordhaus
Năm: 1989
[19]. Richard A. Posner, Theory of economics regulation, The Bell Journal of Economics and Manage Science, Vol.5, No.2. (Autumn, 1974) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Bell Journal of Economics and Manage Science
[20]. Staffan Burentstam Linder, An essay on trade and transformation, Almqlist & Wiksells Boktryckeri AB, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An essay on trade and transformation
[21]. Solow, Robert M. (February 1956), A contribution to the theory of economic growth, Quarterly Journal of Economics (Oxford Journals) 70 (1): 65-94.doi:10.2307/1884513 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quarterly Journal of Economics (Oxford Journals) 70
[23]. Wassily Leontief (1953), Domestic Production and Foreign Trade: the American capital position re-examined, American Philosophical Society, Vol. 97, No. 4 (Sep. 28, 1953) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Domestic Production and Foreign Trade: the American capital position re-examined
Tác giả: Wassily Leontief
Năm: 1953
[24]. Wilfred J. Ethier, Economies of Scale, British Independent Utilities, page.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economies of Scale

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

chủ quan khác. Nhóm này chính là cơ sở hoạt động của mô hình, là đòn bẩy bảo đảm cho sự hoạt động của các tổ chức kinh tế tư bản chủ nghĩa. - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
ch ủ quan khác. Nhóm này chính là cơ sở hoạt động của mô hình, là đòn bẩy bảo đảm cho sự hoạt động của các tổ chức kinh tế tư bản chủ nghĩa (Trang 9)
Bảng 6.1: Xu hướng tiêu dùng và tiết kiệm - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Bảng 6.1 Xu hướng tiêu dùng và tiết kiệm (Trang 18)
Hình 6.2: Vai trò của đầu tư đối với thu nhập - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 6.2 Vai trò của đầu tư đối với thu nhập (Trang 21)
Hình 6.3: Quan hệ giữa hiệu suất biên của vốn và vốn đầu tư - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 6.3 Quan hệ giữa hiệu suất biên của vốn và vốn đầu tư (Trang 24)
Bảng 6.2: Quan hệ giữa vốn đầu tư, lãi suất và hiệu suất biên của vốn Vốn đầu - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Bảng 6.2 Quan hệ giữa vốn đầu tư, lãi suất và hiệu suất biên của vốn Vốn đầu (Trang 26)
Hình 7.1. Đồ thị Laffer - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 7.1. Đồ thị Laffer (Trang 57)
Hình 7.2. Tác động của tiền lương đối với thị trường lao động - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 7.2. Tác động của tiền lương đối với thị trường lao động (Trang 60)
Hình 8.1. Đường giới hạn khả năng sản xuất - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 8.1. Đường giới hạn khả năng sản xuất (Trang 82)
Hình 8.2. Lạm phát do cầu kéo - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 8.2. Lạm phát do cầu kéo (Trang 87)
Hình 8.3. Lạm phát do chi phí đẩy - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 8.3. Lạm phát do chi phí đẩy (Trang 88)
Hình 8.4: Vận động trên thị trường lao động - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 8.4 Vận động trên thị trường lao động (Trang 90)
Theo hình 8.5: Nếu L* là toàn bộ lực lượng lao động, tại mức tiền lương thực tế (w/p), AE là số lao động có việc làm - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
heo hình 8.5: Nếu L* là toàn bộ lực lượng lao động, tại mức tiền lương thực tế (w/p), AE là số lao động có việc làm (Trang 93)
Hình 8.6: Đường Phillips - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 8.6 Đường Phillips (Trang 96)
Hình 9.1. Đường biểu diễn hàm sản xuất của D.Ricardo - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 9.1. Đường biểu diễn hàm sản xuất của D.Ricardo (Trang 101)
Hình 9.2. Đường đồng lượng - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 9.2. Đường đồng lượng (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w