1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri

148 563 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế
Tác giả TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế trình bày tóm tắt các học thuyết kinh tế với nguyên tắc phản ánh trung thực nhất các học thuyết của các nhà kinh tế. Giáo trình kết cấu gồm 9 chương và chia thành 2 phần, phần 1 trình bày những nội dung về: đối tượng và phương pháp nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế; trường phái trọng thương; kinh tế chính trị tư sản cổ điển; kinh tế chính trị học của K.Marx và V.I.Lenin; trường phái Tân cổ điển;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Lịch sử các học thuyết kinh tế là môn học đã và đang được giảng dạy

ở hầu hết các trường đại học và cao đẳng thuộc khối ngành kinh tế quản trị kinh doanh Tại Trường Đại học Thương mại, lịch sử các học thuyết kinh tế đã được giảng dạy từ lâu và cho đến nay cùng với quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo; đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội, sự thay đổi trong kết cấu chương trình và nhu cầu cần có tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập nên việc biên soạn giáo trình trong bối cảnh hiện tại rất cần thiết.

-Để có thêm tài liệu chính thức, thống nhất và phù hợp, được sự đồng

ý của Ban Giám hiệu, chúng tôi biên soạn giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế nhằm giới thiệu những kiến thức cơ bản nhất phục vụ cho

giảng dạy và học tập học phần này tại Trường Đại học Thương mại Về phần nội dung, chúng tôi cố gắng trình bày tóm tắt các học thuyết kinh tế với nguyên tắc phản ánh trung thực nhất các học thuyết của các nhà kinh

tế Về kết cấu, cuốn sách trình bày theo logic phát triển phù hợp với tiến trình phát triển lịch sử các học thuyết kinh tế.

Giáo trình được biên soạn dựa theo chương trình môn học thuộc các ngành, chuyên ngành theo Quyết định số 224/QĐ-ĐHTM ngày 26 tháng

3 năm 2018 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại phê duyệt về việc phân công các học phần thuộc bộ chương trình đào tạo các chuyên ngành trình độ đại học theo hệ thống tín chỉ.

Phân công biên soạn:

TS Vũ Văn Hùng: Chương 1, 2, 6

TS Võ Tá Tri: Chương 3, 4, 5, 7

TS Võ Tá Tri và ThS Lê Thị Anh: Chương 8

TS Hồ Kim Hương: Chương 9

Trong quá trình biên soạn giáo trình, chúng tôi đã tham khảo, kế thừa và vận dụng có chọn lọc nhiều kiến thức của các nhà nghiên cứu,

Trang 4

các giảng viên trong và ngoài nước qua các tài liệu có liên quan đến lịch

sử các học thuyết kinh tế Đồng thời, chúng tôi cũng đã bổ sung nhiều nội dung cụ thể bằng việc cập nhật những kiến thức hiện đại thể hiện qua việc trình bày cô đọng các vấn đề cơ bản của lịch sử các học thuyết kinh

tế nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ các nội dung cơ bản trong đề cương học phần đang được sử dụng tại Trường Đại học Thương mại

Có nhiều cách tiếp cận, kết cấu khác nhau đối với học phần lịch sử các học thuyết kinh tế, song với thời lượng 2 tín chỉ và kết cấu 9 chương, chúng tôi đã cố gắng chọn lọc và hướng vào những nội dung cơ bản nhất của lịch sử các học thuyết kinh tế nhằm phục vụ tốt nhất quá trình giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên Trường Đại học Thương mại Bên cạnh đó, giáo trình cũng gợi mở cho người học những phương pháp

và kỹ năng vận dụng kiến thức và hiểu biết của mình trước hết làm cơ sở cho học tập các môn học cơ sở ngành và chuyên ngành, tiếp đến là phân tích, đánh giá và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống

Trong quá trình biên soạn giáo trình, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của đồng nghiệp trong và ngoài trường Nhân đây, tập thể tác giả bày tỏ lòng cảm ơn tới các nhà khoa học, đồng nghiệp và bạn đọc đã

có những nhận xét, đánh giá, góp ý quý báu giúp chúng tôi hoàn thành giáo trình đảm bảo yêu cầu Mặc dù đã rất cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến nhận xét, góp ý để giáo trình tiếp tục được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện hơn./

Tập thể tác giả

Trang 5

CHƯƠNG 1

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

1.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Để xác định đúng đối tượng nghiên cứu cần phân biệt Tư tưởng kinh

tế và Học thuyết kinh tế Những tư tưởng, quan điểm kinh tế có từ thời cổ

đại, đó là những ý tưởng, quan niệm về một nội dung kinh tế nào đó

trong đời sống xã hội như quan điểm về sản xuất vật chất, về phân phối của cải, về sự giàu có Tư tưởng kinh tế thời cổ đại được hình thành không có hệ thống, thông thường chỉ là một số quan điểm được trình bày rải rác khi các nhà tư tưởng cổ đại nghiên cứu về các vấn đề như triết học,

đạo đức, tôn giáo, giáo dục hay các vấn đề có tính khoa học khác Tư

tưởng kinh tế xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây, gắn với tên tuổi của các nhà khoa học như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Aristote, Platon, Xenophon Tuy nhiên, những tư tưởng kinh tế chưa được trình bày một cách hệ thống và chưa trở thành học thuyết, kinh tế học chưa xuất hiện

Đến giữa thế kỷ XV, với sự ra đời của của chủ nghĩa tư bản, sự xuất

hiện nền dân chủ tư sản và kinh tế thị trường tư bản vừa đặt ra yêu cầu vừa tạo điều kiện cho khoa học nói chung trong đó có kinh tế học ra đời

và phát triển Các quan điểm kinh tế được nghiên cứu và trình bày một cách hệ thống, từ đó các học thuyết kinh tế xuất hiện

Như vậy, lịch sử các học thuyết kinh tế nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của các hệ thống quan

điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế - xã hội

khác nhau

Lịch sử các học thuyết kinh tế nghiên cứu các tư tưởng và quan

điểm kinh tế đã được hình thành thành một hệ thống nhất định So với

Lịch sử tư tưởng kinh tế, phạm vi nghiên cứu của Lịch sử học thuyết kinh tế hẹp hơn, vì nó không nghiên cứu bất cứ tư tưởng kinh tế nào,

Trang 6

mà chỉ nghiên cứu những tư tưởng kinh tế có tính khái quát hoá cao,

đặc trưng cho một xu hướng, khuynh hướng, hay một giai đoạn lịch sử

nào đó của xã hội

Học thuyết kinh tế với bản chất phản ánh sự vận động của các quan

hệ kinh tế vào trong bộ óc con người, nó phụ thuộc vào:

Một là, học thuyết kinh tế phụ thuộc vào đối tượng mà nó phản ánh Các quan hệ kinh tế khách quan được con người nhận thức, tư duy, suy nghĩ, nhằm tìm ra những mối liên hệ nội tại, bên trong của nó Đối tượng của lịch sử các học thuyết kinh tế không phải là những quan hệ kinh tế khách quan mà nó thuộc lĩnh vực tư tưởng, tinh thần, là những kết quả của quá trình nhận thức Sự vận động, phát sinh, phát triển và hoàn thiện của những quan hệ kinh tế khách quan đóng vai trò quyết định sự vận động, phát sinh, phát triển của nhận thức, của các học thuyết kinh tế Những giai đoạn khác nhau của nền kinh tế - xã hội đều sản sinh ra những học thuyết kinh tế khác nhau Ví dụ như quan hệ kinh tế thời cổ

đại đã nảy sinh ra những tư tưởng kinh tế thời cổ đại, những quan hệ kinh

tế thời phong kiến đã nảy sinh ra tư tưởng kinh tế thời trung cổ, sự ra đời chủ nghĩa tư bản đã nảy sinh học thuyết trọng thương Như vậy, lịch sử các học thuyết kinh tế là sự phản ánh quá trình vận động, phát triển của nền sản xuất, của nền kinh tế

Hai là, học thuyết kinh tế là kết quả nhận thức của con người, đại biểu cho một tầng lớp, một nhóm người nhất định trong xã hội Học thuyết kinh tế mang bản chất xã hội của tầng lớp, nhóm người mà nó đại biểu, trước hết nó mang đậm vị thế và lợi ích của tầng lớp hay nhóm người đã sản sinh ra nó, do vậy đã xuất hiện những khuynh hướng, xu hướng các học thuyết kinh tế khác nhau của những nhóm người, tầng lớp khác nhau, hay các trường phái khác nhau Cùng một thời điểm lịch sử, những người có vị thế và lợi ích khác nhau, có nhận thức khác nhau đã dẫn đến hình thành những học thuyết kinh tế khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về một quan hệ kinh tế Sự vận động, phát triển của các học thuyết kinh tế thể hiện thông qua cuộc đấu tranh trong các lĩnh vực nhận thức kinh tế Với tư cách này, lịch sử các học thuyết kinh tế được thể hiện thông qua cuộc đấu tranh trong lĩnh vực nhận thức kinh tế, đấu tranh

tư tưởng của các trường phái trong lĩnh vực nhận thức kinh tế

Trang 7

Ba là, lịch sử các học thuyết kinh tế là kết quả của quá trình nhận thức,

do vậy nó tuân theo các quy luật của quá trình nhận thức Nhận thức từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nông đến sâu, từ ngoài vào trong, từ kinh nghiệm đến quy luật, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện Chẳng hạn, nhận thức của loài người đạt đến một trình độ nào đó mới xuất hiện chữ viết, mới có thể ghi chép lại những kinh nghiệm mà họ đã đúc kết ra từ đời sống thực tiễn Phải phát triển đến mức độ nào đó thì mới khái quát, hệ thống thành các học thuyết kinh tế, nhận thức kinh tế phải đạt đến sự phát triển cao

đến mức nào đó mới có thể phát hiện ra những quy luật kinh tế Do vậy,

không có tư tưởng, học thuyết nào là tuyệt đối, hoàn mỹ và cuối cùng, tất cả chỉ là những nấc thang để nhận thức quy luật khách quan, một tư tưởng, học thuyết chỉ mang tính tương đối, chỉ có tính tuyệt đối trong một điều kiện cụ thể nhất định Với tư cách này, lịch sử các học thuyết kinh tế là lịch sử của quá trình nhận thức những quan hệ kinh tế của loài người, là tư tưởng kinh

tế chung của loài người

Đối tượng nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế là các học thuyết kinh tế của các giai cấp khác nhau trong các giai đoạn phát triển của xã hội loài người

1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1 Cơ sở phương pháp luận

Phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp chủ đạo, xuyên suốt

của Chủ nghĩa Mác - Lênin được sử dụng với nhiều ngành khoa học khác nhau Phương pháp này đòi hỏi khi xem xét các hiện tượng, các quá trình nghiên cứu phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng chứ không bất biến Quá trình phát triển là quá trình tích lũy về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Phương pháp biện chứng duy vật coi nguồn gốc của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Phương pháp này tuân thủ nguyên tắc vật chất quyết định ý thức, vì vậy cũng đòi hỏi khi xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế gắn liền với những điều kiện và hoàn cảnh kinh tế xã hội cụ thể Phương pháp biện chứng duy vật đòi hỏi trong nghiên cứu phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc lịch sử - cụ thể

Trang 8

Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, nghiên cứu học phần lịch sử các học thuyết kinh tế cần phải xem xét quá trình hình thành, xuất hiện, phát triển của các học thuyết kinh tế để thấy được quá trình vận động

và phát triển của chúng Sự phát triển đó phải luôn đặt trong mối quan hệ giữa biện chứng và tác động qua lại giữa các yếu tố

Hệ thống các quan điểm kinh tế là kết quả của việc nghiên cứu, phản ánh hiện thực quan hệ sản xuất vào ý thức con người trong những giai

đoạn lịch sử nhất định Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế đòi hỏi

phải xem xét các vấn đề kinh tế trong mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau của sự phát triển

Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C Mác là thành tựu vĩ đại của tư

tưởng khoa học và thực chất của quan niệm duy vật lịch sử về lịch sử là những vấn đề mang tính nguyên lý Trong sản xuất, con người phải có mối quan hệ với nhau đó là quan hệ sản xuất trên cả ba mặt: sở hữu, quản

lý và phân phối Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định sẽ mâu thuẫn với chính quan hệ sản xuất mà trước đây

đã từng phù hợp với nó Từ chỗ là hình thức phát triển của lực lượng sản

xuất, quan hệ sản xuất đó đã kìm hãm sự phát triển của nó và khi đó một

sự thay đổi lớn tất yếu phải diễn ra

Nguyên tắc chung làm cơ sở phương pháp luận đối với lịch sử các học thuyết kinh tế là nghiên cứu một cách có hệ thống các quan điểm kinh tế, đồng thời đánh giá đúng đóng góp, hạn chế của các nhà kinh tế trong mỗi giai đoạn lịch sử Điều đó đòi hỏi việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế phải tuân thủ một cách triệt để nguyên tắc lịch sử Không nên xem xét các học thuyết, quan điểm kinh tế trong quá khứ bằng tiêu chuẩn hiện tại mà phải đánh giá ý nghĩa của nó căn cứ vào trình

độ phát triển khoa học kinh tế của thời đại đó

1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế, có thể sử dụng nhiều

phương pháp như: phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp logic

- lịch sử, phương pháp thống kê, mô hình,… Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu là các học thuyết kinh tế, một số phương pháp chủ yếu sau:

Trang 9

1.2.2.1 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học

Là phương pháp nghiên cứu đặc thù của lịch sử các học thuyết kinh

tế Phương pháp trừu tượng hoá khoa học đòi hỏi gạt bỏ những yếu tốngẫu nhiên xảy ra trong những quá trình và những hiện tượng được nghiên cứu, tách ra những cái ổn định, điển hình trong những hiện tượng

và quá trình đó, trên cơ sở ấy nắm được bản chất của các hiện tượng, từbản chất cấp một tiến đến bản chất ở trình độ sâu hơn, hình thành những phạm trù và những quy luật phản ánh những bản chất đó

Trong quá trình nghiên cứu, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đôi khi chưa phản ánh đúng bản chất của vấn đề nghiên cứu Do đó, phải sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để giữ lại những yếu tố bản chất trong phân tích quá trình phát triển các học thuyết kinh tế từ đó mới có thể đánh giá đúng bản chất và thấy được xu hướng, quá trình vận động và phát triển của các học thuyết kinh tế

1.2.2.2 Phương pháp logic - lịch sử

Phương pháp logic, theo Ăng ghen, phương pháp logic không phải làcái gì khác phương pháp lịch sử, chỉ có điều là nó thoát khỏi những hình thức lịch sử và những ngẫu nhiên, pha trộn “Lịch sử bắt đầu từ đâu, quá trình tư duy cũng phải bắt đầu từ đó và sự vận động tiếp tục thêm nữa của lịch sử chẳng qua là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thức trừu tượng và nhất quán về mặt lý luận” Sự phản ánh đã được uốn nắn theo những quy luật mà bản thân quá trình lịch sử thực tế đã cung cấp, hơn nữa mỗi nhân tố đều có thể xem xét tại điểm phát triển mà ở đó quá trình đạt tới chỗ hoàn toàn chín muồi, đạt tới cái hình thức cổ điển của nó Phương pháp logic là phương pháp xem xét, nghiên cứu các sự kiện lịch

sử dưới dạng tổng quan, nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu,quy luật vận động của lịch sử Khác với phương pháp lịch sử, phương pháp logic không đi sâu vào toàn bộ diễn biến, những bước quanh co, thụt lùi lịch sử, mà nó bỏ qua những cái ngẫu nhiên có thể xảy ra, nắm lấy bước phát triển tất yếu, nắm lấy cái cốt lõi của sự phát triển, nghĩa là nắm lấy quy luật lịch sử Như vậy, phương pháp logic cũng phản ánh quá trình lịch sử nhưng phản ánh dưới hình thức trừu tượng và khách quan bằng lý luận Có nghĩa là phương pháp logic trình bày sự kiện một

Trang 10

cách khái quát trong mối quan hệ đúng quy luật, loại bỏ những chi tiết không cơ bản Đó là hình thức đặc biệt phản ánh quá trình lịch sử

Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét sự vật, hiện tượng theo

đúng trật tự thời gian như nó đã từng diễn ra trong quá khứ (phát sinh,

phát triển và kết thúc) Đây là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng lịch sử theo một trình tự liên tục và nhiều góc cạnh, nhiều mặt trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác Phương pháp này hướng đến mục tiêu tái hiện trung thực bức tranh quá khứ của sự vật, hiện tượng thể hiện ở mô tả đầy đủ, cụ thể tính chất quanh co, phức tạp, bao gồm những cái ngẫu nhiên, cái tất yếu và tính đa dạng Yêu cầu đối với phương pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện, làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự việc xung quanh Phương pháp lịch sử xem xét rất kỹ các điều kiện xuất hiện và hình thành ra nó, làm rõ quá trình ra đời, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến hoàn thiện của các sự vật, hiện tượng Đồng thời, đặt quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ nhiều sự vật hiện tượng tác động qua lại, thúc đẩy hoặc hỗ trợ lẫn nhau trong suốt quá trình vận động của chúng Phương pháp lịch

sử là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu, vì khi xem xét, đánh giá

sự vật, hiện tượng phải coi trọng các quan điểm lịch sử, các sự vật, hiện tượng tương đồng đã xảy ra trước đó

Vận dụng phương pháp này để nghiên cứu sự hình thành và phát triển các học thuyết kinh tế qua các thời kỳ, giai đoạn gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia Bằng phương pháp này có thể cho ta thấy được bức tranh toàn diện về vấn đề phát triển và thay thế lẫn nhau của các học thuyết kinh tế

Phương pháp logic - lịch sử là phương pháp quan trọng của lịch sử các học thuyết kinh tế vì nghiên cứu các lý thuyết kinh tế phải thực hiện một cách triệt để phương pháp lịch sử Khi nghiên cứu các lý luận kinh tế, còn phải tìm ra nguồn gốc ra đời, những điều kiện phát triển và diệt vong của nó ngay trong cơ sở đời sống kinh tế - xã hội Vì vậy, khi nhìn nhận, đánh giá một học thuyết kinh tế nào, thì cần phải gắn với điều kiện lịch sử cụ thể nhất

định của giai đoạn đó Một quan điểm hay lý thuyết có thể đúng, phù hợp

Trang 11

trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn lịch sử này, nhưng không còn đúng, không phù hợp trong hoàn cảnh khác hay giai đoạn lịch sử khác

1.2.2.3 Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp

Phân tích, trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành đơn giản hơn để nghiên cứu, phát hiện ra những thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và

từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những bộ phận đó Nhiệm vụ của phân tích

là thông qua cái riêng để tìm ra cái chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ biến

Tổng hợp là quá trình ngược lại với quá trình phân tích, nhưng nó lại

hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung và cái khái quát Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thức

đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và

bổ sung cho nhau trong nghiên cứu và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tính quy luật của bản thân sự vật Trong nghiên cứu, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy có ý nghĩa rất quan trọng Phương pháp tổng hợp vai trò quan trọng thuộc về khả năng liên kết các kết quả cụ thể (có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng trừu tượng, khái quát nắm bắt được

định tính từ rất nhiều khía cạnh định lượng khác nhau

1.2.2.4 Phương pháp đối chiếu và so sánh

Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế đòi hỏi phải sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh Sự tồn tại, phát triển của hoạt động thực tiễn và các lý luận kinh tế đều có tính lịch sử trong đó luôn tồn tại sự phê phán của học thuyết kinh tế ra đời trước đó từ đó kế thừa và phát triển học thuyết đó trong điều kiện mới và ứng dụng vào điều kiện kinh tế - xã hội So sánh những điểm giống và khác nhau của các tác giả và trường phái về cùng một vấn đề nghiên cứu giúp chúng ta hiểu rõ sự thay đổi về cách tiếp cận, đối tượng và phương pháp một cách toàn diện hơn

Như vậy, nguyên tắc chung cho các phương pháp nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế là nghiên cứu có hệ thống các quan điểm

Trang 12

kinh tế, đồng thời đánh giá đúng đắn các đóng góp và hạn chế của các nhà lý luận kinh tế trong lịch sử

1.3 CHỨC NĂNG VÀ Ý NGHĨA CỦA MÔN HỌC

1.3.1 Chức năng của lịch sử các học thuyết kinh tế

Lịch sử các học thuyết kinh tế là môn khoa học xã hội, chiếm vị trí quan trọng trong các môn khoa học về kinh tế Lịch sử các học thuyết kinh tế có các chức năng cơ bản:

Chức năng nhận thức: Môn học này trang bị cho người học, người

nghiên cứu những lý luận cơ bản của các học thuyết kinh tế, thấy được lịch sử phát triển của các hệ thống lý luận kinh tế của mỗi giai cấp trong một giai đoạn lịch sử nhất định

Chức năng tư tưởng: Những quan điểm, học thuyết và cách lý giải về

một vấn đề kinh tế - xã hội nào đó đều được đưa ra và bảo vệ đều nhằm hướng tới mục đích duy trì và phục vụ cho lợi ích của một giai cấp, tầng lớp nào đó trong xã hội Tư tưởng gắn liền với lợi ích giai cấp rất sâu sắc, không có tư tưởng phi giai cấp

Chức năng thực tiễn: Việc nghiên cứu các lý thuyết kinh tế nhằm

mục đích vận dụng chúng vào thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Không chỉ dừng lại ở việc tiếp cận một cách đơn giản các quan điểm kinh tế mà còn giúp cho các nhà kinh tế, các chủ thể khác nhau của nền kinh tế có thể vận dụng nhằm phục vụ lợi ích của mình trong hoạt động thực tiễn

Chức năng phương pháp luận: Môn học cung cấp phương pháp luận

và phương pháp nghiên cứu cho người học, từ đó làm nền tảng cho việc tìm hiểu, nghiên cứu để nắm được kiến thức cho các môn khoa học kinh

tế khác như kinh tế chính trị, kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, kinh tế phát triển và các môn học kinh tế ngành khác

1.3.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế

Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế giúp chúng ta hiểu được hoàn cảnh ra đời và đặc điểm (cả về nội dung và phương pháp) của các học thuyết kinh tế; nắm được nội dung cơ bản của các lý thuyết kinh tế;

đánh giá thành tựu, hạn chế của các lý thuyết đó Các học thuyết kinh tế

thị trường trang bị cho chúng ta những kiến thức giúp việc nghiên cứu tốt hơn các môn học Kinh tế chính trị học, Kinh tế vĩ mô, Kinh tế vi mô,

Trang 13

Kinh tế phát triển, Kinh tế phúc lợi, Thương mại quốc tế và các lĩnh vực khác của kinh tế thị trường như tiền tệ và lưu thông tiền tệ, ngân hàng và hoạt động tín dụng… Đồng thời, nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh

tế sẽ giúp cho chúng ta có cơ sở lý luận để xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, hoạch định chủ trương, chính sách kinh tế của Nhà nước Tóm lại, việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn

NỘI DUNG ÔN TẬP

1 Đối tượng nghiên cứu của Lịch sử các học thuyết kinh tế Phânbiệt Lịch sử tư tưởng kinh tế và Lịch sử các học thuyết kinh tế

2 Các phương pháp nghiên cứu Lịch sử các học thuyết kinh tế

3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu Lịch sử các học thuyết kinh tế đối với các sinh viên chuyên ngành kinh tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Mai Ngọc Cường (2005), Lịch sử các học thuyết kinh tế - Cấu

trúc hệ thống, bổ sung, phân tích và nhận định mới, Nxb Lý luận chính trị,

Hà Nội

[2] Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học

thuyết kinh tế, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

[3] Trần Việt Tiến (2016), Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế,

Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

[4] Hà Quý Tình, Trần Hậu Hùng (2008), Giáo trình Lịch sử các học

thuyết kinh tế, Nxb Tài chính, Hà Nội.

[5] Đinh Thị Thu Thủy (2003), Giáo trình Lịch sử các học thuyết

kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội.

Trang 14

CHƯƠNG 2

TRƯỜNG PHÁI TRỌNG THƯƠNG

2.1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI TRƯỜNG PHÁI TRỌNG THƯƠNG

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII ở Tây Âu là thời kỳ tan rã của chế độphong kiến, là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành trong lòng chế độ phong kiến Phản ánh thời kỳ này, có ba trào lưu tưtưởng kinh tế lớn:

Thứ nhất, tư tưởng kinh tế của giai cấp quý tộc, phong kiến nhằm biện hộ và bảo vệ chế độ phong kiến mà cơ sở của nó là nền kinh tế tựnhiên, nó được phản ánh qua thần học, phủ một lớp sơn tôn giáo, trong giai đoạn này nó đã có sự dung hòa giữa tư tưởng kinh tế thời phong kiến với sự phát triển mạnh của sản xuất

Thứ hai, trào lưu không tưởng xã hội Những tư tưởng về xã hội không tưởng đã xuất hiện từ thời cổ đại, nó phản ánh đời sống cùng cực của các giai cấp bị áp bức bóc lột, niềm khao khát mong muốn một xã hội công bằng, vì vậy nó tồn tại cùng với xã hội có giai cấp đối kháng Song, giai đoạn này chế độ phong kiến rất hà khắc, các giai cấp bị bóc lột sống cùng cực, không những phương thức sản xuất cũ đang dần bị thay thế mà phương thức sản xuất mới đang dần hình thành, phát sinh Vì vậy, trào lưu này trở thành một trào lưu lớn bên cạnh những trào lưu tư tưởng kinh tế khác

Thứ ba, khuynh hướng tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất, nhận thức được những điều kiện của quá trình phát sinh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ phong kiến - đó là trào lưu tưtưởng kinh tế của giai cấp tư sản và hình thức đầu tiên của nó là chủnghĩa trọng thương1

Trường phái Trọng thương là hệ thống tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, xuất hiện trong thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang

1 Đinh Thị Thu Thủy (2003), Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb Thống kê,

Hà Nội, tr 8.

Trang 15

phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Về mặt lịch sử nó xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XV Chủ nghĩa trọng thương ra đời trong hoàn cảnh:

- Ở Tây Âu là thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến, là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành Lúc này, phương thức sản xuất phong kiến đã tỏ ra lỗi thời, không còn thích hợp, đã kìm hãm

sự phát triển của sản xuất

Về mặt lịch sử, đây là thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản, tức là tước đoạt những người sản xuất nhỏ, tập trung tư liệu sản xuất

và sức lao động Quá trình đó được thể hiện ra là quá trình tập trung tiền

tệ, vì vậy người ta cho rằng của cải là tiền tệ, mà tiền tệ được biểu hiện rõ trong lưu thông hàng hóa, cho nên chính vì coi trọng tiền tệ mà trường phái trọng thương trong lý thuyết của mình quá coi trọng thương nghiệp Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nảy sinh từ trong lòng phương thức sản xuất phong kiến nhưng nó chỉ thực sự xuất hiện khi có đủ hai

điều kiện sau:

Một là, phải tập trung một khối lượng tiền tệ tương đối lớn vào trong tay một số người, lượng tiền này đủ để bảo đảm cho họ mua tư liệu sản xuất xây dựng xí nghiệp và thuê mướn nhân công

Hai là, phải có những người tự do nhưng không có tư liệu sản xuất, buộc phải mang sức lao động của mình ra bán để kiếm sống

Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, sự tác động tự phát của quy luật giá trị đã làm phân hoá những người sản xuất hàng hoá Một số người phát tài giàu lên nhanh chóng, họ đầu tư mở rộng sản xuất, thuê mướn nhân công và trở thành ông chủ tư bản Những người khác không gặp may mắn bị vỡ nợ, phá sản trở thành lao động làm thuê

Sự tác động phân hoá này của quy luật giá trị diễn ra chậm chạp, để tạo ra những điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản mà chỉ dựa vào tác dụng này của quy luật giá trị thì phải mất một thời kỳ lâu dài Vì vậy, trong lịch sử của mình, giai cấp tư sản đã đẩy mạnh quá trình này bằng tích luỹ nguyên thuỷ Đó là sự tích luỹ ban đầu của tư bản, nó được thực hiện bằng bạo lực tước đoạt hàng loạt những người sản xuất nhỏ, nhất là nông dân Việc tước đoạt tư liệu sản xuất của người sản xuất nhỏ và ruộng đất của nông dân, một mặt tập trung tư liệu sản xuất vào tay các nhà tư bản, mặt khác biến những người sản xuất nhỏ, những người nông

Trang 16

dân trở thành lao động làm thuê Điển hình của quá trình này là ở nước Anh, giai cấp tư sản dựa vào nhà nước phong kiến dùng bạo lực đuổi nông dân ra khỏi đất đai của họ, biến đồng ruộng thành bãi chăn cừu

Đồng thời ban hành các đạo luật hà khắc để buộc những người nông dân

bị mất đất phải vào làm thuê trong các xí nghiệp tư bản Tích luỹ nguyên thuỷ còn được thực hiện bằng việc đi chinh phục và bóc lột thuộc địa, buôn bán nô lệ da đen từ châu Phi đến các vùng đất mới ở châu Mỹ, thực hiện thương mại không bình đẳng, v.v Việc sử dụng các biện pháp bằng sức mạnh bạo lực nói trên đã nhanh chóng tạo ra hai điều kiện cần thiết

và do đó đẩy nhanh quá trình chuyển hoá từ phương thức sản xuất phong kiến sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Sản xuất hàng hóa giản đơn đang chuyển mạnh sang kinh tế thị trường Phân công lao động xã hội đã phát triển mạnh mẽ, đã tạo ra mối liên hệ ngày càng mật thiết giữa các vùng, các miền lãnh thổ, giữa các quốc gia Sự phát triển của sản xuất hàng hoá đã đòi hỏi phải có thị trường tương ứng Do vậy quan hệ trao đổi hàng hoá đã trở thành thường xuyên ổn định, vững chắc Trong điều kiện đó, thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương, đóng vai trò quan trọng trong việc làm giàu của giai cấp tư sản - một giai cấp mới đang dần hình thành Sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm xuất hiện hệ thống kinh tế thế giới

- Một loạt những phát kiến về địa lý ở thế kỷ XV: Mở đầu từ việc Vatco de Gama vòng qua châu Phi tìm đường biển thông Tây Âu sang

Ấn Độ, tiếp đó Critxtop-Colombo đã phát hiện ra châu Mỹ, giúp cho

người châu Âu có cơ hội tiến vào châu Mỹ Việc phát hiện ra những mỏ vàng ở châu Mỹ (chủ yếu là Mehico và Peru) làm cho mậu dịch thế giới phát triển mạnh mẽ, giúp các nước Tây Âu những khả năng lớn để làm giàu Hoạt động chuyển vàng từ châu Mỹ sang châu Âu, việc cướp bóc vùng Đông Âu và các dân tộc ở châu Á, châu Mỹ và châu Phi, biến người bản xứ thành nô lệ, việc buôn bán người da đen, chiến tranh cướp bóc thuộc địa và chiến tranh thương mại đã thúc đẩy thương nghiệp thế giới phát triển mạnh mẽ Từ chỗ thương nghiệp chỉ đóng vai trò môi giới giữa những người sản xuất nhỏ, thì sự phát triển mới của sản xuất hàng hoá đã tạo ra ưu thế cho thương nghiệp, thương nghiệp chi phối công nghiệp và

Trang 17

nông nghiệp Người ta thu được những món lời lớn do cướp bóc thuộc

địa và thương mại

Để thúc đẩy phát triển chủ nghĩa tư bản, phát triển kinh tế thị trường đòi

hỏi phải có nhiều vốn, trong điều kiện sản xuất chưa phát triển nên khả năng tích lũy từ sản xuất hạn chế, nên người ta buộc phải hướng vào thương nghiệp (thương mại) Để giải quyết những vấn đề cấp bách trong sự phát triển kinh tế, đáp ứng mục đích làm giàu bằng hoạt động thương mại của giai cấp tư sản đang hình thành và có thế lực ngày càng lớn, những nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đã kịp thời khái quát kinh nghiệm và đề ra cương lĩnh có tính lý luận Như vậy, trường phái Trọng thương xuất hiện

Trong bối cảnh đó, hoạt động thương mại - đặc biệt là ngoại thương

đã trở thành ngành được đề cao nhất trong hoạt động kinh tế của các

quốc gia

2.2 QUAN ĐIỂM KINH TẾ CƠ BẢN CỦA TRƯỜNG PHÁI TRỌNG THƯƠNG

2.2.1 Quan điểm về của cải

Tư tưởng xuất phát của trường phái Trọng thương là sùng bái tiền tệ,

đồng nhất tiền tệ với của cải, coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải,

quốc gia càng nhiều tiền càng giàu Những chuyển biến trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội Tây Âu thời kỳ này đã tác động và tạo ra cơ sở khách quan cho các tư tưởng trọng thương, mà bắt đầu từ những tư tưởng

về của cải Các nhà trọng thương ban đầu phải xác định được của cải là gì? sinh ra ở đâu và từ đó mới tìm cách tăng nguồn của cải này lên Trước đây, các nhà tư tưởng Cổ đại coi các tư liệu sinh hoạt (những giá trị sử dụng cụ thể) là của cải và sự giàu hay nghèo đều được xác định bằng sự sung túc hay thiếu thốn về tư liệu sinh hoạt Còn các nhà triết gia kinh viện Trung cổ thì mải mê tìm kiếm sự công bằng xã hội thông qua những lời giáo huấn luân lý đạo đức mang đậm màu sắc kinh thánh Đối với các nhà trọng thương, cách nhìn nhận hiện thực về của cải như vậy đã trở thành xuất phát điểm để các nhà trọng thương xây dựng toàn bộ hệ thống lý thuyết của mình và tạo nên học thuyết kinh tế đầu tiên trong lịch

sử các học thuyết kinh tế

Trang 18

Lý do đầu tiên khiến cho các nhà trọng thương để cao tiền tệ được xuất phát từ thực tế phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền sản xuất hàng hóa Tây Âu thời điểm đó Trong kinh tế tự nhiên với bản chất là tự cung

tự cấp, đại bộ phận sản phẩm làm ra để phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng cá nhân, nhu cầu về các giá trị sử dụng cụ thể Các sản phẩm này không mang hình thái hàng hóa Chúng không phải tạo ra để mua bán, trao đổi Khi kinh tế hàng hóa xuất hiện và phát triển ở mức độ cao, thị trường phát triển Khi vị trí của trao đổi được khẳng định trên thực tế thì tiền tệ với tư cách là hình thái nổi bật nhất của giá trị, cũng được nhấn mạnh Nền sản xuất hàng hóa càng phát triển thì sức mạnh của giá trị trao

đổi càng được củng cố, tiền tệ càng hoàn thiện các chức năng của nó và được thần thánh hóa như là tiêu chuẩn căn bản của của cải theo quan điểm của các nhà trọng thương

Bên cạnh đó, căn nguyên dẫn đến việc tiền tệ được đề cao là tiêu chuẩn căn bản của của cải còn xuất phát từ đặc điểm của quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản, quá trình này được biểu hiện ra thực tế là quá trình tập trung tiền tệ Việc khai thác vàng và bạc từ những vùng đất mới đã củng cố vững chắc vị thế của vàng và bạc trong đời sống hiện thực của các nước Tây Âu (người ta ước tính lượng vàng đã tăng lên gấp 3 lần, lượng bạc tăng lên gấp 12 lần những gì Tây Âu có được trước

đó) Điều này làm cho những đặc quyền của tầng lớp quý tộc phong kiến

mất hết ý nghĩa thực tiễn Sự bành trướng này của tư bản khiến cho vàng, bạc một lần nữa được lý tưởng hóa trong nhận thức và đời sống hiện thực Các nhà trọng thương đã quan niệm tiền tệ là của cải, thực tế họ đã

đánh đồng của cải của một dân tộc với lượng kim loại quý dự trữ ở trong

nước Như vậy, tiền tệ theo cách hiểu của các nhà trọng thương được thể hiện dưới dạng của các kim loại quý như vàng, bạc (tiền kim loại) Của cải được xem xét dưới dạng của cải cải của quốc gia, dân tộc, quan tâm

đến sự giàu có của quốc gia, chứ không phải cá nhân Họ cho rằng, mức

độ hoạt động của một nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào khối lượng và

tốc độ lưu thông của tiền tệ Sự tăng lên của khối lượng tiền tệ sẽ dẫn đến

sự tăng lên trong mức sản lượng thực tế Khi khẳng định vai trò rất quan trọng của tiền tệ như vậy và bàn sâu hơn về phương thức làm tăng khối lượng tiền tệ ở mỗi quốc gia, các nhà trọng thương đã phát triển hệ thống

Trang 19

lý luận về thương mại, đặc biệt là ngoại thương Đến giai đoạn sau, các nhà trọng thương cũng đã ít nhiều cảm nhận được rằng, khối lượng tiền

tệ dự trữ của một nước nhiều hay ít sẽ chẳng đem lại kết quả nào quan trọng sau khi mức giá đã được điều chỉnh theo số lượng tiền tệ Nhìn chung, các nhà trọng thương còn hiểu đơn giản về khả năng ảnh hưởng của những thay đổi trong khối lượng tiền tệ đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung2

2.2.2 Quan điểm về thương mại

Khi đã xác định tiền tệ là tiêu chuẩn căn bản của của cải, các nhà trọngthương đã đi sâu tìm kiếm nguồn gốc sinh ra của cải và phương thức làm tăng khối lượng tiền tệ Xuất phát từ đây, các quan niệm về thương mại hình thành Tập trung phát triển hệ thống lý luận về thương mại là điểm đặc thù nhất của trường phái Trọng thương Họ là những người đề cao vai trò của tiền tệ và tích lũy tiền Nhưng do tiền tệ được biểu hiện rõ nhất ở trong lưu thông, trong thương mại Nên họ cho rằng chỉ có thương mại mới là nguồn gốc tạo ra của cải và khả năng tăng trưởng của một nền kinh tế chỉ có thể có được thông qua hoạt động thương mại Theo trường phái Trọng thương, thương mại là hòn đá thử vàng đối với sự phồn vinh của một quốc gia, ngoài thương mại ra thì không có một phép lạ nào khác có thể tạo ra của cải Ai làm chủ được nền thương mại quốc tế thì người đó làm trọng tài cho chiến tranh và hòa bình Với quan niệm như vậy, các nhà trọng thương đã đưa lĩnh vực thương mại hay rộng hơn là lĩnh vực lưu thông trở thành đối tượng nghiên cứu trực tiếp của mình Để tích lũy của cải, tích lũy tiền thông qua hoạt động thương mại, các nhà trọng thương đã tập trung đưa ra hàng loạt các chính sách điều tiết lưu thông, hướng tới xây dựng một bảng cân đối thương mại xuất siêu hay còn

được gọi là cán cân thương mại thuận lợi Trên thực tế, các nhà trọng thương

ban đầu chỉ chú ý tới việc điều tiết lưu thông tiền tệ nhằm giữ khối lượng tiền

tệ có ở trong nước Nhưng về sau họ đã tập trung điều tiết cả lưu thông hàng hóa nhằm gia tăng chứ không chỉ giữ nguyên khối lượng tiền tệ trong nước

Để tạo ra cán cân thương mại thuận lợi, tức là cán cân có thể đem nhiều tiền tệ

về cho đất nước, các nhà trọng thương đã khuyến khích xuất khẩu nhiều hơn

2 Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb.

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 65-66.

Trang 20

nhập khẩu (xuất siêu) Về vấn đề này, các nhà trọng thương rất khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu thô giá rẻ sau đó đưa vào chế biến và xuất khẩu thành phẩm Trên thực tế các nhà trọng thương không hề quan tâm đến cơ sở hoạt

động của hoạt động thương mại giữa các quốc gia, nhất là cơ sở khác biệt về

lợi thế giữa các quốc gia này3

Hộp 2.1

Có lẽ tóm tắt súc tích nhất các nguyên tắc chủ nghĩa trọng thương là

do Philip Wilhelm Von Hornick cung cấp Ông là một luật sư người Áo

ấn hành tuyên ngôn chủ nghĩa trọng thương năm 1684 Bản kế hoạch của

Von Hornick về địa vị quốc gia nghe có vẻ là chủ đề độc lập và kho báu Chính nguyên tắc kinh tế quốc gia quan trọng theo ông gồm:

1 - Mỗi tấc đất trong nước phải sử dụng cho nông nghiệp, khai khoáng hay sản xuất công nghiệp;

2 - Mọi nguyên liệu thô phát hiện trong nước đề sử dụng để sản xuất trong nước, vì hàng thành phẩm có giá trị cao hơn nguyên liệu thô;

3 - Khuyến khích có nhiều người trong độ tuổi lao động;

4 - Cấm đoán xuất khẩu vàng, bạc và tất cả tiền tệ trong nước phải

đem ra lưu thông;

5 - Nơi nào bắt buộc phải nhập khẩu thì phải nhập khẩu trước đểtrao đổi hàng hóa trong nước thay vì trao đổi vàng, bạc;

6 - Hàng nhập có thể giới hạn ở nguyên liệu thô để sản xuất hàngthành phẩm trong nước, càng nhiều càng tốt;

7 - Phải luôn tìm kiếm cơ hội để bán sản phẩm thặng dư trongnước ra nước ngoài, càng xa càng tốt, để đổi lấy vàng, bạc

8 - Không được phép nhập khẩu nếu hàng hóa đó đã có đủ và trongnước có thể cung cấp

Nguồn: Robert Burton Ekelund, jr và Robert Fry Hébert (2004), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr 48-49

Theo các nhà trọng thương, để có tích luỹ tiền tệ phải thông qua hoạt

động thương mại mà trước hết là ngoại thương Trường phái này khẳng

3 Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb.

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 67.

Trang 21

định “nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm Muốn

tăng của cải phải có ngoại thương nhập dần của cải qua nội thương” Họ

đặt nhiệm vụ của ngoại thương là xuất siêu, vì chỉ có như vậy thì mới đạt được mục đích của hoạt động kinh tế, mới làm tăng thêm khối lượng tiền

tệ của một nước Những người trọng thương cũng coi trọng thị trường dân tộc, theo họ trên cơ sở hình thành và phát triển thị trường dân tộc, mới dần mở ra thị trường thế giới Chính vì vậy, chủ nghĩa Trọng thương còn được biết đến là kinh tế học của chủ nghĩa dân tộc

Trên thực tế, các nhà trọng thương không hề quan tâm đến cơ sở tồn tại của hoạt động thương mại giữa các quốc gia, nhất là cơ sở khác biệt

về lợi thế giữa các quốc gia này Theo các nhà trọng thương, việc tích lũy tiền tệ thông qua thương mại là kết quả của quá trình trao đổi không ngang giá Lợi nhuận thương mại do mua rẻ bán đắt Tiếp tục phát triển cán cân thương mại thuận lợi, các nhà trọng thương đã khẳng định chỉ có cán cân thương mại tổng thể đối với tất cả các quốc gia mới có ý nghĩa quan trọng Theo cách hiểu này, một nước có thể chấp nhận một cán cân thương mại không thuận lợi với một số nước nào đấy (nước Anh có cán cân thương mại không thuận lợi với Ấn Độ do nhập khẩu quá nhiều nguyên liệu thô giá rẻ), nhưng sự thâm hụt này sẽ được bù đắp bởi cán cân thương mại thuận lợi đối với các nước khác để xét về tổng thể nước này vẫn có một cán cân thương mại thặng dư

Từ tư tưởng trên, các nhà trọng thương cho rằng, thương mại là ngành duy nhất tạo ra của cải, các ngành còn lại là phi sản xuất (trừ ngành khải thác vàng, bạc) Nhưng nhìn tổng thể, các nhà trọng thương không hề phủ nhận hoàn toàn vai trò của các ngành sản xuất như công nghiệp bởi vì các ngành này cung cấp sản phẩm hàng hóa làm cơ sở cho

sự tồn tại và phát triển của hoạt động thương mại, là phương tiện phục vụ thương mại

2.2.3 Quan điểm về vai trò kinh tế của nhà nước

Các nhà trọng thương đã đề cao vai trò của nhà nước đối với kinh tế, coi nhà nước là một công cụ vạn năng để gia tăng của cải quốc gia Quan niệm này được nảy sinh từ một thực tế là các nhà trọng thương lúc này còn chưa biết đến các quy luật kinh tế, tức là còn xa lạ với cơ chế, động lực bên trong đã chi phối, dẫn dắt các hoạt động, các quá trình kinh tế

Trang 22

hiện thực Vì vậy, để điều tiết các hoạt động kinh tế, các nhà trọng thương phải sử dụng một sức mạnh khác là nhà nước Mặt khác, khi chủ nghĩa tư bản bắt đầu hình thành trong khuôn khổ của chế độ phong kiến, tầng lớp các nhà tư bản - thương mại mới nảy sinh, còn non nớt tất yếu phải lợi dụng sức mạnh của nhà nước để bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình Vì vậy, nhà nước có một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế Tây Âu giai đoạn này Về bản chất, dưới ảnh hưởng của những tiến bộ về vật lý, quan điểm đánh giá, nhìn nhận các hiện tượng tự nhiên, xã hội trong đó bao gồm các hiện tượng kinh tế có một sự chuyển đổi đáng kể Nhiều nhà trọng thương đã nhận thấy mối liên hệ chặt chẽ có tính chất nhân quả trong nền kinh tế Họ cho rằng nếu có thể hiểu được các mối liên hệ này, người ta có thể đưa ra các hình thức để nhà nước kiểm soát can thiệp nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế đã định So với những nguyên lý điều tiết nền kinh tế mang màu sắc thần học như ý Chúa hay mệnh trời của các triết gia kinh viện thời trung cổ, sự can thiệp của nhà nước Tây Âu giai đoạn này là một bước tiến quan trọng trong tư duy nhận thức Về phương diện thực tiễn, nhà nước Tây Âu thực sự đã có một vị trí rất lớn trong đời sống kinh tế Các nhà trọng thương đã đề xuất hàng loạt các chính sách kinh tế cho nhà nước nhằm góp phần tạo ra các

đặc quyền, nhất là độc quyền ngoại thương Trong thời kỳ này, họ đã

khuyến khích nhà nước sử dụng khá phổ biến các biện pháp thuế quan và phi thuế qua như quy định hạn ngạch, trợ cấp, giấy phép kinh doanh, cấp bằng sáng chế hay quy định tiêu chuẩn kỹ thuật Nhờ đó các đặc quyền

độc quyền kinh doanh hợp pháp đã được tạo ra và trao vào tay tầng lớp

các thương nhân (điển hình là công ty Đông Ấn) Như vậy, thông qua sức mạnh chính trị của nhà nước, thông qua sự bảo hộ của nhà nước, các thương nhân đã khai thác và duy trì được lợi nhuận độc quyền của mình Tuy nhiên, các nhà trọng thương cũng đã ít nhiều cảm nhận được rằng

ảnh hưởng bất lợi khi nhà nước can thiệp quá sâu vào nền kinh tế Họ cho

rằng, sự can thiệp của nhà nước không được bừa bãi và cũng không được làm phức tạp thêm các lý thuyết kinh tế cơ bản Nhà nước cũng không thể thay đổi bản chất cơ bản của con người mà phải chấp nhận nó như là một sự thật có trước để điều chỉnh theo chiều hướng làm tăng của cải dân tộc Khi các biện pháp can thiệp của nhà nước tỏ ra bất hợp lý, các thương nhân trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận sẽ tìm cách gạt bỏ những

Trang 23

can thiệp vô lý này bằng mọi cách có thể Họ sẽ theo đuổi cách có lợi nhất vì mục tiêu lợi nhuận Những quan điểm này cho thấy dấu hiệu bắt

đầu lung lay trong tư tưởng của các nhà trọng thương và thay thế vào đó

là một hệ thống lý luận mới tự do kinh tế đang dần được hình thành một cách rõ nét hơn

Như vậy, thông qua các đặc trưng và các quan điểm kinh tế chủ yếu của thuyết trọng thương có thể khẳng định: đối tượng nghiên cứu của học thuyết kinh tế trọng thương là lĩnh vực lưu thông, mua bán, trao đổi

2.3 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG PHÁI TRỌNG THƯƠNG

Trường phái Trọng thương xuất hiện vào giữa thế kỷ XV, tồn tại và phát triển cho đến cuối thế kỷ XVII Trong khoảng hai thế kỷ phát triển trường phái Trọng thương trải qua hai giai đoạn chính Ở tất cả các giai

đoạn đều cho rằng nhiệm vụ kinh tế của mỗi nước là phải làm giàu, phải

tìm ra nguồn của cải và phương thức làm tăng nguồn của cải đó Tuy nhiên, mỗi một giai đoạn lịch sử do có những đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau nên chủ nghĩa Trọng thương cũng có những nội dung riêng

2.3.1 Giai đoạn từ đầu thế kỷ thứ XV đến giữa thế kỷ XVI

Đây là giai đoạn sơ kỳ của trường phái Trọng thương Ở giai đoạn

này, các đại biểu trọng thương nổi tiếng có William Staford (Anh), G.Skareppa và Serra (Ý)…Tư tưởng trung tâm của các tác phẩm kinh tế

là “Bảng cân đối tiền tệ”, với các nội dung chính:

- Các nhà trọng thương giai đoạn này đồng nhất của cải với tiền tệ nói chung, bất kỳ tiền tệ nào được tích lũy lại đều là của cải cho dù đó là tiền thu được nhờ buôn bán, hay cướp bóc được, khai thác được từ các nước Họ chưa hiểu quan hệ giữa lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ,

họ đã đưa ra cương lĩnh coi trọng cán cân thanh toán tiền tệ (còn gọi là chủ nghĩa trọng tiền)

- Những biện pháp được trường phái Trọng thương chủ trương áp dụng là: Các nhà Trọng thương yêu cầu cấm xuất khẩu tiền (vàng và bạc), phải tích luỹ tiền, hạn chế việc nhập khẩu hàng hoá để giữ vững khối lượng tiền trong nước, yêu cầu nhà nước phải tích cực điều tiết lưu thông

Trang 24

tiền tệ, phải lập hàng rào thuế quan cao, quản lý chặt chẽ hoạt động ngoại thương (đặc biệt là nhập khẩu), giảm lợi tức, giám sát chặt chẽ các thương nhân nước ngoài, v.v… Nhận xét về trường phái Trọng thương giai đoạn này: Friedrich Engels nhận xét: “Các dân tộc chống đối nhau như những kẻ bủn xỉn, hai tay ôm giữ túi tiền quý báu, nhìn sang người láng giềng bằng con mắt ghen tị, đa nghi”

Hộp 2.2

Một trong những mục tiêu lý tưởng hóa của thương mại và sản xuất là phải tăng thêm của cải bằng sự tích trữ vàng khối nhiều hơn Tiêu dùng nội địa và công nghiệp được thúc đẩy bằng cách khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu thô và khuyến khích xuất khẩu thành phẩm Trên mức độ vĩ mô, người ta mong muốn thặng dư hàng xuất khẩu nhiều hơn hàng nhập khẩu (cán cân thương mại thuận lợi) vì cán cân phải được chuyển thành vàng Tất cả điều này nghe có vẻ hợp lý nếu trường phái Trọng thương duy lý hóa những thuận lợi so sánh có

từ trước trong các quốc gia thương mại, nhưng sự thật làm nản lòng là phần đông những người này không có vẻ hiểu tổng sản lượng gia tăng

có thể đến từ sự chuyên môn hóa và thương mại Nhiều tác giả trọng thương xem thương mại và sự tích lũy vàng khối như một trò chơi zero, nơi mà một quốc gia có ít hơn các quốc gia khác Căn cứ vào những mục đích này, sự bảo vệ và “xin ăn người hàng xóm” là những chính sách hấp dẫn và nhiều người Trọng thương nghĩ là tạo ra sự gia tăng của cải theo ý muốn Gia tăng của cải đến lượt nó đẩy mạnh mục

đích chung của nhà nước - quốc gia

Nguồn: Robert Burton Ekelund, jr và Robert Fry Hébert (2004), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr 51

Như vậy, ở giai đoạn đầu, các nhà trọng thương ủng hộ tuyệt đối sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế Những biện pháp của họ

đều mượn bàn tay của nhà nước để thực hiện, và đều là những biện

pháp hành chính nhằm tăng cường tích lũy tiền và giữ khối lượng tiền

tệ trong nước

Trang 25

2.3.2 Giai đoạn từ giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII

Đây là giai đoạn trường phái Trọng thương thật sự hình thành (theo

cách gọi của K.Marx) Lúc này, do sự phát triển mạnh của sản xuất hàng hoá, hoạt động trao đổi phát triển mạnh trên các thị trường dân tộc và thị trường thế giới, học thuyết tiền tệ không còn phù hợp nên được thay thế bằng học thuyết trọng thương Thuyết trọng thương ở giai đoạn này có các đại biểu nổi tiếng như Antoine Montchrestien (1575-1622) và Jean Batiste Colbert (1618-1683) người Pháp; Thomas Mun (1571-1641) người Anh…Tư tưởng trung tâm của các tác phẩm kinh tế là “Bảng cân

đối thương mại” Nội dung cơ bản là:

- Các nhà trọng thương lúc đó đã hiểu của cải không phải là tiền nói chung mà là tiền thu được do bán số sản phẩm dư thừa được sản xuất ra thông qua ngoại thương sau khi đã thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước đó Các nhà trọng thương lúc này không chỉ chú trọng đến lưu thông tiền tệ mà còn chú trọng đến cả lưu thông hàng hoá Họ đã hiểu, việc tăng thêm lượng tiền tệ trong nước không dừng lại ở lưu thông tiền

tệ, trong buôn bán thương mại phải đảm bảo xuất siêu để có chênh lệch, tăng tiền tích luỹ cho ngân khố quốc gia Từ giữa thế kỷ XVI, sau khi tích lũy được số vốn nhất định, các nước tư bản đã đầu tư nhiều hơn vào sản xuất, thêm nữa các nguồn dự trữ vàng bạc ở nhiều nước (nhất là nước Mỹ) đang dần khan hiếm nên các nhà trọng thương buộc phải điều chỉnh quan điểm về của cải và tìm con đường khác để tích lũy tiền

- Học thuyết trọng thương đã đưa ra một loạt các biện pháp mới thay thế cho các biện pháp trước đó như: phát triển nội thương không hạn chế,

mở rộng xuất khẩu, tán thành nhập khẩu hàng hoá nước ngoài với quy

mô lớn, tự do lưu thông tiền tệ, lên án việc tích trữ tiền, không cấm xuất khẩu tiền (vàng và bạc), khuyến khích phát triển công nghiệp chế tạo các sản phẩm xuất khẩu, thực hiện thương mại trung gian, cấm xuất khẩu nguyên liệu chỉ được phép xuất khẩu thành phẩm…

- Nguyên tắc nổi tiếng ở giai đoạn này là: bán nhiều, mua ít, có như vậy tiền tự nó sẽ chảy vào trong nước mà không cần đến các biện pháp hành chính của nhà nước

- Ở giai đoạn hai, trường phái Trọng thương vẫn tiếp tục khẳng định

sự cần thiết phải can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế, nhưng lúc

Trang 26

này các biện pháp kinh tế đã được thay thế cho các biện pháp hành chính trước kia.

Qua hai giai đoạn phát triển của trường phái Trọng thương có thểthấy rằng những quan điểm, những biện pháp mà thuyết trọng thương

đưa ra có ý nghĩa rất lớn đối với việc tăng cường khối lượng tiền tệ cho

các nước (nhất là các nước Tây Âu), có tác dụng đẩy mạnh sản xuất và trao đổi hàng hoá, nó đáp ứng được đòi hỏi khách quan của nền sản xuất

đang phát triển, thương nghiệp đang được mở mang của chủ nghĩa tư bản

Học thuyết trọng thương đã đoạn tuyệt với những tư tưởng cổ truyền

được sinh ra trên cơ sở kinh tế tự nhiên, nó ca ngợi các thương nhân, đã đặt vấn đề về lợi nhuận và đứng trên lĩnh vực lưu thông để giải quyết các

vấn đề đó

Sau đó, từ giữa thế kỷ XVII trở đi, trường phái trọng thương bước vào thời kỳ tan rã do sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa nhất là trong lĩnh vực công nghiệp Trong bối cảnh đó, lý thuyết trọng thương với sự sùng bái tiền tệ quá mức, với các điều luật nghiêm ngặt trong việc độc quyền ngoại thương, với tư tưởng xem trọng hoạt động thương mại hơn hẳn so với các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp… đã trở nên mâu thuẫn với lợi ích kinh tế của các tầng lớp tư sản công nghiệp, tư sản nông nghiệp… Điều đó chứng tỏ lúc này ở châu Âu, các quan hệ tư bản chủ nghĩa đã bắt đầu bao trùm lĩnh vực sản xuất, nhưng thuyết trọng thương không phản ánh kịp thời sự phát triển này Do đó, sự tan rã của lý thuyết này là tất yếu

2.3.3 Quá trình tan rã của trường phái Trọng thương

Cuối thế kỷ XVII, công trường thủ công tư bản đã phát triển khámạnh, nó trở thành phổ biến và đỉnh cao nhất của nó ở thế kỷ XVIII dẫn

đến cấu trúc kinh tế và xã hội thay đổi Nếu trước đây thương nghiệp chi

phối công nghiệp, công nghiệp phục vụ thương nghiệp thì lúc này vai trò của công nghiệp đã được tăng lên so với thương nghiệp dẫn đến người ta hướng đến sản xuất nhiều hơn Lợi ích của giai cấp tư sản đã chuyển dần

từ lưu thông sang sản xuất Những công trường thủ công tư bản chủnghĩa đã bắt đầu mang lại nhiều vàng hơn cả những mỏ vàng tự nhiên Cùng trong giai đoạn này, thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tưbản kết thúc, thay vào đó là tích lũy tư bản

Trang 27

Về mặt tư tưởng, trường phái Trọng thương không đáp ứng được những đòi hỏi mới của sản xuất, các vấn đề cần thiết đặt ra cần phải lý giải về nó là những vấn đề sản xuất hàng hóa và sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa Giai cấp tư sản đã lớn mạnh hơn, đã ít cần đến sự bảo hộ của Nhà nước Tại Anh và Hà Lan, cách mạng tư sản nổ ra, đây là giai đoạn tan rã của trường phái Trọng thương và bắt đầu cho sự ra đời của một trường phái khác

2.4 TRƯỜNG PHÁI TRỌNG THƯƠNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Chủ nghĩa trọng thương không chỉ xuất hiện ở một số nước, mà là trào lưu tư tưởng kinh tế lớn của nhiều nước Tây Âu Nó xuất hiện sớm nhất ở Ý, sau đó ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, tiếp đó là Anh, Pháp Mặc dù trường phái Trọng thương trên thế giới đều có những đặc trưng, nội dung cơ bản giống nhau nhưng do hoàn cảnh chính trị - xã hội

và trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước khác nhau nên trường phái Trọng thương ở mỗi nước có những sắc thái khác nhau Song chín muồi hơn cả là trường phái Trọng thương Anh và Pháp

2.4.1 Trường phái Trọng thương ở Ý

Trường phái Trọng thương Ý xuất hiện khá sớm Ngay từ thế kỷ XIV

đã có những tác phẩm của người Ý viết về các vấn đề thương mại, hàng hoá,

hối phiếu, sổ sách thương mại, vận tải đường biển, vv… Ở Ý, các nhà trọng thương đã có những đóng góp nhất định đối với vấn đề lưu thông tiền tệ, với hoạt động thương mại… Sau khi thay đổi con đường buôn bán sang phương

Đông thì ở nước này các thành phố đóng vai trò to lớn trong mậu dịch đối

ngoại với các nước Tây Âu Trường phái Trọng thương ở Ý đặc biệt quan tâm tới lưu thông tiền tệ, tới vấn đề cho vay trong xã hội

Đến thế kỷ thứ XVI, G.Skareppa, A.Serra và Davanxait là những tác

giả nổi tiếng tiếp tục con đường nghiên cứu đó Các nhà trọng thương Ý

đã đề nghị thủ tiêu hàng rào ngăn cách lưu thông tiền tệ giữa các nước,

tạo ra một loại tiền tệ quốc tế, đã phát triển tư tưởng “Bảng cân đối thương mại”, bác bỏ cấm xuất khẩu tiền và điều tiết thị giá của đồng tiền;

đề nghị nên tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng hoá (nhất là hàng công

nghiệp và thủ công nghiệp), v.v…

Trang 28

Những tác phẩm nổi tiếng của các nhà trọng thương Ý là: “Bàn vềtiền đúc” của G.Skareppa ra đời vào năm 1582, ở đây ông đã đề nghịtriệu tập một đại hội toàn châu Âu để giải quyết các vấn đề thuộc lưu thông tiền tệ, thực hiện một chế độ tiền tệ thống nhất toàn châu Âu quy

định tỷ giá cố định của vàng và bạc (theo tỷ lệ 12:1) quy mô phát hành

tiền lẻ v.v… Tác phẩm “Lược bàn về phương tiện cung cấp vàng và bạc cho các nước thiếu kim loại quý” của A.Serra đã chống lại quan điểm của học thuyết tiền tệ ở Ý, phản đối việc ngăn cấm xuất cảng hàng hoá và

điều chỉnh giá tiền tệ, coi công nghiệp và mở rộng mậu dịch đối ngoại là

nguồn làm giàu cho đất nước, đề xuất các giải pháp nhằm làm tăng tiền của các nước thiếu các mỏ vàng và bạc v.v… Ông đã phát triển thuyết

“bảng cân đối thương mại” và bác bỏ việc cấm đoán xuất khẩu tiền, cho rằng xuất cảng nông phẩm là không đảm bảo và không vững chắc Ông

hy vọng vào việc xuất cảng hàng công nghiệp và thủ công nghiệp với sốlượng khổng lồ và nhiều mặt hàng, nếu chúng có thể sản xuất ra tư liệu sinh hoạt cần thiết, hàng thông dụng và hàng xa xỉ vượt quá nhu cầu của nước mình, thì có thể cung cấp tiền đầy đủ cho nhà nước hoặc thành thị Ông coi việc phát triển công nghiệp và mở rộng mậu dịch thương mại là nguồn làm giàu cho đất nước A.Serra cho rằng: có 4 giải pháp làm tăng tiền của một nước không có mỏ vàng và bạc: (1) Số lượng các nghề thủcông; (2) Tính cần cù và thông minh của cư dân nước đó; (3) Quy mô của thương mại; (4) Chính sách của Chính phủ Quan điểm kinh tế của A Serra đã đưa công nghiệp lên hàng đầu, nó phản ánh sự phá sản của thương nghiệp nước Ý lúc đó4

2.4.2 Trường phái Trọng thương ở Tây Ban Nha

Tây Ban Nha liên quan trực tiếp đến phát kiến vĩ đại về địa lý củanhân loại cuối thế kỷ XV (phát hiện ra châu Mỹ) nên tư tưởng trọng thương Tây Ban Nha hình thành rất sớm, ủng hộ cho tư tưởng của “Bảng cân đối tiền tệ” Tư tưởng của họ được bộc lộ qua việc khuyên nhà nước

áp dụng các biện pháp để giữ gìn khối lượng vàng khổng lồ chuyển từchâu Mỹ về Cụ thể là họ yêu cầu nhà nước nghiêm cấm việc xuất khẩu vàng và bạc, can thiệp vào hoạt động thương mại, kiểm soát nhập khẩu

4 Mai Quế Anh, Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (1992), Lịch sử tư tưởng kinh tế,

Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr 45-46.

Trang 29

Ở Tây Ban Nha, học thuyết tiền tệ được ủng hộ từ thế kỷ XVI Vì vậy,

học thuyết trọng thương ở nước này còn được gọi là “học thuyết trọng thương trọng kim” Nhờ có sự phát triển vượt trội của lực lượng hàng hải, Tây Ban Nha đã sớm có mặt ở khu vực châu Mỹ Chinh phục vùng đất mới này theo dấu vết của những mỏ vàng đã trở thành phương thức làm giàu chủ yếu của Tây Ban Nha Bên cạnh việc đẩy mạnh khai thác những vùng đất mới, Tây Ban Nha còn chú trọng phát triển thương mại Vì vậy,

từ rất sớm, Tây Ban Nha đã tích lũy được một khối lượng vàng khổng lồ trong khi đó các nước Tây Âu khác còn đang vất vả tìm kiếm nguồn vốn tích lũy ban đầu Lúc này trong đời sống kinh tế Tây Ban Nha, vàng đã

có ưu thế hết sức mạnh mẽ Quan điểm này ảnh hưởng sâu sắc đến toàn

bộ hệ thống lý thuyết của các nhà trọng thương Tây Ban Nha làm cho hệ thống lý thuyết này mang màu sắc “trọng thương trọng kim”

Mariana (1573 - 1624), trong hàng loạt các tác phẩm của mình ông đã thể hiện quan điểm trọng thương điển hình cho thời kỳ học thuyết trọng thương bắt đầu hình thành Ông cho rằng, việc xuất khẩu vàng bạc phải bị nghiêm cấm gay gắt thậm chí sẽ bị tử hình khi vi phạm Việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài cũng phải bị hạn chế Các thương nhân khi trở về Tây Ban Nha chỉ được mang tiền về chứ không được mang hàng nước ngoài về Thương nhân nước ngoài chỉ được rời Tây Ban Nha khi mang theo một phần hàng hóa của nước này Với những chính sách kinh tế này, Tây Ban Nha đã tích lũy được một khối lượng tiền lớn và tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển Nhưng sự kéo dài của chính sách này về sau đã làm cho giá cả hàng hóa trong nước tăng lên, ngoại thương bị phụ thuộc nặng nề vào hàng hóa nước ngoài do nền sản xuất trong nước không phát triển

Giai đoạn sau, Bernado Ulloa, người đã ủng hộ tư tưởng của “Bảng cân

đối thương mại”, mới nhấn mạnh tính ưu việt của thương mại xuất siêu, vì

nó làm cho vàng dồn về trong nước Ngoài ra ông còn yêu cầu nên phát triển rộng rãi nền công nghiệp và thành lập nguồn dự trữ nguyên liệu cần thiết

cho Tây Ban Nha Tư tưởng của B Ulloa thể hiện tập trung ở tác phẩm Việc

khôi phục công nghiệp Tây Ban Nha Trong tác phẩm này, ông đã đưa học

thuyết trọng thương lên một giai đoạn phát triển mới Ông phân biệt rõ thương mại xuất siêu, thương mại nhập siêu và nhấn mạnh tính ưu việt của thương mại xuất siêu Đây là hình thức thương mại có tính chất giống như

Trang 30

xuất khẩu trực tiếp, có thể dồn vàng bạc về cho Tây Ban Nha Về sau, ông thừa nhận sự nguy hiểm của các hãng độc quyền và tính vô hiệu quả của việc chỉ đơn giản chiếm đoạt các mỏ vàng Ông đề nghị phải phát triển rộng rãi công nghiệp của Tây Ban Nha, phải dự trữ nguyên liệu cần thiết, làm cho sức lao động rẻ hơn Những động cơ phát triển công nghiệp này đã cho thấy

sự trưởng thành nhất định của học thuyết trọng thương Tây Ban Nha cũng như giới hạn phát triển của nó5

2.4.3 Trường phái Trọng thương ở Hà Lan

Chủ nghĩa Trọng thương Hà Lan ra đời vào cuối thế kỷ XVI, thời kỳ

đầu giai đoạn 2 của chủ nghĩa trọng thương Các nhà trọng thương Hà

Lan chịu ảnh hưởng nhiều tư tưởng “Bảng cân đối thương mại” Họ chủtrương phát huy lợi thế về địa lý (ngành hàng hải) để đẩy mạnh hoạt động buôn bán trung gian nhằm tích lũy tiền tệ Đây là tư tưởng đúng đắn nhờvậy đã giúp Hà Lan sớm tích lũy được nhiều tiền và trở nên giàu có (vào thế kỷ XVII Hà Lan là nước giàu có nhất thế giới)

Tuy nhiên, trường phái Trọng thương Hà Lan có nhược điểm lớn mang đặc trưng của chủ nghĩa trọng tiền nên thực hành quản lý tiền một cách chạt chẽ, lợi nhuận thu được không được sử dụng để tái đầu tư vào sản xuất Hậu quả là sản xuất của Hà Lan không phát triển được và do vậy nền tảng vật chất của thương mại không được đảm bảo, thương mại

Hà Lan suy giảm

2.4.4 Trường phái Trọng thương ở Pháp

Ở Pháp công trường thủ công tư bản phát triển vượt xa so với Ý và

Tây Ban Nha… So với ở Anh thì trường phái Trọng thương Pháp không triệt để bằng, song so với các nước Tây Âu khác thì lại rất đậm nét Trường phái Trọng thương Pháp có lý luận nghèo nàn, nhưng lại có kiến thức thực tiễn phong phú; tuy không trải qua hai giai đoạn rõ rệt nhưng

nó đã đóng vai trò tích cực thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của nền kinh tế Pháp lúc đó

Đại biểu nổi tiếng của trường phái Trọng thương Pháp là

A.Montchrestien (1575-1621) và J.B.Colbert (1619-1683)

5 Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb.

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 79-80.

Trang 31

- Montchrestien đã nêu tư tưởng trọng thương của ông trong tác

phẩm “Bàn về khoa học chính trị” Quan điểm trọng thương của ông phản ánh sự quá độ giữa học thuyết trọng tiền và học thuyết trọng thương thực thụ Ông coi môn kinh tế chính trị là một môn khoa học mới, và chính ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “kinh tế chính trị” vào năm

1615, và đề ra những quy tắc thực tiễn cho hoạt động kinh tế Ông lên án

sự xa hoa của tầng lớp quý tộc, đề cao chủ nghĩa dân tộc, do đó tư tưởng trọng thương của ông mang màu sắc tiểu tư sản Quan điểm trọng thương của ông thể hiện ở chỗ ông coi tiền là tiêu chuẩn của sự giàu có của một nước Trong hoạt động thương mại, ông đề cao vai trò của ngoại thương khi cho rằng “nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm”.Ông còn khẳng định thương mại là mục đích chủ yếu của nhiều nghềkhác nhau và lợi nhuận thương nghiệp là chính đáng vì nó bù lại rủi ro trong việc buôn bán…

Tất cả những tư tưởng của ông, tuy chưa khắc phục được ảnh hưởng của học thuyết tiền tệ và không triệt để, nhưng đã chứng tỏ ông là một

đại biểu nổi bật của trường phái Trọng thương Pháp vào đầu thế kỷ XVII

- Jean Baptiste Colbert là nhà trọng thương xuất sắc nhất ở Pháp

Đương thời ông là bộ trưởng tài chính của Pháp Ông đã đưa ra một hệ

thống chính sách kinh tế theo quan điểm trọng thương “nhằm phát triển nền kinh tế Pháp trong vòng 100 năm” - theo ý tưởng của tác giả - Hệthống đó được gọi là chủ nghĩa Colbert

Colbert cho rằng, nhiệm vụ quan trọng nhất là phải tăng thu nhập cho nhà nước bằng cách xây dựng bảng cân đối thương mại có lợi thông qua việc khuyến khích và xây dựng nền công nghiệp của nước Pháp, phát triển xuất khẩu sản phẩm công nghiệp theo chiến lược xuất siêu, thực hiện chính sách thuế quan bảo hộ Ông chủ trương biến nước Pháp thành trung tâm cung cấp hàng công nghiệp cho cả châu Âu và thế giới

Để phát triển công nghiệp, ông đã đề xuất nhiều biện pháp nhằm phát

triển thương nghiệp và vận tải như xây dựng các đội thương thuyền lớn, thành lập các công ty độc quyền ngoại thương, tăng cường bóc lột các nước thuộc địa v.v… Đặc biệt ông chủ trương thực hiện các giải pháp trực tiếp phát triển công nghiệp như tăng lực lượng lao động (kể cả tăng

Trang 32

dân số), áp dụng chính sách tiền lương tối đa, lãi suất tối thiểu, Nhà nước

hỗ trợ tài chính cho công nghiệp

Tuy vậy, ông lại có quan điểm cho rằng nông nghiệp là ngành không có lợi cho đất nước, hy sinh nông nghiệp để phát triển công nghiệp Hậu quả lớn là hàng loạt nông dân bị phá sản, thị trường trong nước và sản xuất nguyên liệu giảm mạnh Đây là nguyên nhân quan trọng làm trường phái Trọng thương Pháp suy tàn và xuất hiện Chủ nghĩa Trọng nông ở Pháp

2.4.5 Trường phái Trọng thương ở Anh

Ở Anh, trường phái Trọng thương đạt đến trình độ chín muồi nhất và

trải qua hai giai đoạn rõ rệt Anh là nước chủ nghĩa tư bản phát triển sớm nhất, đồng thời các nhà trọng thương ở đây đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm của trường phái Trọng thương trên thế giới nên trường phái Trọng thương Anh mang tính tư sản rất triệt để và khá hoàn thiện Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Anh là sự phát triển của ngoại thương, của các nghề trên biển, của sự bành trướng thị trường thế giới, kéo theo đó là việc xâm chiếm và cướp bóc thuộc địa - thế kỷ XVII là thế

kỷ tước đoạt thuộc địa lớn nhất của nước Anh Tất cả điều đó đã phản ánh vào trường phái Trọng thương Anh

- Giai đoạn XV - XVI, ngoại thương Anh còn phụ thuộc nhiều vào thương nhân nước ngoài Lúc này học thuyết trọng thương Anh phản ánh giáo điều của thuyết tiền tệ Họ đưa ra quan điểm: Bảo vệ của cải tiền tệ, giảm bớt nhập khẩu, cấp thương nhân không được mang tiền đúc của nước Anh ra ngoài và cho rằng có thể giải quyết các vấn đề kinh tế bằng biện pháp hành chính Đại biểu cho giai đoạn này là William Stafford (1554-1612) với tác phẩm “Trình bày tóm tắt một số điều kêu ca của

đồng bào chúng ta” (1581) Trong đó, các hiệp sĩ, thợ thủ công, tu sĩ,

nông dân đã tranh luận với nhau và nói lên nhu cầu của mình, họ đại biểu cho các tầng lớp xã hội ở Anh lúc bấy giờ Tất cả đều kêu ca về nạn đắt

đỏ là do nước Anh quá lệ thuộc vào nước ngoài, rằng bán nguyên liệu với

giá rẻ và mua hàng hóa với giá đắt, rằng nguyên nhân chủ yếu là Chính phủ nước Anh phát hành tiền đúc không đủ giá Một mặt, đồng tiền kém

đi, tiền chạy ra nước ngoài đã làm cho hàng hóa đắt đỏ, quần chúng nhân

dân nghèo đi, vì vậy phải giữ tiền lại ở nước Anh bằng cách cấm nhập khẩu hàng hóa xa xỉ và một số hàng hóa khác, đưa ra các định chế

Trang 33

thương mại và mở rộng chế biến lên Ông đề nghị: (1) Chính phủ phải

đình chỉ việc phát hành tiền đúc không đủ giá; (2) Cấm trả cho thương

nhân nước ngoài lượng tiền nhiều hơn nhà nước quy định; (3) Cấm xuất khẩu tiền tệ và buộc thương nhân nước ngoài phải chi tiêu toàn bộ số tiền thu được trên nước Anh

Rõ ràng giai đoạn này, những nhà trọng thương Anh chỉ chú ý đến việc giữ khối lượng tiền tệ khỏi bị hao hụt bằng cách dùng những biện pháp hành chính của nhà nước, trực tiếp can thiệp vào lưu thông tiền tệ

- Sang thế kỷ XVII, công nghiệp Anh đã lớn mạnh, chiến tranh thương mại giữa Anh và Hà Lan trở nên khốc liệt, trường phái Trọng thương Anh đã

đạt đến mức độ chín muồi và đã đề nghị cách giải quyết những vấn đề mới

trong nền kinh tế nước Anh Đại biểu nổi tiếng của giai đoạn này là Thomas Mun (1571 - 1641) Ông là thương nhân và là một trong những giám đốc của công ty Đông Ấn Ông đã xuất bản cuốn “Bàn về buôn bán giữa Anh và Đông

Ấn” vào năm 1621, cuốn “Sự giàu có của nước Anh và mậu dịch đối ngoại”

năm 1630 - Karl Marx gọi tác phẩm này là kinh thánh của trường phái Trọng thương; cuốn “Bảng cân đối ngoại thương là công cụ điều tiết kho tàng của chúng ta” năm 1641, v.v… Trong tư tưởng của mình, Thomas Mun đã phê phán gay gắt những nguyên tắc của học thuyết tiền tệ đồng thời phát triển lý luận về bảng cân đối thương mại Ông coi ngoại thương là công cụ tốt nhất để làm giàu cho đất nước, nhưng phải với điều kiện bán ra nhiều hơn mua vào Theo ông “vàng đẻ ra thương mại, còn thương mại lại làm cho tiền tăng lên”,

và đề nghị mở rộng các cơ sở công nghiệp, nâng cao chất lượng hàng hoá, cải tiến hình thức hàng hoá, v.v… Ông còn cho rằng tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào bảng cân đối thương mại và không nên để thừa tiền trong nước…

Như vậy, tư tưởng của Thomas Mun đã quan tâm đến mối quan hệ giữa lưu thông tiền tệ và lưu thông hàng hoá, phần nào đã nhìn thấy vai trò của công nghiệp đối với thương nghiệp Nhờ cương lĩnh có ý nghĩa thực tiễn của bảng cân đối thương mại mà nền kinh tế nước Anh đã phát triển Có thể nói trường phái Trọng thương xuất hiện sớm ở nước Anh nhưng chính ở đây đã tạo tiền đề kinh tế cho sự tan rã của trường phái Trọng thương

- Nhìn chung tư tưởng trọng thương giai đoạn 2 của nước Anh tập trung vào một số quan điểm cơ bản:

Trang 34

(1) Chủ trương đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu gồm cả công nghiệp và nông nghiệp.

(2) Phát huy lợi thế về địa lý đẩy mạnh hoạt động buôn bán trung gian, phát triển đồng thời cả nội thương và ngoại thương

(3) Lợi nhuận thu về được sử dụng đầu tư vào sản xuất và thương mại (4) Tiền tệ được lưu thông tự do theo nguyên tắc trở về điểm xuấtphát và có lãi

Ngoài các nước có trường phái Trọng thương phát triển khá điểnhình ở trên, thì trong nền kinh tế thế giới trường phái Trọng thương còn xuất hiện ở Nga, v.v…

Tóm lại, với hoàn cảnh thế giới phương Tây từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII, trường phái Trọng thương xuất hiện là một tất yếu và trở thành một trào lưu tư tưởng phổ biến trong lĩnh vực kinh tế của các nước châu Âu Mặc dù còn nhiều hạn chế về lý luận, chưa biết đến quy luật kinh tế (chủ nghĩa kinh nghiệm) và phương pháp luận (trực quan, mô

tả chưa biết dử dụng phương pháp khoa học trong nghiên cứu) nhưng trường phái Trọng thương đã đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sựphát triển kinh tế thị trường, tạo tiền đề lý luận kinh tế - xã hội cho lý luận kinh tế thị trường sau này phát triển, tạo điều kiện tích lũy tiền tệ và quan tâm dần đến sản xuất thúc đẩy sự ra đời của chủ nghĩa tư bản

2.5 VỊ TRÍ LỊCH SỬ CỦA TRƯỜNG PHÁI TRỌNG THƯƠNG

Trường phái Trọng thương là trường phái lý luận đầu tiên của kinh tế học

tư sản, nó trực tiếp phản ánh quyền lợi của giai cấp tư sản thương nghiệp trong thời kỳ tích luỹ ban đầu của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó cũng phản ánh sự tiến bộ trong đời sống kinh tế của châu Âu thế kỷ XV - XVII

Khi đánh giá về vị trí lịch sử của trường phái Trọng thương, các nhà kinh tế học đã có nhiều cách đánh giá khác nhau Một số nhà kinh tế học

đã coi tư tưởng của trường phái Trọng thương là những tư tưởng ngây

thơ, là một loại mê tín thời trung cổ Song lại có người cho rằng trường phái Trọng thương là học thuyết vạn năng…

Theo Karl Marx, tư tưởng trọng thương đã đoạn tuyệt với thời kỳtrung cổ trong việc nhận thức những nhiệm vụ của tư tưởng kinh tế, đã nghiên cứu về mặt lý luận những vấn đề của chủ nghĩa tư bản sớm nhất

Trang 35

Lý thuyết của trường phái Trọng thương không chỉ là học thuyết kinh tế

mà còn là cương lĩnh kinh tế của giai cấp tư sản

Trên thực tế, mặc dù chưa biết đến quy luật kinh tế và còn hạn chế về tính lý luận, nhưng hệ thống quan điểm kinh tế của trường phái Trọng thương đã tạo ra những tiền đề cho các lý luận kinh tế - thị trường sau này Bởi vì, chủ nghĩa trọng thương đã khẳng định sự giàu có không phải

là giá trị sử dụng mà là giá trị, là tiền; mục đích hoạt động của kinh tế hàng hoá là lợi nhuận Trường phái Trọng thương là trường phái coi trọng thương nghiệp, họ là người đầu tiên đứng trên lập trường của giai cấp tư sản để giải thích những hiện tượng và quá trình kinh tế của thời

đại mà việc sản xuất của đại bộ phận sản phẩm của quốc gia vẫn còn được tiến hành dưới hình thức phong kiến, phần lớn sản phẩm vẫn chưa

mang hình thái hàng hóa Thời đại của những tổ chức phường hội còn

đóng vai trò thống trị, các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa đang

hình thành và phát triển Sản phẩm càng biến thành hàng hóa thì tiền tệ càng hoàn thiện những chức năng của nó và trở thành một sức mạnh vô cùng mới mẻ đối với con người Từ chỗ người ta chỉ chú ý đến giá trị sử dụng, coi đó là của cải (vì của cải của nền kinh tế tự nhiên là giá trị sử dụng), thì nay giá trị sử dụng bị mờ đi, trước họ là một sức mạnh khác - giá trị trao đổi, biểu hiện nổi bật nhất của nó là tiền Vì vậy, người ta quá nhấn mạnh giá trị trao đổi - tiền và coi tiền là đấng tối cao, thần thánh hóa nó Nói cách khác, coi tiền là tiêu chuẩn căn bản của của cải (giá trị

là của cải của nền sản xuất hàng hóa) và xuất phát từ đó người ta lý giải các vấn đề khác Họ là người đầu tiên nghiên cứu của cải và phương thức làm tăng của cải của chủ nghĩa tư bản, đối với họ của cải chủ yếu là tiền

và các phương thức làm tăng lượng tiền đều làm tăng của cải

Trường phái Trọng thương còn nằm trong chế độ phong kiến, sử dụng nhà nước phong kiến để làm giàu cho giai cấp tư sản, vì vậy trường phái này quan niệm của cải trong phạm vi quốc gia và đứng trên góc độ

đó để xem xét của cải, cho nên họ khẳng định rằng ngoại thương mới là

nguồn tăng lên của cải, còn nội thương chỉ đóng vai trò giúp đỡ cho ngoại thương, lao động của các ngành sản xuất để xuất khẩu mới là lao

động sản xuất Họ đã đề cao vai trò của nhà nước đối với sự phát triển

kinh tế vì vậy họ không đề cập và quan tâm đến các quy luật, không thừa

Trang 36

nhận quy luật Trường phái Trọng thương mang tính chất kinh nghiệm Mặc dù vậy, một số quan điểm của trường phái trọng thương ngày nay vẫn còn có ý nghĩa to lớn, đặc biệt là những quan điểm về vai trò kinh tếcủa nhà nước đã được các học thuyết kinh tế tư sản hiện đại vận dụng nhiều Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác nhau và do trình độphát triển kinh tế có nhiều chênh lệch, nên sự biểu hiện của trường phái trọng thương ở các nước có những nét khác biệt khá rõ.

NỘI DUNG THẢO LUẬN

Vận dụng học thuyết kinh tế của trường phái Trọng thương trongviệc đưa ra các chính sách thúc đẩy ngoại thương Việt Nam phát triển

NỘI DUNG ÔN TẬP

1 Hoàn cảnh ra đời của trường phái Trọng thương

2 Quan điểm kinh tế cơ bản của trường phái Trọng thương

3 Các giai đoạn phát triển của trường phái Trọng thương

4 Chủ nghĩa Trọng thương ở Anh, Pháp và Hà Lan

5 Vị trí lịch sử của trường phái Trọng thương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Mai Quế Anh, Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (1992),

Lịch sử tư tưởng kinh tế, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.

[2] Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học

thuyết kinh tế, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

[3] Hà Quý Tình, Trần Hậu Hùng (2008), Giáo trình Lịch sử các học

thuyết kinh tế, Nxb Tài chinh, Hà Nội.

[4] Trần Bình Trọng (2013), Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh

tế, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

[5] Đinh Thị Thu Thủy (2003), Giáo trình Lịch sử các học thuyết

kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội.

[6] Robert Burton Ekelund, jr và Robert Fry Hébert (2004), Lịch sử

các học thuyết kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội.

Trang 37

CHƯƠNG 3

KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN

Cuối thế kỷ XVII, trường phái Trọng thương bước vào giai đoạn suy tàn, trường phái Kinh tế chính trị tư sản Cổ điển (trường phái Cổ điển) xuất hiện Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của trường phái Cổ điển chủ yếu ở Anh và Pháp Sở dĩ như vậy vì đây là hai nước chịu ảnh hưởng lớn của trường phái Trọng thương giai đoạn 2, họ quan tâm nhiều đến sản xuất từ đó làm xuất hiện nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn cần có cách giải thích mới Đồng thời, với xu thế biến đổi mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản ở các nước Tây Âu (trước hết là Anh và Pháp) lúc này đòi hỏi các nhà kinh tế học phải tìm ra con đường mới, phù hợp tiếp tục thúc

đẩy kinh tế phát triển Đó là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện trường

phái Cổ điển nói chung

3.1 TRƯỜNG PHÁI CỔ ĐIỂN ANH

3.1.1 Hoàn cảnh ra đời, đặc điểm cơ bản và các đại biểu tiêu biểu của trường phái Cổ điển Anh

3.1.1.1 Hoàn cảnh ra đời

Trường phái Cổ điển Anh ra đời cuối thế kỷ XVII Sự ra đời và đặc

điểm của trường phái Cổ điển Anh đặc trưng cho trường phái Cổ điển nói

chung Về cơ bản trường phái Cổ điển Anh xuất hiện vì một số nguyên nhân chính sau:

- Nhờ những đóng góp của trường phái Trọng thương các nước Tây

Âu đã tích lũy được nhiều tiền đây là điều kiện quan trọng giúp các nước

có thể đầu tư phát triển sản xuất và thương mại Sang giai đoạn 2 của trường phái Trọng thương, đặc biệt ở Anh và Pháp các nhà trọng thương

đã chuyển hướng coi trọng sản xuất, giai cấp tư sản tập trung phát triển

sản xuất Nhờ vậy các công trường thủ công tư bản đã bắt đầu phát triển mạnh và sang thế kỷ XVII nó đã trở thành hiện tượng phổ biến, dẫn đến

sự thay đổi lớn về kinh tế - xã hội

Trang 38

Do sản xuất ngày một phát triển nên đã làm nẩy sinh nhiều vấn đề mới Của cải do sản xuất tạo ra chứ không phải như quan niệm của trường phái Trọng thương trước đây Của cải không chỉ là tiền, là giá trị

mà còn là khối lượng hàng hóa khổng lồ… Từ đó đòi hỏi phải có lý thuyết kinh tế mới để giải thích cho những hiện tượng kinh tế mới Tất cả những điều kiện kinh tế, xã hội cuối thế kỷ XVII chứng tỏ thời

kỳ tích luỹ ban đầu của tư bản đã kết thúc, thay vào đó là thời kỳ tích luỹ

tư bản, tức thời kỳ sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu Những hạn chế, phiến diện và phi lý của trường phái Trọng thương đã bộc lộ rõ ràng, đòi hỏi phải có lý luận mới để đáp ứng với sự vận động và phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Việc đẩy mạnh tích tụ tư bản và tước đoạt ruộng đất làm hình thành

2 giai cấp cơ bản: Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Trong những thời

kỳ trước, thương nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng, còn các ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp chỉ có vai trò phục vụ, trợ giúp cho thương nghiệp nên địa vị của tư bản sản xuất là thứ yếu Nhưng ở thời kỳ này, vai trò của công nghiệp đã có sự thay đổi, một số ngành của công nghiệp như dệt, công nghiệp khai thác… đã có sự phát triển mạnh mẽ Sự thống trị của tư bản thương nghiệp ở những thế kỷ trước dần được thay thế bởi tư bản công nghiệp Lợi ích của giai cấp tư sản cũng chuyển dần

từ lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, vai trò của tư bản sản xuất ngày càng

được củng cố đòi hỏi phải có lý thuyết bảo vệ lợi ích cho tư bản sản xuất

Do vậy, trường phái Cổ điển ra đời

3.1.1.2 Đặc điểm cơ bản của trường phái Cổ điển Anh

Mặc dù quá trình hình thành, phát triển và nội dung trường phái Cổ

điển ở mỗi nước có điểm khác nhau nhưng về cơ bản đều có một số đặc điểm chung khá tương đồng Trong đó những đặc điểm của trường phái

Cổ điển Anh cũng phản ánh đặc điểm nổi bật của trường phái Cổ điển nói chung

- Một là, khác với trường phái Trọng thương, các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất Nói cách khác họ lấy sản xuất làm đối tượng nghiên cứu Đây là điểm tiến bộ của trường phái Cổ điển, vì: một

là, với quan niệm nhiệm vụ của khoa kinh tế là nghiên cứu để tìm ra

Trang 39

nguồn gốc, bản chất của cải bởi vậy việc lấy sản xuất làm đối tượng nghiên cứu chính là đã tìm ra đúng nguồn gốc của cải; hai là, trong quá trình tái sản xuất xã hội thì sản xuất luôn là khâu đầu tiên và có tính quyết định.

- Hai là, với việc đi sâu nghiên cứu bản chất của các hiện tượng kinh

tế, lần đầu tiên họ xây dựng một hệ thống các phạm trù như giá trị, giá cả,tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô… và các quy luật của nền kinh tế thịtrường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ… Điều đó có nghĩa họ đã khắc phục được hạn chế của trường phái Trọng thương về mặt lý luận và phương pháp luận Họ áp dụng phương pháp trừu tượng hóa khi nghiên cứu các mối liên hệ nhân quả, biện chứng của các hiện tượng kinh tế từ đó chỉ ra bản chất và các quy luật chi phối sự vận động của quan hệ sản xuất trong xã hội tư bản

- Ba là, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển mức độ thấp, chưa phát sinh các mâu thuẫn do vậy họ ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, tự

do kinh doanh, chống lại (hay phủ nhận) sự can thiệp của nhà nước vào các lĩnh vực kinh tế

- Bốn là, mặc dù có nhiều tiến bộ so với trường phái Trọng thương

và có những đóng góp lớn cả về lý luận cũng như thực tiễn phát triển của

chủ nghĩa tư bản, song trường phái Cổ điển vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều

quan điểm của họ còn mang tính phi lịch sử, lẫn lộn giữa yếu tố khoa học

và phi khoa học Những hạn chế của kinh tế cố điển do nguyên nhân khách quan bởi sự phát triển thấp của nền kinh tế thị trường, mặt khác do giới hạn lợi ích giai cấp tư sản chi phối

3.1.1.3 Các đại biểu tiêu biểu của trường phái Cổ điển Anh

a W.Petty (1623-1687)

William Petty (W.Petty) là nhà kinh tế học người Anh Ông quan tâmnghiên cứu nhiều lĩnh vực khoa học và nhìn chung đều thành công Ông cũng đặc biệt quan tâm nghiên cứu kinh tế và được đánh giá là người đã

đặt nền móng cho sự ra đời của trường phái Cổ điển Anh Ông viết nhiều

tác phẩm nổi tiếng như “Luận bàn về thuế và các khoản thu” (1662),

“Giải phẫu học chính trị Ireland” (1672), “Số học chính trị” (1776), “Bàn

về tiền tệ” (1682) Ông có nhiều đóng góp cho khoa học kinh tế Công lao của ông được thể hiện qua một số điểm nổi bật:

Trang 40

Thứ nhất, về mặt lý luận: Ông là người đưa ra và đi sâu nghiên cứu

bản chất của một số phạm trù kinh tế như giá trị, tiền tệ và các hình thức thu nhập (tiền lương, lợi tức, địa tô, giá cả ruộng đất…) Đặc biệt ông là người đầu tiên nêu ra nguyên lý giá trị lao động và đứng trên nguyên lý

đó để giải thích tiền tệ và các hình thức thu nhập Đây là một trong

những trụ cột lý luận chính mà trường phái Cổ điển bám theo và bổ sung, phát triển

Thứ hai, về mặt phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu: Ông

chủ trương sử dụng phương pháp mới trong nghiên cứu kinh tế được ông gọi là phương pháp khoa học tự nhiên, thực chất là tư tưởng khách quan khi nghiên cứu Ông khẳng định trong kinh tế cũng như trong tự nhiên, y học phải tôn trọng tính khách quan, không được dùng hành động chủ quan để chống lại nó Ngoài ra ông rất coi trọng sử dụng phương pháp thống kê và tích cực sử dụng số liệu thống kê khi phân tích kinh tế Ông

đã sử dụng đúng đắn, khoa học phương pháp trừu tượng khi xuất phát từ

các phạm trù giá cả để nghiên cứu giá trị, tức đi từ hiện tượng để nghiên cứu bản chất

Thứ ba, mặc dù có những đóng góp to lớn về lý luận và phương pháp

luận nhưng dù sao ông cũng không tránh khỏi những hạn chế đặc biệt là thời kỳ đầu khi ông còn chịu ảnh hưởng lớn của trường phái Trọng thương Chẳng hạn giai đoạn đầu ông đánh giá cao về tiền khi cho rằng

“sự giàu có biểu hiện dưới hình thức vàng và bạc là sự giàu có vĩnh viễn, muôn đời”, đánh giá cao thương mại khi cho rằng: “một thủy thủ bằng ba nông dân”

b A.Smith (1723-1790)

Adam Smith (A.Smith) là nhà kinh tế học Anh, gốc Scotland Sau khi tốt nghiệp đại học (1746), ông giảng dạy văn học và tu từ học ở trường Đại học Edinburgh Năm 1751, ông chuyển sang giảng dạy logic, triết học, đạo đức tại trường Đại học Glasgow Năm 1755 ông xuất bản cuốn sách “Lý luận về những tình cảm đạo đức” Tác phẩm nổi bật nhất của ông là “Của cải của các dân tộc”, xuất bản năm 1776

Thế giới quan của ông về cơ bản là khách quan, duy vật Kế thừa tư tưởng của W.Petty và chịu ảnh hưởng của trường phái Trọng nông (trường phái Cổ điển ở Pháp), ông đã tìm hiểu các quy luật khách quan

Ngày đăng: 15/07/2022, 14:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Mai Quế Anh, Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (1990), Lịch sử tư tưởng kinh tế, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng kinh tế
Tác giả: Mai Quế Anh, Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh
Nhà XB: Nxb. Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1990
[2]. Mai Ngọc Cường (1995), Các học thuyết kinh tế (Lịch sử phát triển, tác giả và tác phẩm), Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết kinh tế
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 1995
[3]. Nguyễn Văn Trình - Nguyễn Tiến Dũng, Vũ Văn Nghinh (2000), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các học thuyết kinh tế
Tác giả: Nguyễn Văn Trình - Nguyễn Tiến Dũng, Vũ Văn Nghinh
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2000
[4]. Hà Quý Tình, Trần Hậu Hùng (2008), Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb. Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử các họcthuyết kinh tế
Tác giả: Hà Quý Tình, Trần Hậu Hùng
Nhà XB: Nxb. Tài chính
Năm: 2008
[5]. Đinh Thị Thu Thủy (2003), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb.Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các học thuyết kinh tế
Tác giả: Đinh Thị Thu Thủy
Nhà XB: Nxb.Thống kê
Năm: 2003
[6]. Trần Bình Trọng (2009), Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử các học thuyết kinhtế
Tác giả: Trần Bình Trọng
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2009
[7]. Gélédan (chủ biên 2 tập - 1996), Lịch sử tư tưởng kinh tế, Nxb.Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng kinh tế
Nhà XB: Nxb.Khoa học Xã hội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Quá trình vận động của tổng sản phẩm xã hội - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 3.1. Quá trình vận động của tổng sản phẩm xã hội (Trang 69)
Hình 5.1. Tương quan giữa cường độ nhu cầu và sản phẩm tiêu dùng - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 5.1. Tương quan giữa cường độ nhu cầu và sản phẩm tiêu dùng (Trang 119)
Bảng 5.1. Ví dụ về cường độ nhu cầu giảm dần - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Bảng 5.1. Ví dụ về cường độ nhu cầu giảm dần (Trang 119)
Hình 5.2. Ích lợi giới hạn - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 5.2. Ích lợi giới hạn (Trang 122)
Bảng 5.2: Thứ tự giá trị sản phẩm của hai nông dân Thứ tự giá trị sản phẩm - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Bảng 5.2 Thứ tự giá trị sản phẩm của hai nông dân Thứ tự giá trị sản phẩm (Trang 123)
Bảng 5.3. Sự tách rời giữa tổng ích lợi và tổng giá trị - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Bảng 5.3. Sự tách rời giữa tổng ích lợi và tổng giá trị (Trang 125)
Bảng 5.4. Quy luật năng suất bất tương xứng - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Bảng 5.4. Quy luật năng suất bất tương xứng (Trang 128)
Theo bảng 5.4 và hình 5.3, chúng ta thấy khi số lượng công nhân tăng lên thì sản lượng tăng lên nhưng năng suất của công nhân tăng lên  sau đó sẽ giảm - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
heo bảng 5.4 và hình 5.3, chúng ta thấy khi số lượng công nhân tăng lên thì sản lượng tăng lên nhưng năng suất của công nhân tăng lên sau đó sẽ giảm (Trang 128)
Hình 5.5. Giá cả của cầu - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 5.5. Giá cả của cầu (Trang 140)
Hình 5.4. Giá cả của cung - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 5.4. Giá cả của cung (Trang 140)
Hình 5.6. Giá cả cần bằng - Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 1 - TS. Vũ Văn Hùng, TS. Võ Tá Tri
Hình 5.6. Giá cả cần bằng (Trang 141)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm