1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Kinh tế thương mại đại cương: Phần 2

116 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thương Mại Dịch Vụ
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 801,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Kinh tế thương mại đại cương được biên soạn nhằm trang bị những kiến thức cơ bản và cốt lõi, mang tính tổng quan về kinh tế thương mại cho sinh viên chuyên ngành Kinh tế thương mại, cũng như các chuyên ngành đào tạo khác. Giáo trình kết cấu gồm 7 chương và chia thành 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: thương mại dịch vụ; lợi thế so sánh và hội nhập kinh tế thương mại; nguồn lực và hiệu quả kinh tế thương mại;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

hệ kinh tế, cũng như lựa chọn quyết định tối ưu trong phát triển và quản

lý lĩnh vực kinh tế này

5.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 5.1.1 Khái niệm và phân loại thương mại dịch vụ

a Khái niệm thương mại dịch vụ

Khái niệm về dịch vụ Trong thời đại ngày nay, dịch vụ đã trở nên

gần gũi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia Vai trò của dịch

vụ cũng ngày càng tăng và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt trình độ phát triển hay chế độ chính trị - xã hội Đến nay, đã có nhiều khái niệm đưa ra về dịch

vụ, song khái niệm dựa trên tính chất của dịch vụ (so với sản phẩm hữu hình) có thể chuyển tải được những nội dung cơ bản và đầy đủ nhất về dịch vụ Theo đó, dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không cầm nắm được[3] Với tiếp cận này, dịch vụ có hai đặc điểm cơ bản: Thứ nhất, dịch vụ là "sản

phẩm", là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thỏa mãn một

nhu cầu nào đó của con người Thứ hai, khác với sản phẩm hữu hình,

Trang 2

dịch vụ là sản phẩm vô hình, phi vật chất và thường không thể lưu trữ được[3] Như vậy về bản chất, dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người

Khái niệm về thương mại dịch vụ Trong quá trình phát triển của nền

kinh tế - xã hội, dịch vụ đã trở thành đối tượng của thương mại và có tỷ trọng buôn bán trong thương mại ngày càng tăng Trong các quan hệ thương mại, dịch vụ là hàng hóa đặc biệt - hàng hóa vô hình, có giá trị và giá trị sử dụng Giá trị của hàng hóa vô hình này là lao động sáng tạo kết tinh ở sản phẩm, nhưng không nhìn thấy được mà chỉ có thể "cảm nhận" được hàng hóa đó Còn giá trị sử dụng của nó là sự thỏa mãn, sự hài lòng của khách hàng khi được cung cấp dịch vụ

Khi dịch vụ được cung ứng ra thị trường với tư cách là một loại hàng hóa thì phạm trù thương mại dịch vụ được hình thành và trở thành vấn đề được quan tâm đặc biệt trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, cũng như quá trình toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại Tuy nhiên, khi bàn về

khái niệm "thương mại dịch vụ" (Trade in Services), đến nay vẫn còn có

những ý kiến khác nhau do dựa trên các góc độ tiếp cận khác nhau,

cụ thể:

- Khái niệm thương mại dịch vụ thường được đưa ra bằng cách phân biệt thương mại dịch vụ với thương mại hàng hóa, mà đặc trưng phân biệt chính là đối tượng trao đổi, mua bán của chúng Nếu đối tượng trao đổi, mua bán của thương mại hàng hóa là hàng hóa - sản phẩm hữu hình thì trong thương mại dịch vụ, đối tượng trao đổi, mua bán lại là dịch vụ - các sản phẩm vô hình Bởi vậy, thương mại dịch vụ theo đó là sự trao đổi

về dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức vì mục đích thương mại

- Theo tiếp cận của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của

WTO (GATS) thì thương mại dịch vụ (Thương mại dịch vụ quốc tế)

được hiểu là việc cung cấp dịch vụ trong bất cứ lĩnh vực nào có liên quan đến thương mại:

+ Từ lãnh thổ của một thành viên đến lãnh thổ của bất kỳ một thành viên nào khác;

Trang 3

+ Trên lãnh thổ của một thành viên cho người tiêu dùng dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác;

+ Bởi một người cung cấp dịch vụ của một thành viên, thông qua sự hiện diện thương mại trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào khác;

+ Bởi một người cung cấp dịch vụ của một thành viên thông qua sự hiện diện thể nhân trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào khác

Ở đây, dịch vụ bao gồm bất kỳ dịch vụ nào trong tất cả các lĩnh vực, trừ các dịch vụ được cung cấp để thi hành thẩm quyền của chính phủ

(Các dịch vụ cung cấp để thi hành thẩm quyền của chính phủ là bất kỳ dịch vụ nào được cung cấp không trên cơ sở thương mại và cũng không trên cơ sở cạnh tranh với một hoặc nhiều nhà cung cấp dịch vụ)1 Theo tiếp cận này, thương mại dịch vụ quốc tế là sự cung ứng về dịch vụ giữa pháp nhân hoặc thể nhân trong nước với pháp nhân hoặc thể nhân nước ngoài vì mục đích thương mại

Cũng cần lưu ý, quan điểm về thương mại dịch vụ quốc tế theo tiêu chí của GATS khác với quan điểm truyền thống được sử dụng trong số liệu thống kê cán cân thanh toán ở Việt Nam Số liệu thống kê cán cân thanh toán dựa trên các giao dịch giữa người thường trú và không thường trú Do vậy, khi một người nước ngoài có tư cách pháp nhân trở thành người thường trú ở Việt Nam, việc sản xuất dịch vụ của người đó trở thành một phần của nền kinh tế trong nước Theo GATS, tính chất xác định chính là quốc tịch, bởi vậy một người nước ngoài có tư cách pháp nhân dù thường trú ở Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục là một nhà cung cấp dịch

vụ nước ngoài ở Việt Nam

- Theo tác giả Walter Goode thuộc trường Đại học Adelaide của

Australia thì thương mại dịch vụ (Trade in Services) hay thương mại vô hình (Invisible Trade) là việc cung cấp dịch vụ theo các điều kiện thương

mại cho người nước khác, thông qua thương mại xuyên biên giới hay thông qua hiện diện thương mại2

1 Tại điều 1 phần I của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)

2 Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB thống kê, 1997

Trang 4

Theo GATS hay tác giả Walter Goode thì thương mại dịch vụ được nghiên cứu là thương mại dịch vụ quốc tế và tiếp cận thông qua các phương thức cung ứng

Một cách tổng quát, có thể hiểu thương mại dịch vụ là toàn bộ những hoạt động trao đổi, cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận Theo đó, về bản chất thương mại dịch vụ là những hoạt động trao đổi, cung ứng dịch vụ trên thị trường Hoạt động thương mại dịch vụ diễn ra trên thị trường, trong đó người cung ứng dịch vụ là vì mục đích lợi nhuận Do vậy, những dịch vụ do chính phủ cung cấp và không mang tính thương mại, không có tính cạnh tranh thì không được coi là đối tượng trao đổi của thương mại dịch vụ và các hoạt động cung ứng những dịch vụ đó không được xem là thương mại dịch vụ

b Phân loại thương mại dịch vụ

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động

xã hội, nhiều ngành dịch vụ mới được hình thành và đối tượng trao đổi, cung ứng của thương mại dịch vụ theo đó cũng ngày càng đa dạng và phong phú Dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế, GATS đã phân chia dịch

vụ thành 12 ngành với 155 phân ngành Đây cũng chính là các ngành, phân ngành kinh doanh trong thương mại dịch vụ 12 ngành dịch vụ được đưa ra trong GATS của WTO là1:

1) Các dịch vụ kinh doanh, bao gồm các tiểu ngành:

- Các dịch vụ chuyên ngành, dịch vụ chuyên nghiệp, dịch vụ nghề nghiệp như: Dịch vụ pháp lý; Dịch vụ kế toán, kiểm toán, tính toán; Dịch

vụ thuế; Dịch vụ kiến trúc; Dịch vụ tư vấn kỹ thuật…

- Dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan: Dịch vụ tư vấn liên quan đến việc lắp đặt phần cứng máy tính; Dịch vụ cung cấp phần mềm; Dịch vụ xử lý số liệu; Dịch vụ cơ sở dữ liệu

- Dịch vụ nghiên cứu và triển khai (R & D)

Trang 5

- Các dịch vụ kinh doanh khác: Quảng cáo, nghiên cứu thị trường, thăm dò dư luận, tư vấn quản lý, dịch vụ liên quan đến tư vấn quản lý, dịch vụ thử nghiệm và phân tích kỹ thuật; Dịch vụ gắn với nông nghiệp, săn bắt và lâm nghiệp; Gắn với ngư nghiệp; Gắn với khai thác mỏ; Gắn với chế tạo…

2) Dịch vụ bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc:

- Dịch vụ bưu điện

- Dịch vụ báo chí

- Dịch vụ viễn thông; Điện thoại tiếng, truyền dữ liệu mạch gói, truyền

dữ liệu chuyển mạch; Dịch vụ telex; Dịch vụ điện báo, fax; Cho thuê mạch, thư điện tử, điện thoại, thu thập thông tin và cơ sở dữ liệu trên mạng…

- Dịch vụ nghe nhìn và các dịch vụ truyền thông khác

3) Dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên quan;

4) Dịch vụ phân phối: Dịch vụ đại lý hoa hồng; Dịch vụ bán buôn; Dịch vụ bán lẻ; Dịch vụ cấp phép kinh doanh và các dịch vụ phân phối khác

5) Dịch vụ giáo dục: Không bao gồm các trường tiểu học, trung học, đại học công lập có sự chi trả bằng ngân sách của Nhà nước

6) Dịch vụ môi trường: Dịch vụ thoát nước; Dịch vụ thu gom rác; Dịch vụ vệ sinh; Các dịch vụ môi trường khác

7) Dịch vụ tài chính:

- Tất cả dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan

- Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm)

- Các dịch vụ tài chính khác

8) Các dịch vụ xã hội và liên quan đến y tế: Dịch vụ y tế khác với chăm sóc sức khỏe cộng đồng là nó nhằm vào mục đích lợi nhuận Các dịch vụ chăm sóc răng, thẩm mỹ là dịch vụ cá nhân nên cũng được xếp vào dịch vụ y tế

9) Các dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành: Dịch vụ khách sạn, nhà hàng; dịch vụ đại lý lữ hành và các dịch vụ hướng dẫn tour; Các dịch vụ hướng dẫn du lịch; Các dịch vụ du lịch và lữ hành khác

Trang 6

10) Các dịch vụ văn hóa và giải trí: Các dịch vụ giải trí; Các dịch vụ đại lý bán báo; Thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các dịch vụ văn hóa khác; Thể thao và các dịch vụ giải trí khác; Các dịch vụ văn hóa và giải trí khác 11) Dịch vụ vận tải: Vận tải biển; Đường sông, nội địa; Đường không;

Vũ trụ; Đường sắt; Đường bộ; Đường ống; Các dịch vụ hỗ trợ vận tải và các dịch vụ vận tải khác

12) Các dịch vụ khác

Theo cách phân loại này, trong mỗi ngành đều có mục "các dịch vụ khác", đặc biệt ngành thứ 12 bao gồm các dịch vụ khác không có ở nhóm 11 Như vậy, để tiến hành liệt kê tất cả các loại hình dịch vụ có khả năng tham gia vào thương mại là điều rất khó bởi sự đa dạng, phong phú

và tính phức tạp của dịch vụ Tuy nhiên, việc phân loại dịch vụ theo GATS của WTO lại thích hợp cho việc xúc tiến đàm phán mở cửa thị trường thương mại dịch vụ quốc tế, bởi vì bản chất của các đàm phán thương mại quốc tế là loại bỏ các hạn chế đối với việc kinh doanh các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chứ không phải tập trung vào các nguyên tắc điều chỉnh sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ đó

Bên cạnh cách phân loại trên, dựa vào mục tiêu của dịch vụ được cung ứng, người ta có thể chia lĩnh vực thương mại dịch vụ thành bốn nhóm ngành cơ bản sau1:

1) Nhóm dịch vụ phân phối (distributive services), bao gồm các dịch

vụ vận chuyển, lưu kho, bán buôn, bán lẻ, quảng cáo, môi giới…

2) Nhóm dịch vụ sản xuất (producer services), bao gồm các dịch vụ

ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, dịch vụ kế toán kiểm toán, dịch vụ pháp lý…

Các dịch vụ thuộc nhóm 1) và 2) có liên quan chặt chẽ tới việc sản xuất, trao đổi, buôn bán sản phẩm… của hầu hết các ngành kinh tế, chúng tham gia đáp ứng các yếu tố đầu vào cho sản xuất hay phục vụ việc phân phối và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Bởi vậy, các dịch vụ thuộc hai nhóm này còn được xem là nhóm các dịch vụ trung gian

1 Handbook on Liberalizing International Transactions in Services of the United Nations and the Wold Bank, 1994

Trang 7

3) Nhóm dịch vụ xã hội (social services), bao gồm các dịch vụ sức

khỏe, y tế, giáo dục, dịch vụ vệ sinh, dịch vụ bưu điện, viễn thông, dịch

vụ nghe nhìn và các dịch vụ xã hội khác

4) Nhóm dịch vụ cá nhân (personal services), bao gồm các dịch vụ

sửa chữa, dịch vụ nhà hàng, khách sạn, du lịch, giải trí, văn hóa…

Các dịch vụ thuộc nhóm 3) và 4) được xếp vào nhóm dịch vụ về tiêu dùng, bởi chúng được cung ứng phục vụ nhu cầu tiêu dùng trực tiếp cho các cá nhân, tổ chức trong xã hội Trước đây, hầu hết các dịch vụ xã hội đều không mang tính thương mại, song ngày nay các dịch vụ này đã dần được thương mại hóa và trở thành một bộ phận của lĩnh vực thương mại dịch vụ

5.1.2 Vai trò của thương mại dịch vụ

Thương mại dịch vụ có vị trí ngày càng quan trọng trong buôn bán toàn cầu và trong cơ cấu thương mại, kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là

ở các quốc gia phát triển Tại nhiều nước hiện nay, một số ngành dịch vụ được xem là ngành kinh tế có vị trí mũi nhọn, ngành công nghiệp không ống khói Theo thống kê của WTO, tổng giá trị thương mại dịch vụ của những năm đầu thế kỷ XXI đã tăng gấp 4 lần so với năm 1980 Giá trị thương mại dịch vụ năm 2002 đạt 2.900 tỷ USD, chiếm 20% tổng giá trị thương mại thế giới1 Năm 2013, giá trị thương mại dịch vụ đạt 4.625 tỷ USD, chiếm 25,3% tổng giá trị thương mại thế giới Ở các nước phát triển, các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng khoảng 70 - 80% GDP, như: Anh: 78%, Pháp: 79%, Đức: 73%, Mỹ: 77%, và ở các nước đang phát triển tỷ trọng này cũng chiếm khoảng 50%2 Mỹ, EU và Nhật Bản là những quốc gia có sức cạnh tranh cao trong các ngành dịch vụ, đặc biệt

là các ngành dịch vụ tài chính, viễn thông, vận tải Các nước này đang tăng cường vị trí của thương mại dịch vụ nhiều hơn thương mại hàng hóa

ở cả thị trường trong nước và quốc tế Với vị trí đó, thương mại dịch vụ

đã đem lại những vai trò đặc biệt quan trọng cho các quốc gia trong thời đại ngày nay, cụ thể:

1 Nguồn: www.ilo.org

2 Nguồn: www.wto.org

Trang 8

- Thương mại dịch vụ có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đóng góp vào GDP/GNP của nền kinh tế các quốc gia Vai trò của thương mại

dịch vụ với tăng trưởng kinh tế không những thể hiện ở sự tăng trưởng nhanh chóng của bản thân những ngành dịch vụ mà vai trò này còn thể hiện ở việc thúc đẩy, hỗ trợ các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là vai trò của các ngành dịch vụ như viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải… Ở một số nước, để đưa một sản phẩm trị giá 100 USD đến tay người tiêu dùng, nhà sản xuất phải chi tới

10 USD cho dịch vụ vận tải, 10 USD cho dịch vụ viễn thông, 10 USD cho dịch vụ quảng cáo, 30 USD cho các dịch vụ liên quan đến sản xuất

và chỉ có 20 USD cho nguyên liệu và còn lại là các chi phí như tiền lương, quản lý… Như vậy, ngày nay cơ cấu giá trị dịch vụ trong một sản phẩm hàng hóa đã chiếm tới 60% và tỷ lệ này càng có xu hướng gia tăng cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự ra đời của các phương thức kinh doanh mới

Với khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đó, những đóng góp của thương mại dịch vụ vào GDP cũng ngày càng được khẳng định Theo WTO, giai đoạn 2005 - 2013, hàng năm bản thân thương mại dịch vụ trên thế giới có tốc độ tăng trưởng bình quân 8%, trong khi tốc độ tăng của thương mại hàng hóa là 6% Riêng năm 2013, tăng trưởng thương mại dịch vụ toàn cầu khoảng 6%, cao hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng của thương mại hàng hóa Về đầu tư, khoảng 60% giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ1

- Vai trò của thương mại dịch vụ với việc thúc đẩy phân công lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Ngày nay, cùng với sự phát triển của

lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, các ngành dịch vụ mới không ngừng ra đời và phát triển nhanh chóng Do vậy, lĩnh vực dịch vụ

đã ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân Đồng thời, một số ngành dịch vụ ra đời đã thúc đẩy tích cực trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các vùng, giữa các quốc gia, đưa đến xu thế

phân bổ nguồn lực theo nguyên lý cân bằng hiệu quả cận biên (Marginal Efficiency) Những tác động đó đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình

1

Nguồn: www.ilo.org

Trang 9

phân công lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong phạm vi từng quốc gia, cũng như trên phạm vi toàn thế giới phù hợp với lợi thế so sách của từng vùng và từng quốc gia

Thực tiễn cho thấy, tái cấu trúc của các nền kinh tế trên thế giới luôn nhất quán theo xu hướng là giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rõ rằng, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể, trình độ phát triển kinh tế, năng lực vận dụng, triển khai và sáng tạo công nghệ mà mỗi quốc gia, trong quá trình cấu trúc lại nền kinh tế sẽ đặt vị trí, vai trò của ngành dịch vụ theo

lộ trình phát triển riêng Nhất là ở các nước đang phát triển, nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ còn chưa phát triển ở mức cao, trong khi các quốc gia đó lại có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển ngành nông nghiệp hàng hóa thì phải thấy rõ vai trò của ngành nông nghiệp trong mối tương quan với công nghiệp và dịch vụ trong những giai đoạn lịch sử cụ thể để tích lũy vốn cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp, hiệu quả Mặt khác, lại cần phải thấy rõ xu hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp trong

cơ cấu kinh tế là tất yếu nhưng chỉ giảm về mặt tỷ trọng, giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp vẫn phải tiếp tục gia tăng để đóng góp vào GDP, tạo nên tiềm lực, sức mạnh vật chất cho nền kinh tế

Bên cạnh đó, thương mại dịch vụ phát triển sẽ đẩy mạnh quá trình hình thành và phát triển các mối liên kết, gắn kết các thành phần kinh tế với nhau, kết nối giữa ngành dịch vụ với các vùng kinh tế trong nước để phát huy được lợi thế so sánh, tạo nên sự khác biệt, độc đáo trong phát triển các ngành, lĩnh vực ngay trong từng vùng và tiểu vùng và các thành phần kinh tế trong toàn vùng Đặc biệt, kết nối trong việc mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới, tạo nên tính năng động, hiệu quả trong phát triển kinh tế và hoạt động kinh doanh

- Vai trò của thương mại dịch vụ đối với việc tạo ra công ăn việc làm cho xã hội Một mặt, qui mô của lĩnh vực dịch vụ ngày càng được

mở rộng sẽ đem lại công ăn việc làm ngày càng nhiều cho xã hội Mặt khác, đối với một số ngành dịch vụ, sự phát triển của nó sẽ đem lại sự gia tăng công ăn việc làm theo cả số tương đối và tuyệt đối Đây là những

Trang 10

lĩnh vực dịch vụ có cấu tạo hữu cơ (tỷ lệ lao động sống so với lao động vật hóa) mà việc sử dụng lao động sống có xu hướng tăng nhanh hơn lao

động vật hóa

Vấn đề tạo mở việc làm ngày càng nhiều của lĩnh vực thương mại dịch vụ đã tạo ra quá trình chuyển dịch lao động mà xu thế chung là số người làm việc trong các ngành dịch vụ tăng lên nhanh chóng Các ngành dịch vụ ngày càng chiếm ưu thế cả về số lượng và chất lượng lao động trong nền kinh tế Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia phát triển, như Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản, tỷ trọng lao động của các ngành dịch vụ chiếm khoảng 70 - 80% công ăn việc làm trong xã hội Chỉ tính riêng ngành du lịch, năm 2002 đã thu hút khoảng 204 triệu lao

động trên toàn thế giới (ước tính cứ 9 lao động thì có 1 lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch), chiếm khoảng 10,6% lực lượng lao động thế giới1

- Vai trò của thương mại dịch vụ đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Trước hết, từ khía cạnh tạo ra nhiều việc làm

cho xã hội của các ngành dịch vụ Việc làm tăng cũng đồng nghĩa với việc số người được giải quyết việc làm tăng lên, và vì thế thu nhập của

họ có xu hướng tăng theo, đặc biệt là những việc làm có giá trị gia tăng cao Điều này sẽ tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy tiến bộ xã hội Hơn thế, đối với những người lao động nghèo, các ngành dịch vụ tạo ra nhiều việc làm còn có ý nghĩa to lớn trong xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phân hóa giàu, nghèo giữa thành thị và nông thôn Xét trên khía cạnh này, phát triển thương mại dịch vụ còn tham gia tích cực vào quá trình đảm bảo tiến bộ xã hội

và thực hiện công bằng xã hội

Mặt khác, thực tế ngày nay ở hầu hết các quốc gia thì chất lượng cuộc sống đang phụ thuộc chủ yếu vào khả năng thỏa mãn nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ liên quan đến chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí, giải trí hay phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Bởi vậy, phát triển thương mại dịch vụ không những thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần phát triển kinh tế theo hướng bền vững

1

Nguồn: www.ilo.org

Trang 11

- Vai trò của thương mại dịch vụ với tăng cường hội nhập khu vực

và quốc tế, cải thiện cán cân thương mại của các quốc gia Xu thế tự do

hóa thương mại không chỉ còn diễn ra ở lĩnh vực thương mại hàng hóa,

mà tự do hóa thương mại dịch vụ cũng đã và đang từng bước mở ra mạnh

mẽ Hiện nay, các nước phát triển đang chú trọng vào phát triển và tìm

cơ hội xuất khẩu ở các ngành dịch vụ như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, y tế và giáo dục Các nước này thường thu được lợi ích rất cao nhờ vào những ngành dịch vụ và thường gây sức ép đòi hỏi các nước khác mở cửa hơn đối với thị trường này Mặc dù các nước đang phát triển và chậm phát triển thường có nhiều bất lợi khi mở cửa thị trường dịch vụ, song họ cũng đang khai thác những lợi thế so sánh của mình để hội nhập và cải thiện cán cân thương mại thông qua các ngành dịch vụ như du lịch, xuất khẩu lao động

Bên cạnh đó, cùng với những ngành dịch vụ truyền thống, như: vận tải, bán buôn, bán lẻ, du lịch… thì nhiều ngành dịch vụ mới, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ cao, góp phần hình thành giá trị gia tăng cao đang ra đời và phát triển mạnh mẽ Đó là các ngành dịch vụ như dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, dịch vụ khoa học - công nghệ, dịch vụ tư vấn đầu tư Các ngành dịch vụ này ra đời và phát triển không những để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có vai trò kết nối tất cả các nền kinh tế, kể cả các nền kinh tế phát triển và nền kinh tế đang phát triển, thu hẹp khoảng cách không gian và rút ngắn thời gian trong các giao dịch giữa các nền kinh tế Kết quả của sự kết nối này là làm cho các nền kinh tế có cơ hội hội nhập sâu rộng, hiệu quả hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới

Ngoài ra, thương mại dịch vụ còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường giao lưu văn hóa, chuyển giao công nghệ…

Nghiên cứu vai trò của thương mại dịch vụ cho thấy các nền kinh tế cần phải có chiến lược, chính sách phát triển và đầu tư thỏa đáng vào các ngành dịch vụ để phát triển, mở cửa và hội nhập quốc tế hiệu quả các ngành dịch vụ nhằm đạt được những đóng góp to lớn mà lĩnh vực kinh tế này mang lại

Trang 12

5.2 CÁC PHƯƠNG THỨC CUNG ỨNG TRONG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

5.2.1 Các phương thức cung ứng trong thương mại dịch vụ nói chung

Việc cung ứng dịch vụ nói chung (bao gồm cả việc cung ứng dịch vụ trong nước và quốc tế) trên thị trường được thực hiện thông qua những phương thức sau:

Phương thức cung cấp mà chỉ có sự di chuyển của dịch vụ Ở

phương thức này, nhà cung cấp và người tiêu dùng không cần có sự di chuyển vật lý, mà quá trình cung ứng được thực hiện nhờ có sự di chuyển dịch vụ từ nơi nhà cung ứng đến nơi người tiêu dùng dịch vụ Phương thức cung ứng đòi hỏi có sự phát triển của trình độ khoa học

công nghệ (internet, điện thoại, truyền hình…) để có thể tạo ra đường

dẫn cho sự vận động của dịch vụ Các dịch vụ tư vấn qua điện thoại, giáo dục từ xa, truyền hình… là những dịch vụ được cung ứng theo phương thức này Sự xuất hiện phương thức cung ứng có sự di chuyển của dịch

vụ trong thương mại dịch vụ đã tạo ra sự tách rời tương đối về mặt không gian giữa nhà cung cấp dịch vụ với người tiêu dùng dịch vụ Tuy nhiên, một số quan điểm cho rằng thực chất phương thức này là trường hợp đặc biệt của phương thức cung ứng dịch vụ tại nơi người tiêu dùng mà thôi Ngày nay, những tiến bộ về khoa học công nghệ đang mở ra những điều kiện ngày càng thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của phương thức cung ứng dịch vụ này

Phương thức cung ứng dịch vụ diễn ra tại nơi nhà cung ứng Đây

là phương thức cung ứng dịch vụ đòi hỏi người tiêu dùng phải đến tận nơi mà các dịch vụ được sản xuất ra để tiêu dùng Thường việc cung cấp dịch vụ ở đây gắn liền với những điều kiện cung ứng có tính cố định, không có khả năng dịch chuyển Chẳng hạn, việc cung cấp dịch vụ đòi hỏi phải có những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định để tạo ra

dịch vụ mà các điều kiện này thường không thể di chuyển được (khách sạn, bệnh viện, trường học) hoặc nơi cung cấp dịch vụ cần có những điều kiện tự nhiên, địa lý phù hợp (khu du lịch biển, bến cảng) Đây là phương

thức cung ứng khá phổ biến trong thương mại dịch vụ

Trang 13

Phương thức cung ứng dịch vụ diễn ra tại nơi người tiêu dùng

Phương thức cung ứng này đòi hỏi nhà cung ứng phải đến tận nơi người tiêu dùng có nhu cầu để cung cấp dịch vụ, chẳng hạn việc cung ứng dịch

vụ kế toán, kiểm toán, chuyên gia, bác sĩ tại nhà, gia sư… Phương thức cung ứng dịch vụ diễn ra tại nơi người tiêu dùng thường áp dụng đối với những dịch vụ mà các điều kiện tạo ra dịch vụ chủ yếu dựa vào yếu tố con người, ít cần đến điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật hay yếu tố tự nhiên đặc thù

Phương thức cung ứng diễn ra tại một địa điểm thứ ba Phương

thức này đòi hỏi cả nhà cung ứng dịch vụ và người tiêu dùng đều phải đến một địa điểm khác, không phải nơi nhà cung ứng và cũng không phải nơi người tiêu dùng để thực hiện việc cung ứng và tiêu dùng dịch vụ Những dịch vụ cung ứng theo phương thức này thường đòi hỏi một số lượng người tiêu dùng nhất định cùng tham gia vào tiêu dùng một dịch

vụ, chẳng hạn dịch vụ xe buýt, biểu diễn văn hóa, nghệ thuật…

5.2.2 Các phương thức cung ứng trong thương mại dịch vụ quốc tế

Trên cơ sở những phương thức cung ứng dịch vụ nói chung đã nghiên cứu ở trên, đồng thời dựa vào những đặc thù trong thương mại dịch vụ quốc tế, Hiệp định GATS của WTO đã chỉ ra 4 phương thức cung ứng dịch vụ sau1:

Phương thức 1: Phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới (Cross

Border) Đó là phương thức dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một

nước thành viên này vào trong lãnh thổ của một nước thành viên khác Ở phương thức này, việc cung ứng dịch vụ không đòi hỏi sự dịch chuyển vật lý của cả người tiêu dùng và nhà cung ứng dịch vụ, họ vẫn ở tại quốc gia mình Đây thực chất là phương thức cung cấp mà chỉ có sự di chuyển của dịch vụ, người cung cấp dịch vụ không xuất hiện trên lãnh thổ của nước thành viên tiêu dùng dịch vụ đó Ví dụ các dịch vụ có thể cung ứng theo phương thức này là dịch vụ cung cấp thông tin và tư vấn, dịch vụ đào tạo qua internet, fax, điện thoại, truyền hình hoặc dịch vụ chuyển tiền, vận chuyển hàng hóa…

1

Trang 14

Phương thức 2: Phương thức tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài

(Consumption Abroad) Là phương thức mà dịch vụ được cung cấp ở

một nước thành viên và người tiêu dùng dịch vụ phải sang nước đó để sử

dụng dịch vụ (mua dịch vụ), hay việc cung ứng dịch vụ diễn ra khi một

công dân của một nước đi đến một nước khác nơi mà ở đó anh ta được cung cấp dịch vụ Các dịch vụ thường được cung cấp theo phương thức này là dịch vụ du lịch, dịch vụ chữa bệnh, dịch vụ đào tạo…

Phương thức 3: Phương thức hiện diện thương mại (Commercial

Presence) Đây là phương thức mà nhà cung cấp dịch vụ thiết lập sự có

mặt của mình ở một nước thành viên khác để cung cấp dịch vụ thông qua hình thức pháp nhân, như thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh, công

ty con… Phương thức hiện diện thương mại liên quan đến các thủ tục xin

phép đầu tư các cơ sở cung cấp dịch vụ (Giáo dục, y tế, ngân hàng…) tại

một quốc gia khác Hiện nay, phương thức hiện diện thương mại là phương thức quan trọng nhất và cũng có nhiều nhạy cảm về kinh tế và xã hội mà các quốc gia phải cân nhắc khi thực hiện mở cửa thị trường theo phương thức này Về qui mô thương mại, thường các nước sử dụng số liệu thống kê liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và số liệu thống kê về thương mại của các tổ chức nước ngoài nhằm thống kê cho phương thức hiện diện của pháp nhân

Phương thức 4: Phương thức hiện diện của thể nhân (Presence of

Natural Person) Là phương thức mà nhà cung cấp dịch vụ cử đại diện

của mình sang nước thành viên khác để cung cấp dịch vụ thông qua hình thức chuyên gia, làm công, làm thuê của mình Trong phương thức cung ứng này, nhà cung ứng dịch vụ không phải là một doanh nghiệp, mà là một thể nhân Giống như phương thức cung ứng dịch vụ ở phương thức thứ 3 vừa đề cập, người tiêu dùng vẫn ở tại lãnh thổ của mình, chỉ có người cung ứng dịch vụ dịch chuyển đến với người tiêu dùng để cung ứng dịch vụ Ví dụ, một bác sĩ hoặc một y tá dịch chuyển đến một nước khác để cung ứng dịch vụ y tế chuyên môn

Việc lựa chọn và phát triển các phương thức cung ứng dịch vụ ở từng giai đoạn của mỗi quốc gia dựa trên cơ sở trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội, các điều kiện nguồn lực, lợi thế so sánh của quốc gia

Trang 15

đó Nghiên cứu các phương thức cung ứng trên trong thương mại dịch vụ giúp cho các quốc gia xây dựng chiến lược và qui hoạch, cũng như hoạch định chính sách cho lộ trình phát triển và hội nhập các ngành dịch vụ Thực tế, quá trình mở cửa thị trường và thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ của các quốc gia thường gắn liền với việc nghiên cứu mở cửa theo các phương thức cung ứng dịch vụ Đây cũng là cơ sở để các doanh nghiệp phân tích và lựa chọn loại hình kinh doanh, cung ứng dịch vụ, tìm kiếm cơ hội đầu tư và phát triển kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ

5.3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CÓ TÍNH ĐẶC THÙ CỦA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

So với thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ có những đặc điểm đặc thù riêng, cụ thể:

5.3.1 Đặc điểm về đối tượng trao đổi, cung ứng trong thương mại dịch vụ

Đây là đặc điểm cơ bản giúp chúng ta phân biệt giữa thương mại dịch vụ với thương mại hàng hóa Khác biệt căn bản giữa dịch vụ và hàng hóa với tư cách là đối tượng của hoạt động trao đổi được thể hiện ở đặc điểm là dịch vụ mang tính chất vô hình Tính vô hình của dịch vụ thể

hiện ở chỗ dịch vụ là những thứ mà khi đem bán không thể rơi vào chân bạn Quá trình sản xuất hàng hóa tạo ra những sản phẩm hữu hình có tính

chất cơ, lý, hóa học… nhất định, có tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thể và do

đó có thể sản xuất theo tiêu chuẩn hóa Khác với hàng hóa, dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những vật phẩm cụ thể, không nhìn thấy được và do đó trong quan hệ thương mại người ta không thể xác định chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những tiêu chuẩn kỹ thuật được lượng hóa

Chính điểm khác biệt cơ bản này đã ảnh hưởng rất lớn đến cách thức tiến hành các hoạt động thương mại, sự cạnh tranh và quan hệ cung cầu trên thị trường dịch vụ, đặc biệt là việc xây dựng khung khổ pháp lý và chính sách để quản lý, điều chỉnh thương mại dịch vụ ở cả phạm vi từng quốc gia cũng như ở phạm vi quốc tế

Trang 16

5.3.2 Đặc điểm của quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng dịch vụ

Lưu thông dịch vụ không thể tách khỏi sản xuất và tiêu dùng để trở thành một khâu độc lập Mặt khác, do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn

ra đồng thời nên việc cung ứng dịch vụ trên thị trường thường không thể sản xuất đồng loạt, không có bán buôn, và không thể lưu kho sau đó mới đưa đến cho tiêu dùng Điều này đưa đến những đặc thù rủi ro trong kinh doanh của lĩnh vực thương mại dịch vụ

Cũng do quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và tính chất vô hình của dịch vụ nên trong thương mại dịch vụ người mua không thể nhìn thấy trước sản phẩm mà họ phải trả tiền Đặc tính này làm cho quá trình trao đổi ở thương mại dịch vụ trở nên có tính rủi ro hơn so với thương mại hàng hóa Thông thường để giúp cho người mua dễ dàng hình dung ra sản phẩm mà mình sẽ được cung ứng, trong

thương mại dịch vụ người cung ứng (người bán) thường cố gắng hữu

hình hóa những yếu tố, điều kiện tạo ra dịch vụ đó Đồng thời, để hạn chế rủi ro, người mua thường đặc biệt quan tâm đến uy tín, tiếng tăm và lịch

sử có mặt trên thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ

5.3.3 Đặc điểm về chủ thể trao đổi trong thương mại dịch vụ

Chủ thể tham gia trao đổi, mua bán dịch vụ trên thị trường bao gồm

chủ yếu người bán (nhà cung ứng) dịch vụ và người mua (người tiêu dùng) dịch vụ

Trong thương mại dịch vụ, nhà cung ứng (hoặc người cung ứng)

dịch vụ được hiểu là bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào tiến hành cung ứng các dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận Nhà cung ứng dịch

vụ nói chung trong nền kinh tế có thể là chính phủ, các tổ chức xã hội, đoàn thể, các doanh nghiệp, các cá nhân Tuy nhiên, trong thương mại dịch vụ thì nhà cung ứng dịch vụ chủ yếu là các doanh nghiệp và các cá nhân Người tiêu dùng trong thương mại dịch vụ là bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào có nhu cầu được thỏa mãn một hoặc một số dịch vụ nào đó trên thị trường Những người tiêu dùng này có thể là chính phủ, các tổ chức

xã hội, đoàn thể, doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân nếu việc thỏa mãn nhu cầu dịch vụ đó được thông qua thị trường

Trang 17

Trong thương mại dịch vụ, ngoài nhà cung ứng và người tiêu dùng dịch vụ thường rất ít có sự tham gia của các trung gian thương mại Điều này xuất phát từ đặc điểm sản xuất, lưu thông và tiêu dùng dịch vụ diễn

ra đồng thời về không gian và thời gian Tuy nhiên, cũng có thể có các

trung gian thương mại, chẳng hạn như các đại lý, môi giới dịch vụ (đại lý

du lịch, đại lý hàng không, trung tâm tư vấn du học…), song những trung

gian thương mại ở đây chỉ có vai trò để ghép nối giữa nhà cung ứng và người tiêu dùng dịch vụ về mặt thông tin, thủ tục đăng ký mà thôi Trong thương mại dịch vụ, người cung ứng dịch vụ và dịch vụ thường không thể tách rời nhau, dịch vụ luôn gắn liền với người sản xuất

ra nó Vì vậy, quá trình chuyển giao quyền sở hữu dịch vụ từ người bán sang người mua thường không xảy ra, mà để tiêu dùng thì người tiêu dùng dịch vụ phải tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng dịch vụ đó

5.3.4 Đặc điểm về cung dịch vụ trên thị trường

Trước hết, là tính cứng và khả năng khó điều hòa của cung trên thị trường dịch vụ Đặc điểm này thể hiện chủ yếu đối với trường hợp mà

cung ứng và tiêu dùng dịch vụ diễn ra tại nơi người cung ứng dịch vụ, chẳng hạn như đối với dịch vụ khách sạn, dịch vụ y tế tại các bệnh viện, dịch vụ giáo dục tại các trường học Đối với những dịch vụ này, việc cung ứng dịch vụ thường gắn liền với các yếu tố, điều kiện cung ứng có tính cố định Và do đó, phần lớn các dịch vụ này là không thể di chuyển được Mặt khác, cùng với khả năng không thể dự trữ của dịch vụ mà việc điều hòa của cung theo cầu sẽ không thể thực hiện được trong một thời gian ngắn

Tính liên ngành và đa dạng trong cung ứng dịch vụ trên thị trường

Lĩnh vực dịch vụ có đặc điểm nổi bật là sự liên kết cao giữa các ngành và phân ngành dịch vụ Một mặt, sự phát triển của mỗi ngành kinh doanh dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào các ngành dịch vụ khác như là các yếu tố đầu vào Nhiều ngành dịch vụ được xem như ngành dịch vụ cơ sở hạ tầng cho sự phát triển nền kinh tế và các ngành dịch vụ khác, như ngành dịch vụ tin học, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm… Mặt khác, do tính chất của nhiều loại nhu cầu về dịch vụ mà sự thoả mãn chúng đòi hỏi sản

Trang 18

phẩm dịch vụ được cung ứng không chỉ là những dịch vụ riêng lẻ mà chúng phải được cung ứng như là một tổ hợp gồm nhiều dịch vụ có tính chất bổ sung lẫn nhau Bởi vậy, để phát triển thương mại dịch vụ, các quốc gia cần phải coi trọng tính liên ngành, tăng cường việc liên kết và phối hợp hoạt động của các ngành dịch vụ để cùng tạo ra và cung ứng các dịch vụ cho thị trường

Về tính đa dạng của các loại hình dịch vụ Dịch vụ là lĩnh vực rất

rộng, đa dạng về ngành nghề, về quy mô và tính chất kinh doanh Bên cạnh một số ngành dịch vụ quy mô kinh doanh lớn về vốn đầu tư; cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ hiện đại, lao động chuyên môn cao, như: Dịch vụ viễn thông, dịch vụ tài chính, dịch vụ hàng không, vận tải biển, vận tải đường sắt… còn có vô số ngành dịch vụ kinh doanh nhỏ, linh hoạt, phân tán, lao động giản đơn, thích hợp với loại hình kinh doanh hộ gia đình hoặc doanh nghiệp nhỏ Những ngành dịch vụ này tồn tại khách quan do nhu cầu đời sống, như: Dịch vụ trông xe, giữ trẻ, xe ôm, giúp việc gia đình… Cho dù sự phát triển ở trình độ nào của nền kinh tế thì chúng vẫn tồn tại như là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh

tế - xã hội và vai trò của chúng không nhỏ, nhất là trong việc thỏa mãn nhu cầu muôn hình, muôn vẻ của đời sống xã hội và tạo công ăn việc làm cho dân cư

Bên cạnh đó là sự đa dạng về vai trò của lĩnh vực dịch vụ đối với đời sống và sản xuất - kinh doanh Có nhiều ngành dịch vụ là những ngành quan trọng, cung cấp yếu tố đầu vào cho sản xuất - kinh doanh và trình

độ của những ngành dịch vụ này có ảnh hưởng rất lớn tới sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ của quốc gia, như các ngành dịch vụ logistic, dịch vụ tin học, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm… Nhiều ngành dịch vụ không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất – kinh doanh mà cả nhu cầu sinh hoạt của dân cư, như: Dịch vụ viễn thông, vận tải, phân phối Một số ngành dịch vụ lại hoàn toàn chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của dân cư, như: Dịch vụ du lịch, giặt là, chăm sóc sắc đẹp, thời trang

Tính nhạy cảm và khó kiểm soát đối với các hoạt động cung ứng dịch vụ trên thị trường Thực tế, nhiều dịch vụ được cung ứng ra thị

Trang 19

trường có tính nhạy cảm, có thể gây ra những tác động xấu đến văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục hay an ninh, chính trị Điều này đặt ra đòi hỏi phải có sự kiểm soát của nhà nước đối với những dịch vụ được cung ứng ra thị trường Khác với thương mại hàng hóa, việc kiểm soát quá trình cung ứng dịch vụ là rất khó khăn, đặc biệt là việc cung ứng dịch vụ thông qua các phương tiện số hóa Chẳng hạn, kiểm soát việc cung ứng dịch vụ qua biên giới, nhà nước không thể thông qua các thủ tục, bộ máy hải quan như trong thương mại hàng hóa mà phải sử dụng những phương tiện kỹ thuật, công nghệ đặc biệt Hơn nữa, trong thời đại ngày nay khi lợi thế so sánh trong các lĩnh vực dịch vụ có nhiều hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao đang nghiêng về phía các nước phát triển Điều này cũng đã trở thành vấn đề nhạy cảm và có nhiều bất đồng trong đàm phán

mở của thị trường dịch vụ, đặc biệt là giữa các nước phát triển và đang phát triển

Ngoài ra, về cung dịch vụ còn có một số đặc điểm khác, như: Dễ bắt chước trong sản xuất và cung ứng, tính đặc thù trong phương thức cung ứng dịch vụ…

5.3.5 Đặc điểm về cầu dịch vụ trên thị trường Đó là tính không

ổn định và tính thời điểm, thời vụ của cầu

Trái với cung có tính ổn định thì cầu dịch vụ lại có tính không ổn định, cầu dịch vụ trên thị trường thường tập trung vào những mùa vụ nhất định trong năm, hoặc một số thời điểm trong ngày Đặc điểm này bắt nguồn từ cầu của nhiều dịch vụ phụ thuộc vào những điều kiện bất khả kháng, yếu tố có tính nhạy cảm, như: Điều kiện về khí hậu, tình hình chính trị, vấn đề sắc tộc, tôn giáo, thời gian tiêu dùng Ví dụ, trong kinh doanh du lịch, cầu du lịch thường tập trung theo mùa có những điều kiện

tự nhiên phù hợp và thời gian nhàn rỗi của dân cư Hay cầu về các dịch

vụ viễn thông (điện thoại, internet) thường có tính thời điểm và diễn ra

chủ yếu vào những giờ hành chính… Bên cạnh đó, cầu đối với một số dịch vụ có tính co giãn rất mạnh với thu nhập của dân cư và có thể nằm trong danh sách bị cắt giảm đầu tiên của mỗi cá nhân, hộ gia đình khi thu nhập của họ giảm, đặc biệt là nhu cầu về các dịch vụ du lịch, dịch vụ vui chơi, giải trí

Trang 20

5.3.6 Đặc điểm về quan hệ cung - cầu, cạnh tranh và giá cả trên thị trường dịch vụ

Do mâu thuẫn giữa tính cứng, khó điều hòa của cung và tính không

ổn định, tính thời vụ, thời điểm của cầu mà trên thị trường dịch vụ sự không ăn khớp, mâu thuẫn giữa cung và cầu dịch vụ thường xảy ra gay gắt Mâu thuẫn này đưa đến sự tách rời giữa giá cả và giá trị của dịch vụ trên thị trường rất lớn Việc tách rời này có thể đưa đến sự cạnh tranh gay

gắt giữa những nhà cung cấp dịch vụ (khi cung > cầu) hoặc gây nhiều thiệt thòi cho người tiêu dùng (khi cung < cầu)

Hình: Sự vận động của giá cả hàng hóa, dịch vụ

xoay quanh giá trị

Để khắc phục đặc điểm này, các nhà cung cấp dịch vụ thường sử dụng chính sách đa dạng hóa sản phẩm hoặc đưa ra những mức giá phân biệt theo thời vụ và thời điểm tiêu dùng Đồng thời, để bảo vệ quyền lợi của các nhà cung ứng hoặc người tiêu dùng, nhà nước cũng thường có những chính sách nhất định để can thiệp vào thị trường dịch vụ

5.3.7 Đặc điểm dễ tạo ra những rào cản cho quá trình tự do hóa thương mại

Một số đặc điểm đặc thù của lĩnh vực dịch vụ khiến cho việc điều chỉnh và tiến hành tự do hóa thương mại gặp những khó khăn đặc biệt

Giá trị hàng hóa/ dịch vụ Giá cả dịch vụ

Giá cả hàng hóa

Trang 21

Trước hết, chức năng và vị trí chiến lược của một số ngành dịch vụ thường khiến cho các ngành dịch vụ đó trở thành đối tượng chịu sự chi phối độc quyền của nhà nước Cho đến nay, ở nhiều nước, thậm chí ngay

cả ở những nước phát triển thì một số ngành dịch vụ quan trọng, như: Viễn thông, năng lượng, vận tải, y tế hay giáo dục vẫn thuộc lĩnh vực độc quyền của nhà nước Khi vị trí của nhà nước trong các ngành dịch vụ vẫn được đảm bảo thì ở đó thường dịch vụ được cung ứng ra thị trường với mức giá thấp, điều này cũng có thể tác động ngược lại về chất lượng dịch

vụ, ảnh hưởng trực tiếp tới tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Đồng thời, một đặc điểm khác của dịch vụ là phụ thuộc nhiều vào các yếu tố sản xuất như: Nhân công, vốn và công nghệ Trong thực tế, quá trình tự do hóa thương mại các ngành dịch vụ thường đòi hỏi sự tự do hóa các yếu tố sản xuất, trong khi một số trường hợp lại rất khó đạt được từ góc độ chính trị, như trường hợp về dịch chuyển lao động Bên cạnh đó, từ góc

độ kinh tế như đã nói ở trên thì dịch vụ lại phụ thuộc vào thị trường không hoàn hảo - nghĩa là thị trường có sự can thiệp hay độc quyền của nhà nước mà theo đó những đặc điểm này đã tạo ra các rào cản phức tạp hơn cho quá trình thực hiện tự do hóa thương mại ở lĩnh vực dịch vụ Mặt khác, trong quá trình tự do hóa thương mại dịch vụ thì điểm khác biệt quan trọng so với thương mại hàng hóa được thể hiện ở hình thức bảo hộ của các quốc gia đối với các ngành dịch vụ Khi các rào cản trong thương mại hàng hóa bao gồm thuế nội địa hay hạn ngạch thường rất dễ nhận biết và dễ định lượng, trong khi đối với thương mại dịch vụ thì ngược lại Đó là các rào cản lại vô hình Các rào cản này là các quy định, luật lệ, sự độc quyền mà việc nhận biết hay loại bỏ chúng đều rất khó khăn

Hơn nữa, không giống các ngành kinh tế khác, việc tự do hóa thương mại dịch vụ đòi hỏi phải có một khuôn khổ pháp lý tốt, giúp ngăn ngừa các tác động ngược, như trong trường hợp tự do hóa sớm các dịch

vụ tài chính Vì vậy, tự do hóa thương mại dịch vụ thường không phụ thuộc vào sự mặc cả có đi có lại như trong trường hợp thương mại hàng hóa, mà thực tế cho thấy: Tự do hóa thương mại dịch vụ được thực hiện chủ yếu như là kết quả của áp lực trong nước đối với việc nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế

Trang 22

Như vậy, có thể nói cùng với sự đa dạng, rộng lớn về lĩnh vực hoạt động và với những đặc điểm có tính đặc thù riêng so với thương mại hàng hóa của thương mại dịch vụ mà: Một mặt, trong lĩnh vực thương mại dịch vụ việc quản lý mỗi lĩnh vực chuyên ngành thường được giao cho ngành dịch vụ cụ thể quản lý, điều này hình thành nên các ngành dịch vụ tương ứng như: Ngành viễn thông; Ngành ngân hàng; Ngành bảo hiểm; Ngành dịch vụ phân phối; Ngành du lịch Mặt khác, mỗi ngành, lĩnh vực thương mại dịch vụ đòi hỏi việc quản lý, lộ trình hội nhập và phát triển phải có hệ thống cơ sở pháp lý, chiến lược, qui hoạch, chính sách, cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật… phù hợp Đồng thời, những đặc điểm đặc thù này cũng đặt ra yêu cầu đối với mỗi doanh nghiệp trong

lĩnh vực thương mại dịch vụ phải đầu tư phát triển nguồn lực (nguồn lao động, con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, vốn…), tiến hành

quản trị và đưa ra các chính sách kinh doanh phù hợp với những đặc điểm đặc thù của lĩnh vực thương mại dịch vụ nói chung và từng lĩnh vực dịch vụ chuyên ngành nói riêng

5.4 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 5.4.1 Xu hướng tăng nhanh qui mô và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu thương mại của các quốc gia

Thương mại dịch vụ sẽ có xu hướng ngày càng tăng nhanh về tốc độ

và qui mô Với tốc độ tăng nhanh hơn so với thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ sẽ ngày càng có vị trí, tỷ trọng cao trong cơ cấu thương mại của các quốc gia Xu hướng này bắt nguồn từ một số lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội ở các quốc

gia ngày càng cao thì nhu cầu thỏa mãn những đòi hỏi về chất lượng cuộc sống của con người cũng tăng lên Trong điều kiện đó, do đặc điểm sinh lý tiêu dùng mà nhiều nhu cầu về vật chất có thể bị giới hạn, thay vào đó các nhu cầu về dịch vụ trở nên được coi trọng hơn, với sự phát triển không ngừng về loại hình, qui mô và chất lượng dịch vụ

Thứ hai, các lĩnh vực dịch vụ có xu hướng ngày càng được thương

mại hóa Với nhiều loại dịch vụ vốn trước đây được coi là những dịch vụ

Trang 23

công, do chính phủ cung cấp, không mang tính thương mại thì hiện nay

do nhiều lý do, như: Đòi hỏi của sự phát triển nền kinh tế thị trường, yêu cầu của quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế mà quá trình thương mại hóa các dịch vụ này đang và sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi Mặt khác, chính

xu hướng xóa bỏ kinh tế tự cung, tự cấp, sự phát triển của phân công lao động xã hội cũng đã từng bước chuyển nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ vốn do các gia đình, doanh nghiệp tự cung cấp sang cho xã hội đảm nhiệm thông qua thị trường mà ở đó các dịch vụ được cung ứng mang tính thương mại

Thứ ba, trong thương mại quốc tế, thương mại dịch vụ sẽ có qui mô

và chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong thương mại quốc tế của mỗi quốc gia cũng như trong thương mại toàn cầu Điều này xuất phát từ chính các

lý do gia tăng thương mại dịch vụ tại các quốc gia (như đã nói ở trên), và

mặt khác là do mức độ tự do hóa thương mại dịch vụ trên thế giới đang gia tăng mạnh mẽ thông qua các thỏa thuận tự do hóa thương mại song

phương và đa phương (sẽ được nói rõ hơn ở xu hướng tại mục 5.4.4)

Thực tế hiện nay, thương mại dịch vụ quốc tế đang chiếm khoảng 25% thương mại quốc tế so với thương mại hàng hóa là 75% Song với tốc độ

tăng trưởng mạnh mẽ trong hơn thập kỷ gần đây (giai đoạn 2000 - 2005 tăng trung bình 11%, giai đoạn 2005 - 2013 là 8%, tốc độ này tăng gấp rưỡi so với thương mại hàng hóa), thì xu hướng cơ cấu của thương mại

dịch vụ quốc tế ngày càng tăng lên trong thương mại quốc tế là một điều tất yếu

5.4.2 Xu hướng ngày càng gia tăng tỷ trọng những loại dịch vụ

sử dụng hàm lượng tri thức, công nghệ cao

Xu hướng này bắt nguồn từ quá trình toàn cầu hóa và vị trí, sự phát triển của nền kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay Theo đó, các loại

dịch vụ sử dụng nhiều tri thức và công nghệ cao (dịch vụ viễn thông, tin học; dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; dịch vụ y tế; giáo dục; hàng không…) sẽ gia tăng mạnh mẽ và chiếm ưu thế về cả tốc độ tăng trưởng

lẫn qui mô doanh thu so với các loại dịch vụ truyền thống, sử dụng nhiều

Trang 24

lao động giản đơn (dịch vụ du lịch; vận tải…) Với từng loại dịch vụ, tỷ

trọng hàm lượng tri thức cũng sẽ tăng lên Ví dụ, đối với dịch vụ du lịch,

xu hướng ứng dụng các thành tựu tri thức và công nghệ sẽ được gia tăng

để thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách du lịch cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của các nhà cung ứng dịch vụ

Sự ứng dụng này có thể là việc cho phép khách du lịch đăng ký đặt phòng, đặt vé từ xa qua mạng internet, hoặc khách du lịch có thể thực hiện chuyến du lịch trên mạng internet, không gian ảo để giảm các chi phí trong khi vẫn thỏa mãn được những khám phá và trải nghiệm của mình về một một địa danh du lịch Theo đó, bên cạnh phương thức cung ứng dịch vụ truyền thống hiện đang phổ biến thì cung ứng dịch vụ theo phương thức cung ứng dịch vụ có sự di chuyển của dịch vụ sẽ trở thành

phương thức được gia tăng mạnh trong tương lại (vấn đề này sẽ đề cập

kỹ ở xu hướng tại mục 5.4.3)

5.4.3 Xu hướng thay đổi phương thức cung ứng dịch vụ

Ngày nay, nền kinh tế tri thức đã hiện diện và tạo ra những thay đổi ngày càng rõ nét ở nhiều lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế - xã hội Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, những tiến bộ về công nghệ thông tin đã đem đến những thay đổi lớn về phương thức cung ứng dịch vụ Đó

là xu hướng có sự gia tăng phương thức cung ứng dịch vụ qua mạng

thông tin toàn cầu (Internet) dưới hình thức thương mại điện tử Commerce) Hay nói cách khác, cung ứng dịch vụ theo phương thức mà

(E-chỉ có sự di chuyển của dịch vụ sẽ có thể thay thế các phương thức cung ứng dịch vụ truyền thống trước đây ở nhiều ngành dịch vụ

Trong thương mại dịch vụ quốc tế, phương thức cung ứng dịch vụ

qua biên giới (phương thức 1 được đưa ra ở GATS) sẽ có xu hướng gia

tăng và thậm chí thay thế các phương thức khác Ví dụ, trong lĩnh vực dịch vụ đào tạo, trước đây dịch vụ này được cung cấp thông qua các phương thức mà người cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ không tách biệt, lấy giảng viên làm trung tâm, giảng đường làm nơi truyền thụ kiến thức thì hiện nay và trong tương lai việc cung ứng dịch

vụ này có xu hướng chuyển sang phương thức cung cấp dịch vụ qua hệ

Trang 25

thống kỹ thuật số, như internet, truyền hình… cho phép người học có thể ngồi tại nhà mình, không cần đến trường lớp, tiếp xúc trực tiếp với giảng viên mà vẫn có thể trao đổi kiến thức với giảng viên Hay nhiều dịch vụ trước đây được cung ứng chủ yếu qua các phương thức 2, 3, 4 thì cũng

có thể được thay thế bằng phương thức 1 của GATS, ví dụ như các dịch

vụ du lịch, tài chính, đào tạo, phân phối…

Ngoài ra, khoa học kỹ thuật hiện đại đang làm thay đổi tính chất truyền thống của dịch vụ khiến dịch vụ có tính chất hàng hóa nhiều hơn trong các quan hệ thương mại Theo quan niệm truyền thống, dịch vụ là hoạt động có tính chất xã hội, tạo ra các sản phẩm phi vật thể Vì thế, khác với các sản phẩm hàng hóa hữu hình, dịch vụ thường không thể lưu trữ được, không thể vận chuyển được mà chỉ có thể sử dụng ở nơi sản xuất Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển đã làm thay đổi tính chất truyền thống này, khiến một số dịch vụ có tính chất của hàng hóa hữu hình nhiều hơn, vừa lưu trữ và vận chuyển được đến mọi nơi, vừa có thể

sử dụng trong thời gian dài, thậm chí gần như vô hạn Các sản phẩm dịch

vụ như phần mềm máy tính được sản xuất, đóng gói và bán hàng loạt trên thị trường như hàng hóa thông thường Các buổi biểu diễn ca nhạc không chỉ được ghi thành đĩa CD và DVD mà còn truyền hình trực tiếp đến các nơi Nhờ internet, các sản phẩm dịch vụ tri thức đã vượt xa tính chất của hàng hóa thông thường, có thể được truy cập vô số lần mà không bị hao mòn…

Sự thay đổi này mặc dù mang lại nhiều lợi ích cho cả bên cung ứng

và tiêu dùng dịch vụ, song nó cũng đòi hỏi nền kinh tế phải có môi trường cung ứng dịch vụ phát triển đồng bộ, như: Hệ thống cơ cơ hạ tầng

về công nghệ thông tin, pháp lý, các thỏa thuận thương mại quốc tế liên quan đến thương mại điện tử… Đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu đặc biệt trong quản lý của nhà nước đối với việc cung ứng dịch vụ qua phương thức này

5.4.4 Xu hướng phát triển thương mại dịch vụ quốc tế

Vấn đề khu vực hóa, toàn cầu hóa đã tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia Trong lĩnh vực thương mại, vấn

Trang 26

đề khu vực hóa, toàn cầu hóa không chỉ tác động đến thương mại hàng hóa mà cũng đã và đang tác động mạnh mẽ đến cả lĩnh vực thương mại dịch vụ Tư tưởng tự do hóa và đa phương hóa thương mại dịch vụ đã được nhen nhóm từ những năm 1960 khi mà các quốc gia thành viên của

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) tham gia kí kết các đạo luật về tự do hóa, hay các thành viên của Cộng đồng châu Âu (EC, nay là Liên minh châu Âu - EU) đưa vào Hiệp ước Roma - Hiệp ước nền tảng

thành lập Cộng đồng châu Âu Những tư tưởng này lại được thổi bùng lên trong thập kỷ 90 với hàng loạt các hiệp định khu vực, như Hiệp định

tự do hóa thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên của Khu vực mậu

dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), thỏa thuận khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) được xây dựng vào năm 1995 giữa các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), hay Chương trình hành động tập thể về dịch vụ (SCAP) của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được đưa ra năm 1995… Đặc biệt là Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) giữa các nước thành viên của WTO

đưa ra năm 1994 Như vậy, xu hướng thương mại dịch vụ đã và đang trở thành một đối tượng được chú trọng mở rộng và tạo thuận lợi cho giao lưu buôn bán trong nội bộ các thể chế khu vực và trên toàn cầu do những lợi ích và ý nghĩa to lớn mà tự do hóa thương mại dịch vụ đem lại

Phát triển thương mại dịch vụ quốc tế theo hướng tự do hóa sẽ vẫn tiếp tục tồn tại hai xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa Đối với mỗi khu vực, hợp tác về thương mại dịch vụ có các yêu cầu cụ thể và phương thức hội nhập khác nhau tùy theo đặc thù từng nhóm nước và khu vực, nhưng xét về tổng thể đều hướng tới mục tiêu tự do hóa thương mại dịch

vụ giữa các nước thành viên Trên phạm vi toàn cầu, thương mại dịch vụ dưới sự điều tiết của WTO cũng đang được toàn cầu hóa một cách mạnh

mẽ WTO đã có riêng một Hiệp định GATS để điều chỉnh thương mại dịch vụ quốc tế Mục tiêu của WTO là nhằm tiến tới một thị trường dịch

vụ cạnh tranh, thống nhất trên phạm vi toàn thế giới thông qua việc từng bước dỡ bỏ những rào cản gây trở ngại cho thương mại dịch vụ

Tuy nhiên, bên cạnh xu hướng phát triển mạnh mẽ, có tính chủ đạo của khu vực hóa, toàn cầu hóa và tự do hóa thì cũng vẫn tồn tại xu hướng

Trang 27

bảo hộ trong thương mại dịch vụ giữa các nước Do một số lĩnh vực dịch

vụ có tính nhạy cảm mà hầu hết các quốc gia đã xây dựng những rào cản nhằm hạn chế những tổn thương có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế Những rào cản thương mại này đã và đang hạn chế quá trình toàn cầu hóa của lĩnh vực dịch vụ, bóp méo tự do hóa cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong nước với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Điều đó khiến các nhà cung cấp dịch vụ trong nước ít chịu đổi mới công nghệ cũng như cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ để có thể đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng dịch vụ Những rào cản được áp dụng chủ yếu là những hạn chế đối với việc mở cửa thị trường dịch vụ và những hạn chế về áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia Những hạn chế này trong tương lai sẽ vẫn tập trung nhiều nhất vào

phương thức thứ 3 được nêu ra trong GATS (Phương thức hiện diện thương mại) như là những hạn chế về việc hình thành pháp nhân, về mức

tối đa sở hữu nước ngoài đối với các công ty trong nước, hạn chế số lượng giấy phép cấp cho các công ty nước ngoài dưới dạng hạn ngạch bằng số hay dưới dạng những thử nghiệm về nhu cầu kinh tế hoặc việc tùy quyền định đoạt trong việc cấp giấy phép của các cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại Những hạn chế về lĩnh vực hoạt động, địa bàn hoạt động, về giá trị của giao dịch mà các hiện diện thương mại được phép tiến hành cũng nằm trong danh mục những hạn chế mà các nước cũng sẽ hay đưa ra Đối với nguyên tắc đối xử quốc gia, những phân biệt đối xử giữa các công ty trong nước và nước ngoài trong những năm tới cũng vẫn sẽ còn được các quốc gia tận dụng như phân biệt trong việc mua sắm, đấu thầu hay những hạn chế về sở hữu đất cũng như vấn

đề về cư trú, cấp giấy phép lao động hay không công nhận chứng chỉ, trình độ chuyên môn của nhân lực các công ty nước ngoài trong việc cung cấp các dịch vụ nghề nghiệp và đặc biệt là mức phí, thuế phân biệt đối xử, trợ cấp ưu đãi…

Trang 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Dương Phú Hiệp và Vũ Văn Hà (2001), Toàn cầu hóa kinh tế,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

2 Nguyễn Hữu Khải và Vũ Thị Hiền (2007), Các ngành dịch vụ Việt Nam - Năng lực cạnh tranh và Hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Thống kê,

6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình luật thương mại quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

7 Carbaugh.R (2010), International Economics, 13 th ed,

South-Western College Publishing

8 Mattoo A and R Stern, G.Zanini (2008), A handbook of International Trade in Services, Oxford

9 Julia Nielson and Daria Taglioni of the OECD Trade Directorate

(2003), Services Trade Liberalization: Identifying Opportunities and Gains

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Phân tích bản chất và vai trò kinh tế - xã hội của thương mại dịch vụ? Liên hệ vấn đề này trong thực tiễn ở nước ta hiện nay?

2 Phân tích những đặc điểm có tính đặc thù của thương mại dịch vụ? Ý nghĩa nhận thức vấn đề này trong phát triển và quản lý nhà nước

về thương mại?

Trang 29

3 Trình bày các phương thức cung ứng trong thương mại dịch vụ?

Xu hướng phát triển của các phương thức và ý nghĩa trong phát triển và quản lý nhà nước về thương mại?

4 Phân tích các xu hướng phát triển của thương mại dịch vụ? Liên

hệ thực tiễn ở Việt Nam và ý nghĩa của việc nhận thức vấn đề này trong quản lý nhà nước về thương mại?

5 Trình bày khái quát quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam về thương mại dịch vụ? Những thời cơ, thách thức và các giải pháp cơ bản cho hội nhập kinh tế thương mại dịch vụ của Việt Nam hiện nay?

Trang 30

Chương 6

LỢI THẾ SO SÁNH

VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ THƯƠNG MẠI

Trong chương này, giáo trình tập trung giới thiệu các nội dung: Thứ nhất, một số lý thuyết về lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế; Thứ hai, qua đó chỉ ra bản chất và tính tất yếu khách quan của quá trình toàn cầu hóa, tự do hóa về kinh tế và thương mại, cũng như chỉ ra những tác động và xu hướng phát triển của quá trình này; Thứ ba, phân tích sự ra đời và phát triển của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đồng thời giới thiệu cho người học những mục tiêu và nội dung cơ bản của một số hiệp định trong WTO; Thứ tư, chỉ ra sự cần thiết, bản chất và các hình thức (cấp độ) hội nhập kinh tế thương mại quốc tế, đặc biệt là sự hội nhập kinh tế thương mại của các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hóa về kinh tế và thương mại

6.1 NHỮNG LÝ THUYẾT VỀ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG THƯƠNG MẠI

Dưới góc độ kinh tế, khan hiếm nguồn lực luôn là bài toán đặt ra trong thực tiễn phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Giải quyết bài toán này trong điều kiện phát triển thương mại quốc tế được xem là giải pháp tối

ưu, bởi thương mại quốc tế giúp khai thác hiệu quả các nguồn lực lao động, vốn, công nghệ và những tài nguyên sẵn có của các quốc gia Tuy nhiên, điều gì là cơ sở cho các quốc gia phát triển quan hệ thương mại, lợi ích thương mại quốc tế đem lại cho các quốc gia là gì, thì phải đến thế

kỷ 15, bắt đầu từ các học giả Trọng thương, các câu hỏi này mới được nghiên cứu và tìm lời giải Đến thế kỷ XVIII, các nhà kinh tế thuộc trường phái cổ điển, đầu tiên là Adam Smith rồi David Ricardo đã phát triển thêm lý thuyết và đưa ra khái niệm lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh - đặt

cơ sở cho những nghiên cứu thương mại quốc tế sau này Đầu thế kỷ XX,

lý thuyết tân cổ điển (Lý thuyết H-O) của hai nhà kinh tế E.Heckscher,

Trang 31

B Ohlin lại chỉ ra mức độ sẵn có và sự toàn dụng của yếu tố sản xuất ở các quốc gia trong sản xuất các mặt hàng khác nhau mới là nhân tố quan trọng quyết định đến giao lưu thương mại giữa các quốc gia Các lý thuyết thương mại hiện đại sau này lại lý giải từ hiệu suất tăng dần theo quy mô, từ công nghệ và từ phía cầu… Cụ thể sau đây là những lý thuyết

về lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế đã được nghiên cứu và được xem là cơ sở quan trọng cho các lựa chọn kinh tế khi nghiên cứu kinh tế thương mại

6.1.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối (Adam Smith)

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối được nhà kinh tế học cổ điển người Anh

Adam Smith (1723-1790) đưa ra năm 1776 trong tác phẩm Nghiên cứu

về bản chất và nguyên nhân giàu có của các dân tộc Bác bỏ quan điểm

của chủ nghĩa trọng thương, A Smith cho rằng, nhìn tổng thể, "bàn tay

vô hình" của thị trường tự do chứ không phải chính phủ sẽ quyết định quy mô, phạm vi của hoạt động kinh tế - Điều này được biết đến như là

chính sách tự do kinh doanh (laissez faire) Việc tối thiểu hóa sự can

thiệp của chính phủ và chính sách thương mại tự do sẽ làm tối đa hóa lợi ích từ thương mại bởi nó cho phép các cá nhân, các doanh nghiệp và quốc gia tập trung vào làm những gì họ có thể làm tốt nhất

Nhấn mạnh đến tự do thương mại, trong tác phẩm của mình,

A Smith đã so sánh các quốc gia với hộ gia đình Mỗi hộ gia đình thấy rằng chỉ nên sản xuất một số sản phẩm hộ gia đình cần và sẽ mua những sản phẩm khác bằng các sản phẩm hộ có thể bán được và điều này cũng

có thể áp dụng cho các quốc gia: "…Phương châm của mỗi người chủ gia đình thận trọng là không bao giờ tự sản xuất lấy những gì mà nếu đi mua

sẽ được rẻ hơn Người thợ may không phải nỗ lực để đóng giày cho anh

ta mà thường mua của người thợ giày Người thợ giày không cần nỗ lực

để may quần áo cho bản thân anh ta mà mua của người thợ may Người nông dân không cần nỗ lực để làm ra hai thứ này, mà thuê những tay thợ khéo Mọi người đều có lợi khi tập trung vào làm những công việc theo cách thức mà họ có lợi thế hơn người láng giềng… Điều gì là thận trọng trong cách quản lý một gia đình thì ít khi trở thành thiếu khôn ngoan khi điều hành một vương quốc lớn Nếu nước ngoài có thể cung cấp cho

Trang 32

chúng ta một hàng hóa rẻ hơn chúng ta làm, tốt nhất hãy mua chúng bằng một phần sản lượng của những kỹ nghệ chúng ta có, làm như vậy chúng

ta sẽ có lợi…"1

Như vậy, với thương mại tự do, một quốc gia có thể thu được lợi ích nhờ chuyên môn hóa trong các hoạt động kinh tế mà ở đó quốc gia có lợi thế tuyệt đối Lợi thế tuyệt đối ở đây chính là chi phí sản xuất thấp hơn, nhưng chỉ là chi phí lao động Sở dĩ có sự khác biệt chi phí giữa các quốc gia bởi năng suất của các yếu tố đầu vào là khác nhau Năng suất đó phụ thuộc vào lợi thế tự nhiên và lợi thế do nỗ lực Lợi thế tự nhiên gồm các nhân tố liên quan đến khí hậu, đất đai, dồi dào khoáng sản Lợi thế do nỗ lực gồm kỹ năng và kỹ xảo Dựa vào những lợi thế này trong sản xuất hàng hóa, A Smith cho rằng, mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế tuyệt đối sau đó bán những hàng hóa này sang quốc gia khác để đổi lấy các sản phẩm nước ngoài sản xuất hiệu quả hơn

Trong thực tiễn thương mại quốc tế hiện nay, lý thuyết lợi thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng với các nước đang phát triển khi bản thân các quốc gia này có thể khai thác lợi thế tuyệt đối của mình khi chưa thể sản xuất được các mặt hàng công nghiệp, hàng công nghệ, kỹ thuật cao Tuy nhiên, dựa trên khai thác tài nguyên để phát triển có lẽ không phải là con đường dẫn đến sự phồn thịnh của quốc gia về lâu dài Thực tế, nhiều nước ở châu Á, Mỹ Latinh có trữ lượng dầu mỏ lớn, họ khai thác và thu được nguồn ngoại tệ đáng kể từ xuất khẩu mỗi năm và từ nguồn thu này góp phần rất lớn vào các hoạt động khác trong nước Bản thân các quốc gia này có thể đạt các chỉ số kinh tế - xã hội gần hoặc thậm chí ngang bằng với các nước phát triển Nhưng liệu cứ phát triển theo cách thức như vậy sẽ bền vững và liệu rằng có mấy nước trong nhóm các quốc gia này được xếp vào nhóm nước phát triển?

A Smith chỉ xem xét nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh từ một phương diện - phía cung của thị trường nhưng có hai điều quan trọng mà ông đã nhận thấy, đó là: (1) Nhờ chuyên môn hóa vào sản xuất các sản

1 Smith, A (1776) An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations

In: Cannan, E., ed.1976, University of Chicago Press, volume 1, pp 478-479,

Trang 33

phẩm có lợi thế, cả hai quốc gia có thể sản xuất nhiều sản phẩm hơn, (2) Cả hai quốc gia thu được nhiều lợi ích hơn khi trao đổi với nhau Nói cách khác, thương mại quốc tế không phải là trò chơi được - mất

(zero-sum game) như các học giả Trọng thương nói Đây là trò chơi đôi bên cùng có lợi (positive-sum game) Tuy vậy, cũng còn có một số hạn chế từ lý thuyết này, đó là: Thứ nhất, dù Adam Smith cho thấy tính ưu

việt của chuyên môn hóa nhưng ông lại đồng nhất phân công lao động quốc tế với phân công lao động trong nước mà không tính đến sự khác

biệt rất lớn về thể chế, chính trị, tập quán… giữa các quốc gia Thứ hai,

lý thuyết mới chỉ giải thích được một phần nhỏ thương mại quốc tế Ví

dụ, nếu một quốc gia không có được các điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng lúa, bông, cà phê, hồ tiêu… thì buộc phải nhập các sản phẩm này từ nước ngoài Và lý thuyết đã không lý giải được trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối hoặc bất lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tất cả các mặt hàng Giải thích cho điều này, cần nhờ đến quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo

6.1.2 Lý thuyết lợi thế so sánh (David Ricardo)

Khắc phục những hạn chế trong lý thuyết của Adam Smith, David Ricardo (1772-1823) đã phát triển một nguyên lý để chỉ ra rằng thương mại đem lại lợi ích cho cả hai phía có thể diễn ra ngay cả khi một quốc gia hoàn toàn có hiệu quả hơn trong sản xuất tất cả hàng hóa

Trong tác phẩm Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế

(1817), Ricardo cho rằng một quốc gia khôn ngoan sẽ chuyên môn hóa vào sản xuất những hàng hóa mà quốc gia đó sản xuất hiệu quả nhất và mua những hàng hóa mà quốc gia sản xuất kém hiệu quả nhất từ các quốc gia khác Thậm chí điều này cũng có nghĩa là quốc gia sẽ mua hàng hóa từ các nước khác dù bản thân quốc gia có thể sản xuất hiệu quả Giống Adam Smith, Ricardo nhấn mạnh vào khía cạnh cung của thị trường Nguồn gốc của thương mại bắt nguồn từ sự khác biệt chi phí giữa các quốc gia, được ẩn sau lợi thế do thiên nhiên ưu đãi và lợi thế do nỗ lực Sự khác biệt ở chỗ, nếu A Smith nhấn mạnh vào tầm quan trọng của

sự khác biệt chi phí tuyệt đối giữa các quốc gia thì D Ricardo lại nhấn

mạnh vào sự khác biệt về chi phí so sánh (tương đối) Vì thế, lý thuyết

Trang 34

của Ricardo được biết đến là lý thuyết lợi thế so sánh Lợi thế so sánh tồn tại bất cứ khi nào khi tương quan lao động cho mỗi sản phẩm là khác nhau giữa hai hàng hóa và thương mại quốc tế vẫn có thể xảy ra khi có lợi thế so sánh Theo đó, mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà quốc gia có lợi thế so sánh và nhập khẩu các

sản phẩm mà quốc gia bất lợi nhất (về mặt chi phí tương đối)

Mô hình lợi thế so sánh của Ricardo có thể được xem là mô hình quan trọng của kinh tế học, rất hữu ích trong việc giải thích nguyên nhân của thương mại quốc tế và được áp dụng nhiều trong thực tế Ricardo đã phát triển lý thuyết và đi xa hơn khi chứng minh rằng các quốc gia đều

có lợi trong trao đổi và tham gia vào thương mại quốc tế dù quốc gia có lợi thế tuyệt đối hay không Tuy nhiên, cũng có một số hạn chế của lý

thuyết: Thứ nhất, mô hình của Ricardo giả định một mức độ chuyên môn

hóa hoàn toàn, tức là quốc gia chỉ tập trung vào một mặt hàng quốc gia

có lợi thế Song thực tế, mỗi quốc gia sản xuất không chỉ một mà nhiều mặt hàng, trong đó có cả mặt hàng cạnh tranh với mặt hàng nhập khẩu

Thứ hai, phân tích của Ricardo không tính đến cơ cấu nhu cầu tiêu dùng

mỗi nước mà chỉ dựa vào phía cung nên lý thuyết chưa thể xác định được

giá tương đối các nước dùng để trao đổi Thứ ba, phân tích của Ricardo

không đề cập đến chi phí vận tải, bảo hiểm và các hàng rào bảo hộ mà chính phủ các nước dựng lên Thực tế, chi phí vận tải và bảo hiểm là bộ phận chi phí chủ yếu trong thương mại quốc tế Nếu chi phí vận tải vượt trội so với lợi ích thì liệu thương mại có diễn ra Ngoài ra, cũng còn phải tính đến các hàng rào trong thương mại được các quốc gia tạo ra ngày một tinh vi, phức tạp, có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của thương mại quốc tế Cuối cùng, trong chi phí sản xuất, Ricardo mới chỉ tính đến một yếu tố là lao động mà chưa đề cập đến các đầu vào quan trọng khác là vốn, kỹ thuật… Vì thế, không thể tìm ra nguyên nhân tại sao năng suất lao động của nước này lại cao hay thấp hơn nước khác tức là không giải thích được nguồn gốc phát sinh của lợi thế của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó, không giải thích được triệt để nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại quốc tế

Trang 35

6.1.3 Lý thuyết ưu đãi nhân tố sản xuất (Hecksher - Ohlin)

Lý thuyết của David Ricardo cho rằng lợi thế so sánh xuất hiện từ sự khác biệt trong năng suất lao động của các quốc gia Tuy nhiên, Ricardo không giải thích cơ sở của sự khác biệt đó mà chủ yếu chỉ giả định có sự tồn tại của lợi thế so sánh trong mô hình lý thuyết của ông Hơn nữa, giả

định về một nhân tố sản xuất duy nhất (lao động) của Ricardo đã bác bỏ

sự giải thích về việc thương mại có ảnh hưởng đến phân phối thu nhập trong quốc gia như thế nào, và tại sao lại có những nhóm người ủng hộ trong khi lại có những người phản đối thương mại tự do

Trong những năm 20 và 30 của thế kỷ XX, hai nhà kinh tế học người

Thụy Điển Eli Hecksher (vào năm 1919) và học trò của ông là Bertil Ohlin (vào năm 1933) đã có cách lý giải khác về lợi thế so sánh, đưa ra

quan điểm giải quyết hai câu hỏi Ricardo bỏ ngỏ: (1) Điều gì quyết định lợi thế so sánh, (2) Thương mại quốc tế có ảnh hưởng gì đến thu nhập

của các nhân tố sản xuất khác nhau (phân phối thu nhập) trong các quốc

gia tham gia trao đổi Theo hai nhà kinh tế học này, lợi thế so sánh phát sinh từ sự khác biệt trong ưu đãi nhân tố sản xuất quốc gia Đề cập đến

sự ưu đãi nhân tố sản xuất, các ông cho rằng một quốc gia có thể được ưu đãi các nguồn lực như lao động, đất đai và vốn Các quốc gia khác nhau

có sự ưu đãi nhân tố sản xuất khác nhau Nhân tố sản xuất nào càng dồi dào thì chi phí càng rẻ Theo lý thuyết hai ông đưa ra, mức giá cả tương đối có sự khác biệt giữa các quốc gia bởi: (1) các quốc gia có sự ưu đãi đầu vào các nhân tố sản xuất khác nhau, (2) hàng hóa khác nhau đòi hỏi đầu vào nhân tố sản xuất có mức thâm dụng khác nhau

Lý thuyết Hecksher - Ohlin gồm hai định lý quan trọng là Định lý Hecksher - Ohlin và Định lý cân bằng giá cả yếu tố sản xuất:

Định lý Hecksher-Ohlin chỉ ra rằng: Một quốc gia sẽ chuyên môn

hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà việc sản xuất chúng có thể thâm dụng nhân tố dồi dào tương đối của quốc gia, ngược lại sẽ nhập khẩu những hàng hóa mà việc sản xuất chúng có thể thâm dụng nhân tố khan hiếm tương đối của quốc gia Ở đây, có hai khái niệm cần làm rõ: dồi dào nhân tố sản xuất và thâm dụng nhân tố sản xuất Quốc gia I được coi là tương đối dồi dào lao động nếu tỷ lệ lao động trên các nhân tố sản

Trang 36

xuất khác của quốc gia I đó cao hơn tỷ lệ tương ứng của phần còn lại của thế giới Sản phẩm X được coi là thâm dụng lao động nếu sản phẩm X đó

có phần chi phí lao động trong giá trị của sản phẩm này lớn hơn phần tương ứng trong các sản phẩm khác Tuy nhiên, định lý về sự khan hiếm hay dồi dào của các nhân tố sản xuất được nhìn nhận về khía cạnh tương đối chứ không phải tuyệt đối Tức là dựa trên tương quan tỷ lệ giữa mức cung các yếu tố sản xuất, vốn, lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn

vị sản lượng

Dựa vào lý thuyết có thể thấy, các quốc gia giàu tài nguyên sẽ là

các quốc gia xuất khẩu tài nguyên trên thị trường thế giới (các nước có nguồn tài nguyên dầu mỏ dồi dào như Saudi Arabia, Iraq, UAE… sẽ xuất khẩu dầu mỏ), các quốc gia dồi dào lao động như Trung Quốc, Việt

Nam, Ấn Độ, Bangladesh… sẽ xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều

lao động (hàng dệt may, giầy dép)

Định lý cân bằng giá cả yếu tố sản xuất Thương mại tự do sẽ có xu

hướng làm cân bằng giá cả các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia, cả về

số tương đối và tuyệt đối, và nếu hai quốc gia tiếp tục sản xuất cả hai mặt hàng - tức là thực hiện chuyên môn hóa không hoàn toàn, thì giá cả các yếu tố sản xuất sẽ thực sự trở nên cân bằng

Thương mại quốc tế làm gia tăng nhu cầu với các nhân tố dồi dào

(dẫn đến sự gia tăng về giá các nhân tố này) và giảm nhu cầu với các nhân tố khan hiếm (dẫn đến giảm giá các nhân tố này), bởi khi các quốc

gia trao đổi, chuyên môn hóa diễn ra trên cơ sở sự ưu đãi các yếu tố sản xuất Theo Ohlin, "Ảnh hưởng của thương mại liên khu vực là làm cân bằng giá cả hàng hóa Hơn thế, cũng có xu hướng cân bằng giá cả các yếu tố sản xuất, tức là các yếu tố này sẽ được sử dụng tốt hơn và một sự giảm bớt bất lợi thế sẽ có được từ việc phân phối các nhân tố sản xuất theo khu vực địa lý không phù hợp"1 Vì, từ mỗi khu vực, những hàng hóa có chứa đựng một phần lớn nhân tố tương đối dồi dào và rẻ được xuất khẩu, trong khi những hàng hóa có chứa đựng phần lớn nhân tố khan hiếm sẽ được nhập khẩu, "… thương mại liên khu vực sẽ là sự thay

1

Ohlin,B (1957) Inter-regional and International Trade, Harvard University Press,

Cambridge, pp 49

Trang 37

thế cho di chuyển nhân tố liên khu vực" Như vậy, thương mại quốc tế có

xu hướng cân bằng giá cả các loại hàng hóa trao đổi trong thương mại quốc tế ở tất cả các khu vực trên thế giới bởi nó tạo ra sự di chuyển hàng hóa từ nơi dư thừa đến nơi khan hiếm Điều này có xu hướng làm gia tăng giá hàng hóa ở nơi dư thừa và giảm giá hàng hóa ở nơi khan hiếm

do sự tái phân phối nguồn cung hàng hóa giữa hai khu vực này Thương mại quốc tế có xu hướng mở rộng đến điểm mà ở đó giá ở các khu vực là bằng nhau Nhưng điều này có thể rất khó đạt được do có chi phí vận tải

và do không có thương mại tự do và cạnh tranh hoàn hảo

Lý thuyết H-O không bác bỏ lý thuyết của Ricardo mà nó bổ sung cho lý thuyết này khi giải thích lý do sự khác biệt chi phí so sánh hay có thể nói, nó đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi các yếu tố sản xuất Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trước thực tiễn phát triển phức tạp của thương mại quốc tế ngày nay, song quy luật H-O vẫn là quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế và được nhiều quốc gia vận dụng trong hoạch định chính sách thương mại quốc tế Sự lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có theo lý thuyết H-O

sẽ là điều kiện cần thiết để các nước đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, và trên cơ sở lợi ích thương mại thu được sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những nước này

6.1.4 Một số lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại

a Lý thuyết Vòng đời sản phẩm

Lý thuyết Vòng đời sản phẩm (Product Life Cycle Theory) được

Raymond Vernon - nhà kinh tế học người Mỹ của Trường kinh doanh Harvard đưa ra vào năm 1966 Theo Vernon, các nhân tố cần thiết cho việc sản xuất một sản phẩm mới sẽ thay đổi tùy theo vòng đời sản phẩm

đó Vì thế, phát minh có thể ra đời ở các nước giàu nhưng điều đó không

có nghĩa rằng quá trình sản xuất sẽ chỉ được thực hiện ở các quốc gia này Hoạt động trao đổi sản phẩm của công ty hay mở rộng ra là thương mại của nước phát minh ra sản phẩm mới với các quốc gia khác sẽ diễn

ra theo các giai đoạn của vòng đời sản phẩm (Hình 6.1)

Trang 38

Hình 6.1 Vòng đời sản phẩm và thương mại quốc tế1

Vernon chia vòng đời sản phẩm thành 3 giai đoạn (Giai đoạn giới thiệu sản phẩm mới; Giai đoạn chín muồi và Giai đoạn sản phẩm được tiêu chuẩn hóa), đồng thời xếp các quốc gia trên thế giới thành 3 nhóm (Quốc gia dẫn đầu trong đổi mới - theo ông, điển hình là Mỹ, các quốc gia phát triển khác và các nước đang phát triển)

Giai đoạn đầu của vòng đời một sản phẩm mới - sản phẩm được giới thiệu tại (to), việc sản xuất và tiêu thụ còn mang tính không chắc chắn, phụ thuộc nhiều vào nguồn cung nhân công lành nghề và khoảng cách thị trường Vì vậy, sản phẩm được sản xuất với chi phí cao và được xuất khẩu tại (t1) bởi các nước lớn và giàu có (như Mỹ) Khi thị trường sản

phẩm chín muồi ở Mỹ và các quốc gia phát triển khác, sản phẩm trở nên tiêu chuẩn hóa và được phát triển rộng rãi Giá cả lúc này sẽ trở thành vũ khí cạnh tranh chính và việc tính toán chi phí sẽ có vai trò lớn hơn trong quá trình cạnh tranh Các nhà sản xuất ở các nước phát triển có chi phí

lao động thấp hơn so với ở Mỹ (ví dụ như Ý, Pháp, Anh) có thể bắt chước

công nghệ sản xuất và xuất khẩu sang Mỹ (t2) Mỹ chuyển từ một nước xuất khẩu sang nhập khẩu chính sản phẩm đó khi sản xuất tập trung ở các quốc gia khác có chi phí thấp hơn (t3) Khi công nghệ hoàn toàn được tiêu chuẩn hóa, quá trình sản xuất có thể được chia ra nhiều công đoạn

1

Vernon,R and Lewis,T.(1981), Manager in the International Economy, Englewood

Cliffs, Prentice-Hall Inc

Trang 39

khác nhau và tương đối đơn giản, cộng thêm sức ép chi phí ngày càng lớn thì quá trình chuyển dịch này có thể không dừng lại ở đây Chu kỳ có thể

được lặp lại khi các nước đang phát triển (Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc)

bắt đầu giành được lợi thế sản xuất so với các nước phát triển nhờ nguồn lao động dồi dào, mức lương thấp và trở thành nước xuất khẩu (t4)

Lý thuyết của Vernon giải thích quá trình hoạt động sản xuất hàng hóa dịch chuyển từ nước này sang nước khác khi sản phẩm phát triển trong chu kỳ sống của nó Với sự vận động của quá trình sản xuất từ nước này đến nước kia khi sản phẩm phát triển trong các giai đoạn của chu kỳ sống, quá trình quốc tế hóa sản xuất đã hình thành Bởi vậy, đây

là một trong những lý thuyết quan trọng, đặc biệt với các nước đang phát triển và các nước có thu nhập thấp Các nước này có thể áp dụng chính sách để thu hút đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ vào trong nước để tận dụng những nguồn lực có chi phí thấp hơn trong sản xuất,

gia công (một hay nhiều công đoạn của sản phẩm) và tái xuất trở lại các

nước khác Điều này có thể giúp giải quyết bài toán lao động dôi dư, nâng cao trình độ nhân lực, chuyển dịch và thay đổi cơ cấu ngành hàng sản xuất và xuất khẩu… của các nước đang phát triển

b Lý thuyết thương mại mới

Lý thuyết thương mại mới (The New Trade Theory) là một tập hợp

những ý tưởng vốn được trình bày chi tiết trong loạt bài viết của Dixit và Norman, Lancaster, Krugman, Helpman và Ethier suốt những năm 70, 80 của thế kỷ XX Nội dung chính của lý thuyết đề cập đến việc: (1) có thể thu được lợi ích từ chuyên môn hóa và tính kinh tế theo quy mô, (2) những người đầu tiên gia nhập thị trường có thể tạo ra rào cản gia nhập cho những người khác, và (3) chính phủ có thể có vai trò hỗ trợ các nhà sản xuất trong nước

Tính kinh tế theo quy mô là sự cắt giảm chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm do có sự gia tăng số lượng sản phẩm trong một khoảng thời gian xác định Nói cách khác, tính kinh tế theo quy mô về cơ bản

được xác định từ việc dàn trải chi phí cố định (ví dụ, chi phí phát triển sản phẩm mới) trên một lượng lớn sản lượng hoặc khả năng một số

lượng lớn các nhà sản xuất tận dụng nhân công và thiết bị chuyên biệt có

Trang 40

năng suất lao động cao hơn các nguồn lực thông thường - Đây là nguồn quan trọng để giảm chi phí sản xuất trong nhiều ngành kinh tế khác nhau Khi sản lượng gia tăng nhờ chuyên môn hóa, dễ dàng nhận thấy tính kinh

tế theo quy mô gia tăng và do đó chi phí cho một đơn vị sản phẩm sẽ giảm Chi phí trên mỗi đơn vị sản lượng giảm cho phép nhà sản xuất có thể cố định một mức giá cạnh tranh cho sản phẩm của mình Nhà sản xuất bây giờ ở vị thế có thể buộc đối thủ cạnh tranh tiềm tàng sản xuất ở mức sản lượng tương tự và cố định mức giá đồng nhất Rõ ràng, gia nhập

trước sẽ có lợi thế của người đi trước - lợi thế kinh tế và chiến lược có

được khi là người đầu tiên gia nhập vào một ngành Lợi thế này có thể tạo ra rào cản gia nhập đáng kể cho những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng Nhà kinh doanh có thể tìm kiếm sự hỗ trợ của chính phủ khi cho phép họ

- những người gia nhập đầu tiên, có thể duy trì lợi thế cạnh tranh

Lý thuyết thương mại mới chỉ nhấn mạnh vào năng suất thay vì nguồn lực của một quốc gia nên lý thuyết này được xem là giống với lý thuyết lợi thế so sánh nhưng lại rất khác với mô hình ưu đãi các yếu tố

sản xuất Dù vậy, lý thuyết này cũng đưa ra nhiều hàm ý quan trọng Thứ nhất, qua việc chỉ ra tính kinh tế theo quy mô dẫn đến sự gia tăng hiệu

quả sử dụng nguồn lực, và do đó làm tăng năng suất, theo đó lý thuyết đã

xác định được một yếu tố quan trọng của lợi thế so sánh Thứ hai, lý

thuyết gợi ý rằng ngay cả khi không có sự khác biệt về sự sẵn có các nguồn lực sản xuất hay công nghệ, nhờ chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm nhất định, có được tính kinh tế theo quy mô và giảm chi phí sản xuất, đồng thời nhập những sản phẩm từ bên ngoài, các nước vẫn có thể thu được lợi ích từ thương mại quốc tế Ngoài ra, lý thuyết cũng giúp giải thích về thương mại nội ngành - phần lớn được quyết định bởi hiệu suất tăng theo quy mô có được nhờ chuyên môn hóa trong ngành, và thương mại nội công ty - xảy ra khi các hoạt động xuất, nhập khẩu diễn

ra giữa các công ty con của các công ty đa quốc gia (MNE) Với triển vọng có được hiệu suất tăng theo quy mô, các MNE thấy rằng thương mại nội bộ công ty là nhân tố thúc đẩy hội nhập toàn cầu của các hoạt động thượng nguồn và hạ nguồn

Những nghiên cứu trong thương mại quốc tế hơn 30 năm qua hầu hết đều dựa trên nền tảng của lý thuyết thương mại mới Dù lý thuyết

Ngày đăng: 15/07/2022, 14:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải (2007), Giáo trình Kinh tế ngoại thương, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế ngoại thương
Tác giả: Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2007
2. Hà Văn Sự (2004), Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thương mại theo tiếp cận phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Bộ, Mã số B2003-39-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thương mại theo tiếp cận phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Sự
Năm: 2004
3. Hà Văn Sự (2008), Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ một số ngành dịch vụ mũi nhọn của thủ đô Hà Nội giai đoạn hiện nay, Đề tài NCKH cấp Bộ, Mã số B2007-07-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ một số ngành dịch vụ mũi nhọn của thủ đô Hà Nội giai đoạn hiện nay
Tác giả: Hà Văn Sự
Năm: 2008
4. Hà Văn Sự (2013), Phương pháp luận xác định và đánh giá hiệu quả kinh tế thương mại ở nước ta hiện nay, Đề tài NCKH cấp Cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận xác định và đánh giá hiệu quả kinh tế thương mại ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hà Văn Sự
Năm: 2013
6. Lê Danh Vĩnh (2006), 20 năm đổi mới cơ chế chính sách thương mại Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm đổi mới cơ chế chính sách thương mại Việt Nam
Tác giả: Lê Danh Vĩnh
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2006
7. Peter Boxall and John Purcell (2003), Strategy and Human Resource Management, Palgrace, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategy and Human Resource Management
Tác giả: Peter Boxall and John Purcell
Năm: 2003
8. Worldbank (2003), World Development Report: "Sustainable Development in a Dynamic World - Transforming Institutions, Growth, and Quality of Life", A co-publication of the Worldbank and Oxford University Press.CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable Development in a Dynamic World - Transforming Institutions, Growth, and Quality of Life
Tác giả: Worldbank
Năm: 2003
5. Ủy ban quốc gia về hội nhập kinh tế quốc tế và Ủy ban thương mại quốc gia Thụy Điển (2005), Tác động của các hiệp định WTO đối với các nước đang phát triển Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6.1. Vòng đời sản phẩm và thương mại quốc tế 1 - Giáo trình Kinh tế thương mại đại cương: Phần 2
Hình 6.1. Vòng đời sản phẩm và thương mại quốc tế 1 (Trang 38)
Hình 6.2. Mô hình kim cương của M. Porter 2 - Giáo trình Kinh tế thương mại đại cương: Phần 2
Hình 6.2. Mô hình kim cương của M. Porter 2 (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm