Giáo trình Kế toán đơn vị sự nghiệp cung cấp nội dung cơ bản của công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp là tổ chức áp dụng chế độ kế toán hành chính - sự nghiệp phù hợp với phân cấp quản lý tài chính, mức độ tự chủ tài chính, đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của đơn vị. Giáo trình kết cấu gồm 6 chương và chia thành 2 phần, phần 1 trình bày những nội dung về: tổng quan kế toán trong đơn vị sự nghiệp; kế toán tài sản trong đơn vị sự nghiệp;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN Chủ biên: PGS.TS Phạm Đức Hiếu
Giáo trình
Kế toán đơn vị sự nghiệp
NHÀ XUẤT BẢN THỐNG KÊ
Hà Nội, 2014
Trang 3Nội dung cơ bản của công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp
là tổ chức áp dụng chế độ kế toán hành chính - sự nghiệp phù hợp với phân cấp quản lý tài chính, mức độ tự chủ tài chính, đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của đơn vị Tính đa dạng và phức tạp trong hoạt động của các đơn vị sự nghiệp cũng như yêu cầu quản lý của các
cơ quan chức năng nhằm đảm bảo an toàn, và hiệu quả cho các khoản thu, chi của Ngân sách Nhà nước đồng thời tạo điều kiện cho các đơn
vị sự nghiệp phát huy mọi khả năng để tăng nguồn thu, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ Ngân sách Nhà nước đã có ảnh hưởng nhất định tới công tác kế toán tại các đơn vị này
Với mục tiêu đáp ứng nhu cầu về tài liệu giảng dạy, học tập của Trường Đại học Thương mại, phù hợp với nội dung chương trình và quỹ thời gian của học phần, Bộ môn Kế toán quản trị đã tổ chức biên
soạn cuốn “Giáo trình Kế toán đơn vị sự nghiệp” Trong quá trình
biên soạn giáo trình, tập thể tác giả đã nghiên cứu các quy định của Luật Kế toán, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Hệ thống Chuẩn mực kế toán công quốc tế, tham gia vào nhiều đợt Hội thảo về Chuẩn mực kế toán công quốc tế và Hội thảo về xây dựng Chuẩn mực kế toán công ở Việt Nam, cập nhật các văn bản pháp lý trong quản lý tài chính - kế toán đối với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp để nội dung của giáo trình đáp ứng được các yêu cầu cả về lý luận và thực tiễn, đảm bảo phù hợp với cơ chế quản
Trang 4lý tài chính của Nhà nước theo hướng tăng cường tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp và giảm dần bao cấp qua Ngân sách
Giáo trình Kế toán đơn vị sự nghiệp là một công trình khoa học của tập thể giảng viên Bộ môn Kế toán quản trị, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Thương mại Tham gia biên soạn gồm:
- PGS.TS Phạm Đức Hiếu - Chủ biên, biên soạn Chương 1
và Chương 3
- PGS.TS Trần Thị Hồng Mai - Biên soạn Chương 4
và Chương 6
- Ths Nguyễn Thị Minh Giang - Biên soạn Chương 5
- Ths Nguyễn Thị Nhinh - Biên soạn Chương 2
Trong quá trình biên soạn giáo trình, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của tập thể giảng viên Bộ môn Kế toán quản trị, các chuyên gia kế toán và các nhà khoa học mà tập thể tác giả đã trao đổi trong nhiều đợt Hội thảo về Chuẩn mực kế toán công thời gian qua
Tập thể tác giả cũng hy vọng Giáo trình Kế toán đơn vị sự nghiệp không chỉ sử dụng cho đào tạo của trường Đại học Thương mại, mà còn
là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho các nhà quản lý, cán bộ
kế toán cũng như giảng viên và sinh viên của các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp có đào tạo kế toán
Chúng tôi chân thành cảm ơn các nhà khoa học trong và ngoài trường, các chuyên gia kế toán đã có những ý kiến quý báu giúp chúng tôi hoàn chỉnh giáo trình này
Chúng tôi rất mong muốn nhận được sự góp ý chân thành của bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
TẬP THỂ TÁC GIẢ
Trang 51.3 Nguyên tắc và nội dung tổ chức công tác kế toán
1.3.1 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán 42 1.3.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp 44
CHƯƠNG 2
KẾ TOÁN TÀI SẢN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 60
2.1.1 Yêu cầu quản lý và nguyên tắc của kế toán tiền 60
2.2 Kế toán nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ 85 2.2.1 Nguyên tắc kế toán nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ 85 2.2.2 Đánh giá vật liệu, công cụ, dụng cụ 86 2.2.3 Phương pháp kế toán vật liệu, công cụ, dụng cụ 87
2.3.1 Nguyên tắc kế toán sản phẩm, hàng hóa 97 2.3.2 Phương pháp kế toán sản phẩm, hàng hóa 98
Trang 62.4 Kế toán tài sản cố định 106 2.4.1 Đặc điểm và tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định 106
Trang 74.2 Kế toán nguồn kinh phí dự án 242 4.2.1 Nguyên tắc kế toán nguồn kinh phí dự án 242 4.2.2 Phương pháp kế toán nguồn kinh phí dự án 243 4.3 Kế toán nguồn kinh phí theo đơn đặt hàng của Nhà nước 250 4.3.1 Nguyên tắc kế toán nguồn kinh phí theo đơn đặt hàng
4.5.1 Nguyên tắc kế toán các quĩ đơn vị 261 4.5.2 Phương pháp kế toán các quĩ đơn vị 263 4.6 Câu hỏi ôn tập và bài tập Chương 4 267
CHƯƠNG 5
KẾ TOÁN CÁC KHOẢN THANH TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 273
5.1.2 Phương pháp kế toán các khoản phải thu 275 5.2 Kế toán các khoản tạm ứng và thanh toán tạm ứng 283
5.2.2 Phương pháp kế toán tạm ứng và thanh toán tạm ứng 284
5.3.2 Phương pháp kế toán các khoản phải trả 287
Trang 85.4 Kế toán các khoản thanh toán trong nội bộ 304 5.4.1 Kế toán kinh phí cấp cho cấp dưới 304
5.5 Câu hỏi ôn tập và bài tập Chương 5 314
6.1.3 Mục đích của lập báo cáo kế toán trong đơn vị sự nghiệp 326 6.1.4 Nội dung của hệ thống báo cáo kế toán trong đơn vị sự nghiệp 326 6.2 Phương pháp lập và trình bày báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán
6.2.1 Qui định về lập và trình bày báo cáo tài chính,
6.2.2 Phương pháp lập và trình bày báo cáo tài chính,
6.3 Phương pháp lập và trình bày báo cáo kế toán quản trị
6.3.1 Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo 362 6.3.2 Phương pháp lập và trình bày báo cáo 362 6.4 Câu hỏi ôn tập và bài tập Chương 6 366
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG GIÁO TRÌNH
BCTC : Báo cáo tài chính
BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
HĐND : Hội đồng nhân dân
HĐTX : Hoạt động thường xuyên IPSAS : Chuẩn mực kế toán công quốc tế KPCĐ : Kinh phí công đoàn
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TGKB : Tiền gửi kho bạc
TGNH : Tiền gửi ngân hàng
Trang 10DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 1.2 : Cơ chế quản lý tài chính theo dự toán năm và cơ chế tự chủ
Biểu 2.7 : Bảng tổng hợp chi tiết NL, VL, CCDC, sản phẩm, hàng hóa 105
Biểu 2.9 : Sổ theo dõi tài sản cố định và công cụ, dụng cụ tại nơi sử dụng 126
Trang 11Biểu 4.2 : Lệnh chi tiền 232
Biểu 6.2 : Báo cáo tổng hợp quyết toán ngân sách và nguồn khác
Biểu 6.4 : Báo cáo số kinh phí chưa sử dụng đã quyết toán năm trước
Biểu 6.8 : Báo cáo phân tích biến động chi phí cho bộ phận/hoạt động 363
Biểu 6.9 : Báo cáo phân tích sự khác biệt giữa các phương án hoạt động 365
Trang 12DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.4 : Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung, vừa phân tán 48
Sơ đồ 2.4 : Kế toán tổng hợp sửa chữa lớn TSCĐ trong đơn vị sự nghiệp 137
Sơ đồ 3.8 : Kế toán tổng hợp chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh 211
Sơ đồ 4.1 : Kế toán tổng hợp tình hình tiếp nhận và sử dụng nguồn kinh phí
Sơ đồ 4.2 : Kế toán tổng hợp tình hình tiếp nhận và sử dụng nguồn kinh phí
Sơ đồ 4.3 : Kế toán tổng hợp tình tình tiếp nhận và sử dụng nguồn kinh phí
Trang 13CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN
TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
Mục tiêu:
Chương này giúp sinh viên:
- Nhận diện và phân biệt được các loại đơn vị sự nghiệp; sự khác biệt
cơ bản giữa đơn vị sự nghiệp với doanh nghiệp hay các tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận;
- Nắm được đặc điểm tổ chức quản lý và đặc điểm quản lý tài chính có chi phối đến kế toán và tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp;
- Nắm được nguyên tắc kế toán cơ bản trong đơn vị sự nghiệp, xu hướng lựa chọn cơ sở kế toán trong đơn vị sự nghiệp theo Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS);
- Nắm được nguyên tắc và nội dung tổ chức kế toán trong các đơn vị sự nghiệp.
1.1 Đặc điểm hoạt động và quản lý tài chính
của các đơn vị sự nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại đơn vị sự nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đơn vị sự nghiệp
Khái niệm đơn vị sự nghiệp
Với mọi quốc gia trên thế giới, Nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, quản lý và điều hành các mặt của đời sống kinh tế
- xã hội Để thực thi vai trò này, Nhà nước tiến hành tổ chức bộ máy các cơ quan trực thuộc bao gồm các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp cùng với các đơn vị sự nghiệp
Trang 14Theo quan điểm trước đây các cơ quan này được gọi chung là đơn vị hành chính sự nghiệp Trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, cụm từ “đơn vị hành chính sự nghiệp” được hiểu là từ gọi tắt cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, các đoàn thể, hội quần chúng
Theo chế độ kế toán Việt Nam (2006) thì đơn vị hành chính sự nghiệp là: Đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho từng giai đoạn
Như vậy, việc gọi tắt như trên xuất phát từ bản chất hoạt động các đơn vị HCSN nói chung là hoàn toàn khác biệt so với doanh nghiệp Trên cơ sở quyết định thành lập của Nhà nước, nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động của các đơn vị HCSN do NSNN cấp hoặc
có nguồn gốc từ ngân sách Các hoạt động này chủ yếu được tổ chức
để phục vụ xã hội do đó chi phí chi ra không được trả lại trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế mà được thể hiện bằng hiệu quả xã hội nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Tuy nhiên, các quan điểm trên đây đã đồng nhất các cơ quan hành chính Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp Về bản chất, cần hiểu đơn vị hành chính sự nghiệp là một từ ghép để phản ánh hai loại tổ chức khác biệt nhau: cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, hành chính là “hoạt động quản lý chuyên nghiệp của Nhà nước đối với xã hội Hoạt động này được thực hiện bởi một bộ máy chuyên nghiệp” Do đó, cơ quan hành chính là các tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình
Cơ quan hành chính Nhà nước là các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, thuộc các cấp chính quyền, các ngành, các lĩnh vực (gồm các cơ quan quyền lực Nhà nước như Quốc hội, HĐND các cấp, các cấp chính quyền như Chính phủ, UBND các cấp,
Trang 15các cơ quan quản lý Nhà nước như các Bộ, Ban, Ngành ở Trung ương, các Sở, ban, ngành ở cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, các phòng ban ở cấp huyện và các cơ quan tư pháp như Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp…) Cơ quan hành chính Nhà nước hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp hoặc các nguồn khác theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao
Trong khi đó, các đơn vị sự nghiệp không phải là cơ quan quản
lý Nhà nước mà là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công về y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa, thể thao, khoa học công nghệ… đáp ứng nhu cầu
về phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu về đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Xuất phát từ sự khác biệt đó, việc phân định rõ cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp là hết sức cần thiết, đặc biệt trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính Nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động của bản thân các tổ chức và đem lại lợi ích cho cộng đồng xã hội
Đối với các cơ quan hành chính Nhà nước, nhiệm vụ cụ thể đặt
ra là phải đổi mới nhằm tiết kiệm chi hành chính, tinh giản bộ máy biên chế để nâng cao chất lượng công vụ, đơn giản hóa thủ tục, giảm
cơ chế “xin-cho” và nâng cao chất lượng, trình độ công tác chuyên môn của đội ngũ công chức Nhà nước
Đối với các đơn vị sự nghiệp, bằng việc tạo quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm sẽ thúc đẩy hiệu quả hoạt động, sắp xếp bộ máy tổ chức và lao động hợp lý đồng thời góp phần tăng thu nhập, phúc lợi cho người lao động
Như vậy, dưới góc độ một tổ chức cung ứng dịch vụ công có thể rút ra khái niệm về đơn vị sự nghiệp như sau:
Đơn vị sự nghiệp là thuật ngữ chỉ chung cho các đơn vị thuộc khu vực Nhà nước và đơn vị ngoài khu vực Nhà nước có tư cách pháp nhân, hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có đủ điều kiện và chức năng
Trang 16cung ứng dịch vụ sự nghiệp công phù hợp với yêu cầu cung cấp dịch
vụ sự nghiệp công của Nhà nước
Theo khái niệm trên, đơn vị sự nghiệp sẽ bao gồm đơn vị sự nghiệp thuộc khu vực Nhà nước và đơn vị sự nghiệp ngoài khu vực Nhà nước Trong đó:
Đơn vị sự nghiệp thuộc khu vực Nhà nước (còn gọi là đơn vị sự nghiệp công lập) là các đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư, thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập Theo điều 9, Luật Viên chức (58/2010/QH12), đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước
Đơn vị sự nghiệp ngoài khu vực Nhà nước (còn gọi là đơn vị sự nghiệp ngoài công lập) là các đơn vị do các tổ chức, cá nhân tự đầu tư, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, cung ứng dịch vụ sự nghiệp công và hoạt động theo quy định của pháp luật Dịch vụ sự nghiệp công là hoạt động cung ứng các sản phẩm, dịch
vụ đáp ứng nhu cầu chung của xã hội và phục vụ các quyền, nghĩa vụ
cơ bản của các tổ chức, cá nhân do Nhà nước trực tiếp đảm nhiệm hoặc
uỷ nhiệm cho các tổ chức ngoài khu vực Nhà nước thực hiện
Giữa đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) công lập và ĐVSN ngoài công lập
có sự khác biệt nhất định trên những nội dung cơ bản sau (Bảng 1.1)
Trang 17Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa ĐVSN công lập
và ĐVSN ngoài công lập
Tiêu thức ĐVSN công lập ĐVSN ngoài công lập
Quyết định thành lập Cơ quan Nhà nước trực tiếp
Cung cấp dịch vụ công trên
cơ sở tìm kiếm lợi nhuận
Cơ chế hoạt động Do Nhà nước quy định:
- Mang tính tuân thủ
- Theo cơ chế tự chủ
Theo cơ chế hoạt động của doanh nghiệp, mang tính tự chủ
Cơ chế tài chính Được quyền tự chủ kinh phí
hoạt động thường xuyên theo các mức độ khác nhau nhưng không được quyền tự chủ kinh phí hoạt động không thường xuyên
Được quyền tự chủ kinh phí hoạt động
Nguồn kinh phí hoạt
động chủ yếu
- Ngân sách Nhà nước cấp
- Nguồn thu sự nghiệp
- Tự huy động (góp vốn, vay…)
Đặc điểm đơn vị sự nghiệp
Như trên đã xác định, đơn vị sự nghiệp là các tổ chức thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm phục vụ nhu cầu chung của toàn xã hội Do đó, các đơn vị sự nghiệp dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau nhưng đều mang những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp không nhằm mục
đích lợi nhuận trực tiếp Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm,
Trang 18dịch vụ do đơn vị sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hoá cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội Tuy nhiên, việc cung ứng những hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như doanh nghiệp Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động
sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho người dân nhằm thể hiện vai trò của Nhà nước khi can thiệp vào thị trường Thông qua
đó Nhà nước hỗ trợ các ngành kinh tế hoạt động bình thường, tạo điều kiện nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn
Thứ hai, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là cung cấp những
sản phẩm mang lại lợi ích chung, lâu dài và bền vững cho xã hội Kết quả của hoạt động sự nghiệp là tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về sức khoẻ, tri thức, văn hoá, khoa học, xã hội… do đó có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Đây chính là những “hàng hoá công cộng” phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội Nhờ sử dụng những hàng hoá công cộng do các đơn vị sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao Vì vậy hoạt động của các đơn vị sự nghiệp luôn gắn bó chặt chẽ và tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội
Thứ ba, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp luôn gắn liền và bị
chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia như: Chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chương trình xoá mù chữ, chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình… Những chương trình, mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước với vai trò của mình thông qua các đơn vị sự nghiệp thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả
Như vậy, các đơn vị sự nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện những công việc có lợi ích chung và lâu dài cho cộng đồng xã hội Hoạt động của các đơn vị này mặc dù không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nhưng tác động đến lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất Kết quả của các hoạt động đó có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động xã hội do đó có liên quan đến toàn bộ hoạt động của xã hội
Trang 191.1.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp
Để đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước, cần có sự phân loại các đơn vị sự nghiệp Tùy thuộc quan điểm, cách tiếp cận hoặc do các yêu cầu của quản lý nhà nước… mà các đơn vị sự nghiệp được phân chia theo các tiêu thức khác nhau Các cách phân loại tuy khác nhau về hình thức đôi khi không có ranh giới cụ thể song tựu trung lại đều nhằm mục đích nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các đơn vị
sự nghiệp trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá đưa ra các định hướng, mục tiêu phát triển của mỗi loại hình đơn vị phù hợp với từng thời kỳ
Theo lĩnh vực hoạt động, đơn vị sự nghiệp được chia thành:
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế: Gồm các cơ sở khám chữa bệnh như các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế thuộc các
bộ, ngành và địa phương; cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trường đào tạo y dược; các cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng, các trung tâm truyền thông giáo dục sức khoẻ, các đơn vị
có chức năng kiểm định vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế, kiểm nghiệm thuốc, hóa mỹ phẩm, thực phẩm, kiểm dịch y tế thuộc các bộ, ngành, địa phương …
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo: Gồm các cơ
sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như các trường mầm non, tiểu học, trung học, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, các trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, đại học, học viện…
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn hoá thông tin nghệ thuật: Gồm các đoàn nghệ thuật, trung tâm chiếu phim, nhà văn hoá thông tin, thư viện công cộng, bảo tàng, trung tâm thông tin triển lãm, đài phát thanh, truyền hình…
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực thể dục thể thao: Gồm các trung tâm huấn luyện thể dục thể thao, các câu lạc bộ thể dục thể thao…
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế: Gồm các viện tư vấn, thiết kế, quy hoạch đô thị, nông thôn; các trung tâm nghiên cứu khoa
Trang 20học và ứng dụng về nông, lâm, ngư nghiệp, giao thông, công nghiệp, địa chính…
Theo phân cấp quản lý ngân sách, các ĐVSN công lập trong
cùng một ngành theo hệ thống dọc được chia thành các đơn vị dự toán sau:
- Đơn vị dự toán cấp I: Là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm do các cấp chính quyền giao, phân bổ dự toán ngân sách cho đơn
vị cấp dưới; chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị có trách nhiệm quản lý kinh phí của toàn ngành và trực tiếp giải quyết các vấn đề có liên quan đến kinh phí với cơ quan tài chính Thuộc đơn vị dự toán cấp I là các Bộ ở trung ương; các Sở ở tỉnh, thành phố hoặc các phòng ở cấp huyện, quận
- Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp III, tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới Đơn vị dự toán cấp II là các đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I và là đơn vị trung gian thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh phí nối liền giữa đơn vị dự toán cấp I với các đơn vị dự toán cấp III
- Đơn vị dự toán cấp III: Là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách, nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II) có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị dự toán cấp dưới (nếu có) Đơn vị dự toán cấp III là các đơn vị dự toán cấp cơ sở trực tiếp chi tiêu kinh phí để thỏa mãn nhu cầu hoạt động của mình đồng thời thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh phí tại đơn vị dưới sự hướng dẫn của đơn vị dự toán cấp trên
- Đơn vị dự toán cấp dưới của cấp III: được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác
kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II và cấp II với cấp I
Trang 21Trên thực tế, việc phân chia các đơn vị dự toán trong một ngành chỉ có tính chất tương đối nghĩa là thứ bậc các đơn vị dự toán không
cố định mà tùy thuộc vào cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước Do vậy, xác định một ĐVSN thuộc đơn vị dự toán cấp nào là tùy thuộc vào mối quan hệ giữa nó với các đơn vị dự toán khác trong cùng ngành hoặc với cơ quan tài chính
Theo mức độ tự chủ tài chính, các đơn vị sự nghiệp được phân
loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính bao gồm:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động) là các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên bảo đảm được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên NSNN không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động) Đây là những đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước phải cấp một phần chi phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không
có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)
Theo quan điểm trên, tiêu chí để phân loại đơn vị sự nghiệp là mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp, được xác định bằng công thức dưới đây:
Mức tự đảm bảo chi phí
hoạt động thường xuyên
của đơn vị sự nghiệp
=
Tổng số thu sự nghiệp
x 100% Tổng số chi hoạt động thường xuyên
Trang 22
Trong cách phân loại trên, có thể chia các ĐVSN thành hai nhóm chính là nhóm các đơn vị sự nghiệp được NSNN đảm bảo toàn
bộ và nhóm các đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ hoặc một phần chi phí hoạt động thường xuyên
Đối với nhóm thứ nhất, các đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu là đơn vị được Nhà nước cấp toàn bộ kinh phí để đảm bảo hoạt động cho đơn vị và kinh phí được cấp theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp Đơn vị được đảm bảo toàn bộ kinh phí cho hoạt động của mình nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao bằng ngân quỹ nhà nước hoặc từ quỹ công tương ứng với khối lượng công việc được giao đã hoàn thành
Đối với nhóm thứ hai, các đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ hoặc một phần chi phí hoạt động thường xuyên là đơn vị sự nghiệp mà ngoài nguồn kinh phí được ngân sách nhà nước cấp còn được Nhà nước cho phép thu một số khoản phí, lệ phí hoặc một số khoản thu khác để phục vụ cho quá trình hoạt động của mình Như vậy, có thể thấy đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ hoặc một phần chi phí hoạt động thường xuyên thuộc sở hữu Nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập để thực hiện các mục tiêu về kinh tế, chính trị, xã hội do Nhà nước giao Hoạt động của đơn vị sự nghiệp có nguồn thu luôn gắn liền với những lĩnh vực sự nghiệp như giáo dục, y
tế, khoa học công nghệ… để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội Các sản phẩm, dịch vụ này mang tính chất phúc lợi xã hội và thực hiện theo đơn giá quy định của Nhà nước Nhà nước bảo đảm nhằm duy trì sự công bằng trong phân phối các sản phẩm, dịch vụ trên cơ sở chú trọng đến lợi ích cộng đồng xã hội, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường Khoản thu của các đơn vị sự nghiệp không vì mục đích lợi nhuận Tuỳ theo tính chất và đặc điểm hoạt động, Nhà nước cho phép đơn vị sự nghiệp ở một số lĩnh vực được thu một số khoản như phí, lệ phí… Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp là một nội dung thu của ngân sách nhà nước và được quy định trong Luật Ngân sách Mục đích của các khoản thu này
là nhằm xoá bỏ dần tình trạng bao cấp qua ngân sách, giảm nguồn kinh phí cấp phát từ ngân sách nhà nước, trang trải thêm cho các hoạt động của đơn vị
Trang 23Ngoài các cách phân loại trên, theo Luật Viên chức (2010) và quy định tài chính hiện hành, các đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
- Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn
về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (còn gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ): Là các ĐVSN công lập tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên từ nguồn thu sự nghiệp (kể cả nguồn thu từ ngân sách nhà nước đối với sản phẩm dịch vụ, hàng hóa do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đặt hàng) hoặc; ĐVSN công lập đáp ứng đủ các điều kiện sau: (i) Tự đảm bảo trên 10% kinh phí hoạt động thường xuyên; (ii) Có đề án sử dụng tài sản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, được Bộ, cơ quan trung ương hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt; (iii) Cam kết thực hiện đúng quy định về quản lý, sử dụng tài sản đối với đơn vị tự chủ tài chính; (iv) Đảm bảo tự bù đắp đủ các chi phí khi được Nhà nước cho phép hoặc yêu cầu tính đúng, đủ chi phí vào giá thành sản phẩm dịch vụ, hàng hóa; (v) Nhà nước không tăng thêm kinh phí, trừ các trường hợp Nhà nước giao thêm nhiệm vụ hoặc bổ sung một phần tiền lương tăng thêm theo chế độ của Nhà nước
- Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (còn gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ): Là các đơn vị không đủ điều kiện quy định; ĐVSN công lập hoạt động tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; ĐVSN công lập cung cấp dịch vụ công thiết yếu như: Giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; bệnh viện tâm thần, bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, bệnh viện lao, bệnh viện phong; ĐVSN công lập thuộc cấp huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) quản lý
Theo tính chất công cộng hay cá nhân của dịch vụ cung cấp, đơn
vị sự nghiệp bao gồm: Đơn vị sự nghiệp cung cấp các dịch vụ công cộng thuần túy và Đơn vị sự nghiệp cung cấp các dịch vụ công cộng
có tính chất cá nhân
Theo tính chất xã hội nhân văn hay kinh tế kỹ thuật của dịch vụ,
đơn vị sự nghiệp bao gồm:
Trang 24- Đơn vị sự nghiệp thực hiện cung cấp dịch vụ xã hội liên quan đến nhu cầu và quyền lợi cơ bản đối với sự phát triển của con người
về thể lực, trí lực như các đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hóa thông tin…
- Đơn vị sự nghiệp thực hiện cung cấp dịch vụ kinh tế kỹ thuật liên quan đến các nhu cầu vật chất, phục vụ lợi ích chung của xã hội như đơn vị cung ứng điện, nước, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, vệ sinh môi trường…
Theo phương thức thu tiền của người sử dụng dịch vụ, đơn vị sự
nghiệp được phân chia thành:
- Đơn vị sự nghiệp thực hiện các dịch vụ công không thu tiền trực tiếp từ người sử dụng
- Đơn vị sự nghiệp thực hiện các dịch vụ công mà người sử dụng phải trả một phần
- Đơn vị sự nghiệp thực hiện các dịch vụ công mà người sử dụng phải trả toàn bộ
Từ những phân tích trên cho thấy các đơn vị sự nghiệp có chức năng chính là tạo ra những sản phẩm chủ yếu phục vụ xã hội đồng thời tận dụng khả năng về nhân lực, vật lực của đơn vị để khai thác nguồn thu Do đó, các đơn vị này không thực hiện cơ chế quản lý tài chính như doanh nghiệp mà đòi hỏi một cơ chế quản lý thích hợp để làm tốt cả hai chức năng phục vụ nhân dân và khai thác nguồn thu để phát triển
1.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý của đơn vị sự nghiệp
1.1.2.1 Về quản lý hoạt động của đơn vị sự nghiệp
Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ gồm thiết lập và thực hiện hệ thống các phương pháp và biện pháp khác nhau của chủ thể quản lý tác động một cách có ý thức tới đối tượng quản lý nhằm đạt được kết quả nhất định
Trong ĐVSN, quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý được xác định như sau:
Trang 25Chủ thể quản lý ĐVSN là Nhà nước hoặc cơ quan Nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ công
Đối tượng quản lý ĐVSN là các hoạt động được Nhà nước giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng và các hoạt động khác
Quản lý các ĐVSN được thực hiện theo nhiều phương pháp (tổ chức, hành chính, kinh tế,…), công cụ quản lý khác nhau (pháp luật, thanh tra, kiểm tra, đánh giá,…) Mỗi phương pháp, công cụ có đặc điểm, cách thức tác động và ưu, nhược điểm riêng Tuy nhiên, quản lý hoạt động sự nghiệp phải đặc biệt chú trọng đến các phương pháp, công cụ mang tính quyền lực, mệnh lệnh nhằm đảm bảo tính tập trung, thống nhất, đó là các phương pháp tổ chức, hành chính, các công cụ pháp luật, thanh tra, kiểm tra
Tùy theo tính chất, đặc điểm hoạt động, ĐVSN có thể tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh với mục đích tăng thu, tích lũy, phát triển, hỗ trợ kinh phí cho đơn vị, gián tiếp cân đối cán cân NSNN theo hình thức tách biệt hay kết hợp với hoạt động sự nghiệp; được quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự quyết định tổ chức, thực hiện hoạt động Quyền và nghĩa vụ của bộ phận hoạt động SXKD được mở rộng như một DN công song có nhiều ưu đãi hơn Đối với đơn vị tổ chức theo hình thức kết hợp, công tác kế toán được thực hiện theo hình thức kết hợp Bộ phận hoạt động SXKD trong đơn vị là một chủ thể kinh tế nhưng không phải là một chủ thể pháp lý, không có tư cách pháp nhân, không thuộc đối tượng được cấp đăng ký kinh doanh Đối với đơn vị tổ chức theo hình thức tách biệt, bộ phận hoạt động SXKD trong đơn vị có thể là một chủ thể kinh tế, đồng thời là một chủ thể pháp lý, có tư cách pháp nhân
1.1.2.2 Về tổ chức bộ máy quản lý
Để quản lý các hoạt động có hiệu quả, đặc biệt trong cơ chế tự chủ, tổ chức bộ máy quản lý trong ĐVSN thường được thực hiện theo một trong các hình thức sau:
Trang 26Tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến: Theo hình thức
này, quan hệ quản lý hoạt động trong đơn vị diễn ra theo một tuyến quy định, trực tiếp theo hệ thống các đầu mối trực tuyến Cơ chế quản
lý thực hiện theo chế độ một thủ trưởng Phạm vi trách nhiệm trong bộ máy quản lý rõ ràng, cụ thể; khích lệ được tinh thần trách nhiệm, tránh tình trạng chồng chéo, mệnh lệnh; quan hệ quản lý bảo đảm chính xác, kịp thời
Các ĐVSN với quy mô hoạt động không lớn, chủng loại dịch vụ không nhiều hình thức tổ chức bộ máy kiểu trực tuyến thường được áp dụng phổ biến
Tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu chức năng: theo hình thức
này, thực hiện các công việc quản lý có sự tham gia của các chuyên gia chức năng trực tiếp lãnh đạo, điều hành chuyên môn trên toàn hệ thống hoạt động Các nhà quản lý có thể thực hiện công việc theo các
bộ phận chức năng khác nhau Các bộ phận chức năng gồm những người có cùng chuyên môn nên hội tụ nhiều kinh nghiệm, kiến thức, sáng tạo, giải quyết vấn đề chuyên môn thành thạo, hiệu quả; giảm gánh nặng cho các đầu mối trực tuyến Các đầu mối trực tuyến, chỉ tập trung vào các công việc quản trị hành chính, hỗ trợ các bộ phận quản trị chức năng
Tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu hỗn hợp: Theo hình thức này,
quản lý hoạt động theo kiểu hỗn hợp có sự tham gia của chuyên gia chức năng vào bộ máy quản lý nhưng không trực tiếp lãnh đạo điều hành chuyên môn mà thông qua hệ thống trực tuyến Các chuyên gia chức năng tham gia giải quyết các vấn đề chuyên môn nhưng không trực tiếp ra mệnh lệnh quản trị nên vẫn đảm bảo tính thành thạo, hiệu quả, thực hiện tốt chế độ một thủ trưởng
Tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu chức năng và hỗn hợp thường
áp dụng ở đơn vị quy mô lớn, hoạt động phức tạp, không ổn định
1.1.2.3 Về quản lý biên chế trong đơn vị sự nghiệp
Cơ chế tự chủ đã tạo hành lang pháp lý cho các đơn vị có quyền chủ động về biên chế, quản lý, sử dụng lao động khi thực hiện tổ chức
Trang 27bộ máy quản lý Đối với những công việc cần bố trí lao động thường xuyên, ĐVSN được quyền quyết định số lượng biên chế, hình thức tuyển dụng, quản lý, sử dụng lao động ở các mức độ khác nhau tùy theo mức độ tự chủ tài chính Những đơn vị tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động sẽ được quyền quyết định hoàn toàn về biên chế lao động; những đơn vị khác sẽ do cơ quan chủ quản trực tiếp quyết định trên cơ sở định mức biên chế được giao và kế hoạch biên chế đơn vị xây dựng Đối với những công việc không cần bố trí lao động thường xuyên, đơn vị được quyền ký hợp đồng hợp tác, thuê, khoán với cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu chuyên môn của đơn vị
1.1.3 Đặc điểm quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp
Hoạt động tài chính trong ĐVSN nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng là thực hiện thu để bù đắp chi phí, có tích lũy để phát triển nhưng chịu sự quản lý, điều tiết của Nhà nước Tài chính ĐVSN bao gồm các hoạt động và quan hệ tài chính liên quan đến quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực sự nghiệp
Là chủ thể quản lý, Nhà nước có thể sử dụng tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ để quản lý hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Thông thường Nhà nước có thể lựa chọn một trong hai cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp là cơ chế quản
lý tài chính theo dự toán năm và cơ chế tự chủ tài chính Điểm khác biệt chính giữa hai cơ chế này là:
Trang 28Bảng 1.2: Cơ chế quản lý tài chính theo dự toán năm
và cơ chế tự chủ tài chính
Tiêu chí Cơ chế quản lý tài chính
theo dự toán năm Cơ chế tự chủ tài chính
Kỳ lập dự toán Hàng năm Lập cho 3 năm liên tục
Căn cứ lập dự toán - Chức năng, nhiệm vụ được
giao
- Các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước
- Chức năng, nhiệm vụ được giao
- Nhiệm vụ của năm kế hoạch
- Chế độ chi tiêu tài chính hiện hành, quy chế chi tiêu nội bộ được phê duyệt
- Kết quả hoạt động sự nghiệp, tình hình thu, chi tài chính của năm trước liền kề
Thực hiện dự toán Tuyệt đối tuân thủ các tiêu
chuẩn, định mức chi tiêu của Nhà nước trong phạm vi dự toán được duyệt
- Thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ
- Được điều chỉnh các nội dung chi, các nhóm mục chi trong dự toán chi cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị Quyết toán - Theo các mục chi của mục
lục NSNN tương ứng với từng nội dung chi
- Các khoản kinh phí chưa
sử dụng hết phải nộp vào ngân sách nhà nước hoặc giảm trừ dự toán năm sau trừ trường hợp đặc biệt
- Theo các mục chi của mục lục NSNN tương ứng với từng nội dung chi
- Các khoản kinh phí chưa sử dụng hết được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng
Như vậy, có thể thấy cơ chế quản lý tài chính theo dự toán năm
là cơ chế quản lý truyền thống, mang tính áp đặt hành chính, thường
áp dụng cho các đơn vị có trình độ quản lý ở mức độ thấp Trong khi
đó cơ chế tự chủ tài chính là một cơ chế quản lý tài chính được hình thành trên quan điểm đơn vị sử dụng tài chính được điều hành một
Trang 29cách linh hoạt thay thế cho cơ chế quản lý tài chính mà lâu nay Nhà nước áp đặt
Việc lựa chọn cơ chế quản lý tài chính nào cần phải căn cứ vào bản chất dịch vụ mà đơn vị sự nghiệp cung ứng Đối với các dịch vụ công cộng phục vụ trực tiếp nhu cầu thiết yếu của người dân, được các
cá nhân sử dụng trực tiếp, có thể do Nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc
do khu vực tư nhân cung ứng bởi chúng không phải là hàng hóa, dịch
vụ công cộng thuần túy Do đó, có thể có sự cạnh tranh của khu vực tư trong việc cung cấp các dịch vụ này Xét về mặt logic của vấn đề, có cạnh tranh thì cần có cơ chế tự chủ tài chính để đảm bảo tính chủ động cho các đơn vị trước môi trường cạnh tranh Như vậy, cần phải có một
cơ chế quản lý tài chính linh hoạt cho các đơn vị sự nghiệp tức là cho
họ quyền được khai thác nguồn thu và bố trí các khoản chi một cách chủ động trong những giới hạn nhất định
Để đạt được những mục tiêu đề ra, công tác quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm ba khâu công việc sau:
- Thứ nhất, lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước trong phạm
vi được cấp có thẩm quyền giao hàng năm
- Thứ hai, tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ, chính sách của Nhà nước
- Thứ ba, quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước
Cụ thể nội dung chính của từng khâu công việc bao gồm các vấn
đề sau:
1.1.3.1 Lập dự toán thu, chi ngân sách
Một cách chung nhất, dự toán là bản tính toán dự trù các khoản thu và chi sẽ diễn ra trong một thời gian nhất định Như vậy, có thể hiểu lập dự toán ngân sách là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu thu, chi ngân sách hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn Hai phương pháp lập dự toán thường được sử dụng là phương
pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ (incremental budgeting method)
và phương pháp lập dự toán không dựa trên cơ sở quá khứ (zero basic
Trang 30budgeting method) Mỗi phương pháp lập dự toán đều có những đặc
điểm riêng cùng những ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng khác nhau Cụ thể:
- Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào kết quả hoạt động thực tế của kỳ liền trước và điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát dự kiến Phương pháp này có ưu điểm là rất rõ ràng, dễ hiểu và dễ sử dụng Dự toán được xây dựng tương đối ổn định, tạo điều kiện cho nhà quản lý tổ chức, điều hành mọi hoạt động Tuy nhiên, hạn chế là nếu chỉ dựa trên
dự toán của năm trước thì mọi hoạt động sẽ vẫn được tiến hành theo kiểu cách, khuôn mẫu cũ mà không khuyến khích phát triển các ý tưởng sáng tạo Bên cạnh đó với việc duy trì và xu hướng điều chỉnh tăng các khoản mục so với năm trước sẽ tạo tâm lý khuyến khích chi tiêu tăng theo dự toán vào những tháng cuối năm mà không quan tâm đến hiệu
quả đầu ra để tránh bị cắt giảm chi phí trong tương lai
- Phương pháp lập dự toán không dựa trên cơ sở quá khứ là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kế hoạch, phù hợp với điều kiện cụ thể hiện có của đơn vị chứ không dựa trên kết quả hoạt động thực tế của năm trước Đây là phương pháp lập dự toán phức tạp hơn do không dựa trên số liệu, kinh nghiệm có sẵn Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này sẽ đánh giá được một cách chi tiết hiệu quả chi phí hoạt động của đơn vị, chấm dứt tình trạng mất cân đối giữa khối lượng công việc và chi phí thực hiện đồng thời giúp đơn vị lựa chọn được cách thức tối ưu nhất để đạt được mục tiêu đề ra
Trong hai phương pháp lập dự toán trên, phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp truyền thống, đơn giản, dễ thực hiện và tiện áp dụng cho những hoạt động tương đối ổn định của đơn vị Trong khi đó, phương pháp lập dự toán không dựa trên cơ sở quá khứ phức tạp hơn, đòi hỏi trình độ cao trong đánh giá, phân tích,
so sánh giữa nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của đơn vị nên chỉ thích hợp với những hoạt động không thường xuyên, hạch toán riêng được chi phí và lợi ích
Trang 311.1.3.2 Tổ chức chấp hành dự toán thu, chi
Chấp hành dự toán là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính, hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong
dự toán ngân sách của đơn vị thành hiện thực Trên cơ sở dự toán ngân sách được giao, các đơn vị sự nghiệp tổ chức triển khai thực hiện, đưa ra các biện pháp cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi được giao đồng thời phải có kế hoạch sử dụng kinh phí ngân sách theo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả Để theo dõi quá trình chấp hành dự toán thu, chi, các đơn vị sự nghiệp cần tiến hành theo dõi chi tiết, cụ thể từng nguồn thu, từng khoản chi trong kỳ của đơn vị
Thực tế cho thấy trong các đơn vị sự nghiệp, nguồn thu thường được hình thành từ các nguồn:
- Nguồn kinh phí cấp phát từ NSNN để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao Đây là nguồn thu mang tính truyền thống và có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp Tuy nhiên với chủ trương đổi mới tăng cường tính tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp, tỷ trọng nguồn thu này trong các đơn vị sẽ có xu hướng giảm dần nhằm làm giảm bớt gánh nặng đối với NSNN
- Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: Gồm các khoản thu phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định của pháp luật, theo chế độ được phép
để lại đơn vị Ví dụ trong sự nghiệp y tế, các khoản thu sự nghiệp gồm thu viện phí, thu dịch vụ khám chữa bệnh, thu bán các sản phẩm vắc xin phòng bệnh; tại đơn vị sự nghiệp giáo dục, các khoản thu sự nghiệp là thu học phí của các hệ đào tạo… Cùng với việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính, tỷ trọng nguồn thu này trong các đơn vị
sự nghiệp có xu hướng ngày càng tăng Điều này đòi hỏi các đơn vị phải tổ chức khai thác các nguồn thu hợp pháp này nhằm tăng cường năng lực tài chính của đơn vị
- Các khoản thu từ nhận viện trợ, biếu tặng, các khoản thu khác không phải nộp ngân sách theo chế độ Đây là những khoản thu không thường xuyên, không dự tính trước nhưng có tác dụng hỗ trợ đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
Trang 32- Các nguồn khác như nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị; nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Với các nguồn thu như trên, đơn vị sự nghiệp được tự chủ thực hiện nhiệm vụ thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu, đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối tượng, nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quy định Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ
Như vậy, trong quá trình chấp hành dự toán thu, các đơn vị sự nghiệp phải coi trọng công bằng xã hội, đảm bảo thực hiện nghiêm túc các chính sách, chế độ thu do cơ quan có thẩm quyền ban hành Đối với các đơn vị được sử dụng nhiều nguồn thu cần có biện pháp quản
lý thống nhất nhằm sử dụng các nguồn thu đúng mục đích trên cơ sở hiệu quả và tiết kiệm
Song song với việc tổ chức khai thác các nguồn thu đảm bảo tài chính cho hoạt động, các đơn vị sự nghiệp phải có kế hoạch theo dõi việc sử dụng các nguồn kinh phí đúng mục đích để hoàn thành nhiệm
vụ được giao trên cơ sở minh bạch, tiết kiệm và hiệu quả
Trong đơn vị sự nghiệp, các khoản chi thường bao gồm:
- Chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo chức năng, nhiệm
vụ được cấp có thẩm quyền giao Đây thường là những khoản chi thường xuyên, ổn định để duy trì bộ máy và thực hiện những nhiệm vụ trong kế hoạch
- Chi không thường xuyên là các khoản chi cho mục đích đầu tư phát triển và thực hiện những nhiệm vụ đột xuất được giao như chi
Trang 33thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia…
Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, các đơn vị sự nghiệp được tự chủ, tự quyết định một số mức chi quản
lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc
Trong cơ chế tự chủ tài chính, thước đo các khoản chi của đơn vị
có chấp hành đúng dự toán hay không chính là quy chế chi tiêu nội bộ Quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất trong đơn vị, đảm bảo đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao, thực hiện hoạt động thường xuyên phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý Như vậy, quy chế chi tiêu nội bộ
là căn cứ để thủ trưởng đơn vị điều hành việc sử dụng và quyết toán kinh phí từ nguồn NSNN cấp cho hoạt động thường xuyên và nguồn thu sự nghiệp của đơn vị, là cơ sở pháp lý để kho bạc nhà nước kiểm soát chi Những nội dung chi trong quy chế chi tiêu nội bộ đã có tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì phải thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước như tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô, sử dụng trụ sở làm việc… Những nội dung chi cần thiết phục vụ cho hoạt động của đơn vị trong quy chế chi tiêu nội bộ nhưng nhà nước chưa ban hành chế độ thì thủ trưởng đơn vị có thể xây dựng mức chi cho từng nhiệm vụ, nội dung công việc trong phạm vi nguồn tài chính của đơn vị
1.1.3.3 Quyết toán thu, chi
Quyết toán thu, chi là công việc cuối cùng của chu trình quản lý tài chính Đây là quá trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dự toán trong kỳ và là cơ sở để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho các kỳ tiếp
Trang 34theo Để có thể tiến hành quyết toán thu, chi, các đơn vị phải hoàn tất
hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách
Nội dung chính của hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán là trình bày một cách tổng quát, toàn diện về tình hình thu, chi và cân đối ngân sách; tình hình tiếp nhận, huy động, sử dụng các nguồn tài chính và sự vận động của các tài sản sau một kỳ kế toán Toàn bộ những thông tin trình bày trên hệ thống báo cáo này được xây dựng trên cơ sở thông tin do kế toán cung cấp Do đó, hệ thống báo cáo có trung thực, hợp lý hay không phụ thuộc phần lớn vào việc tổ chức hạch toán kế toán của đơn vị như thế nào để cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho việc lập báo cáo
Có thể khái quát quyết toán thu, chi tại đơn vị sự nghiệp theo sơ
đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.1: Quyết toán thu, chi tại đơn vị sự nghiệp
Tóm lại, ba khâu công việc trong quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp đều hết sức quan trọng Nếu như dự toán là phương án kết hợp các nguồn lực trong dự kiến để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra
và là cơ sở để tổ chức chấp hành thì quyết toán là thước đo hiệu quả của công tác lập dự toán Qua đó có thể thấy ba khâu công việc trong quản lý tài chính có quan hệ mật thiết với nhau và có ảnh hưởng trực
Đơn vị dự toán cấp dưới
- Lập báo cáo kế toán quý
- Báo cáo quyết toán năm
Đơn vị dự toán cấp trên
1 Xét duyệt dự toán
2 Tổng hợp, lập báo cáo quyết toán năm của đơn vị mình và đơn vị trực thuộc
Cơ quan tài chính
Thẩm định
Đơn vị dự toán
cấp 1
Gửi (1)
Thông báo kết quả xét duyệt
Trang 35tiếp đến kết quả sử dụng các nguồn lực nhằm hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao Muốn vậy các đơn vị sự nghiệp phải có sự chủ động, linh hoạt trong hoạt động đồng thời với việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực Điều này một mặt phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, chức năng, nhiệm vụ được giao, mặt khác phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, phương thức hoạt động, cách thức
tổ chức công tác kế toán khoa học…
1.2 Vai trò và nguyên tắc kế toán trong đơn vị sự nghiệp
1.2.1 Vai trò và nhiệm vụ kế toán trong đơn vị sự nghiệp
Theo Luật Kế toán (2003), kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động
Kế toán trong ĐVSN là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán Nhà nước, có nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tin và kiểm tra về tình hình tiếp nhận và sử dụng, quyết toán kinh phí, tình hình quản lý
và sử dụng các loại vật tư, tài sản công; tình hình chấp hành các dự toán thu, chi và thực hiện các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước ở các ĐVSN
Như vậy, vai trò của kế toán trong ĐVSN được thể hiện qua hai chức năng chính mà kế toán đảm nhận, đó là:
- Chức năng thông tin kinh tế tài chính Thông qua việc thu thập,
phân loại, tính toán, ghi chép, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để kế toán cung cấp thông tin kinh tế tài chính của một đơn vị cho các đối tượng sử dụng Chức năng này được thực hiện bởi Kế toán tài chính tại ĐVSN
- Chức năng kiểm tra, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra quyết
định đối với đơn vị Chức năng này được thực hiện bởi Kế toán quản trị tại ĐVSN
Để thực sự là công cụ sắc bén, có hiệu lực trong công tác quản lý kinh tế tài chính, kế toán trong các đơn vị sự nghiệp phải thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 36- Ghi chép và phản ánh một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ và
có hệ thống tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình hình thành kinh phí và sử dụng nguồn kinh phí, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị
- Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành dự toán thu, chi; tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính và các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước, kiểm tra việc quản lý, sử dụng các loại vật tư tài sản ở đơn vị; kiểm tra việc chấp hành kỷ luật thu, nộp ngân sách, chấp hành kỷ luật thanh toán và chế độ chính sách của Nhà nước
- Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị dự toán cấp dưới, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và quyết toán của các đơn vị cấp dưới
- Lập và nộp đúng hạn các báo cáo kế toán cho các cơ quan quản
lý cấp trên và cơ quan tài chính theo quy định, cung cấp thông tin và tài liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng dự toán, xây dựng các định mức chi tiêu; phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí ở đơn vị
1.2.2 Cơ sở kế toán trong đơn vị sự nghiệp và chuẩn mực kế toán công quốc tế
1.2.2.1 Cơ sở kế toán và lựa chọn cơ sở kế toán trong ĐVSN a) Cơ sở kế toán
Kế toán trên cơ sở dồn tích
Kế toán trên cơ sở dồn tích (hay kế toán dồn tích) đánh giá, phản ánh tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động trên cơ
sở phát sinh quyền và nghĩa vụ tài chính, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu, chi tiền
Kế toán dồn tích cho phép xác định, đánh giá kết quả hoạt động từng kỳ kế toán, không nhất thiết phải chờ đến khi kết thúc công việc; phản ánh đầy đủ thực trạng và biến động tài sản, nguồn vốn, tình hình tài chính của đơn vị Những thông tin về tài sản, tình hình thanh toán luôn sẵn có theo những tiêu chí chuẩn hóa, có hệ thống Nhờ đó, nhà
Trang 37quản lý có thể đánh giá được các hoạt động, dự tính được ảnh hưởng của những hoạt động trong tương lai; theo dõi, kiểm soát được những thay đổi trong hoạt động của đơn vị
Tuy nhiên, kế toán dồn tích còn mang tính chủ quan trong việc phân tách thu nhập, chi phí giữa các kỳ kế toán (như khấu hao tài sản, tính giá hàng tồn kho, đánh giá sản phẩm dở dang…) nên độ tin cậy của kết quả hoạt động không cao, nhà quản lý hoặc nhân viên kế toán
có thể điều chỉnh doanh thu, chi phí thông qua các ước tính và phép phân bổ Do đó, khi thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích, kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán có liên quan, đặc biệt là nguyên tắc nhất quán và nguyên tắc phù hợp Ngoài ra, do sự khác biệt giữa lợi nhuận và lượng tiền sinh ra trong kỳ nên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động chưa thể đánh giá chính xác kết quả hoạt động của ĐVSN
Do các đặc điểm nêu trên, kế toán dồn tích thường áp dụng cho các ĐVSN có thu, có hoạt động SXKD phát triển, nhất là các đơn vị được giao quyền tự chủ toàn bộ Đối với các đơn vị có phát sinh hoạt động mua, bán chịu thì áp dụng kế toán dồn tích thực sự rất cần thiết nhằm đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí, doanh thu phát sinh trong kỳ kế toán
Kế toán trên cơ sở tiền
Kế toán trên cơ sở tiền (hay kế toán tiền mặt) dựa trên nguyên tắc ghi chép mọi biến động về tiền của một đơn vị, loại trừ tất cả các biến động khác Các khoản thu, chi hay biến động về tài sản của đơn vị chỉ được ghi nhận vào thời điểm thu được tiền hoặc chi trả thực tế mà không tính đến thời điểm phát sinh biến động về tài sản Doanh thu chỉ được ghi nhận khi thực sự thu được tiền, chi phí chỉ được ghi nhận khi thực sự chi tiền; kết quả hoạt động không xác định theo kỳ nhất định
mà theo vụ việc hoạt động hoàn thành trên cơ sở so sánh chênh lệch tiền thu vào và tiền chi ra dựa trên cơ sở luồng tiền của đơn vị
Kế toán tiền mặt đơn giản trong kỹ thuật kế toán, dễ hiểu, thông tin về dòng tiền xác thực, cho phép xác định chính xác khả năng thanh
Trang 38toán của đơn vị Song kế toán tiền mặt cũng bộc lộ một số hạn chế như không phản ánh bao quát về tình hình tài chính của đơn vị, không thể hiện được mối quan hệ phù hợp giữa doanh thu ghi nhận và chi phí phát sinh Vì thế người sử dụng khó có thể đánh giá chính xác thực trạng tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị; nên kế toán tiền mặt ít được sử dụng hơn so với kế toán dồn tích và thường được áp dụng đối với đơn vị hành chính Nhà nước hoặc các ĐVSN có nguồn thu thấp,
có hoạt động SXKD quy mô nhỏ hoạt động chủ yếu dựa trên các luồng tiền vào, ra, đặc biệt là các đơn vị thực hiện kế toán không liên quan tới hàng tồn kho
b) Lựa chọn cơ sở kế toán đối với đơn vị sự nghiệp
Do có thể thực hiện song hành cả hai loại hoạt động: Hoạt động
sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh, nên kế toán tại các ĐVSN phải lựa chọn được cơ sở kế toán phù hợp
Đối với hoạt động thụ hưởng, nguồn kinh phí hoạt động bao gồm kinh phí thường xuyên và không thường xuyên theo nguyên tắc các nguồn kinh phí này thuộc NSNN Để thực hiện các nghiệp vụ tiếp nhận,
sử dụng kinh phí NSNN cấp, các ĐVSN vận dụng kế toán tiền mặt Mặt khác, theo xu hướng tăng dần tính tự chủ cho các ĐVSN, khuyến khích các đơn vị chuyển đổi sang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, đặc biệt trong điều kiện quản lý theo kết quả đầu ra đòi hỏi phải xác định đầy đủ chi phí đầu vào để có cơ sở xác định hiệu quả quản lý tài chính, kế toán ĐVSN có thể lựa chọn áp dụng kế toán dồn tích, cuối kỳ lập BCTC có thể điều chỉnh trên cơ sở kế toán tiền mặt Như vậy, tại các ĐVSN kế toán có thể kết hợp kế toán tiền mặt với kế toán dồn tích để phản ánh các hoạt động kinh tế phát sinh một cách phù hợp với bản chất của giao dịch Kế toán tiền mặt phản ánh các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao và được cấp kinh phí hoạt động hàng năm Kế toán dồn tích phản ánh các hoạt động SXKD và cung ứng dịch vụ; các hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ Nhà nước giao và được cấp kinh phí ban đầu, đơn vị có trách nhiệm bảo toàn và phát triển nguồn kinh phí đó
Trang 391.2.2.2 Chuẩn mực kế toán công quốc tế và xu hướng lựa chọn cơ sở kế toán trong đơn vị sự nghiệp
Cũng như chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) được Liên đoàn kế toán quốc tế ban hành và được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới, chuẩn mực kế toán công quốc tế (International Public Sector Accounting Standards - IPSAS) cũng được ban hành làm cơ sở pháp lý cho các đơn vị lĩnh vực công áp dụng
IPSAS được công bố nhằm trợ giúp cho các đơn vị trong lĩnh vực công áp dụng và thực hiện trong công tác kế toán và lập báo báo tài chính (BCTC) nhằm nâng cao chất lượng và tính minh bạch trong lập BCTC bằng việc cung cấp thông tin tốt hơn cho các nhà quản lý trong việc đưa ra các quyết định cụ thể
IPSAS được ban hành là một bước đi tích cực trong việc thống nhất hệ thống chuẩn mực kế toán trong lĩnh vực công trên toàn thế giới Qua đó có sự thống nhất về cách ghi nhận, đo lường và trình bày các thông tin trên BCTC của các đơn vị trong lĩnh vực công Theo IPSAS, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công hàng năm phải lập BCTC là các đơn vị kinh tế có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN) Các đơn vị kinh tế thuộc lĩnh vực công phải lập BCTC theo IPSAS là các đơn vị hoạt động theo nguyên tắc tự cân đối thu, chi Chênh lệch giữa các khoản thu (gồm cả kinh phí NSNN cấp) trừ đi các khoản chi đã sử dụng trong quá trình hoạt động là thặng dư thuần hoặc thâm hụt thuần của đơn vị trong kỳ kế toán Theo IPSAS, các đơn vị thuộc lĩnh vực công khi kết thúc năm tài chính phải lập 4 báo cáo bao gồm: Bảng cân đối kế toán (phản ánh tình hình tài chính); Báo cáo kết quả hoạt động (phản ánh quá trình hoạt động và xác định thặng dư hoặc thâm hụt thuần); Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh BCTC
Liên đoàn kế toán quốc tế ban hành IPSAS dựa trên cơ sở kế toán tiền mặt và cơ sở kế toán dồn tích Mục đích của việc ban hành IPSAS trên cơ sở kế toán dồn tích là để phù hợp với chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) và thích ứng với điều kiện của các đơn vị trong lĩnh vực công; và cũng để giải quyết các vấn đề về lập BCTC trong
Trang 40lĩnh vực công mà không được quy định bởi IFRS hoặc IFRS chưa đề cập đến Dựa trên logic như vậy, nhiều chuẩn mực trong IPSAS được thiết kế dựa trên chuẩn mực BCTC quốc tế
Liên đoàn kế toán quốc tế cũng ban hành IPSAS trên cơ sở tiền mặt cho các đơn vị kế toán công và yêu cầu các đơn vị này phải trình bày các thông tin bắt buộc và những phần khuyến khích trình bày Tuy nhiên, Liên đoàn kế toán quốc tế khuyến khích các đơn vị trong lĩnh vực công chuyển đổi kế toán trên cơ sở tiền mặt sang kế toán trên cơ
sở dồn tích Do vậy, các đơn vị trong lĩnh vực công áp dụng kế toán trên cơ sở dồn tích được tạo mọi điều kiện thuận lợi để đáp ứng với yêu cầu của chuẩn mực Các đơn vị này có thể lựa chọn bất cứ khi nào
để áp dụng IPSAS trên cơ sở dồn tích và khi đã lựa chọn áp dụng thì phải báo cáo đầy đủ theo quy định của chuẩn mực Như vậy, trong tương lai sẽ có sự chuyển đổi của các đơn vị trong lĩnh vực công áp dụng IPSAS trên cơ sở tiền mặt sang áp dụng IPSAS trên cơ sở kế toán dồn tích
Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) bao gồm các chuẩn mực sau:
Bảng 1.3: Hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS)
IPSAS 1 Trình bày BCTC
IPSAS 2 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
IPSAS 3 Chênh lệch thu, chi, các sai sót cơ bản và sự thay đổi chính sách
kế toán
IPSAS 4 Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái
IPSAS 5 Chi phí đi vay
IPSAS 6 Báo cáo tài chính hợp nhất, kế toán các khoản đầu tư vào đơn vị
bị kiểm soát
IPSAS 7 Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết