Vì vậy, cảicách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan Tưpháp trong đó có ngành Tòa án là một đđòi hỏi có tính cấp báchcủa Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.Nghị
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn hai mươi năm đổi mới và phát triển đất nước tađã thu được những thành tựu đáng trân trọng trên tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội Trong đó đặc biệt là vấn đề xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chủ trương nàylần đầu tiên được đề cập tới tại Nghị quyết hội nghị toàn quốcgiữa nhiệm kỳ khóa VII và được ghi nhận chính thức tại đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ IX đó là:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giaicấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phâncông và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việcthực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp[11]
Trong Nhà nước pháp quyền, tư pháp có vai trò đặc biệtquan trọng,và
trong nền tư pháp Việt Nam, Tòa án được xác định là trụ cột,hoạt động của Tòa án là nơi thể hiện rõ nhất chất lượng hoạt động
và uy tín của hệ thống cơ quan tư pháp nói chung và quyền lựcnhà nước nói riêng Để cải cách, nâng cao chất lượng hoạt độngcủa Tòa án, trong đó trọng tâm là hoạt động xét xử là khâu đột
Trang 2phá của quá trình cải cách tư pháp nước nhà trong tiến trìnhxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Vì vậy, cảicách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan Tưpháp trong đó có ngành Tòa án là một đđòi hỏi có tính cấp báchcủa Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị
về “Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác Tư pháp trong thời gian tới” đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ trong tình
hình mới như phải đảm bảo tính dân chủ và tính khách quantrong hoạt động tư pháp, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắchiến định như mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật,tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; khi xét xử, Thẩm phán vàHội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; khi xét xử, Thẩmphán và Hội thẩm nhân dân phải lắng nghe các ý kiến khácnhau của luật sư, công tố viên và những người tham gia tố tụngkhác Bản án và quyết định của Tòa án phải thực sự là kết quảcủa việc xem xét, thẩm tra, đối chiếu, đánh giá các chứng cứ, tàiliệu đã thu thập được trong hồ sơ và qua tranh tụng tại phiêntòa công khai; trong hoạt động tư pháp phải bảo đảm không bỏlọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Nghị quyết 49- NQ/ TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị vềChiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020, xác định mục tiêuchiến lược là: Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh,dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục
vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa;hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiếnhành có hiệu quả và hiệu lực cao
Trang 3Hoạt động xét xử của Toà án thực chất là hoạt động áp dụngpháp luật Các quyết định và bản án của Toà án đều phải dựa vàoHiến pháp và pháp luật và đó là những hoạt động áp dụng phápluật Hoạt động áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng phápluật trong hoạt động xét xử án hình sự sơ thẩm của ngành Toà
án nói riêng là nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên của ngànhToà án Hoạt động xét xử có hiệu quả và đúng pháp luật vừa lànhiệm vụ, vừa là trách nhiệm, vừa là đạo đức của người cán bộToà án nói chung và của người Thẩm phán nói riêng
Trong những năm vừa qua, tình hình tội phạm trên cảnước nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng có nhiều diễn biếnphức tạp, tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm ngày càngnghiêm trọng, hành vi phạm tội ngày càng tinh vi xảo quyệthơn, tội phạm không chỉ diễn ra trong lĩnh vực xâm phạm anninh quốc gia; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm, quyền sở hữu tài sản công dân, xâm phạm trật
tự, an toàn xã hội mà còn diễn ra trong các lĩnh vực quản lý kinh
tế, bảo vệ môi trường, ma túy, tham nhũng… Thủ đoạn thực hiệntội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt Đặc biệt, tội phạm có tổchức trong thời gian gần đây đã và đang gây ra những tác hạikhá nghiêm trọng cho trật tự trị an xã hội nói riêng và đời sống xãhội nói chung
Quá trình áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử ánhình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân ở tỉnh Nghệ An trongthời gian qua đã đạt được nhiều kết quả khả quan, góp phần quantrọng vào việc giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địaphương; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa các tổ chức và công dân trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, thực
Trang 4tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơthẩm của ngành Toà án nhân dân ở tỉnh Nghệ An còn cónhững hạn chế nhất định Tình trạng các bản án, quyết định vẫncòn có những sai sót bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm sửa án,huỷ án, nên đã phần nào ảnh hưởng đến uy tín của ngành Toà
án, ảnh hưởng đến nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, ảnhhưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân vào cơ quanthực thi công lý Trước tình hình đó đã đặt ra những yêu cầuvừa cấp bách vừa lâu dài để không ngừng nâng cao chất lượngxét xử trong quá trình thực hiện cải cách tư pháp theo địnhhướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân, vì dân
Từ thực trạng áp dụng pháp luật như trên, bản thân tác giả
là một công chức hiện đang công tác tại ngành Toà án nhândân tỉnh Nghệ An, nhận thức đúng đắn tầm quan trọng củaviệc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử, chú trọng pháthuy những kết quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế,nhược điểm trong hoạt động này đã và đang trở thành yêu cầucấp thiết trong toàn ngành Tòa án nhân dân nói chung vàngành Tòa án Nghệ An nói riêng trong công cuộc cải cách tưpháp hiện nay Chính vì ý nghĩa lý luận và thực tiễn nh đãnêu trên với mong muốn được đóng góp một phần suy nghĩcủa mình vào việc tìm ra những nguyên nhân dẫn đếnnhững sai sót trong các bản án, quyết định, đề xuất những giảipháp dưới góc độ lý luận chung góp phần hạn chế những saisót về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự
sơ thẩm của ngành Toà án nhân dân ở tỉnh Nghệ An Vì vậy,
Trang 5tác giả chọn đề tài: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân ở tỉnh Nghệ An làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật và
áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự luôn là đềtài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý Đặcbiệt, trong thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân, vì dân; phát huy dân chủ đi đôi vớiviệc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và thực hiện cải cách
tư pháp đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đượccông bố kết quả nghiên cứu về vấn đề áp dụng pháp luật trongxét xử án hình sự của Tòa án nhân dân Những công trình
đó đã góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượngxét xử của cơ quan Tòa án Đó là các công trình:
- Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Xuân Thân: Áp dụng pháp
luật trong hoạt động xét xử án Hình sự của Toà án nhân dân ở Việt nam hiện nay, năm 2004.
- Luận án tiến sỹ của tác giả Tô Văn Hòa: Tính độc lập của
Tòa án, năm 2006.
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Chu Đức Thắng: Áp dụng
pháp luật trong hoạt động xét xử án dân sự ở Việt Nam hiện nay, năm 2004.
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Lê Việt Dũng: Áp dụng pháp
luật trong xét xử án hình sự sơ thẩm của Tòa án quân sự các cấp ở việt nam hiện nay, năm 2005.
Trang 6- Luận văn thạc sỹ của t¸c giả Tạ Văn Hồ: Áp dụng ph¸p luật
trong hoạt động xÐt xử c¸c tội phạm về chức vụ ở Việt Nam hiện nay, năm 2007.
- Luận văn Thạc sỹ của t¸c giả Nguyễn Mạnh Toàn: Áp dụng
ph¸p luật trong hoạt động xÐt xử ¸n h×nh sự của Tßa ¸n nh©n d©n tỉnh Th¸i Nguyªn, năm 2008.
- Bài viết của GSTSKH Đào TrÝ Úc: Những vấn đề lý luận cơ
bản về ph¸p luật năm 1993.
- Bài viết của TS Nguyễn Văn Hiện về: Tăng cường năng lực
xÐt xử của Tßa ¸n cấp huyện- Một số vấn đề cấp b¸ch Tạp chÝ
Tßa ¸n nh©n d©n năm 2002
- Bài viết của TS Nguyễn Văn Hiện về: N©ng cao chất lượng
soạn thảo bản ¸n h×nh sự- một yªu cầu cấp b¸ch Tạp chÝ d©n
chủ và ph¸p luật năm 2001
- Bài viết của tiến sỹ Nguyễn Văn Cường: Những vấn đề cần
trao đổi khi ¸p dụng điều 136 luật đất đai, Tạp chÝ Tßa ¸n nh©n
d©n th¸ng 8/2005
- T¸c giả Lưu Tiến Dũng với bài: Bàn về ¸p dụng ph¸p luật
trong c«ng t¸c xÐt xử Tạp chÝ Tßa ¸n nh©n d©n th¸ng
5/2005
- Bài viết của t¸c giả Vũ Hồng Thªm: Bàn về ¸p dụng một số
t×nh tiết định khung tăng nặng trong tội cố ý g©y thương tÝch hoặc g©y tổn hại sức khoẻ cho người kh¸c Tạp chÝ Toà ¸n số 13
th¸ng 7/2005
- Bài viết của t¸c giả Vũ Thành Long: Về ¸p dụng t×nh tiết
phạm tội cã tÝnh chất chuyªn nghiệp Tạp chÝ Toà ¸n nh©n
d©n số 20 th¸ng 10/2006
Trang 7- Bài viết của t¸c giả Chu Thị V©n Trang về: Vai trß s¸ng tạo
của Tßa ¸n trong thực tiễn ¸p dụng ph¸p luật h×nh sự Tạp chÝ
Lập ph¸p số 27 th¸ng 9/2007
- Bài viết của t¸c giả Nguyễn Đ×nh Huề về: Áp dụng t×nh
tiết tăng nặng định khung giết trẻ em theo điểm c khoản 1 điều
93 Bộ luật h×nh sự Tạp chÝ Toà ¸n nh©n d©n số 13 th¸ng 7
năm 2008
- Bài viết của Nguyễn Đăng Khuª về: Thực tiễn ¸p dụng điều
47 Bộ luật h×nh sự và những vướng mắc Tạp chÝ Toà ¸n nh©n
d©n số 22 th¸ng 11 năm 2008
Tuy nhiªn, những c«ng tr×nh khoa học và bài viết trªnđ©y chỉ đề cập đến ¸p dụng ph¸p luật nãi chung và ¸p dụngph¸p luật của Tßa ¸n nh©n d©n trong một số lĩnh vực cụ thể.Luận văn này tập trung nghiªn cứu việc ¸p dụng ph¸p luật tronghoạt động xÐt xử c¸c vụ ¸n h×nh sự sơ thẩm của Tßa ¸n nh©nd©n ở tỉnh Nghệ An nhằm rót ra những mặt được, những hạnchế, tồn tại, đề xuất c¸c giải ph¸p bảo đảm ¸p dụng ph¸p luậttrong hoạt động xÐt xử ¸n h×nh sự sơ thẩm của ngành Toà ¸nnh©n d©n ở tỉnh Nghệ An ngày càng được n©ng cao, đ¸p ứngyªu cầu cải c¸ch tư ph¸p ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Kế thừa và ph¸t huy c¸c kết quả nghiªn cứu nªu trªn, t¸cgiả mạnh dạn tiếp cận vấn đề ¸p dụng ph¸p luật dưới gãc độ lýluận chung về nhà nước và ph¸p luật để nghiªn cứu làm s¸ng tỏnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về ¸p dụng ph¸p luật tronghoạt động xÐt xử ¸n h×nh sự sơ thẩm của Tßa ¸n nh©n d©n ởtỉnh Nghệ An, với mong muốn t×m ra giải ph¸p bảo đảm ¸pdụng ph¸p luật của Tßa ¸n nh©n d©n trong c«ng t¸c xÐt xử
Trang 8các vụ án nói chung và trong xét xử án hình sự sơ thẩm nóiriêng.
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận
và thực tiễn vấn đề áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các
vụ án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân ở tỉnh Nghệ An,nêu ra những phương hướng, giải pháp nhằm góp phần bảo đảm
áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơ thẩmcủa Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An được công bằng, kháchquan và chính xác tránh tình trạng xét xử oan, sai trong quátrình áp dụng pháp luật
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết cácnhiệm vụ sau:
- Thứ nhất: Phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp
dụng pháp luật, các giai đoạn áp dụng pháp luật , các yếu tố bảođảm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự
sơ thẩm của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An
- Thứ hai: Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong
xét xử án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ
An trong thời gian vừa qua Làm rõ những ưu điểm, hạn chế vànhững nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế của áp dụng phápluật trong hoạt động xét xử án hình sự sơ thẩm của Tđòa ánnhân dân ở tỉnh Nghệ An
- Thứ ba: Đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm áp dụng
pháp luật trong hoạt động xét xử án Hình sự sơ thẩm của Tòa
Trang 9¸n nh©n d©n ở tỉnh Nghệ An gãp phần đ¸p ứng yªu cầu cảic¸ch tư ph¸p theo chủ trương của Đảng
4 Đối tượng và phạm vi nghiªn cứu của luận văn
- Đối tượng nghiªn cứu: Đề tài nghiªn cứu việc ¸p dụngph¸p luật trong hoạt động xÐt xử ¸n h×nh sự sơ thẩm của Tßa
¸n nh©n d©n ở tỉnh Nghệ An
- Phạm vi nghiªn cứu:
+ Về kh«ng gian: Nghiªn cứu hoạt động ¸p dụng ph¸p luậttrong xÐt xử ¸n h×nh sự sơ thẩm của Toà ¸n nh©n d©n ở tỉnhNghệ An (bao gồm cấp huyện và cấp tỉnh)
+ Về thời gian: Trong khoảng thời gian năm từ 2006 đếnth¸ng 9/2010
5 Cơ sở lý luận và phương ph¸p nghiªn cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trªn cơ sở lý luận của chủ nghĩaM¸c - Lªnin, tư tưởng Hồ ChÝ Minh và quan điểm của Đảng Cộngsản Việt Nam về Nhà nước và Ph¸p luật, về x©y dựng Nhà nướcph¸p quyền của d©n, do d©n, v× d©n; c¸c quan điểm củaĐảng và nhà nước về tăng cường ph¸p chế trong đấu tranhphßng và chống c¸c tội phạm về h×nh sự, đặc biệt là quan điểmchỉ đạo của Đảng về cải c¸ch tư ph¸p theo tinh thần Nghị quyết08- NQ/TW ngày 02/1/2002 và Nghị quyết 49- NQ/TW ngày02/6/2005 của Bộ ChÝnh trị
5.2 Phương ph¸p nghiªn cứu của luận văn
Trªn cơ sở phương ph¸p luận duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử của Triết học M¸c - Lªnin, luận văn sử dụng tổng hợp c¸c
Trang 10phương ph¸p: phương ph¸p ph©n tÝch - tổng hợp; phương ph¸pthống kª, so s¸nh… để làm râ thực trạng ¸p dụng ph¸p luật và đềxuất những giải ph¸p phï hợp để bảo đảm việc ¸p dụng ph¸p luậttrong xÐt xử ¸n h×nh sự sơ thẩm của Tßa ¸n nh©n d©n ở tỉnhNghệ An đạt hiệu quả.
6 Những đãng gãp khoa học của luận văn
- Luận văn hệ thống ho¸, làm râ thªm một số vấn đề lý luận
về ¸p dụng ph¸p luật trong trong qu¸ tr×nh giải quyết c¸c vụ ¸nh×nh sự sơ thẩm của Tßa ¸n nh©n d©n nãi chung và của Toà
¸n nh©n d©n ở tỉnh Nghệ An nãi riªng Đề xuất một số phươnghướng, giải ph¸p cụ thể bảo đảm ¸p dụng ph¸p luật trong giảiquyết ¸n h×nh sự sơ thẩm của Tßa ¸n nh©n d©n ở tỉnh Nghệ An,đ¸p ứng yªu cầu cải c¸ch tư ph¸p và x©y dựng nhà nước ph¸pquyền x· hội chủ nghĩa của d©n, do d©n, v× d©n
7 ý nghĩa của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn gãp phần làm s¸ng tỏ lý luận về
¸p dụng ph¸p luật, n©ng cao nhận thức của những người trựctiếp làm c«ng t¸c xÐt xử ¸n h×nh sự của Toà ¸n nh©n d©n tỉnhNghệ An Đồng thời làm phong phó thªm cơ sở khoa học về ¸pdụng ph¸p luật trong hoạt động xÐt xử ¸n h×nh sự sơ thẩm đ¸pứng yªu cầu của tiến tr×nh cải c¸ch Tư ph¸p
- Về mặt thực tiễn: Luận văn cã ý nghĩa quan trọng trong
việc gãp phần n©ng cao tr×nh độ chuyªn m«n của bản th©ncũng như của c¸n bộ, c«ng chức trong ngành Tßa ¸n nh©nd©n tỉnh Nghệ An để ¸p dụng cã hiệu quả trong thực tiễn xÐt xử
¸n h×nh sự sơ thẩm Đảm bảo c«ng bằng, kh¸ch quan, chÝnhx¸c, kh«ng bỏ lọt tội phạm, kh«ng làm oan người v« tội
Trang 118 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương, 8 tiết
Trang 121.1.1 Khái quát chung về áp dụng pháp luật
* Khái niệm áp dụng pháp luật.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, pháp luật là
hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nớc ban hành hoặcthừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, đợc nhà nớcbảo đảm thực hiện, kể cả bằng biện pháp cỡng chế, để
điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì xã hội trong một trật
tự có lợi cho giai cấp thống trị
Hình thức thể hiện cơ bản nhất của pháp luật xã hội chủnghĩa là văn bản quy phạm pháp luật Đây là loại văn bản do cơquan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tụcluật định, trong đó có chứa đựng quy tắc xử sự chung, được nhànước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, được
áp dụng nhiều lần trong đời sống và trong mọi trường hợp Nhànước căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnhtất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, vănhóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, an ninh quốc phòng… Tất cảmọi công dân, tổ chức, cán bộ, công chức nhà nước đều phảituân thủ chấp hành không có ngoại lệ Tuy nhiên để các văn bảnquy phạm pháp luật đó ban hành đợc đi vào cuộc sống, đáp ứng
Trang 13mục đích và ý nghĩa của nó đòi hỏi các cá nhân, tổ chức trongxã hội phải thực hiện một cách nghiêm chỉnh, chính xác, đầy đủ
và tự giác Nhà nớc quản lý xã hội bằng pháp luật thì nhà nớcphải ban hành luật Nếu pháp luật ban hành nhiều nhng ít
đi vào cuộc sống, hiệu quả điều chỉnh của các quy phạmpháp luật không cao chứng tỏ rằng quản lý nhà nớc kém hiệuquả Vì vậy, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là đòihỏi khách quan của việc quản lý nhà nớc, tăng cờng pháp chế,xây dựng nhà nớc pháp quyền Việt Nam
Thực hiện pháp luật là hành vi xử sự của con ngời đợc tiếnhành phù hợp với yêu cầu của các quy phạm pháp luật Hành vi xử
sự của con ngời trong hoạt động thực hiện pháp luật có haitính chất: Tính xã hội và tính pháp lý
Vì vậy, thực hiện pháp luật bao hàm các hành vi (hành
động hay không hành động) của các cá nhân, các tổ chứcphù hợp với các quy định của pháp luật Khoa học pháp lý gọi
đó là những hành vi hợp pháp
Nh vậy, thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động cómục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thànhhiện thực trong đời sống xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt
động thực tế của các chủ thể pháp luật
Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật,khoa học pháp lý phân chia thực hiện pháp luật thành nhữnghình thức sau:
Tuân thủ pháp luật: Đây là một dạng thực hiện pháp
luật, trong đó các chủ thể pháp luật tự kiềm chế mình để
Trang 14không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm Việccác chủ thể pháp luật tự kiềm chế là những xử sự thụ động,
tự ghép mình vào tập thể , vào xã hội, đặt lợi ích quốc gia,lợi ích cộng đồng, tập thể lên lợi ích bộ phận, cục bộ Phápluật quy định mọi tổ chức và công dân không đợc thựchiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không đợc xâmphạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngời khác Đó lànhững điều pháp luật cấm Đồng thời, vì lợi ích chung, tùytheo tình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc tổchức, công dân phải làm một việc nào đó
Chấp hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp
luật trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ pháp lýcủa mình với hành động tích cực Khác với việc thực hiện cácnghĩa vụ pháp lý khi vi phạm pháp luật, các nghĩa vụ pháp lýnói ở đây là các nghĩa vụ pháp lý mang tính đơng nhiêncủa công dân, cán bộ, công chức nhà nớc; là bổn phận vàtrách nhiệm mà các chủ thể phải thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật nhng khuyến khích hoạt động có hiệu quảcao Hoạt động chấp hành pháp luật là cơ sở pháp lý để
đánh giá công trạng, thành tích và danh dự, phẩm giá tốt
đẹp của công dân và tổ chức cũng nh của cán bộ công chứcnhà nớc
Sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp
luật trong đó các chủ thể pháp luật sử dụng các quyền năngpháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác củamình Song nếu các chủ thể không sử dụng quyền củamình thì pháp luật cũng không bắt buộc Nói cách khác, các
Trang 15quyền chủ thể đợc pháp luật cho phép thực hiện theo ý chícủa chủ thể.
áp dụng pháp luật: Đây là một hình thức thực hiện pháp
luật, trong đó nhà nớc thông qua các cơ quan nhà nớc hoặccán bộ công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thểthực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn
cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định làmphát sinh, chấm dứt hay thay đổi những quan hệ pháp luật
cụ thể
áp dụng pháp luật vừa là một hình thức thực hiện phápluật diễn ra trong hoạt động thực hiện quyền hành pháp vàthực hiện quyền t pháp của nhà nớc Đây là hoạt động thựchiện pháp luật của cơ quan nhà nớc, đợc xem nh là đảm bảo
đặc thù của nhà nớc cho các quy phạm pháp luật đợc thựchiện có hiệu quả trong đời sống xã hội Trong các hình thứcthực hiện pháp luật nói trên, hình thức áp dụng pháp luật có
vị trí đặc biệt quan trọng áp dụng pháp luật thờng đợcthực hiện trong các trờng hợp sau:
- Thứ nhất: áp dụng pháp luật trong trờng hợp cần sử
dụng các biện pháp cỡng chế bằng những chế tài thích hợp
đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Ví dụ, tòa án ápdụng pháp luật để ra một bản án đối với ngời có hành viphạm tội, xử phạt hành chính, cỡng chế nhà nớc đối với cácquyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật
- Thứ hai: áp dụng pháp luật khi các quyền chủ thể và
nghĩa vụ pháp lý cụ thể không tự phát sinh nếu không có sựtác động của nhà nớc Trong nhiều trờng hợp, các quyền và
Trang 16nghĩa vụ cơ bản của công dân quy định trong Hiến pháp
và các đạo luật phải thông qua các quyết định cụ thể củacác cơ quan nhà nớc có thẩm quyền mới nảy sinh các quyền
và nghĩa vụ pháp lý cụ thể đối với các cá nhân cụ thể Ví
dụ, điều 55 Hiến pháp năm 1992 quy định “Lao động làquyền và nghĩa vụ của công dân”
- Thứ ba: áp dụng pháp luật khi xảy ra tranh chấp về
quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệpháp luật mà họ không tự giải quyết đợc Ví dụ, tranh chấpgiữa các bên tham gia hợp đồng dân sự, thơng mại, lao độngv.v…
- Thứ t: áp dụng pháp luật trong trờng hợp nhà nớc thấy
cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động củacác bên tham gia quan hệ đó hoặc nhà nớc xác nhận sự tồntại hay không tồn tại của một số sự việc, sự kiện thực tế Đó làcác hoạt động chứng nhận, công chứng, chứng thực v.v…
* Đặc điểm của áp dụng pháp luật
áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật chỉdành cho các cơ quan nhà nớc hay nhà chức trách có thẩmquyền, áp dụng pháp luật đợc xem là hoạt động thực hiệnpháp luật của các cơ quan nhà nớc, nó vừa là một hình thứcthực hiện pháp luật, vừa là một giai đoạn mà các cơ quannhà nớc có thẩm quyền tiến hành tổ chức cho các chủ thểkhác thực hiện các quy định của pháp luật Do vậy, áp dụngpháp luật có những đặc điểm sau:
Một là: áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính
quyền lực nhà nớc, cụ thể:
Trang 17- Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quannhà nớc hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành Mỗi cơquan nhà nớc hay nhà chức trách trong phạm vi thẩm quyềncủa mình đợc phép tiến hành một số những hoạt động ápdụng pháp luật nhất định Trong quá trình áp dụng pháp luậtmọi khía cạnh, mọi tình tiết đều phải đợc xem xét thậntrọng và dựa trên cơ sở các quy định, yêu cầu của quy phạmpháp luật đã đợc xác định để ra các quyết định cụ thể Cóthể nói, pháp luật là cơ sở để các cơ quan nhà nớc có thẩmquyền áp dụng pháp luật thực hiện các chức năng, nhiệm vụcủa mình Cũng cần chú ý là có một số trờng hợp đặc biệt,khi đợc nhà nớc ủy quyền một số tổ chức xã hội cũng có thểtiến hành áp dụng pháp luật.
- áp dụng pháp luật đợc xem là sự thể hiện ý chí củanhà nớc trong quá trình điều chỉnh pháp luật, vì vậy ở mộtchừng mực nhất định áp dụng pháp luật còn mang tínhchính trị, nó phục vụ cho những mục đích chính trị nhất
định Do vậy, việc áp dụng pháp luật không những phải phùhợp với pháp luật thực định mà còn phải phù hợp với chủ trơngchính sách của nhà nớc trong mỗi giai đoạn nhất định
- Hoạt động áp dụng pháp luật đợc tiến hành chủ yếutheo ý chí đơn phơng của các cơ quan nhà nớc hay nhà chứctrách có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể
bị áp dụng pháp luật và có tính chất bắt buộc đối với chủthể bị áp dụng và các chủ thể có liên quan
Hai là: áp dụng pháp luật là hoạt động phải tuân theo
những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định
Do tính chất quan trọng và phức tạp của áp dụng pháp luật,
Trang 18chủ thể bị áp dụng pháp luật có thể đợc hởng những lợi íchrất lớn nhng cũng có thể phải chịu những hậu quả bất lợi rấtnghiêm trọng nên trong pháp luật luôn có sự xác định rõ ràngcơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ củacác chủ thể trong quá trình áp dụng pháp luật Chẳng hạn
để giải quyết một vụ án hình sự phải đợc tiến hành theonhững quy định cụ thể của pháp luật tố tụng hình sự hoặc
để giải quyết một vụ án dân sự phải đợc tiến hành theonhững quy định cụ thể của pháp luật tố tụng dân sự Cáccơ quan nhà nớc có thẩm quyền và các bên có liên quan trongquá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm túc, chặtchẽ các quy định có tính thủ tục đó, để tránh những sự tùytiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng,không chính xác
Ba là: áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh có
tính cá biệt, cụ thể đối với quan hệ xã hội xác định Đối tợngcủa áp dụng pháp luật là những quan hệ xã hội cần đến sự
điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên cơ sở những mệnh lệnhchung trong quy phạm pháp luật Nói cách khác , quy tắc xử
sự có tính chất chung trong quy phạm pháp luật thông quahoạt động áp dụng pháp luật sẽ đợc cá biệt hóa một cáchchính xác thành mệnh lệnh cụ thể cho mỗi trờng hợp cụ thể
đối với những chủ thể cụ thể
Bốn là: áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính
sáng tạo Bởi vì, áp dụng pháp luật là quá trình vận dụng cáichung để giải quyết các vụ việc cụ thể Điều này đòi hỏi ng-
ời có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải vận dụng cái chung
Trang 19phù hợp với cái riêng rất phong phú, đa dạng và phức tạp Đểlàm điều đó , ngời áp dụng pháp luật không thể máy móc,rập khuôn mà đòi hỏi phải có ý thức pháp luật cao, có kiếnthức tổng hợp, kinh nghiệm cuộc sống phong phú.
Kết quả áp dụng pháp luật chủ yếu đợc thể hiện bằngcác văn bản áp dụng pháp luật Văn bản này có các đặc
điểm sau:
- Văn bản áp dụng pháp luật chỉ do các cơ quan nhà nớc
có thẩm quyền hoặc tổ chức xã hội đợc trao quyền mới cóquyền ban hành và đợc bảo đảm thực hiện bằng cỡng chếnhà nớc
- Văn bản áp dụng pháp luật chỉ đích danh tên các cánhân, tổ chức cụ thể trong những trờng hợp xác định vàchỉ áp dụng một lần
- Văn bản áp dụng pháp luật phải căn cứ vào văn bản quyphạm pháp luật và phải phù hợp với chúng Nếu không văn bản
áp dụng pháp luật sẽ bị đình chỉ hoặc hủy bỏ
- Văn bản áp dụng pháp luật thờng thể hiện dới các hìnhthức nh bản án, quyết định, lệnh
1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật trong hoạt
động xét xử án hình sự sơ thẩm
“Xét xử” là từ hán việt đợc hiểu theo nghĩa là xem xét
và phán xử Theo từ điển luật học năm 2006, xét xử là “ Hoạt
động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc, từ đónhân danh nhà nớc đa ra một phán quyết tơng ứng với bảnchất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc [63,tr869, 870] Xét xử sơ thẩm là một từ Hán Việt, Theo từ điển
Trang 20luật học thì “có nghĩa là lần đầu tiên đa vụ án ra xét xử tạimột tòa án có thẩm quyền” [ 63, tr870] Xét xử là hoạt động
đặc trng, là chức năng, nhiệm vụ của tòa án và tòa án là cơquan duy nhất đợc đảm nhiệm chức năng xét xử theo quy
định của pháp luật Việt Nam hiện nay Hiến pháp năm 1946quy định tổ chức tòa án còn cha mang tính độc lập hoàntoàn vì các Thẩm phán do chính phủ bổ nhiệm (Điều 64).Hiến pháp 1959, 1980, 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 đãquy định rõ về chức năng xét xử của Tòa án Điều 127 Hiến
pháp năm 1992 quy định: “ Tòa án nhân dân tối cao, các
tòa án nhân dân địa phơng, các tòa án quân sự và các tòa
án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nớc cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [38] Trên cơ sở Hiến pháp,luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định về thẩmquyền xét xử của Tòa án tại điều 1, đồng thời quy định cụthể về chức năng xét xử của tòa án: “Tòa án xét xử những vụ
án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh
tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy
định của pháp luật” Điều 10 bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 khẳng định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịuhình phạt khi cha có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lựcpháp luật” [37, 38, 39] Nh vậy xét xử những vụ án hình sự
là một chức năng quan trọng của Tòa án, thông qua đó Tòa
án nhân danh nhà nớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đa ra những phán quyết, quyết định về những hành vi viphạm pháp luật hình sự nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ
Trang 21pháp chế Xã hội chủ nghĩa và các quan hệ xã hội đợc phápluật hình sự bảo vệ.
Hoạt động xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm của Tòa án
là một khâu trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự baogồm điều tra, truy tố, xét xử Đây là một giai đoạn tố tụng
độc lập, những phán quyết của Tòa án ngoài việc dựa trênnhững chứng cứ, tài liệu đợc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sátthu thập còn phải dựa vào kết quả xét hỏi, tranh luận côngkhai tại phiên tòa Không ai đợc coi là có tội khi cha có bản ánkết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Do đó hoạt độngxét xử của Tòa án phải tuân thủ nghiêm nghặt các giai đoạn
áp dụng pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
từ việc nhận hồ sơ, chuẩn bị xét xử đến quá trình xét xử tạiphiên tòa và phải tuân thủ các nguyên tắc: Khi xét xử Thẩmphán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo phápluật; Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trớc phápluật; Nguyên tắc xét xử công khai; Nguyên tắc xét xử tập thể
và quyết định theo đa số v.v… chỉ có thông qua hoạt độngxét xử, Tòa án mới đợc ra những bản án, quyết định đúngpháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy
định [4]
Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay xác địnhnguyên tắc hai cấp xét xử: xét xử sơ thẩm và xét xử phúcthẩm về hình sự, trong đó xét xử sơ thẩm là trọng tâm và
có vai trò trong hoạt động của Tòa án Xét xử sơ thẩm đợcxác định nh là một giai đoạn kết thúc của quá trình giảiquyết vụ án hình sự, mọi tài liệu, chứng cứ của vụ án do Cơ
Trang 22quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập đều đợc xem xétcông khai tại phiên tòa, quyền và nghĩa vụ của ngời tiếnhành tố tụng và ngời tham gia tố tụng đợc thực hiện một cáchcông khai, đầy đủ nhất.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và luật tổchức Tòa án nhân dân, Tòa án có thẩm quyền xét xử sơthẩm là Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấptỉnh, Tòa án quân sự khu vực, Tòa án quân sự cấp quânkhu
Xét xử sơ thẩm hình sự đợc hiểu là một giai đoạn tốtụng, bắt đầu từ khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án hình sự cho
đến khi ra bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm, do
đó hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự sơthẩm là một quá trình phức tạp, phải tuân thủ nghiêm ngặtcác quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự
và các văn bản khác có liên quan Pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam phân chia giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sựthành các bớc đó là: Chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòanên việc áp dụng pháp luật trong các bớc này cũng có sự khácnhau
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc chuẩn
bị những điều kiện cần thiết để đa vụ án hình sự ra xét
xử theo quy định của pháp luật Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 quy định trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự, Tòa án có thể áp dụng những quyết định sau
đây: 1) Quyết định đa vụ án ra xét xử; 2) Quyết định trả
hồ sơ để điều tra bổ sung; 3) Quyết định đình chỉ
Trang 23hoặc tạm đình chỉ vụ án; 4) Quyết định áp dụng thay đổihoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Ngoài ra đối với những
vụ án phức tạp Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạnchuẩn bị xét xử Đối với vụ án không thuộc thẩm quyền Tòa
án ra quyết định chuyển vụ án đến Tòa án có thẩm quyền
để giải quyết theo quy định của pháp luật
Xét xử sơ thẩm tại phiên tòa là trọng tâm của giai đoạnxét xử sơ thẩm Tại đây Hội đồng xét xử nhân danh nhà n-
ớc thẩm tra, đánh giá toàn bộ các chứng cứ đợc thu thậptrong quá trình điều tra cũng nh tại phiên tòa, xem xét cácchứng cứ gỡ tội, buộc tội của các bên đa ra để từ đó Hội
đồng xét xử đa ra những phán quyết đúng đắn, thuyếtphục, phù hợp với quy định của pháp luật nhằm xác địnhmột ngời phạm tội hay không phạm tội, mức hình phạt và cácbiện pháp t pháp khác Ngoài ra trong bớc này Hội đồng xét
xử có thể ra các quyết định sau: Quyết định về việc thay
đổi thành viên của Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, th kýphiên tòa, ngời giám định, ngời phiên dịch, quyết định trả
hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định khởi tố tại phiêntòa v.v…
Nh vậy, từ những phân tích trên áp dụng pháp luậttrong hoạt động xét xử án hình sự sơ thẩm có thể hiểu nh
sau: áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơ
thẩm của Tòa án nhân dân là hoạt động mang tính quyền lực nhà nớc Trong đó lần đầu tiên Tòa án thông qua Hội
đồng xét xử nhân danh Nhà nớc, căn cứ vào các quy định của pháp luật quyết định một ngời có tội hay không có tội
Trang 24đồng thời xác định trách nhiệm hình sự và các biện pháp t pháp khác đối với ngời phạm tội.
1.1.3 Đặc điểm của áp dụng pháp luật trong hoạt
động xét xử án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân
áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơthẩm của Tòa án nhân dân là một hình thức cụ thể của ápdụng pháp luật nên khi thực hiện, ngời áp dụng pháp luật phảituân theo những nguyên tắc chung của pháp luật hình sự.Bên cạnh đó, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử ánhình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân cũng có những đặc
điểm riêng biệt Trong phạm vi luận văn này tác giả xin nêumột số đặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật trong xét
xử án hình sự sơ thẩm nh sau:
Thứ nhất: áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử sơ
thẩm của Tòa án nhân dân là hoạt động của Hội đồng xét
xử sơ thẩm nhân danh quyền lực nhà nớc lần đầu tiên đa
vụ án ra xét xử.
Tòa án nhân dân là chủ thể áp dụng pháp luật Điều
127 Hiến pháp năm 1992 quy định, hệ thống Tòa án nhândân từ Trung ơng đến địa phơng “Là những cơ quan xét xửcủa nớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[38] Tòa án thựchiện hai cấp xét xử: Xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Bộluật tố tụng hình sự năm 2003 quy định Tòa án nhân dâncấp huyện và tòa án nhân dân cấp tỉnh đợc xét xử sơ thẩmcác vụ án hình sự theo thẩm quyền của mỗi cấp
Hiến pháp năm 1992, đợc sửa đổi năm 2001 quy định:Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử của nớc
Trang 25cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án nhân dân cóquyền phán quyết cuối cùng để xác định tội phạm, hìnhphạt Trong hoạt động của mình, Tòa án nhân dân phảituân thủ các nguyên tắc chung của tổ chức và hoạt động bộmáy Nhà nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cácnguyên tắc đặc trng cho hoạt động xét xử Việc thực hiệncác nguyên tắc trong hoạt động xét xử nh nguyên tắc xét xửcông khai; nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trớcpháp luật; nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo,quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đơng sự;nguyên tắc hai cấp xét xử; nguyên tắc khi xét xử có Hộithẩm nhân dân tham gia và Hội thẩm ngang quyền với Thẩmphán; nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật v.v đã tạo nên vị trí trung tâm
và quan trọng của Tòa án trong hoạt động t pháp
áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơthẩm của Tòa án nhân dân cũng phải tuân thủ triệt để cácnguyên tắc nêu trên và điều quan trọng là phải luôn luônxuất phát từ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc để bảo đảmtính công bằng, nghiêm minh và chính xác trong việc banhành các văn bản áp dụng pháp luật
Do hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan Tòa án khixét xử và các văn bản áp dụng pháp luật đợc ban hành liênquan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, tàisản của công dân, uy tín và lợi ích của các cơ quan nhà nớc
và các tổ chức trong xã hội nên Tòa án nhân dân ban hànhvăn bản áp dụng pháp luật không nhân danh cá nhân ngời
Trang 26tiến hành tố tụng, không nhân danh cơ quan Tòa án mànhân danh nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thôngqua Hội đồng xét xử Đối với hoạt động xét xử án hình sự sơthẩm, thông thờng thành phần của Hội đồng xét xử gồm cómột Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân tham gia Trongtrờng hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì thànhphần Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩmnhân dân tham gia, khác với xét xử sơ thẩm thành phần Hội
đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán Việc quy định
nh vậy là do yêu cầu đảm bảo chất lợng công tác xét xử phúcthẩm mà mục đích là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợppháp của bản án sơ thẩm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
là những ngời đợc nhân danh nhà nớc tiến hành các hoạt
động xét xử nói chung và xét xử án hình sự sơ thẩm nóiriêng và đa ra những phán quyết cuối cùng của Tòa án Mỗivăn bản áp dụng pháp luật của Tòa án ban hành đợc kháchquan, chính xác, đúng pháp luật sẽ tạo niềm tin của quầnchúng nhân dân vào chính sách pháp luật của Đảng và Nhànớc và ngợc lại, mỗi văn bản áp dụng pháp luật của Tòa án banhành không đúng, oan, sai không chỉ ảnh hởng đến lợi íchcủa nhà nớc, của công dân mà còn ảnh hởng đến uy tín củanghành Tòa án, đến lòng tin của quần chúng nhân dân vàopháp luật Do vậy mỗi quyết định, bản án của tòa án phảihết sức thận trọng, công bằng, chính xác, đúng pháp luật
Trang 27Thứ hai: áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án
hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân chỉ do Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân tiến hành.
áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơthẩm đợc thực hiện thông qua hoạt động áp dụng pháp luậtcủa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Thẩm phán và Hộithẩm nhân dân là các chức danh đợc quy định trong Hiếnpháp và luật tổ chức Tòa án nhân dân[37] Với chức năng vànhiệm vụ của mình và với đặc thù của các vụ án hình sựnên trong suốt quá trình áp dụng pháp luật đòi hỏi ngờiThẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải tuân thủ nghiêmnghặt các bớc tiến hành tố tụng đợc quy định trong Bộ luật
tố tụng hình sự và phải bảo đảm áp dụng pháp luật nội dung
đạt độ chính xác cao bởi lẽ mọi phán quyết của Hội đồngxét xử đều ảnh hởng đến quyền tự do, dân chủ của côngdân, ảnh hởng đến lợi ích của Nhà nớc Do vậy bên cạnhnhững yêu cầu về ý thức pháp luật, ý thức chính trị, đạo
đức, chuyên môn, kinh nghiệm sống thì ngời Thẩm phán vàHội thẩm nhân dân còn phải tuân thủ triệt để Hiến pháp
và pháp luật Trong quá trình xét xử ngoài nguyên tắc “Khi
xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, thì nguyên tắc “Xét xử tập thể và quyết định theo đa số” cũng có vai trò rất quan trọng trong việc bảo
đảm chất lợng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử ánhình sự sơ thẩm của Tòa án
Nguyên tắc “Xét xử tập thể và quyết định theo đa số”
giúp cho việc nghiên cứu, xem xét, đánh giá các tình tiết,
Trang 28các chứng cứ của vụ việc càng chi tiết, càng thận trọng vàcàng khách quan, vô t Nó cũng giúp cho việc "chọn luật"chính xác hơn, nhanh nhạy hơn qua các mức độ trình độnhận thức pháp luật của từng thành viên của Hội đồng xét
xử Sự bàn bạc dân chủ, thẳng thắn, đầy trách nhiệm củatừng thành viên trong Hội đồng xét xử khi nghị án và đi
đến biểu quyết theo đa số để ban hành bản án, quyết
định sẽ bảo đảm tính chính xác cao hơn so với việc chỉmột ngời ra quyết định áp dụng pháp luật Xét xử tập thể vớithành phần ít nhất là ba ngời và quyết định theo đa số là
điều kiện tốt để hỗ trợ và bổ sung kiến thức, kinh nghiệmxét xử cho nhau trong việc tiến hành các thủ tục phiên tòa.Việc xem xét đánh giá các chứng cứ qua hồ sơ vụ án và quatranh luận công khai, nghị án dân chủ để ban hành bản ánqua xét xử phải tuyên án theo đa số, ngời có ý kiến thiểu số
đợc trình bày ý kiến của mình và đa vào hồ sơ vụ án làmột quy định tiến bộ nhằm không ngừng nâng cao tráchnhiệm tập thể của Hội đồng xét xử và cả trách nhiệm cánhân của từng thành viên trớc những quyết định quan trọngliên quan đến lợi ích của Nhà nớc và xã hội, đến quyền lợi hợppháp và chính đáng của mỗi con ngời sống trong xã hội đợcpháp luật bảo vệ Hoạt động áp dụng pháp luật của Thẩmphán và Hội thẩm Tòa án nhân dân trong quá trình xét xửcác vụ án luôn luôn đợc sự chú ý, quan tâm của d luận xã hội.Bởi vì, hoạt động đó luôn mang tính quyền uy của Nhà nớc,tính mẫu mực của việc thực hiện pháp luật, tính nghiêmkhắc của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa và cả tính nhân
Trang 29đạo, bao dung, độ lợng, khoan hồng của chế độ chính trị.Chính vì vậy, Nhà nớc và xã hội luôn đòi hỏi những ngời đợc
bổ nhiệm làm Thẩm phán, đợc bầu làm Hội thẩm Tòa ánnhân dân, trong đó chủ yếu là Thẩm phán, phải có nhữngphẩm chất tốt đẹp, có ý thức pháp luật và tinh thần kiênquyết bảo vệ pháp chế, có cái "tâm" trong sáng và có tinhthần trách nhiệm cao trớc những phán quyết của mình
Thứ ba: áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự sơ
thẩm của Tòa án nhân dân phải tuân theo những quy
định chặt chẽ về trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình
sự quy định.
áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơthẩm của Tòa án đợc quy định trong một đạo luật về luậthình thức, có tính pháp điển hóa cao là Bộ luật tố tụnghình sự Cũng nh áp dụng pháp luật của Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Việc áp dụng pháp luậttrong xét xử án hình sự sơ thẩm của Tòa án phải đảm bảotrình tự, thủ tục chặt chẽ và có căn cứ pháp luật Mọi hành vicủa những ngời tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trongquá trình xét xử từ khi thụ lý hồ sơ đến khi bản án có hiệulực pháp luật và tổ chức thi hành các quyết định của bản án
đều đợc Bộ luật tố tụng hình sự điều chỉnh Mọi vấn đềphát sinh trong quá trình xét xử cần phải đợc dự tính trớcnh: Việc vắng mặt những ngời đợc triệu tập đến phiên tòa,việc thay đổi những ngời tiến hành tố tụng, việc xét hỏi,tranh luận, nghị án và ban hành bản án, quyết định hoãnphiên tòa, quyết định khởi tố tại phiên tòa, quyết định tạm
Trang 30giam v.v… đều phải tuân theo các quy định của Bộ luật tốtụng hình sự Nếu vi phạm các thủ tục đó thì bị coi là viphạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sẽ bị cấp trên hủy bỏ.
Các quy định chặt chẽ về thủ tục tố tụng trong hoạt
động xét xử án hình sự sơ thẩm của Bộ luật tố tung hình
sự năm 2003 là rất quan trọng và cần thiết, nó thể hiện sự
điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc
áp dụng pháp luật đợc đúng đắn, chính xác trong hoạt
động xét xử án hình sự sơ thẩm của Tòa án, làm cho cácquyết định áp dụng pháp luật của Tòa án khách quan, đúngngời, đúng tội, đúng pháp luật
Thứ t: áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án
hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân là quá trình cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hình sự, pháp luật dân sự để xác định có hay không có tội phạm, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự (nếu có).
Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử phải xem xétmột cách khách quan, đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu
có trong vụ án Trên cơ sở đó xác định hành vi đó có cấuthành tội phạm hay không, ai là ngời phạm tội, phạm tội gì, có
đồng phạm hay không có đồng phạm, động cơ, mục đíchcủa ngời phạm tội, phạm tội trong giai đoạn nào (chuẩn bịphạm tội, phạm tội cha đạt v.v…), các tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ v.v… và trách nhiệm dân sự nếu có
Để có cơ sở áp dụng đúng pháp luật và đi đến quyết
định cuối cùng Hội đồng xét xử còn phải lựa chọn các quyphạm pháp luật nội dung (Bộ luật hình sự) và quy phạm phápluật hình thức (Bộ luật tố tụng hình sự), quy phạm pháp luật
Trang 31dân sự phù hợp để áp dụng và xem xét trách nhiệm hình sự
và trách nhiệm dân sự đối với ngời phạm tội
áp dụng quy phạm pháp luật hình sự đợc xác định lànội dung chính của quá trình áp dụng pháp luật trong hoạt
- Phân tích, đánh giá một cách chính xác các yếu tốcấu thành tội phạm
- Phân tích các dấu hiệu của tội phạm
- Xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội
và hậu quả do hành vi đó gây ra
Khi đã xác định đợc đầy đủ, chính xác, khách quancác tình tiết thông qua các chứng cứ, tài liệu có trong vụ án
và thông qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử có thể xác định đợc bị cáo có tội hay không có tội, nếu
có thì phạm tội gì, đợc quy định tại điều, khoản nào trong
Bộ luật hình sự và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi mà bịcáo phải gánh chịu khi thực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiênvới nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự, khi xemxét trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội cần phải tính
đến các tình tiết tăng nặng (điều 48), giảm nhẹ (đều 46),các trờng hợp đợc miễn trách nhiệm hình sự (điều 25), ngờiphạm tội đang ở độ tuổi vị thành niên v.v….(điều 69)[36],
Trang 32trên cơ sở đó Hội đồng xét xử đa ra mức hình phạt tơngứng với hành vi của ngời phạm tội.
Bên cạnh việc quyết định trách nhiệm hình sự của
ng-ời phạm tội, Hội đồng xét xử còn phải xem xét các vấn đề
về xử lý vật chứng (điều 76)[39], các hình phạt bổ sung,trách nhiệm dân sự của ngời phạm tội đối với ngời bị hại theoquy định tại điều 42 Bộ luật hình sự và các điều từ 608 -
612 Bộ luật dân sự
Thứ năm: áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự sơ
thẩm của Tòa án nhân dân là quá trình hoạt động mang tính sáng tạo.
áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơthẩm của Tòa án nhân dân là hoạt động đòi hỏi tính sángtạo Bởi vì, áp dụng pháp luật là quá trình vận dụng cáichung để giải quyết các vụ việc cụ thể Điều này có nghĩa
là Hội đồng xét xử trong quá trình áp dụng pháp luật phảivận dụng một cách linh hoạt các quy định của Bộ luật hình
sự, Bộ luật tố tụng hình sự; căn cứ vào tình hình đặc
điểm đấu tranh phòng, chống tội phạm ở địa phơng; căn cứvào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; căn
cứ vào lợi ích chung của Nhà nớc và xã hội; căn cứ vào cáctình tiết tăng năng, giảm nhẹ từ đó lựa chọn các quy phạmpháp luật phù hợp để quyết định mức hình phạt tơng xứng
đối với ngời phạm tội Tính sáng tạo trong hoạt động xét xửcủa Tòa án còn đợc thể hiện trong các trờng hợp tùy nghi
đáng giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội,tùy nghi lựa chọn mức hình phạt… trong các trờng hợp này để
Trang 33đa ra phán quyết chính xác, hợp tình hợp lý đòi hỏi nhữngngời làm công tác xét xử không thể máy móc, rập khuôn mà
đòi hỏi phải có ý thức pháp luật cao, có kiến thức tổng hợp,kinh nghiệm cuộc sống phong phú và có khả năng sáng tạotrong hoạt động xét xử
1.2 Vai trò áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân
Trong đời sống xã hội, pháp luật giữ vai trò rất quantrọng Xét trên bình diện chung nhất, pháp luật là phơngtiện để thể chế hóa đờng lối chính sách của Đảng, bảo
đảm cho sự lãnh đạo của Đảng đợc thực hiện có hiệu quảtrên quy mô toàn xã hội, là phơng tiện để Nhà nớc quản lýmọi mặt của đời sống xã hội, là phơng tiện để nhân dânphát huy quyền làm chủ, bảo đảm công bằng xã hội
Pháp luật với t cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệxã hội, nó luôn tác động và ảnh hởng rất mạnh mẽ tới các quan
hệ xã hội nói chung, cũng nh tới tất cả các yếu tố của thợngtầng chính trị - pháp lý nói riêng Sự tác động và ảnh hởngcủa pháp luật thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộcvào từng loại đối tợng và từng loại quan hệ cụ thể cần có sự
điều chỉnh bằng pháp luật Nhng sự biểu hiện cụ thể của sựtác động đó bao giờ cũng phản ánh trong khuôn mẫu của cáchành vi xử sự đợc xác định, mà các chủ thể pháp luật phảituân thủ, chấp hành hoặc lấy làm cơ sở để sử dụng và ápdụng chúng phù hợp với những điều kiện tơng ứng trong hoạt
động thực tiễn thờng nhật
Trang 34Vai trò áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử ánhình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân đợc thể hiện ởnhững điểm sau:
Thứ nhất: Mọi hiện tợng vi phạm pháp luật đều có hại
cho xã hội vì nó phá vỡ trật tự pháp luật, nó trực tiếp hoặc cónguy cơ gây ra những thiệt hại nhất định về vật chất, tinhthần cho cá nhân, tổ chức, xâm hại đến các quan hệ xã hội
mà pháp luật hình sự bảo vệ Vì thế việc áp dụng pháp luậttrong hoạt động xét xử án hình sự sơ thẩm của Tòa án đốivới các hành vi vi phạm pháp luật đó là nhằm bảo vệ chế độxã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nớc, quyền, lợi ích chính đángcủa nhân dân, của tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, tạo
điều kiện cho những quan hệ xã hội phát triển đúng hớng,
đặc biệt trong giai đoạn Đảng và nhà nớc đang xây dựngNhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân hiện nay
Thứ hai: áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án
hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân có vai trò trong việcxây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luậthình sự nói riêng Trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sựnói chung và các vụ án hình sự sơ thẩm nói riêng có thể nói
hệ thống pháp luật hình sự đã và đang phát huy vai trò, tácdụng và những giá trị to lớn của mình trong việc duy trì sự
ổn định và phát triển của xã hội Tuy nhiên không phải tất cảcác quy định của pháp luật mọi lúc, mọi nơi đều phát huyhiệu quả cao, có những quy định của pháp luật không phản
ánh đúng hoặc phản ánh không đầy đủ những đòi hỏi củacuộc sống, có những quy định đợc ban hành nhng cùng với
Trang 35thời gian, cùng sự biến đổi của đất nớc chúng trở nên lạc hậu,không phù hợp và mất đi tính hiệu quả của mình, có nhữngquy định của pháp luật không thống nhất dẫn đến việc ápdụng một cách tùy tiện, có những quan hệ xã hội mà phápluật cha điều chỉnh tới làm cho ngời áp dụng pháp luật lúngtúng v.v…Do vậy việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét
xử án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân là nơi kiểmnghiệm thực tiễn các quy định của pháp luật, thông quathực tiễn xét xử phát hiện những bất cập, thiếu sót để từ
đó góp phần quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng
Thứ ba: áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án
hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân có vai trò trong việctrừng phạt và răn đe đối với những ngời có hành vi vi phạmpháp luật hình sự, xâm phạm đến các quan hệ xã hội màluật hình sự bảo vệ, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng củacông dân, tổ chức Ngoài ra nó còn có ý nghĩa rất lớn trongviệc phòng ngừa, cải tạo và giáo dục đối với những ngời cóhành vi vi phạm pháp luật
Thứ t: áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình
sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân còn có vai trò trong việcphổ biến tuyên truyền và giáo dục pháp luật, nâng cao ýthức pháp luật cho nhân dân thông qua các phiên tòa xét xửcông khai, phiên tòa lu động, qua các phiên tòa này các chủthể áp dụng pháp luật sẽ truyền tải những kiến thức pháp luậtvào trong quần chúng nhân dân làm cho nhân dân cóniềm tin đối với pháp luật góp phần tạo cho nhân dân thói
Trang 36quen xử sự theo yêu cầu của pháp luật, tôn trọng pháp luật,nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
1.3 Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét
xử án hình sự sơ thẩm của tòa án nhân dân
áp dụng pháp luật là một quá trình phức tạp, phải trảiqua các giai đoạn kế tiếp nhau, có mối liên hệ chặt chẽ vớinhau từ việc xác định những tình tiết thực tế khách quancủa vụ việc, tìm kiếm và phân tích quy phạm pháp luậtthích ứng với vụ việc đó đến ra quyết định giải quyết vụviệc và tổ chức, kiểm tra thực hiện quyết định ấy trên thựctế
Dựa vào lý luận về phân chia các giai đoạn của áp dụngpháp luật nói chung, có thể vận dụng để phân chia áp dụngpháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự sơ thẩm củaTòa án nhân dân thành các giai đoạn sau:
1.3.1 Giai đoạn thụ lý, nghiên cứu hồ sơ vụ án,
đánh giá các tình tiết, tài liệu, chứng cứ liên quan trong vụ án
Giai đoạn này đợc coi là giai đoạn đầu tiên trong quátrình áp dụng pháp luật của Tòa án để giải quyết một vụ ánhình sự theo trình tự sơ thẩm nhằm đánh giá về tính hợppháp, đúng đắn của thủ tục tố tụng cũng nh đánh giá về giátrị chứng minh của chứng cứ diễn ra ở tất cả các giai đoạncủa hoạt động xét xử, từ giai đoạn chuẩn bị xét xử đến giai
đoạn xét xử tại phiên tòa, bắt đầu từ việc thụ lý hồ sơ vụ án.Thụ lý hồ sơ vụ án là giai đoạn tố tụng đầu tiên ghi nhậnviệc chuyển giao hồ sơ và vật chứng vụ án từ Viện Kiểm Sát
Trang 37sang Tòa án Tuy Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 khôngquy định cụ thể việc thụ lý hồ sơ vụ án hình sự, nhng trênthực tế hoạt động tố tụng bao giờ cũng diễn ra vấn đề này.Việc tiếp nhận hồ sơ, ghi vào sổ thụ lý là những hành vi tốtụng ban đầu có ý nghĩa quan trọng cho công tác chuẩn bịxét xử của Tòa án Vì vậy, mặc dù luật không quy định nh-
ng việc tiếp nhận hồ sơ vào sổ thụ lý của Tòa án đã đợcthông t liên nghành số 07/TTLN ngày 15/9/1990 của Tòa ánnhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hớngdẫn nh một trình tự thủ tục bắt buộc, theo đó khi nhận hồsơ từ Viện kiểm sát chuyển sang, cán bộ Tòa án nhận hồ sơphải kiểm tra các bút lục có trong hồ sơ, vật chứng (nếu có),
đặc biệt phải chú ý xem đã có biên bản về việc kiểm sát đãgiao bản cáo trạng cho bị can cha Về nguyên tắc, Viện kiểmsát phải hoàn tất thủ tục giao nhận cáo trạng cho các bị can
bị truy tố trong vụ án trớc khi chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án.Nếu Viện kiểm sát gặp khó khăn trong việc giao nhận cáotrạng vì có bị can tại ngoại hoặc bị can tạm giam ở xa thìTòa án vẫn nhận hồ sơ vụ án nhng cha vào sổ thụ lý vụ án.Sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ mà Viện kiểmsát không hoàn tất thủ tục giao nhận cáo trạng thì Tòa án trảlại hồ sơ cho Viện kiểm sát vì lý do cha hoàn thành thủ tục
tố tụng
Tuy nhiên việc thực hiện theo thông t 07/TTLT đã khôngtránh khỏi nhiều trờng hợp hồ sơ vụ án cha hoàn thành thủtục tố tụng, bị trả đi trả lại nhiều lần mà Tòa án không thể
Trang 38thụ lý giải quyết đợc mặt khác, quy định của thông t khôngphù hợp với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, về thờihạn tố tụng cũng nh yêu cầu đảm bảo thủ tục tố tụng tronggiai đoạn truy tố Theo quy định của Bộ luật tố tụng năm
2003 thì trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày có quyết địnhtruy tố, Viện kiểm sát phải giao bản cáo trạng cho bị can(điều166 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003), nếu cha tống
đạt cáo trạng cho bị can thì không nhận hồ sơ vụ án vì cha
đúng với Bộ luật tố tụng hình sự
Chính vì vậy Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày05/11/2004 của Tòa án nhân dân tối cao đã hớng dẫn: KhiTòa án nhận hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển đến, ngời nhận
hồ sơ phải đối chiếu với bản kê tài liệu và các tài liệu cótrong hồ sơ vụ án đã đầy đủ cha, kiểm tra bản cáo trạng đãgiao cho bị can cha, nếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cha
đầy đủ so với bản kê tài liệu hoặc bản cáo trạng cha giaocho bị can thì không nhận hồ sơ vì cha đúng quy địnhcủa bộ luật tố tụng hình sự Nếu các tài liệu có trong hồ sơ
vụ án đầy đủ theo bảng kê và bản cáo trạng đã đợc giao cho
bị can thì Tòa án nhận hồ sơ và vào sổ thụ lý vụ án Đối vớitrờng hợp bị can tại ngoại cha tống đạt đợc cáo trạng thì Tòa
án vẫn nhận hồ sơ nhng cha thụ lý hồ sơ vụ án Trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu Viện kiểm sát bàn giao
đợc biên bản giao nhận cáo trạng cho Tòa án thì tiến hànhthụ lý hồ sơ vụ án Nếu hết 15 ngày, Viện kiểm sát vẫn chatống đạt đợc cáo trạng cho bị can thì Tòa án trả lại hồ sơ cho
Trang 39Viện kiểm sát với lý do cha hoàn thành thủ tục tố tụng Saukhi hồ sơ vụ án đợc thụ lý, Chánh án Tòa án phân công Thẩmphán làm chủ tọa phiên tòa Thẩm phán đợc phân công làmchủ tọa phiên tòa phải nghiên cứu, xem xét tài liệu, chứng cứmột cách khách quan, toàn diện để ra một bản án đúng ng-
ời, đúng tội, đúng pháp luật
Khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án, nếu có vật chứng thì phảitiến hành lập biên bản giao nhận vật chứng có chữ ký của ng-
ời giao và ngời nhận Khi thấy đã đầy đủ thủ tục theo quy
định của pháp luật thì tiến hành vào sổ thụ lý và ghi số thụ
lý, ngày thụ lý vào bìa hồ sơ Quá trình nghiên cứu nếuthấy cần trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sungthì Thẩm phán đợc phân công làm chủ tọa phiên tòa raquyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Nội dung yêucầu điều tra bổ sung phải ghi rõ trong quyết định trả hồsơ, đồng thời Tòa án xóa sổ thụ lý vụ án Khi Viện kiểm sátchuyển lại hồ sơ, Tòa án tiến hành thụ lý lại và vào sổ thụ lý
Sau khi nhận hồ sơ vụ án, trong thời gian chuẩn bị xét
xử, Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ cần làm rõ những vấn đềsau đây:
Thứ nhất: Về thẩm quyền xét xử: Vụ án có thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án mình hay không; Có cần chuyển
Trang 40khoản nào trong phần tội phạm của Bộ luật hình sự Nếuhành vi phạm tội thuộc điều khoản mà Bộ luật hình sự quy
định hình phạt từ 15 năm tù trở xuống, trừ các tội xâm phạm
an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài ngời
và tội phạm chiến tranh, các tội quy định tại các điều 93, 95,
96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226,
263, 293, 294, 295, 296, 322, và 323 của Bộ luật hình sựthì vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện;các trờng hợp còn lại thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấpTỉnh Đối với một số tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa áncấp huyện nhng đó là vụ án phức tạp, có nhiều tình tiết khó
đánh giá về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp,nhiều ngành; Vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên,
sỹ quan công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, ngời
n-ớc ngoài, ngời có chức sắc cao trong tôn giáo hoặc có uy tíncao trong dân tộc ít ngời thì Thẩm phán báo cáo lãnh đạo
để chuyển vụ án lên Tòa án tỉnh xét xử
- Địa điểm thực hiện tội phạm hoặc nơi kết thúc điềutra: Phải xác định nơi bị cáo thực hiện tội phạm Nếu nơithực hiện tội phạm thuộc lãnh thổ của Tòa án nào thì thuộcthẩm quyền xét xử của Tòa án đó Trờng hợp không xác định
đợc nơi thực hiện tội phạm thì nơi tiến hành điều tra vàkết thúc việc điều tra vụ án là nơi có thẩm quyền xét xử vụ
án
- Ngời thực hiện tội phạm: Phải xác định bị cáo bị truy
tố có thuộc đối tợng xét xử của Tòa án quân sự hay không,nếu thuộc đối tợng xét xử của Tòa án quân sự thì chuyển
vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử