1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths luat học nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật đối với người có nghĩa vụ thi hành án dân sự trong hoạt động nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chấp hành viên

98 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ths Luật Học Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Pháp Luật Đối Với Người Có Nghĩa Vụ Thi Hành Án Dân Sự Trong Hoạt Động Nghiệp Vụ Của Đội Ngũ Cán Bộ Chấp Hành Viên
Trường học Trường Đại Học Luật
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại luận văn
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 450 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một cán bộ công tác trong ngành THADS, học viên chọn đề tài “Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật đối với người có nghĩa vụ thi hành án dân sự trong hoạt động nghiệp vụ của đội ngũ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bất kỳ một nhà nước dân chủ và pháp quyền nào, pháp luật đều

là phương tiện hàng đầu để tổ chức thực hiện đường lối của giai cấp cầmquyền Nhà nước ta cũng vậy, pháp luật là phương tiện để thể chế hoá đườnglối lãnh đạo của Đảng, là công cụ hữu hiệu để quản lý và phát triển đất nước,xác lập và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Để khẳng định được giá trị

to lớn của mình trở thành hiện thực, pháp luật phải đi vào thực tế cuộc sống,phải được toàn xã hội tuân thủ chấp hành

Để pháp luật được thực hiện trên thực tế, không một nhà nước nàokhông quan tâm đến vấn đề tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật(GDPL) Qua GDPL mà nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức tuân thủpháp luật của mỗi cán bộ và toàn thể nhân dân Ơ Việt Nam, vấn đề GDPLcho các tầng lớp nhân dân, nhất là khi bước vào công cuộc đổi mới, đã đượcĐảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Vđến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, cũng như các Hội nghị toàn thể BanChấp hành Trung ương Đảng các khoá đều nhấn mạnh đến công tác GDPL.Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta khẳng định: “Tăng cườngGDPL nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theoHiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cáchnghiêm minh, thống nhất và công bằng” Đặc biệt ngày 9-12-2003, Ban Bíthư Trung ương Đảng khoá XI đã ban hành Chỉ thị số 32/CT-TW “Về tăngcường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến GDPL, nâng cao ý thứcpháp luật của cán bộ, nhân dân” Chỉ thị số 32 đã nêu rõ: “Các cấp uỷ Đảng

có trách nhiệm lãnh đạo chính quyền các cấp tổ chức thực hiện công tác phổbiến GDPL với nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp với địa bàn và đốitượng khác nhau; xây dựng kế hoạch, chương trình phổ biến, GDPL thiết thựccho các cấp, các ngành, các cơ quan, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của từng

Trang 2

thời kỳ Mỗi cán bộ, đảng viên phải xác định việc tìm hiểu, học tập pháp luật

là nhiệm vụ thường xuyên, là một trong những tiêu chuẩn đánh giá cán bộ,đảng viên”

Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, Điều 9 Luật Thi hành án dân sựquy định "Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án" Xuấtphát từ nguyên tắc chủ đạo đó nên trong những năm qua, GDPL của cơ quanthi hành án dân sự (THADS) đã được các cấp uỷ Đảng và Ban Lãnh đạo củangành quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, coi đó là một trong những nhiệm vụthường xuyên và quan trọng Với sự nỗ lực và cố gắng của các cấp uỷ Đảng,Ban Lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộ, công chức trong ngành, công tác phổbiến, GDPL đã có những chuyển biến tích cực, góp phần xây dựng ý thứcsống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của toàn thể cán bộ, công chứccũng như của những người có nghĩa vụ THADS Kết quả THADS đã cónhững chuyển biến tích cực, năm sau cao hơn năm trước Hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật làm cơ sở cho hoạt động THADS đã được kịp thời phápđiển hoá và nhanh chóng đi vào cuộc sống Công tác tuyên truyền, GDPLđược làm tốt do đó hiện tượng vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trongngành tuy vẫn xảy ra nhưng với số lượng giảm dần Tỷ lệ số vụ phải cưỡngchế thi hành án cũng giảm đáng kể, năm sau ít hơn năm trước Các đương sựhiểu được nghĩa vụ của mình nên họ đã nghiêm chỉnh, tự giác thực hiện nghĩa

vụ thi hành án Tuy nhiên, sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối vớicông tác GDPL chưa được tập trung đúng mức, trách nhiệm của các cấp cũngnhư đội ngũ cán bộ trong ngành đối với công tác này chưa được xác định cụthể, rõ ràng nên kết quả đạt được còn thấp so với yêu cầu, sự hiểu biết phápluật của những người có nghĩa vụ THADS còn nhiều hạn chế Y thức tựgiác tuân thủ pháp luật của một số tổ chức, cá nhân có liên quan đến việcthi hành án còn yếu, nhất là của người phải thi hành án chưa cao, nhiềutrường hợp người phải thi hành án cố tình chây ỳ, tẩu tán tài sản để trốn

Trang 3

tránh nghĩa vụ, hoặc khiếu nại vượt cấp nhằm mục đích kéo dài việc thihành án Số vụ phải cưỡng chế thi hành án vẫn còn nhiều Kết quả thi hành

án đối với những loại án có điều kiện thi hành vẫn còn thấp Theo báo cáonăm 2009 của Chính phủ về THADS thì kết quả chỉ đạt 74,08% về việc và59,3% về tiền Một trong những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng đó làcông tác tuyên truyền, phổ biến GDPL chưa được quan tâm đúng mức Cácđương sự có nghĩa vụ phải thi hành án chưa hiểu hết nghĩa vụ của mình nênkhông tự giác chấp hành

Trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, côngtác GDPL nói chung và GDPL cho các đương sự có nghĩa vụ phải THADSnói riêng cần được tăng cường thường xuyên, liên tục và ở tầm cao hơn, nhằmlàm cho họ hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Là một cán bộ

công tác trong ngành THADS, học viên chọn đề tài “Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật đối với người có nghĩa vụ thi hành án dân sự trong hoạt động nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ - chấp hành viên” làm luận văn Thạc sĩ

Luật, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật với mục đíchvận dụng những nhận thức lý luận vừa học để giải quyết một vấn đề thực tiễnđang đặt ra cấp thiết nơi công tác của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở Việt Nam, nghiên cứu về GDPL đã được các nhà khoa học quantâm và tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể nêu một số công trìnhtiêu biểu sau:

- Sách chuyên khảo:

+ Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai, Bàn về GDPL, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1995

+ Đào Trí Uc, Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995

Trang 4

+ Lê Đình Khiên, Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản

lý hành chính, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

Bộ, Khoa Nhà nước và pháp luật

+ Bộ Tư pháp (2004), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chương trình quốc gia về phổ biến, GDPL trong giai đoạn tới, Đề tài khoa

học cấp Bộ

- Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật:

+ Trần Ngọc Đường (1998), Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Luận án Phó tiến sĩ, (Liên Xô trước đây).

+ Dương Thanh Mai (1996), GDPL qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam,

Luận án Phó tiến sĩ

+ Trần Tiến Hải (2005), Hoạt động GDPL của đội ngũ báo cáo viên pháp luật ở tỉnh Quảng Bình hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

+ Trần Thị Nụ (2007), GDPL cho cán bộ tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

+ Nguyễn Thị Vân Giang (2007), Nâng cao ý thức pháp luật của cán

bộ công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Luận văn Thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Trang 5

+ Nguyễn Thị Phượng (2008), GDPL hôn nhân và gia đình cho nông dân trên địa bàn tỉnh Bến Tre, Luận văn Thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh

+ Đinh Thị Hương (2008), GDPL cho phụ nữ nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, Luận văn Thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Nhìn chung, các công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu những vấn

đề lý luận cơ bản về GDPL; một số công trình mang tính chuyên sâu với mộtloại đối tượng cụ thể Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về GDPLcho những người có nghĩa vụ phải THADS Do đó, kế thừa những vấn đềchung về lý luận GDPL của các công trình nghiên cứu nêu trên, luận văn đivào nghiên cứu một cách chuyên sâu vấn đề GDPL cho những người có nghĩa

vụ phải THADS - một đối tượng GDPL có những điểm đặc thù mà các côngtrình nghiên cứu nêu trên chưa có điều kiện tiếp cận

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích của luận văn

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về GDPL, luận văn đi sâu đánhgiá thực trạng công tác GDPL cho những người có nghĩa vụ phải THADS; đềxuất quan điểm và giải pháp đổi mới GDPL cho những người có nghĩa vụphải THADS

- Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:+ Xây dựng những vấn đề về nhận thức lý luận GDPL đối với nhữngngười có nghĩa vụ THADS

+ Nghiên cứu tính đặc thù của GDPL cho những người có nghĩa vụ THADS.+ Phân tích, đánh giá thực trạng GDPL cho những người có nghĩa vụTHADS, từ đó rút ra những nguyên nhân của thực trạng trên

+ Đề xuất các quan điểm và giải pháp GDPL cho những người có nghĩa

vụ THADS

Trang 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Cán bộ thi hành án dân sự là một danh từ chung đối với một số chứcdanh công chức chuyên môn thuộc cơ quan thi hành án dân sự Trong phạmcủa Luận văn này, ngoài chức danh trung tâm của cơ quan thi hành án dân sự

là CHV, tác giả chỉ tập trung để nghiên cứu thêm về chất lượng GDPL đối với

người có nghĩa vụ THADS trong hoạt động nghiệp vụ của Thẩm tra viên thi

hành án, Thư ký thi hành án Đây được xem là các chức danh chủ đạo của quátrình thi hành án (bao gồm từ tổ chức thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáotrong thi hành án)

- Phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu liên quan đến những người có nghĩa vụ phải THADS

là một phạm trù rộng, với nhiều khía cạnh khác nhau và ở những thời điểmkhác nhau cũng khác nhau Vì vậy, luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đềGDPL đối với những người có nghĩa vụ THADS trong thời hạn hai năm, từnăm 2010 - 2011

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về GDPL

- Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của Triết học Lênin, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn;phân tích và tổng hợp; lịch sử cụ thể Ngoài ra luận văn còn sử dụng một sốphương pháp của các bộ môn khoa học khác như thống kê, so sánh, lý thuyết

Mác-hệ thống

6 Những đóng góp khoa học của luận văn

Luận văn đưa ra một số điểm mới sau:

Trang 7

- Hình thành một số vấn đề lý luận cơ bản về GDPL như vai trò, tínhđặc thù của GDPL đối với những người có nghĩa vụ THADS nhằm góp phầnnâng cao nhận thức lý luận.

- Đánh giá thực trạng hoạt động GDPL đối với những người có nghĩa

vụ phải THADS nhằm góp phần nâng cao nhận thức về những vấn đề tồn tại,nguyên nhân khách quan, chủ quan trong GDPL đối với những người cónghĩa vụ THADS

- Đề xuất được một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng GDPL đối với đối tượng đặc thù này

7 Y nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Những kết quả của luận văn sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạtđộng GDPL nói chung và GDPL đối với những người có nghĩa vụ THADSnói riêng Đồng thời luận văn là nguồn tư liệu tham khảo tốt cho công tácnghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật cũng như kinh nghiệm trongthực tiễn THADS

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 7 tiết

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA CHẤP HÀNH VIÊN, CÁN BỘ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 KHÁI NIỆM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA CHẤP HÀNH VIÊN, CÁN BỘ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật

GDPL là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongkhoa học giáo dục cũng như trong sự nghiệp giáo dục ở nước ta Khái niệmGDPL thường được quan niệm là một dạng hoạt động gắn liền với việc triểnkhai thực hiện pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn áp dụng phápluật Với tư cách là một dạng giáo dục thì GDPL ở nước ta hình thành và thựchiện muộn hơn so với giáo dục chính trị, và giáo dục đạo đức Với tư cách làmột khái niệm pháp lý - GDPL được hình thành trong khoa học pháp lý cũngnhư được tiến hành trong thực tế ở nước ta rất muộn mằn so với nhiều nướctrên thế giới Chính vì vậy, quan niệm về GDPL ở nước ta vẫn còn có nhiều ýkiến khác nhau, đó là lẽ bình thường

Thực tiễn cho thấy, Giáo dục là một hiện tượng xã hội và chỉ có trong

xã hội loài người thể hiện nền văn minh nhân loại Giáo dục luôn luôn là nhucầu của xã hội, nó có vai trò tác động trở lại xã hội Vì thế mà các nhà nướccủa giai cấp cầm quyền để bảo vệ quyền lợi của mình đều thông qua giáo dục.Trong khoa học sư phạm, giáo dục được hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa rộng

và nghĩa hẹp

- Theo nghĩa rộng: giáo dục là sự ảnh hưởng, tác động của những điều

kiện khách quan (như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trườngsống ) và của cả những nhân tố chủ quan (tác động tự giác, có chủ định và

Trang 9

định hướng của nhân tố con người) nhằm hình thành những phẩm chất, kỹnăng nhất định của đối tượng giáo dục.

- Theo nghĩa hẹp: giáo dục là quá trình tác động định hướng của nhân

tố chủ quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấutranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ có đầy

đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội

Trong quá trình hoạt động thực tiễn, các nhà lý luận cũng đã thừanhận những yếu tố ảnh hưởng của các điều kiện khách quan tác động đến sựhình thành ý thức cá nhân của con người Song các nhà lý luận khoa học sưphạm đã nhấn mạnh đến yếu tố tác động hàng đầu cực kỳ quan trọng và thậmchí quyết định của nhân tố chủ quan trong giáo dục Vì vậy khái niệm giáodục hiện nay chúng ta thường được hiểu theo nghĩa hẹp

Như vậy quan niệm về giáo dục theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như trênthì GDPL trước hết cũng là một hoạt động mang đầy đủ những tính chấtchung của giáo dục nhưng nó có những đặc điểm riêng biệt, phạm vi riêng cảnội dung, hình thức và phương pháp riêng biệt Theo cả nghĩa rộng và nghĩahẹp của giáo dục, GDPL được hiểu một cách khái quát nhất: con người với tưcách là một thực thể xã hội là một khách thể (hay đối tượng) chịu ảnh hưởng

và sự tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để hìnhthành lên ý thức tình cảm và hành vi pháp luật

Thực tế hiện nay theo quan điểm chung của các nhà khoa học pháp lý đềuxuất phát từ nghĩa hẹp của giáo dục Vận dụng khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp,các nhà khoa học đã xây dựng khái niệm GDPL bởi các yếu tố sau đây:

- Thứ nhất: Sự hình thành ý thức của con người là một quá trình chịu

ảnh hưởng và sự tác động của các điều kiện khách quan lẫn các nhân tố chủquan Con người vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục Và do đó conngười đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáodục đã thay đổi

Trang 10

Khi nghiên cứu sự tác động ảnh hưởng lên ý thức con người thì cácnhà lý luận giáo dục đã phân biệt điều kiện khách quan và chủ quan Điềukiện khách quan là những yếu tố ảnh hưởng hình thành lên ý thức con người,nhân tố chủ quan là nhân tố tác động có chủ đích, có định hướng, có nội dung

và phạm vi nhất định Yếu tố ảnh hưởng khách quan có thể tự phát, thụ động,

có thể tự phát theo chiều nay hay chiều khác không có chủ đích trước Vậytheo nghĩa hẹp của giáo dục có thể vận dụng vào quan niệm GDPL đó là sựtác động có định hướng của nhân tố chủ quan bằng việc xác định nội dung,chương trình pháp luật cần đưa vào kế hoạch giáo dục cho công dân

- Thứ hai: Từ nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục trong khoa học sư

phạm để xây dựng khái niệm GDPL chúng ta nhận thức được mối quan hệgiữa "cái chung" và "cái riêng", "cái đặc thù", "trong mối quan hệ với giáodục nói chung là "cái chung" "cái phổ biến" "cái riêng" vừa phải mangnhững đặc điểm chung vừa phải mang tính thể hiện những nét đặc thù.GDPL là "cái riêng" cái đặc thù trong mối quan hệ với giáo dục là "cáichung", "cái phổ biến"

Tính đặc thù của GDPL so với các hoạt động giáo dục khác ở một sốđiểm sau đây:

- Về mục đích GDPL: Hoạt động GDPL mang tính định hướng,nhằm nâng cao ý thức pháp luật, hình thành tình cảm lòng tin và sự tôntrọng đối với pháp luật của Nhà nước từ đó tự giác xử sự phù hợp với phápluật hiện hành

- Về nội dung, GDPL có nội dung cơ bản riêng biệt, những tri thứccủa nhân loại về Nhà nước và pháp luật cũng như nội dung của các văn bảnpháp luật thực định sẽ được truyền tải đến khách thể (hoặc đối tượng) mộtcách thiết thực và có hiệu quả Việc xác định đúng nội dung pháp luật đểtruyền tải cho đối tượng nhất định nào có ý nghĩa quan trọng và quyết địnhđến hiệu quả của GDPL

Trang 11

- Về chủ thể, đối tượng, hình thức, phương pháp GDPL: Hoạt động

này là một quá trình thường xuyên, liên tục và lâu dài chứ không phải là tácđộng theo sự tác động phong trào, theo thời vụ của chủ thể giáo dục lên đốitượng GDPL Cần phải có sự kết hợp đồng bộ giữa gia đình, nhà trường và xãhội của các cấp, các ngành cần quan tâm đúng mức cho hoạt động GDPL.Người GDPL (chủ thể) phải là người có kiến thức pháp luật, có năng lực thựctiễn truyền thụ kiến thức, được tiếp nhận đầy đủ các thông tin pháp lý đểtruyền tải những kiến thức pháp lý cho người được giáo dục (đối tượng) vàchủ thể phải luôn luôn là người gương mẫu trong chấp hành pháp luật để đốitượng noi gương

Hình thức và phương pháp GDPL cần phải phù hợp với từng đốitượng Chủ thể phải lựa chọn cách thức, phương pháp cho phù hợp đểmang lại hiệu quả cao trong GDPL Hình thức có thể đơn giản, từ thấp đếncao hay trực quan, trừu tượng cũng là yếu tố góp phần quyết định đến hiệuquả của GDPL

- Thứ ba: Quan niệm GDPL vận dụng từ nghĩa hẹp của giáo dục có ý

nghĩa quan trọng trong việc phân biệt 2 phạm trù: GDPL và phạm trù ý thứcpháp luật Hai phạm trù này có mối quan hệ với nhau mật thiết nhưng khôngđồng nhất với nhau

Hoạt động GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan mà trước hết làhoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định về kế hoạch về nội dung,chương trình, còn sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm, là kết quả củacác ảnh hưởng của điều kiện khách quan là sự tác động của nhân tố chủ quan,nhưng nhân tố chủ quan này lại có vai trò chủ đạo và quyết định đến sự hìnhthành ý thức pháp luật Sự phân biệt này có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quantrọng trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay Trong xã hội ta những yếu

tố khách quan mang tính tiêu cực trong cơ chế thị trường; đó là tham ô, hối lộ,lối sống không lành mạnh đang tác động đến nhận thức, tình cảm, lòng tin

Trang 12

vào pháp luật,đi ngược lại mục tiêu của một nền pháp chế XHCN Mặt tiêucực đó, trong xã hội đòi hỏi chúng ta phải quan tâm hơn đến nhân tố chủ quannhằm tác động định hướng trong quá trình hình thành nên ý thức pháp luậtcho công dân Trong điều kiện hiện nay ở nước ta việc trang bị tri thức phápluật, bồi dưỡng tình cảm và thói quen tuân theo pháp luật của nhân dân laođộng là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cơ quan nhànước trực tiếp bảo vệ pháp luật, các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xãhội ở các cấp, các ngành trong đó trước hết thuộc về cơ quan có chức nănggiáo dục đào tạo con người Con người trong xã hội cần phải được tổ chứcđược định hướng GDPL cho hoạt động của họ; nếu không sẽ không hìnhthành ý thức pháp luật tích cực ở cá nhân con người trong xã hội.

Tóm lại: Từ phân tích như trên có thể định nghĩa GDPL như sau:

GDPL là hoạt động có tổ chức, có mục đích có tính định hướng tác động lên các đối tượng giáo dục nhằm làm hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm đối với pháp luật và hành vi xử sự phù hợp với pháp luật hiện hành

1.1.2 Khái niệm giáo dục pháp luật trong hoạt động nghiệp vụ của chấp hành viên, cán bộ thi hành án đối với người có nghĩa vụ thi hành án dân sự

1.1.2.1 Khái niệm hoạt động nghiệp vụ của chấp hành viên, cán bộ thi hành án đối với người có nghĩa vụ thi hành án dân sự

Theo nghĩa chung nhất thì hoạt động là tiến hành những việc làm cóquan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xãhội Theo Đại từ điển tiếng Việt thì hoạt động là: làm những việc khác nhau

với mục đích nhất định trong đời sống xã hội 21, tr.1998

Như vậy, hoạt động là một quá trình, trong đó các chủ thể tiến hànhnhững việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích nhất địnhnào đó mà các chủ thể mong muốn hướng tới Tương tự như vậy, trong lĩnhvực THADS, hoạt động thi hành án có thể hiểu là quá trình các chủ thể thực

Trang 13

hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trên cơ sở quan hệ, phốihợp nhằm mục đích thi hành các bản án, quyết định của Toà án Vì vậy mà Từđiển luật học mới giải thích THADS là: Hoạt động của Cơ quan THADS,người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác trongviệc thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án THADS baogồm các hoạt động như cấp, chuyển giao bản án, quyết định dân sự; giảithích bản án, quyết định dân sự; tự thi hành án của người phải thi hành án;gửi đơn yêu cầu thi hành án; ra quyết định thi hành án; ra quyết định tạmđình chỉ thi hành án; ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án; quyếtđịnh áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, tổ chức cưỡng chế thi hànhán… Trình tự, thủ tục THADS được thực hiện theo các quy định tại Phầnthứ bảy Bộ luật tố tụng dân sự, Pháp lệnh THADS năm 2004 và các văn bảnhướng dẫn thi hành Pháp lệnh 50

Từ đó có thể thấy các chủ thể trong hoạt động THADS:

Nhóm chủ thể đầu tiên bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo bản án, quyết định

của Toà án và các quyết định khác theo quy định của PL Nhóm chủ thểnày có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động THADS bởi vì họ chính

là những người có quyền lợi hoặc nghĩa vụ theo nội dung của bản án, quyếtđịnh của Toà án Hoạt động của các chủ thể này được thể hiện thông quaviệc thực hiện các quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm theo nội dung của bản

án, quyết định của Toà án Nếu như bên có nghĩa vụ thực hiện nghiêmchỉnh nghĩa vụ của mình cho bên có quyền thì hoạt động THADS có thểcoi là đã kết thúc Vì vậy, Điều 6 Pháp lệnh THADS năm 2004 quy định:Nhà nước khuyến khích các đương sự tự nguyện thi hành án Người đượcthi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận với nhau về thờigian, địa điểm, phương thức thi hành án, nhưng không được trái PL, đạođức xã hội 49

Trang 14

Trong số các chủ thể được đề cập ở trên thì người có nghĩa vụ thi hành

án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyếtđịnh được thi hành

Nhóm chủ thể thứ hai đó là Nhà nước Nhóm chủ thể này chỉ xuất hiện

khi giữa các bên không thể tự thoả thuận để thực hiện việc thi hành án hoặctrong trường hợp việc THADS có liên quan trực tiếp đến các khoản thu để thunộp tiền vào Ngân sách nhà nước

Chủ thể đóng vai trò chính trong việc tham gia của Nhà nước vào quátrình THADS là các cơ quan THADS Theo quy định của PL thì cơ quanTHADS gồm có: Cơ quan THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơquan THADS huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Cơ quan thi hành ánquân khu và tương đương Hoạt động của các cơ quan THADS thông qua vaitrò chính của CHV Trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của mình và trình tự thủtục PL quy định, CHV tác động trực tiếp lên các đối tượng có liên quan (bênphải thi hành án, bên được thi hành án, các bên có liên quan, ) để định hướnghoặc cưỡng chế để buộc thực hiện nghĩa vụ Đây có thể xem là hoạt độngnghiệp vụ của CHV và là hoạt động chủ yếu, quyết định hiệu quả hoạt độngTHADS ở Việt Nam

Chủ thể thứ hai cũng có vai trò khá quan trong hoạt động THADS đó làThẩm tra viên thi hành án và Thư ký thi hành án:

Theo quy định tại Quyết định số 01/2007/QĐ-BNV ngày 17/01/2007của Bộ trưởng Bộ Nội vụ thì Thẩm tra viên có ba ngạch là Thẩm tra viên,Thẩm tra viên chính, Thẩm tra viên cao cấp thi hành án

Thẩm tra viên là công chức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnhvực thẩm tra thi hành án dân sự, giúp Thủ trưởng cơ quan, trực tiếp thực hiệnviệc thẩm tra những vụ việc đã và đang thi hành án, thẩm tra xác minh các vụviệc có đơn thư khiếu nại, tố cáo theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quanquản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự Thẩm tra viên có

Trang 15

nhiệm vụ như: i) Thực hiện thẩm tra hồ sơ các vụ việc đã và đang thi hànhtheo kế hoạch được duyệt hoặc theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quanquản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự, đề xuất hướng giảiquyết và chịu trách nhiệm về ý kiến đề xuất của mình; ii) Lập kế hoạch và tổchức thực hiện công tác thẩm tra theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan;iii) Phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan để thực hiện công tác thẩmtra các vụ việc được phân công theo quy định của pháp luật; iii) Thực hiệnnhiệm vụ khác do Thủ trưởng cơ quan giao

Đối với Thẩm tra viên chính: Thẩm tra viên chính là công chức có trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực thẩm tra thi hành án dân sự, giúp Thủtrưởng cơ quan trực tiếp hoặc tham gia thực hiện nhiệm vụ thẩm tra những vụviệc đã và đang thi hành án, thẩm tra, xác minh các vụ việc có đơn thư khiếunại, tố cáo về thi hành án dân sự và thực hiện một số nhiệm vụ khác theo sựphân công của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thihành án dân sự Thẩm tra viên chính có nhiệm vụ cụ thể như: i) Thực hiệnthẩm tra hồ sơ các vụ việc đã và đang thi hành theo kế hoạch được duyệt hoặctheo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơquan thi hành án dân sự, đề xuất hướng giải quyết và chịu trách nhiệm về ýkiến đề xuất của mình Trong trường hợp kiểm tra, nếu phát hiện có sai sótphải tham mưu cho cấp có thẩm quyền tạm đình chỉ việc thực hiện quyết địnhsai sót đó để khắc phục, sửa chữa và chịu trách nhiệm về những kiến nghị củamình; ii) Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, hoặc phối hợp với các cơ quan, đơn

vị có liên quan để xác minh, kiểm tra và đề xuất biện pháp giải quyết nhiệm

vụ được phân công; iii) Tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành

án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự để trả lời kháng nghị, kiến nghị củaViện kiểm sát nhân dân theo thẩm quyền; để giải quyết khiếu nại, tố cáo vềnhững vụ việc đã được chấp hành viên giải quyết; iv) Tham gia xây dựng cácvăn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác thi hành án dân sự; v)

Trang 16

Tham gia hướng dẫn nghiệp vụ cho ngạch thẩm tra viên; vi) Thực hiện cácnhiệm vụ khác do Thủ trưởng cơ quan giao.

Đối với Thẩm tra viên cao cấp:Thẩm tra viên cao cấp là công chức cótrình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao về lĩnh vực thẩm tra thi hành án dân sự,giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự tổ chức chỉ đạo việc thựchiện nhiệm vụ thẩm tra những vụ việc thi hành án quan trọng, phức tạp cóliên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều địa phương;thực hiện một số công việc khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quanquản lý thi hành án dân sự Thẩm tra viên cao cấp có nhiệm vụ cụ thể như: i)Xây dựng kế hoạch kiểm tra và chủ động thực hiện việc kiểm tra công tác thihành án dân sự theo kế hoạch đã được Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành

án dân sự phê duyệt Trong trường hợp kiểm tra, nếu phát hiện có sai sót phảitham mưu cho cấp có thẩm quyền tạm đình chỉ việc thực hiện quyết định cósai sót đó để khắc phục, sửa chữa và chịu trách nhiệm về những kiến nghị củamình; ii) Lập kế hoạch, trình Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sựphê duyệt hoặc phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan để thực hiệnviệc kiểm tra, xác minh và đề xuất giải quyết các khiếu nại, tố cáo theo sựphân công của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự; iii) Tham mưugiúp Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự hoặc trình cấp có thẩmquyền để chỉ đạo các cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh thi hành các vụ việcphức tạp; iv) Tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sựtrả lời kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thẩm quyền; v)Tham gia xây dựng dự án luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luậtkhác về thẩm tra, kiểm tra các vụ việc thi hành án dân sự trong phạm vi toànquốc; vi) Giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự trong việchướng dẫn, chỉ đạo thẩm tra, kiểm tra nghiệp vụ thi hành án dân sự trong toànquốc và đề xuất các biện pháp điều chỉnh nhằm bảo đảm việc tổ chức thi hành

án dân sự đúng pháp luật và hiệu quả; vii) Tham gia nghiên cứu các đề tài

Trang 17

khoa học về công tác thi hành án; viii) Tham gia xây dựng mục tiêu, nội dung,chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các ngạch thẩm traviên, thẩm tra viên chính;

Đối với Thư ký thi hành án, theo quy định tại Thông tư số BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ thì: Thư ký thi hành án là công chứcchuyên môn nghiệp vụ thi hành án dân sự, có trách nhiệm giúp chấp hànhviên trung cấp, chấp hành viên cao cấp thực hiện các trình tự, thủ tục thihành án dân sự, hoặc giúp thẩm tra viên chính, thẩm tra viên cao cấp thựchiện nhiệm vụ thẩm tra những vụ việc đã và đang thi hành án, thẩm tra, xácminh các vụ việc có đơn thư khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự theo quyđịnh của pháp luật Thư ký thi hành án có nhiệm vụ như: i) Giúp chấp hànhviên chuẩn bị hồ sơ, thủ tục, tổ chức thi hành các vụ việc phức tạp, đặc biệtphức tạp, số tiền, tài sản phải thi hành lớn; việc thi hành án liên quan đếnnhiều địa phương thuộc thẩm quyền thi hành của Chi cục Thi hành án dân sựhuyện, Cục Thi hành án dân sự tỉnh và Phòng Thi hành án cấp quân khuhoặc giúp thẩm tra viên chính, thẩm tra viên cao cấp thực hiện nhiệm vụthẩm tra những vụ việc đã và đang thi hành án, thực hiện thẩm tra, xác minhcác vụ việc có đơn thư khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự theo quy địnhcủa pháp luật; ii) Ghi chép biên bản xác minh thi hành án; biên bản giảiquyết thi hành án; biên bản tống đạt; biên bản xử lý vật chứng, tài sản đã kêbiên, tạm giữ; biên bản kê biên tài sản; biên bản họp, biên bản định giá tàisản; biên bản kiểm tra hiện trạng tài sản; biên bản hủy tang vật; biên bảncưỡng chế; biên bản giao nhà đất; biên bản trả tài sản và các biên bản nghiệp

10/2010/TT-vụ khác; iii) Giúp chấp hành viên, thẩm tra viên tống đạt giấy tờ thi hành án;iv) Thực hiện một số nội dung xác minh, xây dựng hồ sơ thi hành án dân sựtheo sự phân công của chấp hành viên, thẩm tra viên; v) Phối hợp với các cơquan, đơn vị có liên quan để giúp chấp hành viên thực hiện công tác tổ chứcthi hành án; giúp thẩm tra viên thực hiện thẩm tra thi hành án dân sự đối vớicác vụ việc được phân công theo quy định của pháp luật

Trang 18

Các hoạt động khác: là những hoạt động phối hợp của các cơ quan banngành có liên quan với cơ quan THADS và CHV Tuy nhiên, ở đây cũng cầnphân định rõ chỉ có một số hoạt động có tính chất phối hợp giữa cơ quan thihành án với các cơ quan tổ chức có liên quan được xem như là cấu thành vànội hàm của hoạt động thi hành án Ví dụ như hoạt động kê biên tài sản của

cơ quan điều tra đối với bị can, bị cáo nhằm hạn chế việc tẩu tán tài sản, đảmbảo hiệu quả hoạt động của cơ quan thi hành án Hoạt động giải thích bản án,quyết định của cơ quan Toà án, hoạt động tham gia bảo vệ cưỡng chế của các

cơ quan Công an, hoạt động kiểm sát thi hành án, Các hoạt động kháckhông thể xem là hoạt động phối hợp mà là trách nhiệm thực thi quyết địnhcủa cơ quan thi hành án của các cơ quan tổ chức có liên quan Trách nhiệmthực hiện đầy đủ, không kèm theo điều kiện của các cơ quan tổ chức này

Tất cả các cá nhân, tổ chức nói trên trong phạm vi của mình đều có nhữngnhiệm vụ, quyền hạn và các trình tự thủ tục được pháp luật quy định nhằm thựchiện có hiệu quả bản án, quyết định của Tòa án và cơ quan có thẩm quyền Tuynhiên, nói như vậy, không có nghĩa là có thẩm quyền nhưng thực hiện bằng mọigiá mà mỗi cá nhân, tổ chức chỉ có thể thực hiện thẩm quyền của mình theo trình

tự, thủ tục và những biện pháp cụ thể mà pháp luật cho phép để người phải thihành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của mình

Tóm lại, hoạt động nghiệp vụ của CHV, cán bộ thi hành án là việc các chức danh này thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ của mình theo một trình tự thủ tục tác động đến người có nghĩa vụ thi hành án để thi hành các bản án, quyết định dân sự theo quy định của PL.

1.1.2.2 Khái niệm giáo dục pháp luật trong hoạt động nghiệp vụ của chấp hành viên, cán bộ thi hành án đối với người có nghĩa vụ thi hành án dân sự

Theo Từ điển tiếng Việt thì thuyết phục là "làm cho người ta thấy đúng,hay mà tin theo, làm theo" [51, tr.996] Còn cưỡng chế là việc "dùng quyền

Trang 19

lực Nhà nước bắt phải tuân theo" [51, tr.233] Giáo dục thuyết phục và cưỡngchế có quan hệ mật thiết trong quản lý nhà nước Hiệu quả quản lý xã hội vàtrật tự PL chủ yếu được thực hiện thông qua phương pháp tác động giữathuyết phục và cưỡng chế Lênin đã từng khẳng định: "Chuyên chính vô sảnthành công vì nó biết kết hợp giữa thuyết phục và cưỡng chế" [37, tr.270]

Nếu như thuyết phục tác động vào ý thức con người, tạo ra cho conngười sự nhận thức, tình cảm, nhu cầu xử sự theo PL thì cưỡng chế lại bắtbuộc công dân phải thay đổi hành vi của mình theo hướng có lợi cho xã hội

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì:

Sửa chữa sai lầm, cố nhiên là dùng cách giải thích, thuyếtphục, cảm hóa, dạy bảo, song tuyệt nhiên không phải là không dùngđến xử phạt Nếu nhất loạt không dùng đến xử phạt thì sẽ mất cả kỷluật, thì sẽ mở đường cho loại cố ý phá hoại Vì vậy hoàn toànkhông dùng xử phạt là không đúng mà chút gì cũng dùng đến xửphạt cũng không đúng [52]

Giữa thuyết phục và cưỡng chế thì phải đặt thuyết phục, giáo dục lênhàng đầu Theo Lênin thì: "Trước hết phải thuyết phục và sau đó mới cưỡngbức, dù thế nào đi nữa trước hết chúng ta cũng phải thuyết phục rồi mớicưỡng bức"[37]; "Nhiệm vụ thuyết phục quần chúng nhân dân không bao giờ

có thể coi là đã hoàn thành mà ngược lại, nó luôn luôn là nhiệm vụ quan trọngphía trước của quản lý" [38, tr.37]

Đối với hoạt động THADS, để tổ chức thi hành một bản án CHVkhông chỉ áp dụng đúng các quy định của PL về trình tự, thủ tục, mà trongnhiều trường hợp CHV phải vận dụng toàn bộ tri thức của mình về PL, tâm

lý, phong tục - tập quán, truyền thống văn hóa của từng địa phương nơi ngườiphải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quansinh sống Thực tiễn cho thấy, trong quá trình tổ chức thi hành các loại án nhưbuộc tháo dỡ nhà, di dời toàn bộ người và tài sản để giao đất cho người được

Trang 20

thi hành án; án giao nhà; án giao con là những việc phức tạp, khó thi hànhnhất, thì ngoài việc áp dụng đúng các quy định của PL, CHV còn phải làm tốtcông tác vận động, thuyết phục đương sự Bên cạnh công tác giáo dục thuyếtphục thì cũng cần phải

quyết không để tình trạng khinh nhờn PL, coi thường bản án,quyết định kéo dài từ năm này qua năm khác mà cơ quan thi hành

án bất lực, cán bộ nhân dân phản ứng, bất bình Kinh nghiệm triểnkhai công tác an toàn, trật tự giao thông thời gian qua ở các thànhphố lớn và trong phạm vi cả nước đã cho bài học là, bên cạnhnhững biện pháp tuyên truyền, vận động, thuyết phục, cần có nhữnggiải pháp mạnh trong tổ chức thực hiện, kiên quyết áp dụng nhữngbiện pháp mà PL cho phép, kịp thời ban hành các quy định điềuchỉnh các hành vi, tình huống mới phát sinh, tạo thành phong tràoquần chúng tự giác chấp hành PL trong lĩnh vực thi hành án Mộtchính quyền mạnh mẽ của dân, do dân và vì dân nhất định phảihành động như vậy [35]

Rõ ràng giữa giáo dục, thuyết phục với cưỡng chế thi hành án dân sự

là một biện pháp nghiệp vụ, đòi hỏi sự uyển chuyển của CHV, cán bộ thihành án dân sự với mục tiêu người có nghĩa vụ thi hành án thực hiệnnghiêm túc nghĩa vụ của mình nhằm tránh được những hậu quả pháp lý từ

cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước để thi hành có hiệu quả bản án, quyếtđịnh của Tòa án

Tóm lại, GDPL trong hoạt động nghiệp vụ của CHV, cán bộ thi hành

án đối với người có nghĩa vụ THADS là việc CHV, cán bộ thi hành án sửdụng linh hoạt kỹ năng, biện pháp nghiệp vụ phù hợp với quy định củapháp luật, không trái với đạo đức xã hội tác động trực tiếp hoặc gián tiếpđến nhận thức của người có nghĩa vụ thi hành án bảo đảm để họ thực hiệnnghiêm túc nghĩa vụ của mình nhằm tránh được những hậu quả pháp lý từ

Trang 21

cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước để thi hành có hiệu quả bản án, quyếtđịnh của Tòa án.

1.1.2.3 Đặc điểm của giáo dục pháp luật trong hoạt động nghiệp vụ của chấp hành viên, cán bộ thi hành

án đối với người có nghĩa vụ thi hành án

- Đặc điểm đặc thù nổi bật nhất đó là tính xung đột về quyền lợi giữa

người được THADS và người phải THADS, các bên có liên quan trong hoạtđộng THADS thể hiện rất gay gắt: Thực tế cho thấy, khi xét xử, dù bản án,quyết định của Tòa án có nghiêm đến mấy đi chăng nữa thì đó cũng mới chỉ ởtrên giấy Trong khi đó thông qua hoạt động thi hành án, các bản án, quyếtđịnh của Toà án được thi hành hành trên thực tế, nên tính bức xúc đạt đếnđỉnh điểm Điều này có thể nhìn nhận thấy ở một số khía cạnh như sau:

Về phía người phải thi hành án: nếu trong giai đoạn xét xử, các đương

sự chỉ dừng lại ở sự nhận thức - bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử sắp

có hiệu lực Và khi đó, họ vẫn tin rằng, việc xét xử sẽ còn được diễn ra ởnhiều cấp tiếp theo và hy vọng của họ vẫn còn Trong khi đó, đến giai đoạnthi hành án, người phải thi hành án sẽ hiểu hơn bao giờ hết đó là - những vấn

đề mà lâu nay họ tin tưởng như là thuộc về họ thì nay buộc phải chuyển giaolại cho người khác Tất yếu sẽ làm tổn hại đến lợi ích của người phải thi hành

án (cho dù lợi ích đó hiện đã trở thành bất hợp pháp) Vì vậy, "Ý thức nàykhông dừng lại ở biểu hiện về mặt tâm lý mà còn phát triển thành những xungđột trong hành vi và nhận thức của người phải thi hành án nhằm đối phó hoặc

né tránh, trì hoãn, thậm chí chống đối các yêu cầu thi hành án" 29, tr.796

Về phía người được thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ có liênquan: Tuy là người thắng kiện, nhưng thực tế quyền lợi của họ được ghi nhậntrong bản án, quyết định của Tòa án vẫn mới chỉ ở trên giấy tờ Vì vậy, tâm lýlớn nhất của những đối tượng này là việc thi hành án càng nhanh càng tốt.Điều này được giải thích bằng tâm lý cho rằng: Chính cơ quan thi hành án là

Trang 22

người tổ chức thi hành bản án, như vậy nếu người phải thi hành án khôngthực hiện nghĩa vụ thì lỗi đó thuộc về trách nhiệm của cơ quan thi hành án.Tính chất hai mặt của mối quan hệ này về danh nghĩa là quan hệ giữa ngườiđược thi hành án với người phải thi hành án, nhưng thực tế lại là quan hệ tâm

lý giữa người được thi hành án với CHV thụ lý hồ sơ Nó được thể hiện dướidạng các yêu cầu thi hành án qua mỗi lần tiếp xúc với CHV Các yêu cầu nàycàng trở nên gay gắt hơn khi kết quả thi hành án đạt hiệu quả thấp hoặc bịngười phải thi hành án trì hoãn, kéo dài về mặt thời gian 29, tr.795

Về phía cơ quan THADS: Do phải chịu sức ép "đa chiều" đã tạo nên áplực về mặt tâm lý Áp lực đó chi phối toàn bộ hành vi của CHV trong quátrình thi hành án Đồng thời với đặc điểm tâm lý của người phải thi hành án,

tự trong chính tâm lý của CHV cũng thường nảy sinh một thái độ tâm lý chủquan, coi thường người phải thi hành án hoặc nôn nóng, gay gắt, thiếu bìnhtĩnh khi tiếp xúc hoặc “xử lý” đương sự Nhiều khi tâm lý của CHV đã bịngười phải thi hành án chủ động buộc phải bộc lộ nhược điểm trong tính cách

cá nhân, dẫn đến những thiếu sót trong hành vi hoặc trong cách tiếp xúc vớiđương sự 29, tr.798

Với những đặc thù trên, các chủ thể và đối tượng GDPL phải biết vịtrí của mình trong từng giai đoạn lịch sử hoặc trong từng loại công việc: khi làchủ thể, khi là đối tượng GDPL bởi quy luật của tự nhiên và xã hội liên tụcđược vận động và phát triển Vì vậy, C Mác viết: "Người đi giáo dục cầnphải được giáo dục"

- Thông thường người có nghĩa vụ THADS ít có điều kiện tiếp xúc,tìm hiểu pháp luật và sử dụng phương tiện, công cụ pháp luật để tự bảo vệ cácquyền và lợi ích chính đáng của mình Điều đó đòi hỏi phải có những hìnhthức, biện pháp phù hợp và hiệu quả hơn để hỗ trợ một cách thiết thực chonhững đối tượng này có được hiểu biết các quyền và nghĩa vụ của mình, được

Trang 23

tạo điều kiện thuận lợi trong việc sử dụng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp Đó chính là cách thể hiện đường lối của Đảng trong lĩnh vực pháp luật.

- Hoạt động GDPL của CHV, cán bộ thi hành án có thể thực hiện trực

tiếp, hoặc gián tiếp đến người có nghĩa vụ thi hành án dân sự: Thực tiễn chothấy người có nghĩa vụ THADS sống trong cộng đồng có những cá nhân có vịtrí uy tín lớn, tiếng nói của họ có ảnh hưởng rất sâu rộng trong cộng đồng.Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có được triển khaimạnh mẽ, sâu rộng đúng hướng và đạt hiệu quả hay không phụ thuộc khánhiều vào những người này Họ là, trưởng khu phố, trưởng họ, trưởng thôn,những người có uy tín, có khả năng giác ngộ, tập hợp những người khác trongcộng đồng, những người "cầm cân nảy mực" trong việc giải quyết các vấn đềphát sinh hàng ngày của cộng đồng, những mối bất hòa, những tranh chấp

Vì vậy, ngoài chủ thể là cán bộ, Chấp hành viên, cần thu hút đội ngũtrưởng khu phố, trưởng họ, trưởng thôn, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của họtrong việc tuyên truyền, GDPL là rất cần thiết có hiệu quả Nếu các thànhphần này nắm chắc pháp luật, sẽ thúc đẩy hiệu quả việc phát huy những giá trịvăn hóa truyền thống tốt đẹp, loại trừ những hủ tục lạc hậu, thông qua họ tácđộng tới trình độ nhận thức pháp luật của từng người dân, dẫn dắt họ, giúp họhiểu và từng bước thực hiện pháp luật, thực hiện các qui ước của làng xã, khuphố, xây dựng đời sống văn hóa mới Như vậy, với lợi thế là uy tín của độingũ trưởng khu phố, trưởng họ, trưởng thôn, họ có thể là các cộng tác viên rấthiệu quả trong việc tuyên truyền GDPL Để có thể thu hút được đội ngũ nàyvào việc tuyên truyền GDPL thì đòi hỏi các cơ quan chức năng cần có nhữngchính sách, chế độ và biện pháp nâng cao năng lực cho họ - đó là: Tổ chứcbồi dưỡng, trang bị kiến thức pháp luật cần thiết, tạo điều kiện cho đội ngũ sư

cả, trưởng họ, trưởng thôn tiếp cận, cập nhật những văn bản, những thông tinpháp lý cần thiết như: Sử dụng tủ sách pháp luật ở cơ sở, tổ chức các lớp bồidưỡng, đào tạo ngắn hạn để có thể nâng cao hiểu biết của họ về pháp luật, có

Trang 24

chế độ, chính sách quan tâm ưu đãi, coi trọng và sử dụng đội ngũ sư cả,trưởng họ, trưởng thôn, phát huy vai trò của họ, những người tiêu biểu có uytín lớn trong cộng đồng như Đại hội IX của Đảng đã xác định: "Động viênphát huy vai trò của những người tiêu biểu có uy tín trong dân tộc ở địaphương" [18, tr.128].

1.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA CHẤP HÀNH VIÊN, CÁN BỘ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.2.1 Nội dung của giáo dục pháp luật đối với người có nghĩa vụ thi hành án dân sự

Việc xác định nội dung của GDPL là vấn đề đặc biệt quan trọng Bởi

lẽ nội dung GDPL là gì, mức độ như thế nào cho từng loại đối tượng là vấn đềcốt lõi quyết định hiệu quả của GDPL Nói cách khác trên cơ sở mục đích vàđối tượng mà xác định một nội dung GDPL thiết thực để có hiệu quả cao

Nội dung GDPL nói chung là một phạm vi rộng bao gồm kiến thứcpháp luật cơ bản như lý luận khoa học về pháp luật, các ngành luật, các vănbản pháp luật thực định Ngoài ra nội dung của GDPL còn bao hàm các thôngtin về việc thực hiện pháp luật, về việc điều tra, xét xử các vụ án hình sự, dân

sự, kinh tế, cả về nghiên cứu điều tra xã hội học pháp luật Các thông tinhướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân như thực hiện quyền vànghĩa vụ theo pháp luật, các quy định và thủ tục để bảo vệ lợi ích của Nhànước và xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân

Để đạt hiệu quả cao nhất trong việc giáo dục, thuyết phục đương sựhiểu và tự giác chấp hành pháp luật về thi hành án dân sự mà cụ thể là thựchiện nghĩa vụ của mình theo Bản án, quyết định, chúng tôi cho rằng các biệnpháp tác động của đội ngũ CHV, cán bộ thi hành án lên đối tượng có nghĩa vụTHADS thông qua các nội dung chủ yếu như sau:

Trang 25

- Quyền hạn, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc chấp hànhnghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Hiến pháp,pháp luật.

- Lợi ích trong việc chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định củaTòa án và các quyết định của cơ quan có thẩm quyền cũng như hậu quả vềmặt pháp lý (kể cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội có liên quan ) khikhông chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền

- Quyền hạn, nghĩa vụ của cơ quan thi hành án dân sự, CHV, Thẩm traviên, Thư ký thi hành án trong thi hành án

1.2.2 Phương pháp giáo dục pháp luật đối với người có nghĩa vụ thi hành án dân sự

Đối tượng GDPL tiếp nhận được tri thức pháp luật và làm biến đổi vềchất trong nhận thức của họ thì bản thân mục đích và nội dung của GDPLkhông thể tự nó đi vào nhận thức Vấn đề là ở chỗ cần phải thông qua cácphương thức truyền tải thông tin, các hình thức giao tiếp giữa chủ thể giáodục và đối tượng giáo dục bằng những hình thức và phương pháp khác nhau

Nếu chủ thế giáo dục biết lựa chọn các hình thác và phương pháp nàophù hợp với đối tượng thì giáo dục sẽ mang lại hiệu quả cao Nếu hình thức

và phương pháp không phù hợp thì hiệu quả sẽ thấp Giữa hình thức, phươngpháp và nội dung của GDPL cũng có mối quan hệ tác động lẫn nhau Hìnhthức và phương pháp, nó có tác động làm cho việc truyền tải nội dung thấmsâu vào nhận thức của đối tượng và nội dung đến lượt nó càng trở nên hoànthiện hơn, thông qua việc truyền tải thông tin để bổ sung chương trình nộidung GDPL

Đối với hoạt động THADS, nhiều trường hợp nếu không thực hiệngiáo dục pháp luật cho người có nghĩa vụ thi hành án dân sự, có thể bản án,quyết định của tòa án, có hiệu lực pháp luật vẫn được thi hành Nhưng vấn đề

đó là hậu của quá trình thi hành án dân sự thì xã hội sẽ như thế nào, đi đến

Trang 26

đâu, các quan hệ dân sự, thuần phong mỹ tục, tình làng nghĩa xóm, mối quan

hệ anh em, dòng tộc có còn hay không là điều Đảng, Nhà nước ta quan tâmhơn bao giờ hết

Thực tiễn cho thấy, việc đương sự tự nguyện thi hành nghĩa vụ củamình có thể nói là biện pháp hiệu quả mà tốn ít thời gian, công sức nhất Nógiúp cho Chấp hành viên có thể giải quyết một cách nhanh chóng và "gọngàng" nhất việc thi hành án mà không cần phải mất nhiều thời gian đôn đốc.Bất kỳ Chấp hành viên, cán bộ thi hành án nào cũng đều mong muốn đương

sự tự nguyện thi hành án nhằm giảm thiểu thời gian tổ chức đôn đốc, xácminh để có thể tập trung vào giải quyết những vụ việc lớn, phức tạp khi màbiện pháp tự nguyện không đạt kết quả Tuy nhiên, làm thế nào để đương sự

tự nguyện thi hành án là bài toán không phải dễ, nhiều Chấp hành viên, cán

bộ thi hành án mặc dù có nhiều năm kinh nghiệm nhưng không thể chắc chắnrằng có thể làm cho đương sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình

Đối với người có nghĩa vụ THADS hiện nay, giáo dục pháp luật cho

người có nghĩa vụ thi hành án dân sự được thực hiện bằng nhiều hình thức,nhưng hình thức chủ yếu như sau:

1.2.2.1 Giáo dục pháp luật thông qua tìm hiểu rõ nhân thân, quan

hệ gia đình của đương sự

Hoạt động THADS thông thường sẽ tác động trực tiếp đến một gia đình

cụ thể nào đó của xã hội Đúng như nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan VănKhải đã nói: THADS là công việc có nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng có ýnghĩa rất quan trọng trong bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích của côngdân, duy trì kỷ cương phép nước Việc thi hành án tác động trực tiếp đến cáclợi ích vật chất và tinh thần của người phải thi hành án và người được thi hành

án, đến danh dự, uy tín của những người này và của gia đình họ 34

Vì vậy, GDPL nói chung và GDPL đối với người có nghĩa vụ THADSnói riêng cần xuất phát từ mỗi gia đình Vai trò của gia đình trong việc thực

Trang 27

hiện PL có thể bắt đầu từ một người sau đó sẽ được lan toả đến tất cả mọithành viên trong gia đình Ngay từ khi được giao hồ sơ thi hành án, Chấphành viên cần nghiên cứu kỹ bản án, quyết định của Toà án để biết được cácvấn đề liên quan đến đương sự như: tiền án, tiền sự để xác định thái độ củađương sự; quan hệ, đặc điểm về gia đình như: bố, mẹ, vợ, chồng cũng nhưnghề nghiệp của đương sự và những người trong gia đình họ để từ đó có kếhoạch tác động tâm lý đến họ hoặc những người trong gia đình có thể thựchiện thay nghĩa vụ của người phải thi hành án Đây là tiền đề để thực hiệncác biện pháp GDPL, tác động lên người có nghĩa vụ THADS.

1.2.2.2 Giáo dục pháp luật thông qua mối quan hệ bên ngoài xã hội của người phải thi hành án

Thông qua bản án, quyết định của Toà án hoặc các kênh thông tinkhác nhau để nắm được các mối quan hệ giữa đương sự với người khác, qua

đó chọn lọc và tác động đến những người đó để nhờ sự ảnh hưởng của họ đốivới đương sự mà đạt được mục đích của mình

1.2.2.3 Giáo dục pháp luật thông qua tìm hiểu về điều kiện kinh tế

và khả năng thực hiện nghĩa vụ của đương sự

Thực tiễn cho thấy, nói đến THADS là nói đến việc thực hiện quyền

và nghĩa vụ của các bên, trong đó hầu hết các trường hợp đều có liên quantrực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng và điều kiện kinh tế của bên có nghĩa

vụ Bởi vì, dù bản án, quyết định của Toà án nhân danh Nhà nước tuyên cóhay và có đúng đến mấy đi chăng nữa, cộng thêm sự cố gắng và nỗ lực tuyệtvới của các cơ quan THADS nhưng người phải THADS không điều kiện kinh

tế để thực hiện nghĩa vụ thì bản án, quyết định đó mãi mãi vẫn chỉ là con sốkhông Vì vậy, trong nội dung này có hai vấn đề lớn đặt ra đó là: (i) Xác địnhchính xác khả năng kinh tế (nói đúng hơn là khả năng thanh toán) thực sự củangười phải THADS; (ii) Cần có một cơ chế hợp lý để xác định và triển khaithực hiện có hiệu quả khi người phải THADS có khả năng thi hành nhưng khả

Trang 28

năng đó đang do một đối tượng thứ ba nắm giữ (đối tượng thứ ba ở đây có thể

là cá nhân, cơ quan, tổ chức ) Cơ chế thể hiện trong yếu tố thứ hai phải bắtđầu từ việc tạo điều kiện để quản lý được khả năng kinh tế của cá nhân nóichung và người phải THADS nói riêng, đến việc bảo đảm sự vận hành cóhiệu quả giữa cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ THADS với cá nhân và

cơ quan, tổ chức đang nắm giữ tiền, tài sản của người phải THADS Khi nắmvững được các vấn đề trên CHV, cán bộ thi hành án có biện pháp tác động

của mình Tránh tình trạng trước mắt đương sự chưa có tiền để nộp nhưng

Chấp hành viên cứ cứng nhắc nói rằng họ phải thực hiện ngay và toàn bộ sẽdẫn đến đương sự có tâm lý không tốt đối với Chấp hành viên và khi họ cótiền để nộp thì do không có "thiện cảm" mà họ để mặc nghĩa vụ của mình, đếnkhi đó Chấp hành viên coi như là chưa đạt được mục đích của mình

1.2.2.4 Tạo mọi điều kiện, cơ hội để người có nghĩa vụ thi hành án dân sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình

Thực tiễn cho thấy không có một phương thức chung giống nhau cốđịnh Tuỳ thuộc vào từng loại vụ việc, từng đương sự sẽ có những đặc điểmkhác nhau mà Chấp hành viên cần tinh ý, linh hoạt và khéo léo để có thể xácđịnh cần thu thập những thông tin nào phục vụ cho việc tác động của mình.Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất đó là cần tạo mọi điều kiện, cơ hội để người

có nghĩa vụ THADS tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình

Trong biện pháp tự nguyện thi hành án, đối với các vụ việc thi hành

án theo đơn yêu cầu, một hình thức giúp giải quyết xong được việc thi hành án

mà Chấp hành viên cần lưu ý tầm quan trọng của nó chính là "thoả thuận thihành án" Và cũng cần lưu ý đối với việc thi hành án chủ động thì không thể vàcũng không đặt ra vấn đề thoả thuận thi hành án, điều này xuất phát từ đặc trưngtrong mối quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật thi hành án dân sự

Trang 29

Về trình tự, thủ tục thoả thuận thế nào là hợp pháp cũng như tráchnhiệm của Chấp hành viên chứng kiến việc thoả thuận đã được quy định rõ tạiĐiều 3 Nghị định số 58:

1 Việc thỏa thuận về thi hành án của đương sự phải được lập thànhvăn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký của cácbên tham gia thỏa thuận và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiếnhành việc thỏa thuận

Trường hợp người phải thi hành án có yêu cầu về việc thi hành ánkhác với nội dung bản án, quyết định đã tuyên và được người được thi hành

án chấp thuận thì việc thi hành án được thực hiện theo yêu cầu đó

Việc thỏa thuận trước khi yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thihành do các đương sự tự nguyện thực hiện

2 Sau khi Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ban hành quyết địnhthi hành án, đương sự có quyền yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến việc thỏathuận Chấp hành viên được giao giải quyết việc thi hành án có trách nhiệmchứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận Trường hợp thỏa thuận vi phạmđiều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì Chấp hành viên có quyền

từ chối nhưng phải lập biên bản và nêu rõ lý do

Người yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận ngoài trụ

sở cơ quan thi hành án dân sự mà phát sinh chi phí thì phải thanh toán các chiphí hợp lý cho cơ quan thi hành án dân sự

3 Trường hợp đương sự không tự nguyện thực hiện theo đúng nộidung đã thỏa thuận thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ nội dung bản án,quyết định; đơn yêu cầu thi hành án và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận để

ra quyết định thi hành án

Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án màđương sự thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thihành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định thì căn cứ thỏa thuận của

Trang 30

đương sự, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án đốivới phần thỏa thuận không yêu cầu thi hành theo quy định tại điểm c khoản

1 Điều 50 của Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạmđiều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làmảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốntránh phí thi hành án Trường hợp thỏa thuận nêu trên được thực hiện saukhi tài sản đã được bán hoặc giao cho người khác nhận để thi hành án thìphải được sự đồng ý của người mua được tài sản hoặc người nhận tài sản

để thi hành án

Các quy định trên cần phải được hiểu như sau:

+ Đối với các thoả thuận trước khi có quyết định thi hành án của cơquan thi hành án Trong trường hợp này, CHV chưa được phân công tổ chứcthi hành vụ việc nên không có trách nhiệm và cũng không được phép chứngkiến các thoả thuận của đương sự, trừ trường hợp với tư cách cá nhân Thoảthuận trong giai đoạn này dù có được lập thành văn bản có xác nhận củachính quyền địa phương thì cũng chỉ để cho các bên tự giác thực hiện vớinhau, nếu sau khi đã tham gia vào quan hệ thi hành án dân sự, tức là sau khi

có quyết định thi hành án mà 1 trong các bên có xuất trình văn bản thoả thuậnnhưng bên kia không chấp nhận thì Chấp hành viên vẫn phải tổ chức thi hànhtheo đúng quyết định thi hành án được giao mà không được tổ chức thi hànhtheo thoả thuận đó Vì bản chất của thoả thuận nằm ngay trong thuật ngữ củachính nó, " thoả thuận" là phải có ý kiến đồng nhất của tất cả các bên, trongquan hệ thi hành án dân sự thì phải là ý kiến của người phải thi hành án,người được thi hành án và người có quyền, nghĩa vụ liên quan (nếu có) Dovậy, khi tác nghiệp Chấp hành viên cần lưu ý có thể có những trường hợpChấp hành viên biết được ý kiến của 1 bên nhưng trong hồ sơ thi hành án chỉthể hiện ý kiến của phía bên kia mà đã tổ chức thi hành theo ý kiến đó thì sẽ

Trang 31

gặp phải vấn đề sau này họ khiếu nại Chấp hành viên tự ý tổ chức thi hành ánkhác với Bản án, quyết định của Toà án.

+ Đối với các thoả thuận sau khi có Quyết định thi hành án và Chấphành viên đã được phân công tổ chức thi hành Trong trường hợp này, khiđương sự có yêu cầu thì việc chứng kiến thoả thuận được xác định là tráchnhiệm của Chấp hành viên đang tổ chức thi hành vụ việc đó Tức là Chấphành viên không được từ chối nếu không thuộc trường hợp thoả thuận viphạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội

Khi Chấp hành viên đã chứng kiến việc thoả thuận thi hành án và kýtên vào biên bản thoả thuận thì tuỳ vào nội dung thoả thuận mà có thể có cácdiễn biến tiếp theo:

+ Nội dung thoả thuận không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ theo bản

án, quyết định Tức là có thể đương sự chỉ thoả thuận về phương thức, thờigian, địa điểm thực hiện nghĩa vụ mà không thoả thuận thay đổi nội dungcủa nghĩa vụ đó Đối với trường hợp này, Chấp hành viên sẽ tổ chức thi hànhtheo đúng thoả thuận đó về phương thức, thời gian, địa điểm Nếu đến thờigian, địa điểm đó mà đương sự không thực hiện đúng thoả thuận thì Chấphành viên phải tổ chức thi hành vụ việc theo quy định chung của pháp luật màkhông cần quan tâm đến nội dung đã thoả thuận Thực chất, việc quy địnhnhư vậy là thể hiện việc Nhà nước luôn ghi nhận và tôn trọng ý kiến tự địnhđoạt của các bên ngay cả khi đã tham gia vào quan hệ thi hành án dân sự,Chấp hành viên lúc đó trở thành người đóng vai " trọng tài" để các bên tự giácthực hiện cam kết của

+ Nội dung thoả thuận làm thay đổi quyền và nghĩa vụ theo bản án,quyết định Đây là trường hợp đương sự thoả thuận với nhau về việc khôngthực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đã được xác định trong Bản án.Chấp hành viên cần lưu ý để chứng kiến việc thoả thuận và ghi nhận một cáchđầy đủ nhất Nếu các đương sự đã thống nhất được với nhau về việc tự thực

Trang 32

hiện nghĩa vụ với nhau hoặc vì lý do nào khác mà người được thi hành áncùng với người phải thi hành án thoả thuận với nhau không cần cơ quan thihành án phải thi hành nữa Khi lập biên bản thoả thuận, Chấp hành viên cầnghi rõ ý kiến của người được thi hành án là không yêu cầu cơ quan thi hành

án tổ chức thi hành một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của người phải thi hành

án nữa Cũng cần lưu ý nếu thấy rằng việc thoả thuận trên có mục đích trốntránh phí thi hành án hoặc làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người thứ bathì Chấp hành viên cần giải thích rõ cho đương sự đồng thời từ chối không kývào biên bản thoả thuận

Nếu đã xác định việc thoả thuận không yêu cầu cơ quan thi hành án tổchức thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định là hoàn toàn tựnguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội cũng như không thuộc trườnghợp nhằm trốn tránh phí thi hành án hoặc ảnh hưởng đến quyền, lợi ích củangười thứ ba thì Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ khoản thoả thuận làkhông yêu cầu tổ chức thi hành nữa, yêu cầu các đương sự ký tên vào biênbản Đây chính là mấu chốt, là điểm quan trọng giúp giải quyết 1 phần hoặctoàn bộ nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án, cũng là căn cứ đểchấm dứt một phần hoặc toàn bộ quá trình tác nghiệp của Chấp hành viên.Sau khi đã ghi nhận được ý kiến thống nhất của các bên, Chấp hành viên cóthể đề xuất Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành ánđối với khoản không yêu cầu tổ chức thi hành nữa theo quy định tại điểm ckhoản 1 Điều 50 Luật thi hành án dân sự

1.2.2.5 Bảo đảm dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động thi hành án dân sự Điều này được thể hiện ở một số nội dung cơ bản như sau:

Một là, bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên có liên quan trong

THADS: Xuất phát từ các quan hệ PL dân sự, kinh tế, lao động, hành chính,phá sản (thậm chỉ kể cả các quan hệ PL hình sự), nên theo nội dung bản án,

Trang 33

quyết định của Toà án, có rất nhiều chủ thể khác nhau phải thực hiện nghĩa

vụ THADS hoặc có liên quan đến nghĩa vụ THADS Ví dụ bên phảiTHADS có thể là cá nhân, tổ chức, cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp Nhànước Vì vậy, yêu cầu về bình đẳng giữa các chủ thể hoạt động THADSđược xem là yếu tố cực kỳ quan trọng quyết định đến việc bảo đảm phápchế XHCN trong hoạt động THADS Sự bình đẳng này thể hiện ở chỗ: (i)Bất kể người phải THADS là Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước, cơ quan

tổ chức đều phải bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ THADS nhưcác chủ thể khác (kể cả về thời hạn thực hiện nghĩa vụ đến việc áp dụngcác biện pháp cưỡng chế cần thiết theo quy định của PL); (ii) Không phânbiệt cơ quan, tổ chức, cá nhân được THADS là người của địa phương nào

mà những người có quyền lợi như nhau thì sẽ được bảo đảm thực hiệnquyền lợi như nhau trong THADS

Hai là, các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không

được can thiệp trái PL vào quá trình THADS: Về nguyên tắc, bản án, quyếtđịnh của Toà án có hiệu lực pháp lý phải được các bên nghiêm chỉnh thi hành.Hơn nữa, do hoạt động THADS có liên quan trực tiếp đến việc định đoạt trênthực tế quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan, nên việc can thiệp trái PLdẫn đến quá trình THADS bị chậm, kéo dài đều trực tiếp hoặc gián tiếp làmgiảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Toà án, xâm phạm, quyền lợi íchhợp pháp của một hoặc nhiều bên có liên quan

Ba là, bảo đảm sự bình đẳng trong việc tổ chức thực hiện bản án,

quyết định dân sự của Toà án, Trọng tài, trong phạm vi cả nước: Về nguyêntắc, bản án, quyết định dân sự của Toà án, Trọng tài có hiệu lực pháp lý nhưnhau trong phạm vi toàn quốc Vì vậy, tất cả các bản án, quyết định dân sựcủa Toà án, Trọng tài phải được các cơ quan THADS, cơ quan tổ chức và cánhân có liên quan tôn trọng và bình đẳng trong việc tổ chức thi hành Do đó,

Trang 34

để pháp chế XHCN trong hoạt động THADS được bảo đảm thì cần phảinghiêm cấm mọi trường hợp phân biệt đối xử mang tính địa hạt hành chínhđối với các bản án, quyết định dân sự của Trọng tài đều bị coi là vi phạmnguyên tắc pháp chế trong hoạt động THADS [49]

Chỉ có thực hiện hiệu quả các vấn đề trên thì mới có thể GDPL đượcđối với người có nghĩa vụ thi hành án

1.3 NHỮNG YẾU TỐ CHỦ YẾU THỂ HIỆN CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA CHẤP HÀNH VIÊN, CÁN

BỘ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.3.1 Số lượng vụ việc thi hành án dân sự được thi hành trên tổng

số vụ việc phải thi hành

Thực tiễn cho thấy, dù chúng ta có tạo ra được một hệ thống pháp luậthoàn chỉnh, đồng bộ, một hệ thống tổ chức thi hành án dân sự mạnh mẽ từtrung ương đến cấp huyện; việc xét xử của Tòa án với những bản án, quyếtđịnh hết sức nghiêm khắc nhưng không được thi hành trên thực tế thì tất cảđều trở nên vô nghĩa, thậm chí còn phản tác dụng

Vì vậy, thước đo đầu tiên của các hoạt động có liên quan đến thi hành

án dân sự chính là số lượng bản án, quyết định được thi hành trên thực tê

1.3.2 Số lượng vụ việc có sự tự nguyện thi hành của người có nghĩa vụ thi hành án dân sự

Tự nguyện thi hành án là biện pháp thi hành ít tốn kém về thời gian,công sức nhất đối với Chấp hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự cũngnhư tốn kém về chi phí đối với Ngân sách Nhà nước và người phải thi hành

án Chỉ khi đương sự ý thức rõ trách nhiệm của mình cũng như hiểu rõ hậuquả pháp lý mà mình phải gánh chịu thì họ mới tự nguyện thi hành Do đó, đểthực hiện tốt biện pháp này đòi hỏi kỹ năng giáo dục, thuyết phục của Chấphành viên phải tốt dựa trên cơ sở lý luận, nghiệp vụ phải vững chắc Bên cạnh

đó, vai trò của công tác phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật đến quần

Trang 35

chúng nhân dân cũng cần phải được chú trọng Tự nguyện thi hành án còngiúp cho hồ sơ thi hành án được giải quyết một cách triệt để, ít nảy sinhnhững vấn đề về khiếu nại, tố cáo Từ đó giúp cho Chấp hành viên và cơ quanThi hành án dân sự tiết kiệm được thời gian tập trung vào giải quyết những vụviệc phức tạp hơn, không để tình trạng án kéo dài qua nhiều năm mà chưa thihành được Nếu không làm tốt công tác giáo dục, thuyết phục để đương sự tựnguyện thi hành án cũng là nguyên nhân làm gia tăng lượng án tồn đọng hiệnnay của các cơ quan Thi hành án dân sự

Đây cũng chính là yếu tố thể hiện rõ nét chất lượng của hoạt động thihành án dân sự

1.3.3 Tình hình khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự

Khiếu nại về thi hành án dân sự là việc cá nhân, tổ chức theo trình tự,thủ tục do pháp luật quy định yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại cácquyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hànhviên mà cá nhân, tổ chức khiếu nại cho rằng quyết định đó, hành vi đó là tráipháp luật, đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Tố cáo về thi hành án dân sự là việc công dân báo cho cơ quan, tổchức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của Thủtrưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cán bộ thi hành án gây thiệt hạihoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự, cơ quan, tổ chức

Thực tiễn cho thấy, dù CHV, cán bộ thi hành án dân sự thực hiện đúngđầy đủ quyền hạn, nghĩa vụ của mình; quá trình thi hành án thực hiện theođúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhưng đương sự vẫn khiếu nại tố cáo

do không hiểu, không nhận thức được đầy đủ Vì vậy, việc GDPL của CHV,cán bộ thi hành án chỉ thực sự có ý nghĩa và hiệu quả khi người có nghĩa vụthi hành án dân sự hiểu được nghĩa vụ của mình và không khiếu nại, tố cáo

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của Luận văn đã nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận

về GDPL trong hoạt động nghiệp vụ của CHV, cán bộ thi hành án đối vớingười có nghĩa vụ thi hành án dân sự, trong đó tập trung nghiên cứu, phântích, đánh giá về tính chất, đặc điểm của công tác GDPL trong hoạt độngTHADS có thể rút ra một số kết luận cơ bản như sau:

1 GDPL trong hoạt động nghiệp vụ của CHV, cán bộ thi hành án đối

với người có nghĩa vụ THADS là việc CHV, cán bộ thi hành án thi hành án

sử dụng linh hoạt kỹ năng, biện pháp nghiệp vụ phù hợp với quy định củapháp luật, không trái với đạo đức xã hội tác động trực tiếp hoặc gián tiếpđến nhận thức của người có nghĩa vụ thi hành án bảo đảm để họ thực hiệnnghiêm túc nghĩa vụ của mình nhằm tránh được những hậu quả pháp lý từ

cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước để thi hành có hiệu quả bản án, quyếtđịnh của Tòa án

2 Có nội dung của GDPL trong hoạt động nghiệp vụ của CHV, cán bộthi hành án đối với người có nghĩa vụ THADS như: Thông qua tìm hiểu rõnhân thân, quan hệ gia đình của đương sự; GDPL thông qua mối quan hệ bênngoài xã hội của người phải thi hành án; GDPL thông qua tìm hiểu về điềukiện kinh tế và khả năng thực hiện nghĩa vụ của đương sự; Tạo mọi điều kiện,

cơ hội để người có nghĩa vụ THADS tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình;Bảo đảm dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoạtđộng THADS

3 Có 03 yếu tố chủ yếu thể hiện chất lượng GDPL trong hoạt độngnghiệp vụ của CHV, cán bộ thi hành án đối với người có nghĩa vụ thi hành ándân sự đó là: Số lượng vụ việc thi hành án dân sự được thi hành trên tổng số

vụ việc phải thi hành; Số lượng vụ việc có sự tự nguyện thi hành của người cónghĩa vụ thi hành án dân sự; Tình hình khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự

Trang 37

Tóm lại, thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận về GDPL trong hoạt độngnghiệp vụ của CHV, cán bộ THADS đối với người có nghĩa vụ thi hành ándân sự sẽ tạo cơ sở, phương pháp để đánh giá đúng thực trạng, tạo tiền đề choviệc đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng GDPL trong hoạt động THADSđối với người có nghĩa vụ thi hành án dân sự ở nước ta hiện nay.

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA CHẤP HÀNH VIÊN ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ

NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2.1 VÀI NÉT VỀ ĐỘI NGŨ CHV, CÁN BỘ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Tại thời điểm bàn giao công tác thi hành án từ Toà án sang cho các cơquan thuộc Chính phủ quản lý, cả nước có 53 phòng Thi hành án dân sự cấptỉnh, 547 Đội thi hành án cấp huyện với biên chế 1.126 người, trong đó có

700 Chấp hành viên cấp tỉnh, cấp huyện và 426 cán bộ

Đến năm 2004, năm triển khai thực hiện những quy định mới của Pháplệnh thi hành án dân sự năm 2004 và thực hiện việc bổ nhiệm Chấp hành viêntheo nhiệm kỳ, cả nước có 2.105 Chấp hành viên, trong đó Chấp hành viêncấp tỉnh là 324, cấp huyện là 1781 Từ năm 2005, sau khi các văn bản về tổchức cán bộ và hướng dẫn việc bổ nhiệm Chấp hành viên được ban hành như:Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ quy định về cơquan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, côngchức làm công tác thi hành án dân sự; Thông tư số 06/2005/TT-BTP ngày24/6/2005 của Bộ Tư pháp hướng dẫn tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức chức danh Chấp hành viên; …thì việc bổ nhiệm lại, bổ nhiệm mớiChấp hành viên theo nhiệm kỳ đã bắt đầu được triển khai thực hiện Đây làđợt tổng rà soát lớn đối với tất cả các Chấp hành viên

Đến ngày 30 tháng 9 năm 2010 (01 năm sau khi triển khai thực hiệnLuật Thi hành án dân sự), cả nước có 3.135 Chấp hành viên (không kể Chấphành viên trong quân đội), trong đó Chấp hành viên cấp tỉnh có 438 người,Chấp hành viên cấp huyện có 2.696 người Hiện nay, trên cơ sở mã số ngạchChâp hành viên viên do Bộ Nội vụ ban hành, Bộ Tư pháp đang phối hợp cùngvới Bộ Nội vụ để tiến hành các thủ tục để chuyển đổi sang ngạch Chấp hànhviên sơ cấp, trung cấp, cao cấp theo quy định

Trang 39

Cùng với việc tăng cường số lượng CHV, qua tìm hiểu cho thấy Bộ Tưpháp, Tổng cục Thi hành án dân sự và các cơ quan thi hành án dân sự địaphương cũng rất quan tâm tới chất lượng của đội ngũ Chấp hành viên Hiệntại có 98% số Chấp hành viên đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn về chuyên mônnghiệp vụ (có trình độ cử nhân luật) Nhiều người đã trưởng thành qua trảinghiệm thực tiễn của công tác thi hành án Các kỹ năng cơ bản về thi hành ándân sự được Chấp hành viên sử dụng thành thạo Nhiều người đã vận dụngmột cách linh hoạt, sáng tạo giữa giáo dục, thuyết phục với cưỡng chế thihành án Nhờ đó kết quả và chất lượng hoạt động thi hành án dân sự ngàycàng được nâng lên.

Theo số liệu của Tổng cục Thi hành án dân sự thì trong những nămqua công tác tổ chức, cán bộ tiếp tục được xác định là một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành Thi hành án dân sự Bộ máy tổ chứcnhân sự, cán bộ lãnh đạo, quản lý tiếp tục được củng cố, kiện toàn từ Tổngcục đến các Cục và Chi cục Trong năm năm 2011, đã thành lập thêm Chicục Thi hành án dân sự huyện Lâm Bình (Tuyên Quang), nâng tổng số đơn

vị thi hành án cấp huyện lên 695 đơn vị Cả nước hiện có 3.022 Chấp hànhviên, trong đó, có 26 Chấp hành viên thuộc diện miễn thi tuyển, mới được

bổ nhiệm cho các cơ quan thi hành án dân sự ở miền núi Thực hiện Luậtthi hành án dân sự, đã chuyển xếp, bổ nhiệm 1.948 trường hợp vào ngạchChấp hành viên sơ cấp, 402 trường hợp vào ngạch Chấp hành viên trungcấp, số còn lại đang tiếp tục rà soát hoặc lấy ý kiến cơ quan có thẩm quyền

để chuyển xếp, bổ nhiệm vào ngạch theo quy định Cục Thi hành án dân sựcác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã chủ động hoàn thiện hồ

sơ, thủ tục bổ nhiệm vào ngạch Thư ký thi hành án đối với 1.761 trườnghợp đủ điều kiện Đã bổ nhiệm thêm 111 Thẩm tra viên và Thẩm tra viênchính, nâng tổng số Thẩm tra viên và Thẩm tra viên chính của toàn Ngànhlên 476 người

Trang 40

Nhìn chung đội ngũ CHV, cán bộ thi hành án dân sự ngày càng tăngcường cả về số lượng, chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng tốt hơn củacông tác thi hành án dân sự ở nước ta hiện nay

2.2 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC, NHỮNG HẠN CHẾ CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA CHẤP HÀNH VIÊN, CÁN BỘ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2.2.1 Kết quả đạt được

Để các quy định của Luật phát huy hiệu quả, đòi hỏi phải thực hiệnđồng bộ nhiều giải pháp, trong đó giải pháp quan trọng là hoàn thiện thểchế để tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức, cán bộ của cơ quan quản lý thihành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự Nhờ đó đã thu được những kếtquả quan trọng:

2.2.1.1 Hiệu quả thi hành án dân sự ngày càng được nâng lên

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thi hành án dân sự Bộ Tư phápcho thấy, hiệu quả thi hành án dân sự trong những năm qua ngày càng cao,đặc biệt là trong những năm gần đây Điều này được thể hiện qua các số liệusau đây:

- Năm 2010:

+ Tổng số việc phải thi hành là 614.513 việc, trong đó có: 406.201 việc

có điều kiện thi hành (chiếm 66%), 208.312 việc chưa có điều kiện thi hành(chiếm 31,71%) Kết quả: trong số việc có điều kiện thi hành, đã thi hànhxong 350.846, đạt tỷ lệ 88% (vượt chỉ tiêu 7%), tăng 28.617 việc (1,65%) sovới năm 2010

+ Tổng số tiền phải thi hành là 30.641 tỷ 730 triệu 587 nghìn đồng Kếtquả phân loại, số có điều kiện thi hành là 10.347 tỷ 601 triệu 831 nghìn đồng(chiếm 33,76%), số chưa có điều kiện thi hành là 20.294 tỷ 128 triệu 756nghìn đồng (chiếm 66,24%) Kết quả: đã thi hành được 8.283 tỷ 236 triệu 899nghìn đồng, đạt tỷ lệ 76,1% so số tiền có điều kiện thi hành

Ngày đăng: 15/07/2022, 12:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư (2003), Chỉ thị số 32/CT-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, GDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Bí thư (2003), "Chỉ thị số 32/CT-TW về tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng trong công tác phổ biến, GDPL, nâng cao ý thức chấp hànhpháp luật của cán bộ, nhân dân
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2003
2. Lê Văn Bền (1997), Giáo dục pháp luật cho người Khơme Nam Bộ, Luận văn Thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Văn Bền (1997), "Giáo dục pháp luật cho người Khơme Nam Bộ
Tác giả: Lê Văn Bền
Năm: 1997
3. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết 08/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (2002), "Nghị quyết 08/TW về một số nhiệm vụ trọng tâmcông tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
5. Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo gửi Thanh tra Chính phủ ngày 27/12/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2011)
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
6. Lương Thanh Cường (2004), “Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (6), tr.21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lương Thanh Cường (2004), “Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cánbộ, công chức nhà nước”, "Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Lương Thanh Cường
Năm: 2004
7. Chính phủ (2010), Báo cáo công tác THADS từ năm 2007-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2010)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
8. Chính phủ (2011), Báo cáo công tác thi hành án dân sự năm 2011 tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2011)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
9. Đỗ Văn Dương (2002), Giáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Đắc Lắc hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Văn Dương (2002), "Giáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền cấpxã ở tỉnh Đắc Lắc hiện nay
Tác giả: Đỗ Văn Dương
Năm: 2002
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), "Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốcgiữa nhiệm kỳ khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1994
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), "Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ8 khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1995
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), "Văn kiện Hội nghị lần thứ ba khoáVIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), "Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BanChấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chớnh trị quốc gia
Năm: 1997
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), "Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), "Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), "Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
22. Trần Ngọc Đường (1988), Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Luận án PTS Luật học, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Ngọc Đường (1988), "Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 1988

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w