1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở việt nam với kiến thức về luật hiến pháp, hãy lập luận để phản đối ý kiến trên

13 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 283,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ---BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM ĐỀ BÀI: Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quố

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

-BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM

ĐỀ BÀI: Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến

cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt

Nam Với kiến thức về luật hiến pháp, hãy lập luận để phản đối

ý kiến trên.

Hà Nội, tháng 12/2021

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 3

I Khái quát chung 3

1 Khái niệm CQNQQG 3

2 Mô hình CQNQQG phổ biến hiện nay 3

II Nội dung tranh biện 4

1 Lập luận 1: Vấn đề nhân quyền tại Việt Nam vẫn được đảm bảo, thúc đẩy và được quốc tế công nhận ngay cả khi không có CQNQQG 4

2 Lập luận 2: Nguyên tắc Paris về thiết chế nhân quyền quốc gia không ràng buộc về mặt pháp lý và còn nhiều điểm chưa phù hợp khi áp dụng tại Việt Nam 7

3 Lập luận 3: Mô hình hoạt động của CQNQQG không phù hợp khi hoạt động tại Việt Nam 9

C KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, bản Hiến pháp 2013 đã kế thừa và có bước tiến đáng kể trong việc hoàn thiện hơn vấn đề hiến định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về cả góc độ kỹ thuật lập pháp cũng như góc độ nhân văn Tuy vậy, vẫn có ý kiến cho rằng, để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ( sau đây viết tắt là CQNQQG) ở Việt Nam Song, điều kiện thực tế tại nước ta còn nhiều điểm chưa phù hợp và chưa cần thiết hình thành nên cơ quan nhân quyền quốc gia Vì vậy, nhóm 2 - lớp 4607 chúng em đã có những lập luận với quan điểm phản đối việc thành lập CQNQQG ở Việt Nam

B NỘI DUNG

I Khái quát chung

1 Khái niệm CQNQQG

- Theo Văn phòng Cao uỷ Liên hợp quốc về nhân quyền: “Cơ quan nhân quyền

quốc gia là những cơ quan nhà nước có thẩm quyền hiến định và/hoặc luật định trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người Các cơ quan này là một phần của bộ máy nhà nước, được nhà nước cung cấp kinh phí hoạt động”.

- Đặc điểm của CQNQQG:

 CQNQQG là cơ quan nhà nước, thuộc bộ máy nhà nước

 CQNQQG là cơ quan nhà nước độc lập trong bộ máy nhà nước

 CQNQQG có nhiệm vụ và chức năng chuyên trách trong lĩnh vực thúc đẩy bảo đảm, bảo vệ quyền con người

2 Mô hình CQNQQG phổ biến hiện nay

- Ủy ban nhân quyền quốc gia: mô hình phổ biến nhất trên thế giới.

- Thanh tra Quốc hội: mô hình phổ biến thứ hai trên thế giới.

- Ngoài ra, còn có một số mô hình khác khá phổ biến như:

 Cơ quan hỗn hợp

 Cơ quan nghiên cứu

 Cơ quan tư vấn

Trang 4

II Nội dung tranh biện

1 Lập luận 1: Vấn đề nhân quyền tại Việt Nam vẫn được đảm bảo, thúc đẩy và được quốc tế công nhận ngay cả khi không có CQNQQG.

a

Cơ sở lập luận

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013

- Luật Báo chí 2016

- Thực tiễn về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam

b

Phân tích lập luận

- Quy định về quyền con người trong hệ thống pháp luật Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hơn:

 Qua 5 bản Hiến pháp, đặc biệt với Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa quan điểm của Đảng cũng như các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, quyền

và nghĩa vụ cơ bản của công dân

(i) Hiến pháp năm 2013 quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngay tại chương II Qua đó, xác định rõ “mọi người

có quyền”, “công dân có quyền” khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm Những nội dung liên quan đến quyền con người còn được nhắc đến trong các chương khác của Hiến pháp – là văn bản pháp lí cao nhất Qua đó mỗi người đều được hưởng những quyền của bản thân, đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội được quy định trong Hiến pháp và pháp luật

(ii) Đối tượng điều chỉnh về quyền con người có phạm vi rộng, song cũng

đi vào cụ thể, chẳng hạn: trẻ em (K1, Đ37); thanh niên (K2, Đ37); người cao tuổi (K3, Đ37); phụ nữ và bình đẳng giới (Đ26; Đ36)… (iii) Mặt khác, quyền không tách rời nghĩa vụ Vì vậy, tự do phải nằm trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo công bằng, an toàn cho

xã hội, không xâm phạm vào quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

Trang 5

(iv) Trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã sửa đổi và cho

ra đời hang loạt các bộ luật, luật; cụ thể hóa quan điểm của Đảng; nội luật hóa các công ước quốc tế như: Bô ̣ luật Hình sự; Bô ̣ luâ ̣t Dân sự; Luật Khiếu nại; Luật tố cáo; Luật Lao động; Luâ ̣t Công đoàn; Luật Bảo hiểm; Luật Chăm sóc, bảo vệ trẻ em; Luật Tín ngươꄃng, tôn giáo; Luật Biểu tình;…

- Các thiết chế bảo vệ quyền con người tại Việt Nam hiện nay:

 Thiết chế nhà nước:

(i) Hệ thống cơ quan lập pháp: Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra, nói lên tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân

(ii) Hệ thống cơ quan hành pháp: Chính phủ và các cơ quan trực thuộc

Chính phủ cũng có nhiệm vụ bảo đảm, bảo vệ quyền con người theo từng lĩnh vực thuộc trách nhiệm quản lý

(iii)Hệ thống cơ quan tư pháp: Toà án bảo vệ công lí, bảo vệ quyền con

người thông qua hoạt động xét xử, tố tụng Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều được xử lý theo pháp luật

(iv)Quyền lực nhà nước được tổ chức và thống nhất theo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhóm các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trực tiếp trong việc xây dựng và thực thi các chính sách, các quy định pháp luật nhằm bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người thông qua các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp

 Thiết chế xã hội:

(i) Các tổ chức chính trị - xã hội: MTTQVN, Công đoàn Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam, Ủy ban Dân tộc của Chính phủ; Hội đồng Dân tộc và Ban Dân nguyện của Quốc

Trang 6

hội; Cục Trẻ em, Vụ Bình đẳng giới… đều mang một hoặc một số chức năng tương tự với CQNQQG

(ii) Các tổ chức xã hội đã và đang tích cực đóng góp vào việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người thông qua: tập hợp ý kiến; tổ chức trao đổi, tổ chức đối thoại về quyền con người; đại diện và bảo vệ quyền lợi cho các hội viên khi quyền lợi bị xâm phạm; phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người; giám sát các

cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước trong các lĩnh vực liên quan đến quyền con người

 Thiết chế truyền thông, báo chí:

“Luật Báo chí năm 2016” khẳng đinh “báo chí…làm diễn đàn thực hiện

quyền tự do ngôn luận của Nhân dân…” (Đ4); quy định rõ mối quan hệ giữa

quyền con người và quyền tự do báo chí (Đ11) Cùng các phương tiện truyền thông khác như Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, Thống tấn

xã Việt Nam,… là những thiết chế có vai trò bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền con người; chống những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quyền con người tại; trở thành diễn đàn rộng rãi qua đó, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam, kịp thời phản ánh những vụ việc xâm phạm quyền con người của các cơ quan nhà nước

- Thành tựu của Việt Nam về nhân quyền và sự công nhận từ quốc tế:

 Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất

về quyền con người, chằng hạn như: Công ước Geneve (1949); Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị (1966); 7/9 công ước quốc tế chủ chốt về quyền của nhóm yếu thế; Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền và

Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC)… Đồng thời, Việt Nam cũng tham gia nhiều điều ước quốc tế khác có liên quan đến lĩnh vực bảo vệ quyền con người và luật nhân đạo quốc tế Đây là

nỗ lực, đồng thời thể hiện trách nhiệm, mức độ cam kết rất cao của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn

Trang 7

(i) Quốc gia đầu tiên ở Châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn “Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc (CRC)“ vào tháng 2/1990 và ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Trẻ em năm 1991

(ii) Việt Nam đảm nhiệm các vai trò thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 – 2016); tham gia vào quá trình xây dựng Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN, Uỷ ban liên Chính phủ ASEAN

về quyền con người, đóng vai trò tích cực trong các Uỷ ban ASEAN về phụ nữ và trẻ em, về lao động di cư…

(iii)Phụ nữ Việt Nam tham gia chính trị có tỷ lệ khá cao trên thế giới: tỉ lệ

nữ Đại biểu quốc hội khóa XV chiếm 30,26%; phụ nữ nắm giữ vị trí lãnh đạo cao nhất ở các cơ quan trung ương như Quốc hội, Chính phủ, MTTQVN…

 Sự công nhận của quốc về đối với thành tựu của Việt Nam

(i) Tháng 11/2013, Việt Nam đã trúng cử Hội đồng Nhân quyền và từ tháng 1/2014 trở thành thành viên chính thức của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016) với số phiếu rất cao (184 phiếu thuận/192 phiếu)

(ii) Ngày 07/06/2019, Đại hội đồng LHQ bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an (nhiệm kỳ 2020 – 2021), với

số phiếu ủng hộ kỉ lục (192/193 phiếu)

(iii) Việt Nam nằm trong nhóm các nước có chỉ số tăng trưởng HDI (Chỉ

số phát triển con người) cao nhất thế giới là 0,63; tuổi thọ trung bình tăng 4,8 năm; số năm đi học trung bình tăng 4,3 năm; thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng trên 354% trong giai đoạn 1990 - 2018

(iv) Ngày 25-1-2019, Nhóm làm việc về Rà soát Định kỳ Phổ quát chu kỳ

III của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc đã đồng thuận thông qua

“Báo cáo về kết quả rà soát của Việt Nam” và khẳng định: “Việt Nam

luôn đảm bảo những quyền tự do cơ bản của công dân phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người Sự đảm bảo đó được thể hiện trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm trên thực tế ở Việt Nam”.

Trang 8

2 Lập luận 2: Nguyên tắc Paris về thiết chế nhân quyền quốc gia không ràng buộc về mặt pháp lý và còn nhiều điểm chưa phù hợp khi áp dụng tại Việt Nam.

Trang 9

a Cơ sở lập luận

- Nghị quyết 48/143 ngày 20 tháng 12 năm 1993 của Đại hội đồng LHQ về nguyên tắc Paris

b Phân tích lập luận

- Nguyên tắc Paris về việc thành lập CQNQQG không ràng buộc pháp lí với các

quốc gia thành viên: Nghị quyết Đại hội đồng LHQ số 48/143 thông qua ngày

20/12/1993 khuyến khích việc thành lập CQNQQG song cũng công nhận

"quyền của mỗi quốc gia trong việc lựa chọn một khuôn khổ phù hợp nhất với nhu cầu cụ thể ở cấp quốc gia" Vì vậy, Việt Nam chưa thành lập cơ quan nhân

quyền quốc gia cũng không trái với với nguyên tắc Paris

- “Tính toàn diện” về nhân sự của CQNQQG: Định nghĩa về “quyền con người”

trong hệ thống pháp luật còn chưa rõ ràng, cụ thể Cùng với đó, người dân chưa hiểu biết sâu sắc về “quyền con người”, trình độ dân trí tương đối thấp Và Việt Nam thì còn đang thiếu những chuyên gia có kiến thức chuyên sâu về cách thức tổ chức, hoạt động CQNQ dẫn đến sự đảm bảo của “tính toàn diện” về nhân lực là một thách thức lớn

- Vấn đề “cung cấp ngân sách và độc lập tài chính”: CQNQQG có nguồn ngân

sách ổn định, rõ ràng từ ngân sách nhà nước; có cơ sở vật chất; có đủ ngân sách

để trả lương nhân viên tương xứng; thực hiện các hoạt động trong phạm vi chức năng Việc nhận ngân sách từ nhà nước, cụ thể tại Việt Nam, vấn đề ngân sách sẽ do Chính phủ dự trình và phê chuẩn bởi Quốc hội Do vậy, các hoạt động của CQNQQG ít nhiều bị ảnh hưởng bởi tài chính khi phụ thuộc vào nhà nước, dẫn tới việc bị ý chí nhà nước chi phối Khi đó hoạt động của CQNQQG

sẽ không thể khách quan và có hiệu quả tốt Đồng thời, để duy trì CQNQQG cần bỏ ra một nguồn ngân sách khá lớn, từ giai đoạn xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp trang thiết và cả những hoạt động về sau cho CQNQQG Tuy nhiên, nước ta vẫn chỉ là một quốc gia đang phát triển, có thu nhập bình quân đầu người thấp so với thế giới, và đang cố gắng để không rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”, ngân sách nhà nước thì trong tình trạng bội chi (2010 - 2021) Việc

bỏ ra nguồn ngân sách lớn như thế là không khả quan CQNQQG có thể bổ

Trang 10

sung tài chính từ các nguồn khác trong xã hội, nguồn lực này cũng không thể đảm bảo bởi người dân chưa hiểu rõ thậm chí là không biết về thiết chế này, sinh ra sự thiếu tin tưởng về hoạt động cũng như sự minh bạch trong tài chính

- CQNQQG có thẩm quyền “đưa ra tư vấn, khuyến nghị cho chính phủ và quốc hội về xây dựng chính sách, pháp luật về quyền con người” Tuy nhiên

CQNQQG không phải Toà án và cũng không có thẩm quyền đưa ra quyết định ràng buộc mà chủ yếu ở dạng khuyến nghị Điều đó dẫn tới tình trạng Chính phủ cũng như Quốc hội có thể bỏ qua không thực hiện khuyến nghị Và rằng, khi một cơ quan mới được thành lập nhưng việc thực hiện những thẩm quyền

cơ bản không được đảm bảo cũng như không đem lại hiệu quả tốt thì nhân dân – nguồn đóng góp chủ yếu cho ngân sách nhà nước sẽ khó mà ủng hộ cho việc lấy một khoản tiền “khổng lồ” để thành lập CQNQQG

3 Lập luận 3: Mô hình hoạt động của CQNQQG không phù hợp khi hoạt động tại Việt Nam

a Cơ sở lập luận

- Nguyên tắc Paris 1993

- Thực tiễn các mô hình CQNQQG phổ biến hiện nay

b Phân tích lập luận

- Hiện nay trên thế giới xuất hiện 5 mô hình cơ quan nhân quyền phổ biến bao

gồm: Ủy ban nhân quyền; Thanh tra Quốc hội; Cơ quan hỗn hợp; Cơ quan tư

vấn; Cơ quan nghiên cứu Những mô hình trên đều chưa có dáng dấp trong bộ máy nhà nước Việt Nam, vì vậy sự mới mẻ của chúng gây nhiều lúng túng cho nước ta từ khâu thành lập cho tới duy trì hoạt động sao cho hiệu quả

Ủy ban nhân quyền: là mô hình do nhà nước thành lập và chi trả, thường

được lãnh đạo từ nhiều thành viên và độc lập; chức năng: điều tra và giải quyết khiếu nại cá nhân Mô hình này có thể làm dấy lên những băn khoăn

về tính độc lập, khách quan và hiệu quả trong thực tế bởi ở Việt Nam thì các

tổ chức chính trị, xã hội thì nằm dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Liệu ai có thể chắc chắn rằng là cơ quan này do nhà nước thành lập và chi

Trang 11

trả chi phí cho các hoạt động thì sẽ đảm bảo tính khách quan, công bằng, không bao che các hành vi phạm tội về quyền con người?

Thanh tra Quốc hội: đặt dưới sự lãnh đạo của một cá nhân nào đó, thanh tra

Quốc hội có thể “tuỳ biến” về tổ chức và chức năng, nhiệm vụ để phù hợp với bối cảnh của mỗi nước Thanh tra viên do Quốc hội bổ nhiệm độc lập với các bộ, ngành để điều tra và giải quyết các khiếu nại của những người bị ảnh hưởng đối với việc quản lý của Chính phủ Vấn đề đặt ra là liệu rằng nếu một cá nhân thì có thể có cái nhìn bao quát về nhu cầu được bảo vệ của các nhóm đối tượng trong xã hội hay không? Ngoài ra, thực tế hoạt động cho thấy nước ta thì ít các tổ chức hoạt động dưới một tư cách cá nhân nào

đó Mô hình Thanh tra Quốc hội không phù hợp khi áp dụng vào thực tiễn ở Việt Nam

Cơ quan hỗn hợp: do Chủ tịch nước thành lập, không thuộc về Quốc hội

cũng không thuộc về Chính phủ Đây có thể được coi là một mô hình mới lạ đối với cả các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, vì vậy nó dẫn đến những lúng túng, khó khăn trong tổ chức và hoạt động của

cơ quan này khi ra đời

Cơ quan tư vấn, cơ quan nghiên cứu: có thành viên đa dạng, tập trung vào

chức năng tư vấn và đưa ra khuyến nghị cho chính phủ về quyền con người, không có chức năng thẩm quyền, chịu sự chi phối, tác động dưới quyền của các cơ quan nhà nước Bộ máy nhà nước Việt Nam lại đang trong quá trình tinh giảm biên chế, vì vậy không cần thiết thành lập các mô hình này

- Có ý kiến cho rằng, nên “nâng cấp” một trong những cơ quan có một phần

chức năng của CQNQQG mà Việt Nam đang có lên thành CQNQQG Tuy nhiên, việc này có khả năng gây ra sự chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn giữa

cơ quan được nâng cấp với các cơ quan còn lại

11

Ngày đăng: 15/07/2022, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm