Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa sản phẩm vật thể và dịch vụhoặc bán - Sản xuất và tiêu dùng diễn ra khác nhau về không gian và thời gian - Sản xuất và tiêu dùng thường trùng nhau về thời gia
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế dịch
vụ đã trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng không chỉ mang ý nghĩa nhưmột yếu tố cấu thành trong cơ cấu kinh tế quốc dân, mà còn được coi là yếu tốthúc đẩy sự phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống Ở các nước
có nền kinh tế phát triển, kinh tế dịch vụ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấucủa nền kinh tế, ngày càng có xu hướng vượt xa tỷ trọng của công nghiệp vànông nghiệp
Với quá trình hình thành và phát triển, thành phố Hồ Chí Minh luônluôn đóng vai trò là trung tâm thương mại - dịch vụ cả nước có ảnh hưởng sâurộng đến hoạt động của nền kinh tế Trước sự thay đổi của một thành phốnăng động như sự phát triển các trung tâm thương mại, siêu thị, cao ốc vănphòng cho thuê, dịch vụ tài chính - ngân hàng, dịch vụ khu vui chơi trí, kháchsạn, nhà hàng… cùng sự phát triển của đội ngũ lao động ngày càng chuyênnghiệp góp phần quan trọng vào việc phục vụ người tiêu dùng ngày càng tốthơn, hiệu quả hơn tạo sự lan tỏa và thay đổi phong cách, lối sống của ngườidân thành phố theo chiều hướng tích cực
Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh là một quận khá nhỏ, diện tích tựnhiên 4.185km2 với 15 phường, được bao bọc bởi 3 con sông: Sài Gòn, Kênh
Tẻ, Rạch Bến Nghé Tiếp giáp với các quận 1, 2, 7 và quận 8 Dân số 183.763người, số người trong độ tuổi lao động 109.096 người Đại bộ phận là dân laođộng nghèo, trình độ học vấn thấp, thiếu vốn liếng, tay nghề để có cuộc sống
ổn định Người dân lao động chủ yếu là bốc vác và các dịch vụ hoạt động chủyếu phục vụ cho Cảng Sài Gòn Sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp,chủ yếu là chế biến, gia công và sản xuất một vài mặt hàng tiêu dùng Hoạtđộng thương mại chủ yếu là bán lẻ ở các chợ Mặc dù so với các quận khác
Trang 2trong thành phố, diện tích tự nhiên của quận khá nhỏ nhưng lại có nhiều vị tríthuận lợi, đường xá giao thông ở quận 4 hiện nay tương đối khang trang, sạchđẹp, nối kết với các quận trung tâm thành phố như quận 1, quận 5 và các quậnlân cận như Thủ Đức, quận 2, quận 7, quận 8… điều này làm cho quận 4 có một
vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh chung phát triển toàn thành phố,với những lợi thế riêng của mình như điều kiện địa lý thiên nhiên mang hình tháisông nước, đặc trưng cho nền văn minh sông nước của đồng bằng sông CửuLong, thiên nhiên sông nước mang tính cách hài hòa tươi mát rất thích hợp với
du lịch sinh thái, quận 4 có ấn tượng và tạo cảm giác như là một “tam giác vàng”được các con sông, kênh rạch ôm trọn vào lòng như một con tim của khu đô thịsầm uất bến cảng, nhưng hài hòa, thơ mộng…dựa vào địa lý thiên nhiên hiệnhữu ấy thì việc nghiên cứu nhằm khai thác tiềm năng để phát triển các lọai hìnhdịch vụ trên địa bàn quận 4 là vấn đề cấp thiết, phù hợp với yêu cầu phát triểncủa quận nói riêng và thành phố nói chung trong hội nhập kinh tế quốc tế
Vì vậy, tác giả đã chọn “Phát triển kinh tế dịch vụ trên địa bàn quận
4, thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề phát triển kinh tế dịch vụ trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đã có một số tác giả nghiên cứuvới những nội dung, phạm vi và cách tiếp cận khác nhau
- Dương Thị Hồng Vân (2006), Dịch vụ thương mại và du lịch trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Học viện chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh
- Võ Văn Thương (2007), Phát triển dịch vụ thương mại ở thành phố
Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh
- Lâm Văn Triều (2008), Du lịch sinh thái ở Kiên Giang, Luận văn
Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3- Những công trình khoa học nghiên cứu, bài viết và các vấn đề liênquan đến đề tài như:
- Định hướng phát triển chủ yếu của Tp.HCM - Các vấn đề cần đặt ra
đối với quận 4, do Viện Kinh tế Tp.HCM chủ biên, năm 2006.
- Một số định hướng phát triển kinh tế quận 4 đến năm 2010, tầm nhìn
đến năm 2020, do GS TS Võ Thanh Thu, chủ nhiệm Bộ môn Kinh doanh
Quốc tế, Đại học Kinh tế Tp.HCM chủ biên
- Bến Vân Đồn quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, Vài gợi ý về dự án
khu du lịch sinh thái văn hóa, do GS.TS Nguyễn Tiến Hữu, Đại học Hồng
Bàng - Khoa Châu Á - Bộ môn Việt Nam học chủ biên
- Đẩy mạnh dịch vụ tài chính trên địa bàn quận 4, thành phố Hồ Chí
Minh, do PGS.TS Lê Văn Tề chủ biên
- Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế quận 4, do Nguyễn Anh
Tuấn - Phó Chủ tịch UBND quận 4 chủ biên
Các công trình trên đã đề cập đến vấn đề phát triển kinh tế, các lọaihình dịch vụ Tuy vậy, vấn đề phát triển kinh tế dịch vụ trên địa bàn quận 4,thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiêncứu một cách có hệ thống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở vận dụng lý luận vào đánh giá tiềm năng thế mạnh và thựctrạng phát triển kinh tế dịch vụ trên địa bàn quận 4, thành phố Hồ Chí Minh,
đề xuất phương hướng và giải pháp để phát triển và nâng cao vai trò của kinh
tế du lịch trên địa bàn quận trong hội nhập kinh tế quốc tế
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống, khái quát những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm thựctiễn về phát triển kinh tế dịch vụ
Trang 4- Đánh giá tiềm năng, phân tích thực trạng phát triển kinh tế dịch vụtrên địa bàn quận 4, thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây, chỉ ra nhữngthành công, hạn chế, nguyên nhân.
- Xác định phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh pháttriển kinh tế dịch vụ trên địa bàn quận 4 trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là kinh tế dịch vụ với tư cách là ngành kinh tếhình thành và phát triển nhanh trong theo sự phát triển của kinh tế thị trường
và hội nhập
Phạm vi nghiên cứu: Sự vận động của kinh tế dịch vụ trên địa bànquận 4, thành phố Hồ Chí Minh với các loại hình dịch vụ như: Dịch vụ tàichính - ngân hàng; dịch vụ thương mại; dịch vụ cao ốc văn phòng cho thuê;dịch vụ Cảng và dịch vụ du lịch - khách sạn - nhà hàng - vui chơi giải trí
Về thời gian: Phân tích thực trạng kinh tế dịch vụ trên địa bàn quận 4,thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2005 đến nay và đề xuất phương hướng giảipháp đến năm 2015
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tưởng Hồ Chí
Minh; các quan điểm, đường lối, chính sách, phát triển kinh tế - xã hội củaĐảng và Nhà nước; của Đảng bộ và chính quyền quận 4 Bên cạnh đó có sựchọn lọc tham khảo các công trình nghiên cứu, các bài viết của nhiều tác giả
có liên quan tới đề tài
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận nghiên cứu Các phươngpháp nghiên cứu kinh tế chính trị được sử dụng trong luận văn gồm phươngpháp phân tích và tổng hợp, trừu tượng hoá, thống kê, so sánh… Trong đó tácgiả chú ý phân tích thực tiễn đối chiếu với lý luận
Trang 56 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về kinh tế dịch vụ từ góc độ kinh tếchính trị
- Phân tích, đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển kinh tế dịch vụtrên địa bàn quận 4, thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế dịch
vụ dịch vụ trên địa bàn quận 4 trong hội nhập kinh tế quốc tế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 8 tiết
Trang 6sử dụng nhiều hơn trong kinh tế và trở thành tên gọi lĩnh vực kinh tế gồm một
số ngành Do những quan niệm khác nhau nên việc nhận dạng các hoạt độngdịch vụ trong thực tiễn cũng khác nhau; cho đến những năm gần đây dịch vụđược hiểu theo một nghĩa rộng hơn, được coi là một lĩnh vực sản xuất mới, cótính tổng hợp cao và phát triển rất đa dạng, nó có mặt ở khắp mọi nơi trongđời sống kinh tế xã hội
Hiện nay có nhiều tranh luận về khái niệm dịch vụ Cho tới nay đã cókhá nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ, song từng khái niệm đều có nhữnghạn chế riêng
Trong Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Dịch vụ là những công việc phục vụtrực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, dịch vụ là "những hoạtđộng phục vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinhhoạt" [49, tr.671]
Do nhu cầu của con người rất đa dạng tuỳ theo sự phân công lao độngnên có rất nhiều loại dịch vụ: Dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh; dịch vụphục vụ sinh hoạt công cộng; dịch vụ cá nhân dưới hình thức những dịch vụgia đình
Như vậy, lâu nay người ta thường quan niệm dịch vụ là hoạt động củanhững ngành phục vụ Nhưng phục vụ là “làm phần việc của mình, vì lợi ích
Trang 7chung, làm những việc giúp ích trực tiếp cho sinh hoạt vật chất hoặc vănhoá của người khác” Cách hiểu này là chưa đầy đủ, chưa mô tả được các đặctrưng của dịch vụ.
Trong kinh tế học hiện đại, dịch vụ được quan niệm rộng rãi hơnnhiều Dịch vụ bao gồm toàn bộ các ngành, các lĩnh vực có tạo ra tổng sảnphẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP), trừ các ngành sảnxuất các sản phẩm vật thể như công nghiệp (bao gồm cả lâm, ngư nghiệp).Những ngành như vận tải bao gồm hàng không, xe lửa, ôtô ; thông tin bưuđiện; lưu thông hàng hoá tư liệu sản xuất hoặc vật phẩm tiêu dùng; các lĩnhvực hoạt động như ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, du lịch đều thuộc lĩnhvực dịch vụ
Theo C.Mác dịch vụ chỉ cái giá trị sử dụng đặc thù do lao động đemlại giống như mọi hàng hoá khác nhưng ở đây cái giá trị sử dụng đặc thù củalao động này được gọi bằng một cái tên đặc biệt là dịch vụ, bởi vì lao động đócung cấp những sự phục vụ không phải với tư cách là một đồ vật mà với tưcách là một sự hoạt động, nhưng điều đó cũng hoàn toàn chẳng phân biệt nóvới một cái máy nào đó, như chiếc đồng hồ chẳng hạn [29, tr.577]
Những người làm dịch vụ cũng cần nhận được bánh mì và các tư liệusinh hoạt khác, họ cũng phải trả bằng tiền thu được nhờ làm dịch vụ, và ở đâycũng như mọi sự trao đổi hàng hoá lấy hàng hoá, vật ngang giá được trao đổilấy vật ngang giá Người công nhân chi tiền mua những dịch vụ hoàn toànkhông khác gì chi tiền mua bất cứ loại hàng hoá nào khác "Chẳng hạn, muadịch vụ của bác sĩ hay cố đạo cũng hoàn toàn giống như mua bánh mì hayrượu trắng cho mình vậy" [29, tr.578] vì trong những chi phí để tái sản xuấtsức lao động bao gồm cả những chi phí mua dịch vụ
Dịch vụ cũng có giá trị sử dụng, nghĩa là cũng đáp ứng một nhu cầunào đó của người mua và do những chi phí sản xuất của chúng, chúng cũng cógiá trị trao đổi nữa Vì thế tổng số sản phẩm tiêu dùng bao giờ cũng lớn hơn
Trang 8số lượng sản phẩm khi không có dịch vụ và tổng giá trị cũng lớn hơn vì nóngang với giá trị của những hàng hoá dùng để nuôi dưỡng những dịch vụ ấy
và giá trị của bản thân những dịch vụ ấy [29, tr.215]
Từ những điều nói trên có thể hiểu khái niệm dịch vụ một cách chung
nhất là: Dịch vụ là hiệu quả có ích của lao động cụ thể tồn tại dưới hình thái
phi vật thể nhằm thoả mãn kịp thời, thuận lợi, hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống của con người Trong nền kinh tế thị trường dịch
vụ cũng trở thành hàng hóa
Đặc điểm của dịch vụ so với hàng hóa thông thường:
Theo C.Mác, dịch vụ cũng là hàng hóa và nó giống với các hàng hóakhác có giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, tuy nhiên so với hàng hóa vật thể,dịch vụ có những đặc điểm đặc thù như:
- Dịch vụ là một sản phẩm vô hình, sản phẩm dịch vụ không manghình thái vật thể độc lập, cụ thể, ngay cả trong trường hợp nó có tính sản xuấtvật chất Thông thường, một sản phẩm hàng hoá được sản xuất ra tồn tại hữuhình Người sử dụng nó có thể nhìn thấy, cảm nhận được sản phẩm bằng cácgiác quan, thể hiện qua hình dáng, màu sắc, nhãn hiệu Nhưng đối với sảnphẩm dịch vụ thì người sử dụng không thể sờ thấy, nhìn thấy, cảm nhận đượcsản phẩm bằng các giác quan, thử mùi vị, nghe thấy âm thanh của chúngtrước khi sử dụng
C.Mác đã chỉ rõ: Trong những trường hợp mà tiền được trực tiếp traođổi lấy một lao động không sản xuất ra tư bản, tức là trao đổi lấy một laođộng không sản xuất, thì lao động đó được mua với tư cách là một sự phụcvụ lao động đó cung cấp những sự phục vụ không phải với tư cách là một
đồ vật, mà với tư cách là một sự hoạt động [30, tr.576]
Tuy nhiên tính không hiện hữu này có mức độ biểu lộ khác nhau đốivới từng loại dịch vụ, nó có quan hệ tới chất lượng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụcủa khách hàng Chẳng hạn như đào tạo, trông trẻ, du lịch hoặc nghỉ ngơi trong
Trang 9khách sạn Tính không hiện hữu của dịch vụ được biểu lộ qua yếu tố vật chất nào
đó và đó chính là những phương tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng
Chính vì đặc điểm này nên trong thực tế việc tiếp cận các loại dịch vụthường được thực hiện thông qua những thông tin về uy tín, chất lượng dịch
vụ mặt khác uy tín và chất lượng dịch vụ chỉ được khẳng định khi dịch vụ đãđược thực hiện Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa kinh doanh dịch vụ vớikinh doanh sản xuất hàng hoá thông thường
- Việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, nghĩa là sảnphẩm dịch vụ không thể tách rời khỏi nguồn gốc của nó, cho dù đó là conngười hay máy móc tạo ra dịch vụ Quá trình đưa dịch vụ tới người sử dụngluôn là quá trình vận động song song giữa sản phẩm dịch vụ và người tạo radịch vụ
Sự phục vụ mà người ca sĩ đem lại cho tôi thoả mãn nhu cầu về thẩm
mỹ của tôi, nhưng cái mà tôi thưởng thức chỉ tồn tại dưới hình thái hoạt độngkhông tách rời khỏi bản thân người ca sĩ và khi lao động của người ca sĩ tức làtiếng hát của anh ta chấm dứt thì sự khoái lạc mà tôi cảm nhận cũng chấm dứt[30, tr.507]
Hay là vận tải hàng hoá không để lại dấu vết nào của lao động đã chiphí vào việc chuyên chở Nhưng ở đây đối tượng lao động trải qua một sựthay đổi vật chất nhất định, theo nghĩa là sự thay đổi về không gian, thay đổi
vị trí, sự thay đổi này là dịch vụ Khi hàng hoá đến nơi quy định thì sự thayđổi mà giá trị sử dụng của nó đã trải qua liền biến mất, chỉ còn biểu hiện ởtrong cái giá trị hàng hoá đã tăng lên mà thôi
Cũng có một số dịch vụ nhất định mà kết quả của chúng có thể tồn tạinhư một giá trị sử dụng có hình thái độc lập tách khỏi người sản xuất vàngười tiêu dùng do đó có thể duy trì sự tồn tại của mình trong khoảng thờigian đó với tư cách là những hàng hoá có thể bán được, như những tác phẩmnghệ thuật (như tượng, tranh ) tồn tại tách rời hoạt động nghệ thuật của
Trang 10người nghệ sĩ đã sáng tạo ra chúng Nhưng thực ra cái mà tác phẩm đó có thểđáp ứng nhu cầu tiêu dùng ở đây không phải là bản thân yếu tố vật chất củasản phẩm tồn tại độc lập mà là cái “hồn” của tác phẩm ấy Bởi vậy, nhữngdịch vụ này vẫn là hàng hoá vô hình, thể hiện cái đẹp, cái hay mà người tiêudùng cảm thụ được.
- Tính không mất đi: Trong nhiều trường hợp, hoạt động dịch vụ saukhi đã được thực hiện thì các yếu tố cấu thành dịch vụ không mất đi mà vẫncòn nguyên vẹn Nghĩa là quá trình tạo ra dịch vụ được lặp đi lặp lại nhiều lầnnhư một bản nhạc, một lượng thông tin tư vấn pháp luật Những yếu tố cấuthành trên không phải là sản phẩm dự trữ của dịch vụ Nó chỉ là tiềm năng tạonên dịch vụ
- Tính không cất trữ được: Đặc điểm này của dịch vụ là một trongnhững cơ sở để phân biệt hoạt động dịch vụ với hoạt động của các ngànhsản xuất vật chất Với những sản phẩm vật chất có thể tích trữ được trongkho, ví dụ: Có thể sản xuất quần áo mùa hè ngay trong mùa đông và đểchúng ở trong kho chờ đến mùa hè sẽ bán Nhưng dịch vụ thì thường sảnxuất tới đâu tiêu thụ tới đấy, không tiêu dùng sẽ bỏ phí, vì dịch vụ khôngthể tích trữ, để dành được Ví dụ: Khi xe chở khách, người lái xe tạo ra sự
di chuyển đến đâu thì hành khách sẽ hưởng thụ đến đấy Nếu xe có 15 chỗngồi mà chỉ có 10 người ngồi thì 5 chỗ còn lại sẽ bị bỏ phí, không thể đểdành cho lần sau được
Do dịch vụ không thể tích trữ nên thông thường người ta chủ yếu điềutiết cầu khi điều tiết quan hệ cung cầu về dịch vụ -
Tính không ổn định và khó xác định chất lượng:
Chất lượng dịch vụ không ổn định mà dao động trong một khoảng rấtrộng, nó tuỳ thuộc vào người cung ứng cũng như vào thời gian và địa điểmcung ứng dịch vụ
Trang 11Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa sản phẩm vật thể và dịch vụ
hoặc bán
- Sản xuất và tiêu dùng diễn ra khác
nhau về không gian và thời gian
- Sản xuất và tiêu dùng thường trùng nhau về thời gian và không gian
khi người sản xuất mong muốn
- Khách hàng là bộ phận chỉ trong quá
trình tiêu dùng
- Khách hàng là một bộ phận trong cả quá trình sản xuất và tiêu dùng
- Có thể quan hệ gián tiếp với khách
* Kinh tế dịch vụ:
Sự phát triển mạnh mẽ của phân công lao động xã hội trong điều kiệnkinh tế thị trường đã làm cho hoạt động cung cấp dịch vụ được dần tách ra từcác hoạt động sản xuất vật chất và được chuyên môn hóa thành ngành kinh tế
mới do một bộ phận chủ thể trong nền kinh tế đảm nhận Do đó, kinh tế dịch vụ
là ngành kinh tế có chức năng cung cấp các dịch vụ cần thiết đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống xã hội Theo sự phát triển của phân công lao động
xã hội và kinh tế thị trường, đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế,
Trang 12kinh tế dịch vụ có xu hướng ngày càng phát triển nhanh với sự hình thành vàphát triển mở rộng không ngừng của các lĩnh vực, loại hình dịch vụ đa dạng
Ngày nay, kinh tế dịch vụ bao gồm không chỉ những hoạt động dịch
vụ gắn với hoạt động mua bán hàng hoá và hành vi thương mại của thươngnhân, mà còn bao trùm cả các dịch vụ có tính thương mại như: Cung ứng dịch
vụ đầu tư, bảo hiểm, ngân hàng, thông tin viễn thông, môi giới tư vấn, các vấn
đề thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
Các nhà lý luận kinh tế của nước ta thì cho rằng: Kinh tế dịch vụ baogồm những hoạt động phục vụ với tư cách là một bộ phận lao động xã hội,những công việc cần thiết cho các giai đoạn của quá trình tái sản xuất (sảnxuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng) Dịch vụ là kết quả lao động có ích cho
xã hội được thể hiện bằng những giá trị sử dụng nhất định nhằm đáp ứng nhucầu của sản xuất kinh doanh và đời sống Trong đó nhiều dịch vụ có tác dụngtrực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, chấtlượng đời sống vật chất và văn hóa của xã hội loài người Kinh tế dịch vụ làphương tiện hữu hiệu để thực hiện phương châm "vì con người" tạo ra những
kỹ năng cho con người phát triển ngày một toàn diện
Mặc dù các nhà kinh tế còn nhiều tranh luận trước khi đi đến thốngnhất về khái niệm dịch vụ và kinh tế dịch vụ Song trên thực tế kinh tế dịch vụ
đã và đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, kinh tế dịch vụ đã góp phần thúc đẩy sựphát triển kinh tế của các nước và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới.Ngày nay, tính trung bình đối với thế giới, kinh tế dịch vụ đang đóng góp63,4% GDP và thu hút 41% lực lượng lao động toàn cầu Tại các nền kinh tếphát triển dịch vụ đang có vị trí rất quan trọng như tại Liên minh Châu Âukinh tế dịch vụ chiếm 73,1% GDP và 66,7% lao động, Mỹ - 76,7% GDP và79% lao động; Nhật Bản - 75,9% GDP và 69,8% lao động (https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/) Do đó, để phát triển trong điều
Trang 13kiện ngày nay, từng quốc gia phải xác định được vai trò của kinh tế dịch vụtrong nền kinh tế - xã hội của đất nước để có những chiến lược, phươnghướng, biện pháp nhằm phát triển lĩnh vực kinh tế mới mẻ này Dĩ nhiên sựphát triển kinh tế dịch vụ của từng quốc gia phải dựa trên những ngành kinh
tế cơ sở của nước đó và không thể một lúc có thể phát triển kinh tế dịch vụtheo ý muốn của mình được Đồng thời phải dựa vào các điều kiện tự nhiên,nguồn nhân lực, và các lợi thế so sánh khác của quốc gia đó để phát triển kinh
tế dịch vụ sao cho hợp lý
Ở nước ta, mỗi địa phương đều có những tiềm năng và lợi thế riêngmình, để phát triển kinh tế dịch vụ sao cho hợp lý thì từng địa phương khiphát triển một ngành nào đó cũng phải tính đến những yếu tố cơ bản ảnhhưởng đến ngành đó
Ngày nay, kinh tế dịch vụ là ngành kinh tế rất đa dạng về loại hình,phát triển nhanh trong điều kiện kinh tế thị trường, cách mạng khoa học -công nghệ và hội nhập
- Các loại hình kinh tế dịch vụ:
Có nhiều cách phân loại dịch vụ Dưới đây xin nêu cách phân loạidịch vụ trong hệ thống phân loại sản phẩm chủ yếu của Tổng Cục thống kê,dựa theo cách phân loại của Liên Hợp Quốc gồm 5 cấp loại: 10 loại sản phẩmcấp 1, 68 loại sản phẩm cấp 2, 294 loại sản phẩm cấp 3, 1047 loại sản phẩmcấp 4 và 1813 loại sản phẩm cấp 5 [26, tr.9]
Trong hệ thống phân loại sản phẩm chủ yếu, dịch vụ bao gồm:
+ Dịch vụ thương mại: bao gồm dịch vụ bán buôn, bán lẻ, đại lý, bảodưỡng, sửa chữa
+ Dịch vụ du lịch: gồm lữ hành, khách sạn, nhà hàng
+ Dịch vụ vận tải kho bãi và thông tin liên lạc: gồm vận tải đường bộ,đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không, dịch vụ hỗ trợ vận tải, bưu chínhviễn thông
Trang 14+ Dịch vụ phục vụ nông nghiệp, khai thác mỏ và công nghiệp chếbiến: gồm các dịch vụ trung gian tài chính và hỗ trợ cho trung gian tài chính,kinh doanh bất động sản, cho thuê, thuê mua không kèm người điều khiển,máy tính điện tử và các dịch vụ liên quan (lắp đặt phần cứng, cài đặt phầnmềm, lập trình ) dịch vụ nghiên cứu và triển khai, dịch vụ pháp lý, kế toán,kiểm toán, lưu giữ chứng từ sổ sách, thuế, nghiên cứu thị trường, các dịch vụ
kỹ thuật và các dịch vụ khác như quảng cáo, cung cấp bảo mẫu, nhân sự, bảo
vệ, dịch vụ phục vụ nông lâm nghiệp (phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt)phục vụ khai thác mỏ và công nghiệp chế biến, nhãn hiệu, bản quyền
+ Các dịch vụ cá nhân, xã hội công cộng: bao gồm quản lý hành chínhcông, dịch vụ công, dịch vụ bảo đảm xã hội bắt buộc, giáo dục, sức khoẻ và
xã hội, vệ sinh môi trường, giải trí, văn hoá, thể thao, thẩm mỹ, dịch vụ chocác tổ chức và đại diện có đặc quyền ngoại giao
1.1.2 Vai trò của kinh tế dịch vụ trong phát triển kinh tế - xã hội
Mặc dù kinh tế dịch vụ được hình thành và phát triển trên cơ sở pháttriển phân công lao động xã hội và kinh tế thị trường, song sự phát triển củakinh tế dịch vụ theo hướng chuyên môn hóa ngày càng sâu ngày càng có tácđộng tích cực tới phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của kinh tế dịch vụ thểhiện trên nhiều phương diện:
Thứ nhất, phát triển kinh tế dịch vụ góp phần tích cực vào thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa Việc phát triển kinh tế dịch vụ có vai trò quan trọng trongviệc phát triển nền kinh tế quốc dân Ở nước ta trong những năm qua, đặc biệttrong thời kỳ đổi mới nhiều loại hình dịch vụ như: Dịch vụ tài chính - ngânhàng; dịch vụ du lịch; dịch vụ cao ốc văn phòng cho thuê; dịch vụ khu vui chơigiải trí, nhà hàng - khách sạn được phát triển ngày càng mở rộng, nhờ đó kinh
tế dịch vụ đã có đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấukinh tế Kinh tế dịch vụ ở nước ta đã đóng góp một tỷ trọng khá cao trong tổng
Trang 15sản phẩm quốc nội Đóng góp cụ thể của kinh tế dịch vụ trong nền kinh tế nước
ta được thể hiện qua các số liệu dưới đây:
Bảng 1.2: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) - theo giá hiện hành
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm Lĩnh vực
Thực hiện năm 2008
Thực hiện năm 2009
Ước tính thực hiện năm 2010
Nguồn: Niên giám thống kê 2009 và Báo cáo của Tổng cục Thống kê 2010
Căn cứ vào bảng 1.1 thì khu vực dịch vụ năm 2009 đóng góp 643.372
tỷ đồng theo giá hiện hành và chiếm tỷ trọng 38,85% trong GDP Theo Báocáo của Tổng cục thống kê năm 2010 ước tính dịch vụ đóng góp 759.202 tỷđồng theo giá hiện hành và 38,33% trong GDP
Như vậy, kinh tế dịch vụ ở nước ta thực sự chiếm một vai trò quantrọng trong nền kinh tế xã hội Theo các nhà kinh tế trong và ngoài nước thìcon số này sẽ tiếp tục tăng cao trong những năm tiếp theo nhất là khi ViệtNam đang trên đà ngày càng phát triển
Bảng 1.3: Cơ cấu kinh tế quốc dân và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của nước ta từ năm 2000 đến năm 2010 Năm
Nguồn: Niên giám thống kê 2009 và báo cáo của Tổng cục thống kê 2010
Trong những năm đổi mới các ngành kinh tế quốc dân đã có sựchuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao tỷ trọng và tốc độ phát triển củacông nghiệp và dịch vụ giảm tỷ trọng của nông nghiệp; mặc dù những năm
Trang 16gần đây do những biến động kinh tế trong nước và quốc tế, kinh tế dịch vụvẫn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Thứ hai, phát triển kinh tế dịch vụ góp phần tăng năng suất lao động
xã hội Sự phát triển kinh tế dịch vụ nó phản ánh trình độ cao của nền sảnxuất xã hội, của sự phân công lao động ngày càng sâu sắc, do đó góp phần tạothuận lợi cho các ngành sản xuất chuyên tâm đẩy mạnh chuyên môn hóa sảnxuất, tiết kiệm chi phí lao động, nâng cao năng suất lao động, giảm thời giansản xuất và thời gian lưu thông, từ đó thúc đẩy không ngừng nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế Những số liệu đãtrình bày ở trên đã phần nào cho thấy sự phát triển của kinh tế dịch vụ có tácđộng tích cực tới nâng cao năng suất lao động và phát triển sản xuất kinhdoanh trong các ngành nông nghiệp và công nghiệp
Thứ ba, phát triển kinh tế dịch vụ tạo ra nhiều công ăn việc làm, thực
hiện phân phối lại thu nhập, đẩy mạnh kinh tế hàng hóa phát triển, đặc biệtnước ta có hàng triệu lao động dư thừa trung bình mỗi năm chúng ta cókhoảng 3 - 4 triệu lao động không có việc làm, do đó phát triển kinh tế dịch vụ
sẽ là nơi thu hút một lượng lao động lớn, giảm thất nghiệp, giảm những tệ nạn
xã hội, tạo ra nguồn thu nhập, cải thiện đời sống của bộ phận không nhỏ dân
cư Trong năm 2009 khu vực dịch vụ thu hút 26,5% lực lượng lao động của cảnước và sang năm 2010 đã tăng lên đến 29,4%
Thứ tư, trong chừng mực nhất định phát triển kinh tế dịch vụ còn có
vai trò chống lạm phát, vì nó góp phần cân đối tiền - hàng cho đất nước.Dịch vụ giúp cho việc phát triển và ổn định thị trường, làm thay đổi cănbản cơ cấu của nền kinh tế Dịch vụ là lĩnh vực đầu tư kinh doanh có hiệuquả nhanh Kinh tế dịch vụ là lĩnh vực rất năng động và có quy mô rộng dođối tượng phục vụ, thời gian phục vụ, không gian phục vụ cũng như tính đa
Trang 17dạng nhiều vẻ, phong phú về nhu cầu khách hàng, của các loại dịch vụ cầnđáp ứng.
Thứ năm, phát triển kinh tế dịch vụ sẽ đảm bảo thỏa mãn đời sống xã
hội về vật chất cũng như tinh thần được đúng nơi, đúng chỗ, kịp thời, thuậntiện, văn minh và phong phú Dịch vụ còn là một bộ phận quan trọng trongkinh tế đối ngoại của nước ta trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế hiệnnay, thúc đẩy giao lưu kinh tế quốc tế qua các hoạt động dịch vụ cung ứng tàubiển, tài chính ngân hàng, dịch vụ cảng giúp thu ngân sách nhà nước hàng
tỷ USD mỗi năm
Bên cạnh đó việc phát triển kinh tế dịch vụ sẽ tạo nguồn thu làm tăngngân sách cho địa phương từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở,doanh nghiệp, chủ đầu tư kinh doanh trên địa bàn
Từ những cơ sở lý luận và thực tế về vai trò của kinh tế dịch vụ trongnền kinh tế quốc dân ở nước ta việc xác định mục tiêu, chiến lược phát triểnngành kinh tế dịch vụ là một đòi hỏi hết sức cấp thiết đối với sự phát triển nềnkinh tế và cũng chính là một tất yếu khách quan để chúng ta thực hiện cácmục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DỊCH VỤ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
1.2.1 Nội dung phát triển kinh tế dịch vụ
Phát triển kinh tế dịch vụ là quá trình không ngừng mở rộng các loạihình dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn
và đa dạng của các chủ thể trong nền kinh tế về sản xuất kinh doanh và đờisống Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng, nhucầu về dịch vụ ngày càng tăng nhanh với sức ép cạnh tranh gia tăng, do đóphát triển kinh tế dịch vụ có nhiều nội dung, trong đó có thể phân định thànhnhững nội dung cần phải thực hiên từ phía nhà nước và từ phía các chủ thểtham gia cung cấp dịch vụ
Trang 18Thứ nhất, đối với Nhà nước.
Phát triển kinh tế dịch vụ là yêu cầu tất yếu của quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa, do đó phải được coi là một trong những lĩnh vực kinh tếmũi nhọn của đất nước Trình độ phát triển của dịch vụ có tác động quyết địnhđến tốc độ hiệu quả phát triển kinh tế đến toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội
Vì vậy, nếu dịch vụ không được phát triển phù hợp với lộ trình công nghiệphóa, hiện đại hóa, sẽ không thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướnghợp lý, tiến bộ thì có thể sẽ dẫn đến những thiệt hại cho sản xuất và đời sống,gây lãng phí lao động xã hội và đương nhiên sẽ kìm hãm sự phát triển nềnkinh tế Thực tế nước ta trong những năm trước đây là một bài học sống động
để chứng minh cho điều này Sự yếu kém của kinh tế dịch vụ đã cản trở sựphát triển của các ngành kinh tế khác cũng như yêu cầu không ngừng nângcao đời sống của nhân dân Để đẩy nhanh phát triển kinh tế dịch vụ trong điềukiện kinh tế thị trường và hội nhập, trên cơ sở xác định rõ vai trò của nhànước trong nền kinh tế thị trường, nhà nước phải tập trung vào việc địnhhướng và tạo lập môi trường thuận lợi cho các chủ thể trực tiếp kinh doanhdịch vụ Những nội dung nhà nước cần thực hiện để thúc đẩy kinh tế dịch vụphát triển bao gồm:
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế dịch
vụ trên phạm vi cả nước và từng địa phương nhằm định hướng cho các chủthể kinh doanh tham gia đóng góp phát triển có hiệu quả kinh tế dịch vụ Mặc
dù chủ thể trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ là lực lượng chủ yếu của pháttriển kinh tế dịch vụ, song các chủ thể này hoạt động vi mục tiêu lợi nhuận, lạithường không có đủ khả năng nắm bắt đầy đủ thông tin về xu hướng pháttriển kinh tế, cho nên hoạt động của họ thường mang tính tự phát nhằm vàocác mục tiêu trước mắt Do đó, nhà nước cần định hướng hoạt động của cácchủ thể cung cấp dịch vụ bằng quy hoạch, chiến lược và kế hoạch phát triểndịch vụ với tư cách là bộ phận hữu cơ của quy hoạch và chiến lược, kế hoạch
Trang 19phát triển kinh tế xã hội Kinh tế dịch vụ phải được phát triển trên cơ sởnghiên cứu dự báo về xu hướng phát triển của phân công lao động xã hộitrong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ và hội nhập cùng kết quả đánhgiá về những tiềm năng thế mạnh về phát triển từng ngành dịch vụ theo vùngnhằm đảm bảo cho kinh tế dịch vụ thực sự phat huy được vai trò to lớn thúcđẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo tiết kiệm nguồn lực và nângcao hiệu quả kinh doanh của các ngành dịch vụ
- Xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy cho hoạt động kinhdoanh dịch vụ nhằm tạo cơ sở pháp lý bình đẳng, minh bạch cho hoạt độngkinh doanh dịch vụ Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập có nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia phát triển kinh tế dịch
vụ, nhờ sẽ khai thác mọi tiềm lực của các thành phần kinh tế, khả năng củamọi người dân vào việc phát triển kinh tế nói chung và dịch vụ nói riêng Bêncạnh các doanh nghiệp nhà nước, đã có ngày càng nhiều các chủ thể từ kinh tếtập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tham gia phát triểnkinh tế dịch vụ, từ đó đòi hỏi phải có một môi trường pháp lý bình đẳng,thuận lợi trong phát triển kinh tế dịch vụ đối với mọi thành phần kinh tế.Khung pháp lý phải tạo ra sự bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước với cácdoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Bên cạnh việc tiếp tục thựchiện Luật Doanh nghiệp, cần tạo lập khung khổ pháp lý rõ ràng cho hoạt độngcủa từng loại hình doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổphần; đảm bảo thực hiện có hiệu quả sự tách bạch giữa các quyền sở hữu vềtài sản và quyền kinh doanh, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện đầy
đủ quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh như quyếtđịnh đầu tư, quyết định phương án kinh doanh, tự chủ về tài chính, tự quyết
về nhân sự và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Đây là một điều hết sứccấp bách khi mà hiện nay các loại hình dịch vụ ở nước ta đang "bung ra" mộtcách nhanh chóng với nhiều hình thức, quy mô, phạm vi Song những căn cứ
Trang 20pháp lý cho hoạt động dịch vụ lại chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, dẫn đến xuấthiện nhiều mặt tiêu cực trong các hoạt động kinh doanh dịch vụ do đó cầnphải quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích của các thànhphần kinh tế khi tham gia thị trường dịch vụ; đảm bảo trật tự kỷ cương, giữgìn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong các hoạt độngkinh doanh dịch vụ.
- Nhà nước cần tạo lập các cơ chế chính sách thuận lợi cho phát triểnkinh tế dịch vụ Chú trọng phát triển những lĩnh ngành dịch vụ trọng điểm,phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng nâng cao sức cạnhtranh của các chủ thể kinh doanh dịch vụ, đồng thời mở rộng quan hệ hợp tácvới các nước để tranh thủ nguồn vốn, kỹ thuật công nghệ nhằm mở rộng vànâng cao chất lượng dịch vụ trong nước, từng bước hòa nhập thị trường dịch
vụ trong nước với thị trường dịch vụ quốc tế Hỗ trợ các nhà đầu tư tham giađầu tư vào các loại hình dịch vụ Nhà nước cần có nhiều chính sách hỗ trợphát triển các ngành dịch vụ thiết yếu như chính sách hỗ trợ về về mặt bằngkinh doanh, về vốn; về khoa học công nghệ, về đào tạo phát triển nguồn nhânlực; về giao lưu kinh tế trong nước, quốc tế
Đối với các doanh nghiệp nhà nước, cần tiếp tục đổi mới cơ chế hoạtđộng theo hướng tự chủ kinh doanh, tiếp tục thực hiện cổ phần hóa, liêndoanh liên kết với các thành phần kinh tế khác để mở rộng hoạt động Theochủ trương sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp nhà nước, cần xây dựng lịch trình hằng năm về giảm bớt số lượngdoanh nghiệp, lĩnh vực và ngành nghề hoạt động của các doanh nghiệp nhànước, trước mắt phấn đấu chỉ còn các doanh nghiệp công ích, các tổng công
ty và các doanh nghiệp độc lập có ý nghĩa quan trọng Các DNNN chỉ nên tậptrung hoạt động trong các lĩnh vực, ngành/ nghề then chốt mà Nhà nước cầnnắm hoặc tư nhân không có khả năng làm, như kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội, một số ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng và công
Trang 21nghiệp công nghệ cao Bên cạnh đó thực hiện cổ phần hóa hoặc đa dạng hóa
sở hữu ở các DNNN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn để huy độngthêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả; mởrộng việc bán cổ phần cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Thực hiện việcbán, khoán, cho thuê các DNNN loại nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ.Sáp nhập, giải thể, phá sản các DNNN hoạt động không có hiệu quả
Việc nâng cao khả năng cạnh tranh hội nhập của các chủ thể tham giakinh doanh rất quan trọng Vì vậy, chúng ta cần phải tiếp tục tăng cường cảicách, đổi mới một cách toàn diện các doanh nghiệp theo hướng nâng cao tính
tự chủ, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của những doanh nghiệp này, gópphần thực hiện chủ trương phát triển kinh tế của nhà nước, đồng thời tạothuận lợi cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm tới Bêncạnh đó, nhà nước còn phải thực hiện công tác thẩm định, kiểm tra thật chặtchẽ, nghiêm ngặt việc thành lập mới các DNNN; thực hiện đầu tư cho DNNNthông qua công ty đầu tư tài chính của Nhà nước và thông qua thị trường vốn;giảm dần sự ưu đãi, bao cấp và bảo hộ đối với các DNNN, đồng thời tạo điềukiện khuyến khích và bảo đảm cho khu vực tư nhân phát triển trong sự cạnhtranh lành mạnh và được đối xử bình đẳng như các doanh nghiệp quốc doanh
Đối với các chủ thể kinh doanh dịch vụ thuộc các thành phần kinh tếkhác cần phải tiếp tục xem xét để mở rộng phạm vi, quy mô hoạt động trongcác lĩnh vực như dịch vụ như y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa nghệ thuật, dulịch v.v Thực tế trong mấy năm gần đây thì các hoạt động dịch vụ ở thànhphần kinh tế tư nhân tỏ ra linh hoạt hơn, năng động và hiệu quả hơn so vớikhu vực tập thể và quốc doanh
Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, nhằm mở rộng quyền chủ độngcho các đơn vị, tổ chức và cá nhân trong kinh doanh dịch vụ tạo môi trườngthuận lợi cho mọi loại hình hoạt động dịch vụ Hiện nay các tổ chức, cơ sởkinh doanh dịch vụ tập thể, tư nhân đã thực hiện hạch toán và đang khẳng
Trang 22định sự tồn tại của mình trên thị trường dịch vụ; còn đối với các cơ sở quốcdoanh cần phải tiếp tục đổi mới hơn nữa để có thể gắn dịch vụ với thị trường,chủ động mọi vấn đề có liên quan đến hoạt động dịch vụ đảm bảo kinh doanhphải có lãi và đóng góp đầy đủ cho ngân sách theo quy định của nhà nước.Trong những năm tiếp theo sẽ có nhiều cơ sở dịch vụ cổ phần ra đời, do đócần phải quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích của hội đồng quản trịcũng như các quan hệ mới sẽ nảy sinh Các cơ sở dịch vụ tư nhân cũng phảilàm rõ mối quan hệ giữa chủ và thợ, nhà nước cần thông qua thuế, lãi xuấtphải có sự phân biệt các thành phần tham gia dịch vụ để khuyến khích hoặchạn chế các hoạt động dịch vụ, hướng dẫn các hoạt động dịch vụ sao cho phùhợp với mục tiêu phát triển dịch vụ và trong cơ cấu nền kinh tế mới
Trong các cơ chế chính sách của nhà nước, chính sách đất đai có vaitrò quan trọng đối với phát triển kinh tế dịch vụ Cần nghiên cứu để ban hành
và thực thi chính sách theo hướng tăng thêm thời gian giao đất, cho thuê đấtđối với các dự án cho phù hợp với tính chất đặc thù của loại hình dự án Xâydựng cơ chế, chính sách cho nhà đầu tư thuê đất dịch vụ xung quanh khu vực
dự án Tạo điều kiện thuận lợi để hấp dẫn các nhà đầu tư, công tác đền bù,giải phóng mặt bằng cần được Nhà nước cam kết giao mặt bằng sạch hoặccam kết tham gia, phối hợp cùng nhà đầu tư trong việc giải phóng mặt bằng(kinh phí của nhà đầu tư) để nhà đầu tư có điều kiện và yên tâm thực hiện dự
án Đi đôi với công tác này, cần có cơ chế, chính sách cho công tác bồithường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trong đô thị phục vụ dự án để pháttriển kinh tế dịch vụ đầu tư (theo hướng ưu tiên phát triển giao thông côngcộng tại các đô thị lớn)
- Để thực hiện tốt quản lý nhà nước đối với kinh tế dịch vụ thì trướchết phải đào tạo đội ngũ cán bộ biết kinh doanh dịch vụ, có năng lực, trình độnghiệp vụ cao, khuyến khích mọi người có nguyện vọng và điều kiện nângcao trình độ chuyên môn, tăng cường mở các lớp đào tào dài hạn, ngắn hạn,
Trang 23tranh thủ sự giúp đỡ của các đơn vị chuyên môn sở ngành, trao đổi, thamquan, khảo sát về quản lý kinh doanh dịch vụ Bên cạnh đó, bồi dưỡng và đàotạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện hệthống đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý doanh nghiệp, đặc biệt
là giám đốc; thực hiện chế độ tuyển chọn, bổ nhiệm, gắn quyền lợi, nghĩa vụcủa giám đốc với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tóm lại, để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội nước ta trong giaiđoạn phát triển CNH, HĐH đất nước, tránh sự tụt hậu quá xa so với các nướctrong khu vực và trên thế giới, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hộichung của các nước, đồng thời phù hợp với điều kiện của đất nước thì việcxác định một cơ cấu kinh tế hợp lý là một việc làm có ý nghĩa cực kỳ quantrọng đặc biệt trong điều kiện nước ta và thế giới hiện nay Việc xác định vaitrò, vị trí của kinh tế dịch vụ trong cơ cấu nền kinh tế là sự cần thiết mangtính khách quan, đây là cơ sở khoa học để Đảng và Nhà nước ta tập trung đầu
tư hỗ trợ nhằm phát triển có hiệu quả cao nhất lĩnh vực kinh tế mũi nhọn này
Thứ hai, đối với các chủ thể tham gia kinh doanh dịch vụ.
Mặc dù nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh
tế dịch vụ, song chủ thể chủ yếu của quá trình phát triển kinh tế dịch vụ vẫn làcác chủ thể tham gia cung cấp, kinh doanh các loại hình dịch vụ Những nộidung chủ yếu mà các chủ thể kinh doanh dịch vụ cần thực hiện bao gồm:
- Khai thác có hiệu quả những tiềm năng và lợi thế của địa phương đểphát triển kinh tế dịch vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập kinh
tế quốc tế Mỗi địa phương đều có những lợi thế về phát triển một số ngànhdịch vụ nhất định trong phát triển kinh tế vùng cũng như kinh tế quốc dân.Những lợi thế đó xuất phát từ sự phát triển của phân công lao động xã hộitrong kinh tế thị trường và hội nhập Do những hạn chế về trình độ nhận thức,khả năng cập nhập thông tin và do mục tiêu lợi nhuận, các chủ thể kinh doanhnói chung và chủ thể kinh doanh dịch vụ nói riêng có thể không xác định
Trang 24đúng lợi thế của địa phương về từng ngành dịch vụ, do đó phát triển kinhdoanh dịch vụ tự phát, giảm tác động tích cực của kinh tế dịch vụ tới pháttriển kinh tế - xã hội địa phương, đồng thời khó thu được hiệu quả kinh tế lâudài Để có thể vừa tham gia phát triển kinh tế dịch vụ nhanh chóng, bền vững,vừa đảm bảo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương, vùng, cả nước,vừa đạt được mục tiêu hiệu quả kinh tế, các chủ thể kinh doanh dịch vụ phảilựa chọn lĩnh vực, loại hình, quy mô hoạt động kinh doanh căn cứ vào quyhoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và nănglực của bản thân mình
- Huy động các nguồn lực, mọi thành phần kinh tế tham gia phát triểncác loại hình dịch vụ của địa phương Hoạt động kinh doanh dịch vụ cũng nhưcác hoạt động kinh doanh khác cần có những nguồn lực kinh tế nhất định vớiquy mô và cơ cấu phù hợp Do vậy để tham gia tích cực vào phát triển kinh tếdịch vụ, từng chủ thể kinh doanh cần phải nỗ lực thu hút và khai thác tối đa,
có hiệu quả các nguồn lực kinh tế trong xã hội, trong ngoài địa phương, kể cả
từ nước ngoài Những nguồn lực quan trọng mà các chủ thể kinh doanh dịch
vụ cần thu hút để mở rộng quy mô kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt độnggồm các nguồn lực tài chính, trước hết là vốn, tiếp đó là khoa học công nghệ,đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học công nghệ giàu kinh nghiệm, đội ngũngười lao động lành nghề
- Không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của các chủ thể kinh doanhdịch vụ Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của kinh tế thị thường và hộinhập, nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế và đời sống xã hộikhông ngừng mở rộng, trở thành điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinhdoanh dịch vụ phát triển mở rộng hoạt động kinh doanh và thu lợi Tuy nhiên,song hành với đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều các chủ thể cùng kinhdoanh một loại hình dịch vụ nhất định cả từ trong và ngoài nước, do đó sức épcạnh tranh cũng trở nên ngày càng lớn đối với từng chủ thể kinh doanh dịch
Trang 25vụ Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt là khi tham gia thịtrường dịch vụ có nhiều chủ thể nước ngoài với ưu thế lớn về vốn, công nghệ,kinh nghiệm kinh doanh, các chủ thể kinh doanh dịch vụ trong nước, tại từngđịa phương phải không ngừng nỗ lực vươn lên về sức cạnh tranh Do vậy, cácchủ thể kinh doanh dịch vụ phải tìm ra và thực hiện các giải pháp về nâng caochất lượng dịch vụ, uy tín trong cung cấp dịch vụ đối với khách hàng, nângcao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện chế độ sử dụng và đĩa ngộ hợp lýđối với người lao động Để không ngừng nâng cao sức cạnh tranh, các chủthể kinh doanh cần không ngừng nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, trướchết phải chú trọng quan tâm công tác xây dựng và thực hiện chiến lược kinhdoanh, chiến lược cạnh tranh hiệu quả
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế dịch vụ
Có thể nói, để phát triển bất kỳ một ngành kinh tế, một lĩnh vực kinh tếnào đều phải có những yếu tố trực tiếp, hoặc gián tiếp hay nói cách khác phải cónhững điều kiện cần và đủ thì mới có thể thực hiện được Theo các nhà kinh tếthì để phát triển kinh tế dịch vụ thường chịu tác động bởi các nhân tố sau:
- Vị trí địa lý:
Thực tế cho thấy, vị trí địa lý và tài nguyên - thiên nhiên phong phú đadạng, môi trường sinh thái có sức hấp dẫn cho phát triển các loại hình kinh tếdịch vụ nhất là dịch vụ Cảng, du lịch giúp cho việc phát triển kinh tế dịch vụmột cách thiết thực Tận dụng những ưu điểm, lợi thế vị trí địa lý, địa hìnhđường sông, biển phát triển tốt lợi thế trên sẽ kéo theo ngành kinh tế dịch vụphát triển tương xứng đem lại nguồn lợi nhuận khá cao Ví dụ như phát triển cácngành dịch vụ như dịch vụ du lịch, giao thông vận tải, dịch vụ phục vụ Cảngv.v Tóm lại, trong hoạt động kinh doanh dịch vụ những quốc gia có lợi thế vềđịa hình, nguồn tài nguyên - thiên nhiên phong phú, đa dạng, môi trường tronglành cùng với những điều kiện về môi trường xã hội đặc biệt là an ninh trật tựtốt cũng sẽ làm cho kinh tế dịch vụ phát triển một cách nhanh chóng
Trang 26- Trình độ phát triển của phân công lao động xã hội và cách mạng khoa học - công nghệ.
Sự hình thành và phát triển của dịch vụ gắn liền với phân công laođộng xã hội Nói cách khác, phân công lao động xã hội là tiền đề cho sự pháttriển của dịch vụ Ngược lại, sự phát triển của dịch vụ cũng góp phần làmphân công lao động trở nên sâu rộng hơn Khi nền kinh tế càng phát triển thìdịch vụ càng phong phú, đa dạng và sự phát triển của dịch vụ phản ánh trình
độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Một nước có trình độ kinh tế phát triểncao thì tỷ trọng của dịch vụ trong cơ cấu ngành của nước đó càng lớn Dịch
vụ phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa, tạođiều kiện cho lĩnh vực sản xuất khác phát triển
Với một nước có trình độ kinh tế phát triển cao thì việc áp dụng tiến
bộ khoa học và công nghệ không chỉ tạo ra lợi thế cạnh tranh mà còn tạo ranhiều loại hình dịch vụ mới, chất lượng, qui mô của doanh nghiệp ngày càng
mở rộng, sức cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng tăng Từ đó doanhnghiệp thay đổi chiến lược kinh doanh, phát triển ra thị trường ngoài nước,tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Sức tác động của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
có tác động tích cực hiệu quả đối với quản lý trong kinh tế dịch vụ, thanhtoán, giao dịch,… Vì vậy, khi áp dụng khoa học công nghệ vào phát triển kinh
tế dịch vụ thì nó sẽ tạo giá trị tăng cao
Có thể nói, dịch vụ là phương tiện hữu hiệu để thực hiện phươngchâm "vì con người" tạo khả năng cho con người phát triển toàn diện Dịch
vụ ra đời và phát triển cũng với đà phát triển của nền sản xuất xã hội, của
sự phát triển phân công lao động xã hội Nền kinh tế xã hội càng phát triểnthì dịch vụ càng phát triển đa dạng phong phú và sự phát triển của dịch vụ
là một chỉ tiêu phát triển kinh tế của một quốc gia về trình độ phát triển vănminh của xã hội
Trang 27- Cơ chế chính sách của Nhà nước.
Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, nhằm mở rộng quyền chủ độngcho các đơn vị, tổ chức và cá nhân trong kinh doanh dịch vụ tạo môi trườngthuận lợi cho mọi loại hình hoạt động dịch vụ Hiện nay các tổ chức, cơ sởkinh doanh dịch vụ tập thể, tư nhân đã thực hiện hạch toán và đang khẳngđịnh sự tồn tại của mình trên thị trường dịch vụ; còn đối với các cơ sở quốcdoanh cần phải tiếp tục đổi mới hơn nữa để có thể gắn dịch vụ với thị trường,chủ động mọi vấn đề có liên quan đến hoạt động dịch vụ đảm bảo kinh doanhphải có lãi và đóng góp đầy đủ cho ngân sách theo quy định của nhà nước.Trong những năm tiếp theo sẽ có nhiều cơ sở dịch vụ cổ phần ra đời, do đócần phải quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích của hội đồng quản trịcũng như các quan hệ mới sẽ nảy sinh Các cơ sở dịch vụ tư nhân cũng phảilàm rõ mối quan hệ giữa chủ và thợ, nhà nước cần thông qua thuế, lãi xuấtphải có sự phân biệt các thành phần tham gia dịch vụ để khuyến khích hoặchạn chế các hoạt động dịch vụ, hướng dẫn các hoạt động dịch vụ sao cho phùhợp với mục tiêu phát triển dịch vụ và trong cơ cấu nền kinh tế mới
- Hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn hoá kinh tế ngày nay là xu hướng khách quan, lôi cuốn các nướctham gia, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức
ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, tạo ra cơ hội lớncho các quốc gia tranh thủ phát triển rút ngắn, đồng thời cũng tạo ra những tháchthức không nhỏ đối với các nền kinh tế hội nhập Hội nhập kinh tế quốc tế thểhiện sự tham gia, gắn kết nền kinh tế của một nước vào các nền kinh tế khu vực
và toàn cầu, đã và đang đặt chủ thể kinh tế trong nước, trong đó có kinh tế tưnhân trong lĩnh vực thương mại vào môi trường hoạt động mới
Hội nhập tạo thuận lợi mở ra thị trường mới, thị trường nước ngoài,
từ đó có tác động mở rộng phạm vi hoạt động cho kinh tế tư nhân tronglĩnh vực đầu tư phát triển kinh tế dịch vụ, tạo cơ hội cho kinh tế tư nhân
Trang 28trong việc tham gia phát triển kinh tế dịch vụ của Việt Nam và có thể thâmnhập vào các thị trường các nước khác và không ngừng lớn mạnh Thực tếcho thấy, kể từ khi thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, các hoạtđộng xuất nhập khẩu của Việt Nam không ngừng được mở rộng, kinh tế tưnhân trong lĩnh vực kinh tế dịch vụ ngày càng gắn với thị trường nướcngoài, không ít doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân đã lớn lênnhờ hoạt động xuất nhập khẩu.
Tuy nhiên, hội nhập kinh tế cũng đặt ra những thách thức mà mỗidoanh nghiệp phải thông qua Các chủ thể tư nhân kinh doanh dịch vụ trongđiều kiện hội nhập không những phải cạnh tranh với các đối thủ trong nướcthuộc các thành phần kinh tế khác nhau, mà còn phải đối mặt với những đốithủ cạnh tranh nước ngoài, không những tại các thị trường nước ngoài mà cảngay tại các thị trường trong nước
Trong bối cảnh đó các doanh nghiệp tư nhân nói chung và doanhnghiệp hoạt động trên lĩnh vực dịch vụ nói riêng cần phải tự phấn đấu vươnlên để vượt qua thách thức Sức ép từ cạnh tranh quốc tế đòi hỏi kinh tế tưnhân trong lĩnh vực thương mại của Việt Nam phải không ngừng lớn mạnh vềquy mô, sức cạnh tranh Kiểu kinh doanh nhỏ lẻ, ép giá và phong cách phục
vụ thiếu chu đáo phải được loại bỏ và thay thế bằng các phương thức, loạihình kinh doanh hiện đại
Để làm được điều đó, kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại nước
ta không những phải nhanh chóng nghiên cứu nắm vững hệ thống thông lệ,luật pháp quốc tế, mà còn phải không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, chú trọng tới công tác nghiên cứu dự báo nhu cầu thị trường, cung ứnghàng hoá và dịch vụ với chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, hoànthiện phong cách phục vụ hiện đại, quan tâm phát triển các dịch vụ sau bánhàng… tranh thủ những tiến bộ mới của khoa học, công nghệ; không nhậpkhẩu những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường
Trang 29Đi đôi với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm vàdịch vụ của các doanh nghiệp, cần ra sức cải thiện môi trường kinh doanh,khả năng cạnh tranh quốc gia thông qua việc khẩn trương đổi mới và xâydựng đồng bộ hệ thống pháp luật phù hợp với đường lối của Đảng, với thông
lệ quốc tế, phát triển mạnh kết cấu hạ tầng; đẩy mạnh công cuộc cải cáchhành chính nhằm xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch về phẩm chất, vữngmạnh về chuyên môn
Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn
thiện các loại hình thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động, khoa học - côngnghệ, vốn, bất động sản ; tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, bìnhđẳng cho mọi thành phần kinh tế, tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý kinh tếcủa Nhà nước đối với nền kinh tế, đặc biệt chú trọng đổi mới và củng cố hệthống tài chính, ngân hàng
Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu của nền kinh tế nước ta vàonền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, kinh tế tư nhân trong lĩnh vực kinh tếdịch vụ phải gắn phát triển của mình với sự phát triển thương mại của ViệtNam, gắn phát triển thị trường trong nước với thị trường quốc tế, từng bướcđưa thương mại Việt Nam hội nhập sâu với thương mại khu vực và thế giới
Để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đến năm 2020 cơ bảntrở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
1.3 KINH NGHIỆM MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DỊCH VỤ VÀ BÀI HỌC CHO QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.3.1 Kinh nghiệm một số địa phương
* Kinh nghiệm của Hà Nội:
Có thể nói thành phố Hà Nội là nơi phát triển dịch vụ thương mạiđứng thứ hai sau thành phố Hồ Chí Minh, tốc độ tăng trưởng cả năm 2010 lêntới 11% GDP, gấp hơn 1,5 lần so với 6,7 % năm 2009, xấp xỉ con số 10,9%năm 2008 và 11,2% năm 2007
Trang 30Giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố tăng 14,4%, trong đóngành công nghiệp mở rộng tăng 11,6% (đóng góp 5% vào mức tăng chung),các ngành dịch vụ tăng 11,1% (đóng góp 5,6% vào mức tăng chung), ngànhnông, lâm, thuỷ sản tăng 7,2% (đóng góp 0,5% vào mức tăng chung).
Cơ cấu kinh tế có sự cải thiện đúng hướng, trong đó dịch vụ 52,5%;công nghiệp và xây dựng 41,4%; nông nghiệp 6,1% ; GDP bình quân/người
37 triệu đồng ; khu vực kinh tế Nhà nước tạo ra khoảng 45% GDP (giảm sovới mức 52,1% năm 2005), kinh tế ngoài nhà nước tạo ra khoảng 38% GDP(tăng so với mức 31,8% năm 2005) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo
ra khoảng 17% GDP (tăng nhẹ so với mức 16,1% năm 2005) [40]
Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của
cả nước; bên cạnh đó Hà Nội là thành phố có mức thu nhập bình quân đấungười vào loại cao cả nước
Thành phố Hà Nội đã đưa ra nhiều cơ chế, chính sách, biện pháp đểphát triển dịch vụ thương mại, đặc biệt là kinh tế tư nhân, như ban hành đề ántiếp tục đổi mới cơ chế chính sách khuyến khích tạo điều kiện để kinh tế tưnhân phát triển, nêu rõ trách nhiệm chính quyền thành phố, tạo môi trườngpháp lý, môi trường xã hội thuận lợi, làm tốt công tác thông tin tuyên truyền,thực hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Có chính sách hỗ trợdoanh nghiệp tham gia hoạt động trong các ngành kinh tế chủ lực và sản xuấtcác sản phẩm mũi nhọn, chính sách hỗ trợ về khoa học công nghệ, thực hiệncác chính sách ưu đãi khen thưởng đối với doanh nghiệp có hoạt động hiệuquả cao, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ kinh phí cho các lớp học đểnâng cao nghiệp vụ quản lý, các chương trình tư vấn về sản xuất kinh doanh
Hệ thống thương mại dịch vụ Hà Nội rất đa dạng và phong phú, ngày càng cóchuyển biến đáng kể, nhất là hệ thống bán lẽ và dịch vụ Nhiều cửa hàng, siêuthị, trung tâm, các khu chợ… có tất cả ở các quận, huyện
Năm 2010 thành phố Hà Nội có tổng mức và doanh thu dịch vụ tiêudùng xã hội tăng 30,5% so với năm 2009, trong đó tổng mức bán lẻ tăng
Trang 3131,2% Hệ thống bán lẻ của Hà Nội cũng tăng nhanh chóng với mạng lướihiện tại gồm 362 chợ, 70 trung tâm thương mại, siêu thị và một loạt các hệthống cửa hàng tự chọn khác Du lịch có sự tăng trưởng tốt, khách quốc tế đến
Hà Nội là hơn 1,2 triệu lượt khách, tăng 20,5%; khách nội địa hơn 7,392 triệulượt khách, tăng 10%; doanh thu khách sạn lữ hành tăng 26,9% so với nămtrước Khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng 30,3%; khối lượng hàng hoáluân chuyển tăng 26%; doanh thu vận chuyển hàng hoá tăng 28,9%; khốilượng hành khách vận chuyển tăng 36%; khối lượng hành khách luân chuyểntăng 25,3%; doanh thu vận chuyển hành khách tăng 21,2% [40]
Mặc dù còn nhiều hạn chế, song nhìn chung mạng lưới kinh doanh pháttriển kinh tế dịch vụ thương mại Hà Nội đã ngày càng phát triển, đáp ứng chonhu cầu của dân nội thị, các vùng lân cận và du khách trong và ngoài nước
* Kinh nghiệm của Bà Rịa - Vũng Tàu:
Bà Rịa - Vũng Tàu được thành lập năm 1991 với diện tích 1.975,14
km2 (chiếm 0,6% diện tích cả nước), dân số trên 78 vạn người (chiếm 0,92%dân số cả nước) bao gồm 7 đơn vị hành chính: Thành phố Vũng Tàu, thị xã
Bà Rịa, huyện Côn Đảo, huyện Xuyên Mộc, huyện Châu Đức, huyện LongĐất, và huyện Tân Thành ví trí của tỉnh nằm ở khu vực miền Đông Nam Bộ,phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây Nam giáp thành phố HồChí Minh, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bình Thuận, phía Nam và Đông Nam giápbiển Đông, đây là cửa ngõ ra Biển Đông của cả khu vực Bà Rịa - Vũng Tàuđược xác định là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế động lực của phía nam đấtnước Đây là khu vực kinh tế năng động với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàngnăm khá cao Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong số ít tỉnh, thành có tốc độ tăngtrưởng GDP bình quân trong 4 năm cao nhất nước (15 - 20 %/năm), đứng sauthành phố Hồ Chí Minh về nộp ngân sách nhà nước (20,01%) và Bà Rịa -Vũng Tàu được coi là một tỉnh có thu nhập GDP trung bình đầu người caonhất cả nước Các mặt của đời sống xã hội được nâng cao, công - nông
Trang 32nghiệp, dịch vụ được phát triển, y tế, giáo dục được đầu tư đúng mức, cáchoạt động xã hội được quan tâm có được những thành tựu kể trên là ngay từkhi mới thành lập cơ cấu kinh tế của tỉnh được xác định là: Công nghiệp -Dịch vụ - Nông nghiệp, cơ cấu kinh tế phù hợp với những tiềm năng lợi thếcủa tỉnh đã được duy trì trong nhiều năm
Xuất phát từ một tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế so sánh về tàinguyên, vị trí địa lý để tập trung đầu tư phát triển kinh tế nói chung và pháttriển kinh tế dịch vụ nói riêng Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng động lực kinh
tế phía nam, là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh so với cả nước do
đó sẽ được ưu tiên tập trung đầu tư để phát triển nhằm tạo đà thúc đẩy cácvùng lân cận Đến nay Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong số ít tỉnh có vốn đầu tưnước ngoài lớn với số dự án trên 80 dự án, với 5 khu công nghiệp đã đi vàohoạt động đây là điều kiện để phát triển các ngành dịch vụ phục vụ sản xuấtcông nghiệp Tỉnh có lợi thế về các hoạt động dịch vụ dầu khí do các hoạtđộng thăm dò, khai thác được thực hiện trên địa bàn, kể cả đất liền và ngoàikhơi Đây là một ngành công nghiệp trọng yếu của đất nước, địa phương cóthể tham gia nhiều vào hoạt động dịch vụ phục vụ dầu khí như: Cung ứngnhân lực tại chỗ, hậu cần phục vụ đời sống, tham gia một số các dịch vụ kỹthuật, cung cấp vật tư thiết bị, tham gia bảo trì, sửa chữa các loại tàu dầu,đường ống, giàn khoan v.v
Với bờ biển dài, thềm lục địa rộng khoảng trên 1.000 km2 nên khảnăng phát triển ngành thủy sản là rất lớn, đến nay thủy sản được coi là một thếmạnh của tỉnh, như vậy các hoạt động dịch vụ hậu cần thủy sản có điều kiện
để phát triển như: Dịch vụ cung cấp xăng dầu, sửa chữa tàu, cung cấp ngư cụ,nước đá v.v Ngoài ra, bờ biển còn có nhiều chỗ độ sâu từ 15 đến 30m rấtthuận tiện cho việc xây dựng các thương cảng để phát triển ngành dịch vụhàng hải và các dịch vụ khác
Dịch vụ du lịch của tỉnh cũng là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnhđặc biệt là du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch tham quan các di tích lịch sử,
Trang 33văn hóa có giá trị như: Côn Đảo, địa đạo Long Phước, chiến khu Minh Đạm,v.v Đây là những lợi thế nhiều địa phương khác trong nước không có được.
Đặc biệt, Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh duy nhất trong cả nước có hoạtđộng khai thác dầu khí và các hoạt động khai thác dầu khí ngày càng có hiệuquả với tốc độ phát triển cao Ngoài việc khai thác dầu tại các mỏ Bạch Hổ,
mỏ Rồng, Đại Hùng và hiện tại đang đi vào khai thác các mỏ Lan Tây, Lan
đỏ, Ru bi, và tiếp tục tìm kiếm các mỏ mới, cứ một hợp đồng khai thác dầukhí thì có trên 50% là các chi phí cho hoạt động dịch vụ Như vậy để phục vụcho các hoạt động khai thác dầu khí yêu cầu một khối lượng công tác dịch vụrất lớn với chi phí lên tới hàng tỷ USD, đây là thị trường không nhỏ để pháttriển dịch vụ của địa phương Nếu biết cách tổ chức thực hiện và biết đầu tưhợp lý thì hoạt động dịch vụ dầu khí không chỉ đem lại nguồn ngân sách lớn
mà còn thu hút tạo việc làm cho một số lớn lao động của địa phương, đồngthời sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác như: Công nghiệp,giao thông vận tải v.v… làm thay đổi diện mạo của địa phương
Đối với các hoạt động dịch vụ phục vụ sinh hoạt đời sống như: Cungcấp các loại lương thực, thực phẩm, các hoạt động du lịch dầu khí, nhà hàng,khách sạn v.v Đây là những công việc rất lớn và là những lợi thế của địaphương, do đó Sở Thương mại, Sở Công nghiệp, Nông nghiệp, Thủy sản, Dulịch… phải chú trọng phát triển loại dịch vụ này, tăng cường đầu tư để đảmbảo dịch vụ có chất lượng đáp ứng yêu cầu đời sống của khách hàng Hiện tại
để phục vụ cho trên 2.000 người thường xuyên làm việc trên biển (khoảng
750 ngàn xuất ăn/ năm) thì hàng năm cần tới 125 tấn thịt heo, 25 tấn thịt bò,
150 tấn thịt gà, 35 tấn cá và khoảng 1.000 tấn rau quả các loại Với địa thếthuận lợi nếu Bà Rịa - Vũng Tàu chiếm được 50% khối lượng dịch vụ này thì
có thể phát triển các vùng chuyên canh nông sản, sản xuất rau, quả sạch và vậtnuôi phát triển công nghiệp chế biến nông sản để sản xuất các sản phẩm hoặcbán thành phẩm cho tiêu dùng và sinh hoạt đem lại nguồn lợi lớn cho địa
Trang 34phương Tỉnh có kế hoạch hình thành công ty chuyên ngành phục vụ đời sốngtrên các công trình biển, tiếp tục sử dụng ngân sách của địa phương để xâydựng các khu vui chơi giải trí, nhà nghỉ cho cán bộ công nhân ngành dầu khí,nhất là cho chuyên gia nước ngoài; đối với những người có thu nhập cao vàchuyên gia nước ngoài thì nhu cầu vui chơi giải trí, du lịch không ngừng nângcao do đó cần tổ chức thực hiện các dịch vụ du lịch đường dài đến các địadanh trong nước kể cả ra nước ngoài.
Mặc dù hiện nay Bà Rịa - Vũng Tàu chưa có lực lượng đủ mạnh đểtham gia đấu thầu tất cả mọi lĩnh vực hoạt động dịch vụ dầu khí Tuy nhiên,chính quyền địa phương có những can thiệp nhất định với Petro Việt Nam,với Chính phủ để có ưu tiên phát triển những dịch vụ mà địa phương có thểđảm nhận được, làm tiền đề xây dựng cơ sở vật chất cho sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa cho địa phương
* Kinh nghiệm của Lào Cai:
Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới, có diện tích tự nhiên 6.375,08
km2, nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và
354 km theo đường bộ Lào Cai có 203,5km đường biên giới giáp với TỉnhVân Nam (Trung Quốc), trong đó có 144,3 km là sông suối và 59,2km là đấtliền; có 3 cửa khẩu Dân số toàn tỉnh 600.000 người (năm 2004) với 25 dântộc sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 65% Lào Cai có 1 thị xã và 8huyện với 163 xã, phường, thị trấn, trong đó có 125 xã vùng cao [9, tr.30-31]
Lào Cai có lợi thế về phát triển du lịch với các loại hình nghỉ dưỡng,sinh thái, leo núi, văn hoá Thiên nhiên ban tặng cho lào Cai nhiều danh lamthắng cảnh nổi tiếng gắn với các địa danh như: Sa pa, Bắc Hà, khu du lịch Sa
Pa nổi tiếng trong nước và quốc tế và là một trong những trọng điểm du lịchquốc gia Hơn nữa Lào Cai lại tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) mộttrong 4 tỉnh, thành phố có kinh tế du lịch phát triển nhất Trung Quốc Hàngnăm có tới 2,5 triệu lượt khách quốc tế, đa số du khách đến Vân Nam đềumuốn sang du lịch Việt Nam qua cửa khẩu Lào Cai và ngược lại
Trang 35Bên cạnh đó, Lào Cai còn có lợi thế về phát triển dịch vụ thương mại.Nằm trên tuyến hành lang kinh tế động lực Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội -HảiPhòng, với cửa khẩu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu là cửa ngõ thông thương lớnnhất phía Bắc nối Việt Nam, các nước ASEAN với miền Tây Nam rộng lớncủa Trung Quốc Cửa khẩu quốc tế Lào Cai hội tụ đủ các loại hình vận tải nhưđường sắt, đường bộ, đường sông và khả năng phát triển đường hàng không.Đây cũng là vùng đệm quan trọng nhất trong chiến lược xây dựng khu mậudịch tự do ASEAN + Trung Quốc trong vài ba năm tới.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, Đảng bộ và chính quyền Lào Cai
đã tập trung chỉ đạo việc phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển dịch vụthương mại và du lịch phù hợp với điều kiện của địa phương
- Đầu tư xây dựng, phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tếquan trọng hàng đầu của Tỉnh Phát triển đa dạng các loại hình du lịch nhằmkhai thác có hiệu quả các lợi thế về cảnh quan, môi trường, các di tích lịch sử-văn hoá, đặc biệt chú trọng phát triển du lịch văn hoá gắn với phong tục tậpquán, lễ hội dân tộc, bảo đảm phát triển bền vững Nghiên cứu xây dựng cáctuyến tour du lịch Mục tiêu đến 2010, Lào Cai sẽ đón 500 ngàn lượt khách
du lịch với tổng doanh thu đạt 200 tỷ đồng
- Tập trung đầu tư vào các công trình: Xây dựng cơ sở hạ tầng cụm đôthị Lào Cai, Tập trung đầu tư phát triển khu cửa khẩu quốc tế Lào Cai và khuthương mại Kim Thành đảm bảo cho yêu cầu phát triển kinh tế,thương mại vàdịch vụ trước mắt và tương lai lâu dài
- Thực hiện các chính sách khuyến khích thu hút đầu tư riêng biệt củaTỉnh như: Nếu đầu tư vào địa bàn Tỉnh sẽ được giảm 50% tiền thuê đất so vớiquy định hiện hành của chính phủ Ngoài ra nếu đầu tư vào khu vực kinh tếcửa khẩu thì được giảm tiếp 50% tiền thuê đất (tức giảm 75% so với quy địnhhiện hành của chính phủ)… Tạo điều kiện để tổ chức và cá nhân đầu tư hoạtđộng sản xuất kinh doanh tại Lào Cai với quan điểm: "Doanh nghiệp phát tài,Lào Cai phát triển”
Trang 36- Khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia hoạt độngthương mại, có chính sách ưu đãi đối với hoạt động thương mại vùng cao,vùng sâu, vùng ven biên giới.
- Hình thành tụ điểm thương mại có qui mô phù hợp với từng địa bàn
để có thể đáp ứng nhiều hình thức hoạt động thương mại
- Phát triển hệ thống chợ ở các trung tâm xã đặc biệt là ở vùng cao
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho quận 4, thành phố Hồ Chí Minh
Từ nghiên cứu thực tiễn về phát triển kinh tế dịch vụ qua các loại hình
ở thành phố Hà Nội, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và tỉnh Lào Cai, có thể rút ranhững bài học cho quận 4, thành phố Hồ Chí Minh vận dụng phát triển kinh
tế dịch vụ trong thời gian tới như sau:
Thứ nhất, đánh giá đúng tiềm năng và lợi thế về phát triển kinh tế dịch
vụ trên địa bàn, từ đó xây dựng quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triểnkinh tế dịch vụ với tư cách là bộ phận cấu thành và cụ thể hóa của quy hoạch,chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương., trong đó cầnđặc biệt quan tâm tận dụng và khai thác có hiệu quả những tiềm năng sẵn cócủa địa phương để phát triển kinh tế dịch vụ
Thứ hai, Quận 4 cần xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tạo
môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư trong hoạt động phát triểnkinh tế dịch vụ trên địa bàn như: Thành lập mới, hỗ trợ vốn, tạo thuận lợi vềmặt bằng kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực; cải cách thủ tục hành chínhtheo hướng gọn, đơn giản, đăng ký kinh doanh qua mạng internet; các biệnpháp tổ chức quản lý của các cấp chính quyền
Thứ ba, Quận hỗ trợ các doanh nghiệp mở các khoá đào tạo, tổ chức
hội thảo, tư vấn về pháp luật, cung cấp thông tin, tổ chức triển lãm hội chợ, tổchức hoạt động liên kết giữa các doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm thị trường, hỗtrợ các doanh ngiệp xúc tiến thương, xây dựng và áp dụng hệ thống các tiêuchuẩn quản lý chất lượng tiên tiến; hỗ trợ việc quảng bá các loại hình dịch vụ
Thứ tư, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của quận, hệ
thống chợ; phát triển các trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị, chính sách
Trang 37hỗ trợ mặt bằng kinh doanh như giảm tiền thuê đất, cấp quyền sử dụng đấttrong thời gian dài cho các doanh nghiệp Tập trung đầu tư vào một số côngtrình trọng điểm, không đầu tư dàn trải.
Kết luận chương 1
Phát triển kinh tế dịch vụ có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Thực tế cho thấy sự đóng góp của nó trong sảnphẩm xã hội và tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh Bởi vậy nhiều quốc gia đã
và đang quan tâm tìm những giải pháp hữu hiệu để phát triển kinh tế dịch vụ
Đối với Việt Nam hiện nay, phát triển kinh tế dịch vụ nói chung vàquận 4 nói riêng thì trong đó phát triển các loại hình: Dịch vụ tài chính ngânhàng; dịch vụ cao ốc văn phòng cho thuê; dịch vụ thương mại; dịch vụ Cảng;dịch vụ du lịch - khách sạn - khà hàng - khu vui chơi giải trí… đã trở nên cấpthiết không chỉ bắt nguồn từ yêu cầu phát huy tiềm năng, thế mạnh về điềukiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá của mình mà quan trọng hơn là từ yêu cầu tạo
ra tiền đề thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, mởrộng giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các vùng, giữa trong và ngoài nướcgóp phần cho tăng trưởng kinh tế nhanh
Cùng với sự phát triển kinh tế chung của đất nước trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, quận 4 - thành phố Hồ Chí Minh đã và đangtìm những giải pháp kinh tế, những hướng đi thích hợp nhằm chuyển dịch cơcấu kinh tế cho phù hợp với điều kiện của địa phương cũng như phù hợp vớicác mục tiêu và phương hướng phát triển của nền kinh tế đất nước Có thể nóirằng, quận 4 - thành phố Hồ Chí Minh là một quận có rất nhiều tiềm năng vàlợi thế về các điều kiện tự nhiên, xã hội để thúc đẩy phát triển nhanh chóngcác ngành kinh tế, mà đặc biệt là lĩnh vực kinh tế dịch vụ, nhất là “dịch vụCảng” Vì vậy, việc xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý có ý nghĩa hết sứcquan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương trong những năm trước mắt và những năm tiếp theo
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG KINH TẾ DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 4, THÀNH
HỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quận 4 là một quận cận trung tâm thành phố Hồ Chí Minh Sau ngàygiải phóng 30.04.1975, cùng với việc phân bố lại đất đai và nhân khẩu choviệc điều tiết mọi mặt dễ dàng và thuận tiện hơn, cơ cấu hành chính của Quận
từ 5 phường được chia nhỏ thành 18 phường, rồi 17 phường và đến nay là 15phường Trong phát triển nền kinh tế, Quận đã xác định tập trung chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng thương mại - dịch vụ - sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp đặc biệt đầu tư khai thác phát triển các loại hình dịch vụ,đồng thời quan tâm thúc đẩy phát triển kinh tế nhiều thành phần
Quận 4 là quận nội thành có vị trí địa lý đặc biệt, giáp ranh với trungtâm thành phố, có hình dạng như một cù lao tam giác với tổng diện tích là4,181km2, tỷ lệ diện tích so với thành phố là 0,1995% (xếp thứ 24/24 quậnhuyện), nằm phía Nam thành phố Hồ Chí Minh, với ba bề sông nước (sôngSài Gòn, rạch Bến Nghé và Kênh Tẻ) Đỉnh nằm phía Đông Bắc góc Bến NhàRồng - nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 05.06.1911, cạnh cầuKhánh Hội Đáy nằm ở phía Nam của Kênh Tẻ dài 4400m và cầu Tân Thuận.Chung quanh cù lao quận 4 này là sông rạch: Phía Tây Bắc là rạch Bến Nghédài 2300m giáp quận 1 và quận 5 Phía Đông Bắc một đoạn sông Sài Gòn dài2.300m giáp Thủ Thiêm quận 2, phía Nam là Kênh Tẻ giáp Tân Thuận, TânQuy Đông quận 7 và quận 8 Nối quận 4 với các quận chung quanh có nhiềucây cầu: Cầu Khánh Hội, cầu Mống, cầu Nguyễn Kiệu, cầu Calmette, cầuÔng Lãnh, cầu Kênh Tẻ, cầu Tân Thuận và bến đò Long Kiểng
Trang 39Các cơ quan, xí nghiệp, kho tàng, bến bãi do Trung ương và thành phốquản lý chiếm 84,04ha, bằng 20% diện tích đất của quận Đặc điểm địa hìnhcủa quận được bao bọc bởi sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé và Kênh Tẻ, đượcthuận lợi là có cảng biển và nhiều cảng sông nên có tiềm năng và thế mạnh vềdịch vụ Cảng Sau giải phóng, dân số toàn quận chỉ khoảng 150.000 ngànngười (hiện nay là 193.655 người, định hướng đến năm 2015 là 210.000người), trong đó dân tộc Kinh chiếm 92,91%, dân tộc Hoa chiếm 4,08% cònlại là các dân tộc khác Mật độ dân số 48.791 người/km2 đứng thứ 2/24 quận,huyện Địa giới hành chính được chia thành 15 phường, 51 khu phố và 666 tổdân phố.
Dọc theo các tuyến đường chính có những căn nhà kiên cố nhưng chỉchiếm tỷ lệ nhỏ (12,50%), và với hơn 4.000 căn nhà trên kênh rạch, ao tù vàmột số khu dân cư sống trong điều kiện môi trường môi sinh ô nhiễm năng
nề, tác động xấu đến sức khỏe của nhân dân [54]
Khu đô thị quận 4 nằm ở trung tâm thành phố gần gũi và gắn kết vớicác khu đô thị trung tâm (như quận 1) và phát triển mạnh mẽ (quận 5, quận7) Điều này làm cho quận mang hình thái sông nước, rất đặc trưng cho nềnvăn minh sông nước của đồng bằng sông Cửu Long Thiên nhiên sông nướcmang tính cách hài hòa tươi mát rất thích hợp với du lịch sinh thái Người ta
có ấn tượng quận 4 là “tam giác vàng “ được các con sông, kênh gạch ôm trọnvào lòng như một con tim của khu đô thị sầm uất bến cảng, nhưng hài hòa,thơ mộng
Dựa vào vị trí địa lý thuận lợi, thiên nhiên hiện hữu ấy, quận 4 vừađược coi là lá phổi cho quận 1 và cả thành phố Hồ Chí Minh, vừa có điều kiệngiao thông cả đường thủy lẫn đường bộ thuận tiện… đã tạo thành những lợithế rất lớn cho phát triển nhiều loại hình kinh tế dịch vụ Trên cơ sở đó, quận
đã chủ trương định hướng phát triển kinh tế địa phương theo hướng dịch vụ.Các loại hình dịch vụ được xác định ưu tiên trong đề án phát triển kinh tế dịch
Trang 40vụ gồm: Dịch vụ tài chính - ngân hàng; dịch vụ cao ốc văn phòng cho thuê;dịch vụ Cảng; dịch vụ thương mại; dịch vụ du lịch, khu vui chơi giải trí, nhàhàng, khách sạn…đã phát triển mạnh trong thời gian qua cả về số lượng, qui
mô và hiệu quả hoạt động, tạo nên một diện mạo mới về mặt kinh tế, gópphần giải quyết việc làm, tạo cơ hội làm ăn cho nhân dân quận 4, góp phầnnâng cao đời sống nhân dân, cũng cố thêm niềm tin cho nhân dân đối với sựlãnh đạo của Đảng và chính quyền quận 4
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
So với các quận, huyện trong thành phố, quận 4 là một quận còn nhiềukhó khăn Kinh tế của quận chủ yếu dựa vào các hoạt động dịch vụ Cảng trênđịa bàn quận, mức sống của dân cư thấp so với mức sống của dân cư ở một sốquận nội thành khác như quận 1, quận 3, quận 5…
- Về mật độ dân số và phân bố dân số theo các phường:
Hiện nay, quận 4 là quận có diện tích nhỏ nhất so với các quận, huyệnkhác của thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên mật độ dân số trung bình củaquận lại rất cao (48.791 người/km2), đứng thứ hai sau quận 5 và cao hơn bốnlần so với mật độ dân số của các quận nội thành của thành phố Hồ Chí Minh.Theo số liệu thống kê, dân số quận 4 tăng nhanh qua các năm, cụ thể từ năm2005- 2009 dân số quận 4 theo thứ tự là: 185.098; 188.558; 189.771; 191.928;193.655 người Tuy nhiên, dân số quận 4 tăng chủ yếu là tăng cơ học, kết quảthống kê cho thấy mỗi năm lượng dân nhập cư từ các nơi khác đến quận 4sinh sống chiếm số lượng lớn, nhất là trong những năm gần đây, phần lớn cáckhu nhà ở mới xây dựng trên địa bàn quận 4 đều do dân từ các quận 1, quận
3, và quận 5 đến mua Hơn nữa do quận 4 có vị trí gần với quận trung tâm củathành phố và là cửa ngõ thông thương với một số quận khác như quận 7,huyện Nhà Bè nên hiện nay quận 4 là đơn vị chịu áp lực rất lớn của hiệntượng tăng dân số cơ học cao