Theo đó, việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nôngthôn là một biện pháp để hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện chủtrương nêu trên của Đảng, nhằm đẩy mạnh qu
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội X của Đảng (4/2006) nêu rõ: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn,
đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao” Mới đây nhất, Nghị quyết 26 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa X ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được
coi như “luồng gió mới”, tạo đà cho sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng”.
Theo đó, việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nôngthôn là một biện pháp để hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện chủtrương nêu trên của Đảng, nhằm đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước.Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) được hiểu là quá trìnhchuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ vàquản lý xã hội và tâm lý từ sử dụng lao động thủ công là chủ yếu sang sửdụng một cách phổ biến lao động với tay nghề có công nghệ và phương pháptiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp, tiến bộ khoa học vàcông nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Nông nghiệp (NN) là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụngđất đai để trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu vànguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một sốnguyên liệu cho công nghiệp Nông thôn (NT) là phần lãnh thổ của một nướchay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự
Trang 2nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân
cư chủ yếu làm nông nghiệp
Với những đặc trưng của mình, nông nghiệp, nông thôn giữ một vai tròhết sức to lớn đối với sự phát triển của nước ta Vì thế, việc đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (CNH, HĐH NNNT) là mộtnội dung quan trọng trong đường lối CNH, HĐH nói chung
Trong thời gian vừa qua, bộ mặt NT Việt Nam đã có nhiều đổi mới, từchỗ bị thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo, đến nay đã và đang xuất khẩu gạo đứngthứ hai trên thế giới Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế, yếu kém, mànhiều năm nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu, và đáng chú ý là trong quátrình thực hiện CHN, HĐH NNNT đã nảy sinh không ít những vấn đề bức xúccần phải được quan tâm giải quyết như là: tình trạng thiếu việc làm, khoảngcách giàu nghèo và bất bình đẳng, dân trí và quan trí thấp, dịch vụ y tế vàchăm sóc sức khỏe yếu kém, năng lực quản lý xã hội thấp kém, đời sống vănhóa có nhiều biểu hiện xuống dốc, môi trường sinh thái bị ô nhiễm và suythoái đến mức báo động…
Hải Dương vốn là một tỉnh nông nghiệp, nằm trong vùng đồng bằng sôngHồng, nông nghiệp vẫn giữ tỉ trọng lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm xã hội củatỉnh, vì vậy mà thực hiện CNH, HĐH NNNT cũng giữ vai trò hết sức quantrọng Trong những năm qua, nhờ quán triệt sâu sắc sự chỉ đạo của Trungương, cộng với sự đầu tư đúng mức, thực hiện đẩy mạnh CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn ở tỉnh nên đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phầnquan trọng vào thực hiện thắng lợi các muc tiêu kinh tế xã hội của tỉnh Tuynhiên, trong quá trình thực hiện CNH, HĐH NNNT, ở tỉnh Hải Dương cũngnảy sinh những vấn đề bức xúc như của cả nước
Để hạn chế những bức xúc trên, góp phần vào việc phát triển kinh tế xãhội bền vững, cần có một công trình khoa học nghiêm túc nhằm tìm ra căn cứ
lý luận, thực tiễn; phân tích, đánh giá một cách toàn diện, khách quan, khoa
Trang 3học những thành tựu, hạn chế, những bức xúc về mặt kinh tế xã hội nảy sinhtrong quá trình CNH, HĐH NNNT; Trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống các quanđiểm, giải pháp để khắc phục, giải quyết những vấn đề bức xúc là một việc
làm hết sức cần thiết Vì lẽ đó mà tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Những vấn đề kinh tế- xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hải Dương” làm đề tài luận
văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình
2 Các công trình liên quan đến đề tài
Thời gian qua, có nhiều công trình khoa học đề cập đến vấn đề kinh tế
-xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn Đảng, Nhà nước ta và rất nhiều học giả rất quan tâm Đã
có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ đượcđăng tải, công bố như:
- PGS, TS Nguyễn Sinh Cúc (1991), Thực trạng nông nghiệp, nông thôn
và nông dân Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội
- GS,TS Đào Thế Tuấn (1986), Chiến lược phát triển nông nghiệp, Nxb
- PGS,TS Lê Đình Thắng, TS Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Tiệm (1994),
Dịch vụ nông nghiệp đồng bằng sông Hồng, Nxb nông nghiệp, Hà Nội.
- R.Barker, C.P.Timmer (1991), Ảnh hưởng của chính sách nông nghiệp: kinh nghiệm các nước châu Á và Đông Âu - những gợi ý đối với Việt Nam, Uỷ
ban kế hoạch nhà nước, Hà Nội
- Luận án tiến sĩ Lịch sử của Lê Văn Thai (1997): "Quá trình hình thành
và phát triển đường lối đổi mới trong nông nghiệp của Đảng (1975 - 1996)",
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 4- Luận án tiến sĩ Kinh tế của Phạm Ngọc Dũng(2002): "Sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành công - nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Hồng - thực trạng và giải pháp", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
- G.A, Kuznetxov (1975), Địa lý quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
Các công trình trên tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả về lý luận
và thực tiễn, song chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ kinh tế
chính trị về “Những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hải Dương” Vấn đề giải quyết những bức xúc nảy sinh trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Hải Dương còn gặpnhiều khó khăn, nhất là tạo việc làm mới, giảm khoảng cách giàu nghèo và vấn
đề môi trường Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết nhằm gópphần vào việc giải quyết những vấn đề bức xúc nảy sinh trong quá trình côngnghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hải Dương thời gian tới
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu căn cứ lý luận, thực tiễn và phân tích, đánhgiá thực trạng giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc nảy sinh trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Hải Dương, từ đó đề
xuất các phương hướng, giải pháp giải quyết những vấn đề bức xúc đó, gópphần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục tiêu trên, luận văn cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn giải quyếtnhững vấn đề kinh tế xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH
- Phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc nảysinh trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Hải Dương
Trang 5- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp giải quyết những vấn đề bức
xúc nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh Hải Dương, góp
phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc nảy
sinh trong quá trình CNH, HĐH
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: Từ năm 2006 đến nay
+ Không gian: tập trung vào một số huyện của Hải Dương như huyệnNam Sách, Cẩm Giàng, Bình Giang và thành phố Hải Dương
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mac - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh; dựa vào những quan điểm, đường lối chính sách củaĐảng và Nhà nước ta cũng như những lý thuyết của kinh tế chính trị học vềCNH, HĐH NNNT
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau: phương phápduy vật biện chứng & duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin đồng thờikết hợp sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp phân tích tổnghợp để làm rõ các nội dung của luận văn
6 Đóng góp mới về mặt khoa học và ý nghĩa của luận văn
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng giải quyết những vấn
đề kinh tế xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa trên địa bàn Tỉnh Hải Dương trong thời gian qua (2006 - 2010)
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm giải quyết những vấn
đề kinh tế xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ nay đến năm 2015 và 2020
Trang 67 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luậnvăn được kết cấu thành 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giải quyết những vấn đề
kinh tế - xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn
Chương 2: Thực trạng giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc
nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn ở tỉnh Hải Dương
Chương 3: Một số quan điểm, giải pháp giải quyết những vấn đề kinh
tế - xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hải Dương
Trang 7CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI BỨC XÚC NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI BỨC XÚC NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ NÀY
1.1.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.1.1.1 Một số quan niệm
- Công nghiệp hóa(CNH):
Công nghiệp hóa (CNH) là quá trình nâng cao tỷ trọng công nghiệp cả vềlao động, giá trị toàn bộ các ngành kinh tế của một địa phương, một quốc gia.Đây là quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội (KT - XH) từ nền kinh tế nôngnghiệp với mức tập trung tư bản nhỏ sang nền kinh tế công nghiệp với mứctập trung tư bản cao CNH là một phạm trù lịch sử CNH là một phần của quátrình hiện đại hóa (HĐH)
- Hiện đại hóa(HĐH):
HĐH là quá biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành nước nôngnghiệp hiện đại, có cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến hiện đại trong tất cả cácngành của nền kinh tế quốc dân
Ở các nước tư bản trước đây, người ta tiến hành CNH rồi sau đó mới tiếnhành HĐH Quá trình CNH, HĐH ở các nước tư bản diễn ra hàng trăm năm.Nhưng đối với nước ta hiện nay tiến hành CNH trong điều kiện bùng nổ củacuộc CMKHCN và quốc tế hóa, toàn cầu hóa nhanh chóng nên Đảng ta xácđịnh CNH phải gắn liền với HĐH Nghĩa là CNH đi đến đâu thì HĐH ngayđến đó
Trang 8Quan niệm của Đảng Cộng Sản Việt Nam:
CNH,HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt độngsản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụnglao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức laođộng cùng với công nghệ phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiệnđại của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra NSLĐ xãhội cao [5, tr.65]
Từ quan điểm trên có thể hiểu thực chất CNH, HĐH ở nước ta là quátrình tạo ra những tiền đề về vật chất, kĩ thuật, về con người, công nghệ,phương tiện, phương pháp - những yếu tố cơ bản của LLSX cho CNXH
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình đưa máy móc,thiết bị ứng dụng các phương pháp sản xuất kiểu công nghiệp vào các lĩnhvực của sản xuất nông nghiệp
Theo định nghĩa về công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đảng ta đã nêu ra tạiHội nghị Ban chấp hành Trung Ương 7 khóa VII Công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp là một quá trình kép về kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hộiđược diễn ra trong nông nghiệp
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn:
CNH, HĐH NT là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với việc đổimới căn bản về công nghệ và kỹ thuật ở nông thôn, tạo nền tảng cho việc pháttriển nhanh, bền vững nền kinh tế nông thôn
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn:
CNH, HĐH NNNT là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạtđộng sản xuất trong nông nghiệp và bộ mặt KT - XH nông thôn, biến laođộng thủ công thành lao động cơ giới, đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn; làquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng
tỷ trọng các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp nhằm khai thác mọi tiềm
Trang 9năng tạo ra năng suất lao động, hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất trong nôngnghiệp, nông thôn, từ đó biến đổi bộ mặt KT - XH nông thôn tiến gần đếnthành thị
- CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bền vững
Trong điều kiện khoa học và công nghệ hiện nay, CNH, HĐH nôngnghiệp là:
Nông nghiệp phải được tự động hóa, nghĩa là dựa vào kỹ thuật viđiện tử hiện đại, sử dụng máy móc để có thể điều chỉnh, kiểm tra,gia công và khống chế tự động Thực tế phải công xưởng hóa sảnxuất nông nghiệp, nghĩa là sản xuất các loại cây trồng vật nuôi bằngviệc khống chế nhân lực trong sản xuất; sử dụng kỹ thuật và trang bịhiện đại nhằm tiến hành cung cấp không khí, nhiệt độ, độ ẩm, ánhsáng và nước cho sự sinh trưởng của động vật, thực vật hình thànhmôi trường sinh trưởng hoàn hảo do con người khống chế, trên thực
tế đã sáng tạo ra một loại nhà máy NN Sinh vật hóa, tức là kỹ thuậtgen hóa, nuôi cấy tế bào hóa, xúc tác hóa Thực vật đa nguyên hóa,tức là phát triển nông nghiệp sa mạc, nông nghiệp biển, nông nghiệpkhoảng không vũ trụ [1, tr.177 - 390]
Quan niệm HĐH NN như vậy đã hàm chứa phát triển nông nghiệp bền vững.Vậy phát triển bền vững kinh tế NT là “sự phát triển có thể đáp ứngđược những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khảnăng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
1.1.1.2 Nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Một là: Áp dụng cách mạng khoa học công nghệ nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp, nông thôn.
Việc áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào nông nghiệptrong những năm gần đây có nhiều tiến bộ và đã có tác dụng tích cực đối vớisản xuất
Trang 10Trước hết là công nghệ sinh học đã góp phần thúc đẩy tăng năng suất củacác cây trồng vật nuôi Không chỉ các giống cây trồng tốt như lúa lai, ngô lai,lạc, đậu tương, rau, cây ăn trái, mía, chè, cà phê, cao su vv… mà cả giống vậtnuôi tốt như gà công nghiệp, lợn nhiều nạc, bò thịt, bò sữa vv… đều đượcnông dân đưa vào sử dụng rộng rãi
Các quy trình công nghệ tiến bộ với những công cụ máy móc thích hợpcũng đã và đang được phổ cập trong sản xuất Ví dụ như kỹ thuật làm mạ non
để tiết kiệm giống, tiết kiệm đất, đảm bảo chất lượng mạ tốt, năng suất lúa caođang phát triển ở một số địa phương đồng bằng sông Hồng Kỹ thuật trồngngô bầu trên đất ướt vụ đông cũng được ứng dụng đại trà Đổi mới về vật tư
kỹ thuật, công cụ sản xuất và công nghệ sản xuất nông nghiệp theo hướngCNH đã tác động tích cực đến sản xuất
Sản xuất lương thực có tốc độ tăng trưởng vượt mức tăng dân số, nênnước ta về cơ bản đã vượt qua cửa ải lương thực từ chỗ phải nhập khẩu, tiếnlên xuất khẩu gạo Sản lượng cây công nghiệp như cà phê, chè, cao su, cây ănquả, rau, đậu, đàn trâu, bò, lợn, gia cầm đều tăng
Hai là: Kết hợp phân công lao động với chuyển dịch cơ cấu kinh tế NNNT.
Phân công lao động với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nôngthôn là xu hướng vận động có tính chất khách quan, dưới sự tác động của cácnhân tố Trên thực tế, cùng với quá trình hình thành và phát triển phong phú,
đa dạng các ngành kinh tế theo hướng SXHH, thì cơ cấu giữa các ngành cũngngày càng phức tạp và luôn biến đổi theo nhu cầu của xã hội, theo đà pháttriển của thị trường vừa nâng cao hiệu quả sản xuất
Thứ ba: Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội cho NNNT.
CNH NNNT còn có nội dung quan trọng là tăng cường kết cấu hạ tầngnông thôn theo hướng CNH, HĐH, đô thị hoá phục vụ yêu cầu phát triển sảnxuất và cải thiện, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của cư dân NT
Một là: Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật thuỷ lợi cho nông nghiệp.
Trong thời gian qua, nước ta đã tập trung xây dựng và hoàn thiện một hệ
Trang 11thống công trình thuỷ lợi lớn vừa và nhỏ phục vụ nông nghiệp và nông thôn.Hiện nay Nhà nước vẫn tiếp tục đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để xây dựng một sốcông trình hồ đập lớn như Nghi Quang, Thạch Nham vv… cùng với việc xâydựng mới thì vấn đền không kém phần quan trọng là củng cố, nâng cấp hệthống đê sông, đê biển, sửa chữa các công trình thuỷ lợi xuống cấp, đảm bảonăng lực thiết kế
Hai là: Xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông nông thôn.
Trong thời gian qua, mạng lưới giao thông NT có bước phát triển nhanh.Phương tiện giao thông vận tải ở NT đến nay cũng được tăng cường cả về sốlượng và loại hình Cùng với sự tồn tại của các phương tiện thô sơ dùng sứcngười và sức súc vật, các phương tiện vận tải cơ giới ở nông thôn như xe mô tô,
ô tô, máy kéo, thuyền máy, xà lan, tàu thuỷ vv… ngày càng chiếm tỷ trọng lớn
Ba là: Xây dựng mạng lưới điện ở NT Công nghiệp năng lượng ở nước
ta phát triển đã tạo điều kiện vững chắc cho việc xây dựng mạng điện nôngthôn phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp
Bốn là: Phát triển mạng lưới bưu chính - viễn thông NT Hiện nay ở
nước ta do nông nghiệp đi vào sản xuất nông sản hàng hoá nên đã có nhu cầuphát triển mạng lưới bưu chính - viễn thông nông thôn, các phương tiệntruyền thanh, truyền hình làm cầu nối về thông tin giữa các vùng Điện khíhoá nông thôn được mở rộng là cơ sở thuận lợi cho việc phát triển mạng lướibưu chính viễn thông NT
Năm là: Phát triển mạng lưới giáo dục , y tế NT
Mạng lưới giáo dục phát triển nâng cao dân trí, là trực tiếp phục vụ choCNH, HĐH NNNT Hệ thống giáo dục NT nước ta bao gồm từ mẫu giáo nhàtrẻ, đến các trường tiểu học và trung học Về hướng nghiệp, dạy nghề cả nước
có gần 400 trung tâm ở các huyện Nhìn vào số lượng trường sở của mạnglưới giáo dục ở NT, chúng ta có thể thấy rõ sự quan tâm rất lớn của Đảng vàNhà nước ta, sự đóng góp tích cực của nhân dân địa phương
Trang 12Mạng lưới y tế NT cũng có tác động trực tiếp đến CNH NNNT Trongnhiều năm qua ở NT đã hình thành mạng lưới y tế cơ sở và đội ngũ cán bộ y
tế phục vụ cộng đồng nông thôn trong cả nước
Sáu là: Phát triển công nghiệp chế biến các sản phẩm của nông nghiệp
Từ đầu những năm 90 đến nay nhờ đổi mới, các ngành công nghiệp chếbiến đang được khôi phục và bắt đầu phát triển
Nghề chế biến nông sản bao gồm chế biến lương thực, thực phẩm, chếbiến hoa màu, chế biến lâm sản và chế biến thuỷ sản
Chế biến lương thực, thực phẩm chủ yếu là xay xát gạo
Chế biến hoa màu bao gồm công nghiệp chế biến mía đường, chế biếnrau quả, chế biến chè, chế biến cà phê
Công nghiệp chế biến thuỷ sản có bước phát triển mới trong các thànhphần kinh tế Nhiều xí nghiệp chế biến đông lạnh quốc doanh của các địaphương được xây dựng phục vụ chế biến tôm, cá xuất khẩu Các hộ tư nhân
mở nhiều cơ sở chế biến với các quy mô khác nhau để chế biến nước mắmtôm cá khô, rau câu, đông lạnh…vv
Phát triển nghề dệt, may mặc, thêu ren, nghề thủ công mỹ nghệ nghềđóng đồ gỗ cao cấp, chạm khắc gỗ, khảm trai, sơn mài…
Bảy là: Phát triển các ngành, nghề truyền thống.
Chúng ta xây dựng ngành nghề truyền thống trên cơ sở lịch sử làng xã
mà trong đó tồn tại cái hợp lý và cả cái không hợp lý Hàng bao đời nay, làng
xã là đơn vị hành chính trực tiếp nhất với người dân ở nông thôn, là cơ sởkinh tế cung cấp sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp cho đất nước và lànguồn nhân lực cho mọi hoạt động KT - XH
Quá trình phát triển tự nhiên làng xã cổ truyền là tự phát, hỗn canh, hỗn
cư manh mún chỉ phù hợp với nền sản xuất tiểu nông Ngày nay, trong giaiđoạn mới với nền kinh tế thị trường phát triển theo đà đi lên và thay đổi của
xã hội, sự giao lưu giữa thành thị và nông thôn ngày càng mở rộng; nhiều
Trang 13làng mạc ven đô đang dần dần đô thị hoá Các “phố làng” đang xuất hiệnngày càng nhiều với hình thức kiến trúc du nhập từ đô thị đang làm mất dầnnét đặc trưng của làng.
Việc sản xuất ở các làng xã tự phát triển theo hệ thống kinh tế hộ giađình Cơ cấu sản xuất, kinh doanh được thay đổi dẫn đến sự phân hoá nghềnghiệp một cách tự nhiên
Cần hướng tới mục tiêu xoá dần sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn.Muốn thế, phải phát triển các ngành nghề truyền thống tại gia đình và hợp tácsản xuất với các xí nghiệp ở đô thị Xã hội đổi mới, nền kinh tế thị trườngcũng đổi mới Khi phương thức sống thay đổi thì nhu cầu ở cũng thay đổi,dẫn đến không gian ở cũng thay đổi theo Việc bảo vệ và phát triển làng
truyền thống ven đô trong thời kỳ CNH, HĐH phải xem xét đến những yếu tố
ảnh hưởng đến chất lượng không gian ở truyền thống
Tám là: Phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ NNNT.
Ở NT sản xuất NN đã bước đầu chuyển dịch theo hướng SXHH Cácngành nghề tiểu thủ công nghiệp được phục hồi và đi vào hoạt động, đã tạo ratiền đề cho các hoạt động dịch vụ kinh tế kỹ thuật ở NT phát triển
Đến nay ở NT đã và đang hình thành các loại tổ chức hoạt động dịch vụkinh tế kỹ thuật như: dịch vụ về vốn cho sản xuất nông nghiệp và ngành nghề;dịch vụ cung ứng vật tư kỹ thuật cho sản xuất; dịch vụ kỹ thuật sản xuất nôngnghiệp và chế biến nông sản; dịch vụ thương nghiệp mua bán sản phẩm vàhàng tiêu dùng
Các tổ chức hoạt động dịch vụ NT hiện nay có sự tham gia của nhiều thànhphần kinh tế; ở thành thị và nông thôn với nhiều hình thức khác nhau: công ty,cửa hàng, đại lý, chợ nông thôn, thương lái mua buôn, bán buôn, bán lẻ
Những năm gần đây, lượng hàng hoá lưu thông ở nông thôn tăng lên,mạng lưới chợ nông thôn có sự phát triển về số lượng, quy mô và lưu lượngchu chuyển hàng hoá, cũng như cơ cấu mặt hàng
Trang 141.1.2 Những vấn đề kinh tế xã hội bức xúc nảy sỉnh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, từ năm 1990 đến năm 2003,diện tích đất bị thu hồi để phục vụ cho các mục đích sử dụng trên lên tới697.410 ha, những năm sau đó, trung bình mỗi năm cả nước mất khoảng 50nghìn ha đất NN cho các nhu cầu phi NN Tính bình quân cứ 1 ha đất bị thu hồi
sẽ làm cho 13 lao động NN bị mất việc; riêng vùng đồng bằng sông Hồng là 15người Trong 5 năm (2001-2004), số người bị mất việc do bị thu hồi đất phục vụcho các nhu cầu trên ở Hà Nội là gần 800.000 người; Hà Nam: 12.360 người;Hải Phòng: 13.274 người; Hải Dương: 11.964 người; Bắc Ninh: 2.222 người;Tiền Giang: 1.459 người; Quảng Ninh: 997 người v.v Vì vậy, những lao động
NT đã bị thu hồi đất có rất ít cơ hội được cấp lại đất để tiếp tục sinh sống bằngnghề cũ Do đó, hàng triệu người, chủ yếu là nông dân lâm vào cảnh không cóhoặc thiếu việc làm, thu nhập giảm hoặc không có hoặc thu nhập
Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợcho người dân những vùng bị thu hồi đất như chính sách định cư tại chỗ, hỗ
Trang 15trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, nhưng do nhiều yếu tố khách quan và chủquan nên số lượng nông dân mất việc làm, thiếu việc làm vẫn chưa thể khắcphục triệt để.
Thực tế hiện nay cho thấy, việc làm của người nông dân đang biếnchuyển theo các hướng: (I) việc làm thuần nông vẫn tiếp tục được duy trì theothời vụ, nhưng đang giảm dần về số lượng; (II) một số chuyển hẳn sang thựchiện mô hình kinh tế nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn (phát triển nông trại,phát triển các loại cây nông, công nghiệp hàng hoá), tuy nhiên số này còn rấtít; (III) một số khác chuyển sang tìm kiếm cơ hội việc làm phi nông nghiệpngoài thời vụ nông nghiệp; (IV) trở thành nguồn lực lao động xuất khẩu củaquốc gia
Người nông dân hiện vẫn làm các công việc mang tính chất thủ công vàthời vụ Đúng vụ sản xuất nông nghiệp thì công việc của họ là thuần nông,ngoài thời vụ kể trên phần lớn là họ chuyển sang các lao động phổ thông khácnhư gia công thêm một số mặt hàng thủ công truyền thống (đối với nhữngvùng nông thôn có làng nghề), buôn bán nhỏ - tham gia lưu thông hàng hoá từnông thôn ra thành thị (bán buôn, bán lẻ các mặt hàng rau quả, lương thực,thực phẩm), tham gia vào các chợ lao động ở những thành phố lớn như: HàNội, Thành phố Hồ Chí Minh Do tính chất công việc phổ thông, mang tính
sự vụ nên thu nhập của họ không cao và không ổn định
Bên cạnh đó, do tình trạng thiếu việc làm nên hiện tượng ly nông ra các
đô thị kiếm sống rất lớn Một bộ phận rất lớn nông dân mất đất phải tự tìmvịêc làm giản đơn một cách tự phát không ổn định với rất nhiều nghề để kiếmsống, trong đó phổ biến là các khu công nghiệp, các đô thị để làm thuê bằngcác loại dịch vụ với tiền công rẻ Hầu hết các lao động di cư là những ngườitrẻ, từ 15 - 25 tuổi Đa số lao động di cư từ nông thôn ra chỉ học hết cấp 2hoặc cấp 3, vì thế thường chỉ làm lao động giản đơn với mức lương thấp.Nguyên nhân của vấn đề này là do kế hoạch phát triển KCN không gắn với kế
Trang 16hoạch đào tạo nghề Hầu hết nông dân đều bị động khi phải chuyển đôỉ mụcđích đất sản xuất Ở một số trung tâm đào tạo nghề cơ sở vật chất và nguồnnhân lực còn yếu, kinh phí phục vụ dạy nghề và hỗ trợ việc làm cho nông dânthiếu, có nơi hầu như chưa có đội ngũ giáo viên đạt tiêu chuẩn… Giải quyếtvấn nạn di dân một cách căn cơ nhất chính là làm giảm khoảng cách đô thị vànông thôn
Thứ hai: Phân hoá giàu - nghèo bất bình đẳng xã hội gia tăng.
Những năm vừa qua, Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách khác nhaunhằm thu hẹp phân hoá giàu nghèo giữa các vùng như: chính sách phát triểnkinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi;chương trình 134… Tuy nhiên, do tình hình rất phức tạp trong quá trìnhchuyển đổi thể chế từ kế hoạch, tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, nênnhững thay đổi về phân phối thu nhập cũng trở nên phức tạp rất nhiều so vớitrước đây Hình thức thu nhập tài sản ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng, đángchú ý nhất là tiền cho thuê nhà, tiền hoa hồng, tiền lãi suất cho vay… Vềchênh lệch thu nhập và bất bình đẳng kinh tế giữa các vùng, giữa thành thị vànông thôn, giữa các ngành nghề khác nhau ngày càng mở rộng hơn rất nhiều
so với trước đây
Quá trình phân hoá giàu nghèo trong xã hội Việt Nam đã và đang diến ravới tốc độ nhanh Dân số ở nông thôn chiếm gần 70% dân số cả nước, nhưngthu nhập chỉ bằng một nửa tổng thu nhập quốc dân của 20% dân số sống ởthành thị Trong nông thôn, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo tiếp
tụ doãng ra Chênh lệch thu nhập và bất bình đẳng kinh tế về tài sản của cưdân, nhất là cư dân thành phố tăng lên rất nhanh và không đồng đều
Bất bình đẳng giữa các vùng trong quá trình thực hiện CNH, HĐH cũngngày càng gia tăng
Sau khi gia nhập WTO, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâurộng hơn Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao tất yếu làm thay đổi nhiều về
Trang 17mặt xã hội Các nhóm nông dân thiếu đất hay bị mất đất canh tác, bị tổnthương bởi thiên tai, dịch bệnh hay các rủi ro cá nhân, đồng bào tộc ngườithiểu số các vùng sâu, vùng xa, người di cư tự do vào các đô thị, người nghèo
và cận nghèo là nhóm những người dễ rơi xuống đáy của xã hội Đây là hệquả không tích cực nảy sinh do thực hiện CNH, HĐH
Thứ ba: Môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng.
CNH, HĐH NNNT không bền vững gây ô nhiễm và suy thoái môitrường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống sinh hoạt của cộngđồng dân cư nông thôn Những năm qua, hoạt động của nhiều doanh nghiệptrong các khu công nghiệp, các làng nghề, khu đô thị đã gây ô nhiễm môitrường rất lớn Hiện nay, tình trạng ô nhiễm đang diễn ra hết sức phức tạp,thậm chí có nơi tạo nên cả làng ung thư như thị trấn Minh Đức, Hải Phòng
Về mức độ ô nhiễm nước ở các KCN, KCX, cụm công nghiệp tậptrung Hiện nay, mức độ ô nhiễm nước ở các KCN, KCX là rất lớn.Tại cụm công nghiệp Tham Lương (TP Hồ Chí Minh), nguồn nước
bị nhiễm bẩn bởi lương nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ cácnhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt Hay ở TP Thái Nguyên, côngnghiệp thải nước bẩn từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép,luyện kim màu rất lớn Về mùa cạn, tổng lượng nước bẩn ở khuvực thành phố chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu Tình trạng
ô nhiễm rõ nhất là ở Hà Nội và Hồ Chí Minh Ở các tỉnh này, n ướcthải sinh hoạt không có hệ thộng xử lí tập trung mà trực tiếp xả ranguồn tiếp nhận Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử
lí, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý,một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hếtđược… là những nguồn chính gây ô nhiễm Không chỉ ở Hà Nội và
Hồ Chí Minh mà ở khu công nghiệp, đô thị khác như Hải Phòng,Huế, Đà Nẵng, Hải Dương… nước thải cũng không được xử lý, độ
Trang 18ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêuchuẩn cho phép [2, tr.93]
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất NN Hiệnnay, Việt Nam có gần 70% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi kết cấu
hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc khôngđược xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm vềmặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Trong sản xuất NN, do lạm dụng cácloại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông hồ, kênh mương bị ônhiễm, ảnh hưởng tới sức khoẻ nhân dân Mặt khác, do không có quy hoạchban đầu, nhiều xí nghiệp chăn nuôi, lò mổ, xí nghiệp chế biến thực phẩm nằmlẫn trong khu dân cư, sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu các giải phápgiảm thiểu ô nhiễm môi trường
Thứ tư: Đời sống văn hoá xã hội có nhiều biểu hiện xuống cấp.
Quá trình CNH, HĐH NNNT không bền vững đang tác động tiêu cựcđến đời sống văn hoá, tinh thần của cộng đồng dân cư ở nông thôn Trướcđây, nếp sống trong sạch được nông dân coi trọng, thì bây giờ lại xem nhẹ.Nhiều quan hệ cộng đồng làng bản tốt đẹp được hình thành ngàn năm đã bịphá vỡ, làng xóm trở nên mất sức đề kháng khi tình huống có vấn đề Sự gắnkết cộng đồng bị phá vỡ, vai trò phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ an toàncho làng xã được giao cho chính quyền địa phương Mặt khác, một bộ phậnnông dân bị tha hoá về đạo đức, bắt đầu có dấu hiệu của lối sống thực dụng,coi trọng vật chất hơn tình nghĩa, chạy theo lợi nhuận đơn thuần, mà khôngtính đến lợi ích của người khác hoặc của cộng đồng
Trong mấy năm qua, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, sự thay đổinày tác động mạnh mẽ tới an ninh trật tự ở NT, đời sống vật chất được cải thiện,
sự phát triển của các phương tiện nghe nhìn… đã tạo điều kiện cho một bộ phậntrong nông dân, nhất là số thanh niên lười biếng, học đòi trở nên hư hỏng Ngoài
ra, những rủi ro trong làm ăn kinh tế, những bất hạnh trong cuộc sống của người
Trang 19nông dân cũng là một trong những lý do khiến các hoạt động mê tín dị đoan cóchiều hướng gia tăng, nhiều hủ tục lạc hậu được khôi phục, phát triển ở NT
1.1.2.2 Giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc
Một là: Nhân tố khách quan.
Hai năm 2008 - 2009, nhân dân ta, đất nước ta phải đương đầu và vượtqua nhiều khó khăn, thách thức gay gắt do những biến động bất thường và tráichiều của kinh tế thế giới, làm nặng nề thêm những yếu kém nội tại của nềnkinh tế và làm hạn chế khả năng lựa chọn chính sách ứng phó và phát triểncủa chúng ta Bắt đầu là tình trạng lạm phát, giá lương thực, xăng dầu và giáhầu hết các mặt hàng nhập khẩu tăng mạnh, đẩy mặt bằng giá trên thị trườngnội địa lên cao Mặt khác, chính sách tài chính, tiền tệ được nới lỏng trongnhiều năm, nguồn vốn đầu tư của nước ngoài vào thị trường chứng khoántăng mạnh, tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng tăng cao, đặcbiệt là năm 2007 và chúng ta lại buộc phải điều chỉnh một bước giá các mặthàng than, xăng dầu, điện theo cơ chế thị trường Tác động tổng hợp củanhững yếu tố này đã làm chỉ số giá tiêu dùng ở nước ta tăng nhanh lên hai con
số, cao hơn một số nước trong khu vực, sản xuất và đời sống gặp nhiều khókhăn, gây lo lắng và phân tâm trong xã hội Trước thực trạng đó, chúng ta đã
đề ra mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm ansinh xã hội, phấn đấu duy trì tăng trưởng hợp lý với 8 nhóm giải pháp đồng
bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ trọng tâm đột xuất này Từ tháng 9 năm 2008,cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế từ Mỹ đã lan rộng trên phạm
vi toàn thế giới, tác động nghiêm trọng đến hầu hết các nền kinh tế và đã tácđộng rất tiêu cực đến nước ta, đặc biệt là xuất khẩu, nguồn vốn đầu tư, thunhập du lịch và kiều hối, làm suy giảm tăng trưởng, đe doạ ổn định kinh tế vĩ
mô và an sinh xã hội Nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vàcủa cộng đồng doanh nghiệp, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ươngĐảng, sự quản lý điều hành có hiệu quả của Nhà nước, chúng ta đã thực hiện
Trang 20có kết quả mục tiêu tổng quát của từng năm Lạm phát đã được kiềm chế, từgiữa năm 2008 tốc độ tăng giá giảm dần và năm 2009 giảm xuống còn 6,52%;tăng trưởng GDP năm 2008 đạt 6,23% Năm 2009, trong bối cảnh kinh tế thếgiới tăng trưởng âm, Việt Nam vẫn là một trong số ít các nước có tốc độ tăngtrưởng khá cao, đạt 5,32%; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; an sinh và phúc lợi
xã hội được coi trọng; chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị và trật tự an toàn
xã hội được giữ vững; thế và lực của đất nước tiếp tục được tăng cường, vịthế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao Kết quả Hội nghị các nhàtài trợ quốc tế vào tháng 12/2009 với mức cam kết tài trợ cho Việt Nam trongnăm 2010 trên 8 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay, cho thấy cộng đồng quốc
tế đánh giá cao đường lối đổi mới và sự lãnh đạo, quản lý điều hành phát triển
KT - XH của Đảng và Nhà nước ta
Hai là: Nhân tố chủ quan: Hệ thống chính trị
- Đảng: Đối với nước ta, năm 2010 là năm có ý nghĩa đặc biệt Đây lànăm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển KT - XH 5 năm 2006 - 2010 theoNghị quyết Đại hội Đảng X, năm tiến hành Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tớiĐại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, năm kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm ThăngLong - Hà Nội, cũng là năm có nhiều ngày kỷ niệm và nhiều sự kiện quốc tếlớn được tổ chức ở Việt Nam Vì vậy, việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội năm 2010 và hoàn thành Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010,tạo tiền đề thuận lợi cho việc thực hiện Chiến lược phát triển KT - XH giaiđoạn 2011 - 2020 không chỉ là trách nhiệm chính trị của mỗi cán bộ, đảngviên mà còn là đòi hỏi chính đáng của nhân dân cả nước Tại Kỳ họp thứ 6,Quốc hội đã xác định mục tiêu tổng quát cho năm 2010 là: Nỗ lực phấn đấuphục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009; tăng tính ổnđịnh kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát caotrở lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh xã hội; chủ động hội nhập và nâng caohiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn
Trang 21xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; phấn đấu đạt mức cao nhất cácchỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 Tư tưởngchủ đạo trong điều hành phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 là tăng cường ổnđịnh kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó mà bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao hơn cả
về số lượng và chất lượng đồng thời ngăn ngừa lạm phát cao trở lại Và phấnđấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2009 sẽ tạo thêm điều kiện và nguồnlực để ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội tốt hơn
Chính quyền các cấp: Vì nước ta là nước nông nghiệp do vậy nền kinh tếmuốn phát triển mạnh buộc Nhà nước và UBND các cấp phải quan tâm tớivấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đẩy mạnh CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn và việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc Bất
cứ nhà nước nào cũng có vai trò quản lý nền kinh tế và giải quyết các vấn đềkinh tế xã hội bức xức thông qua các công cụ quản lý và can thiệp bằng hệthống thể chế, chính sách để điều khiển nền kinh tế sao cho nền kinh tế tựthân vận động nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn và theo quỹ đạo đã lựachọn Để giải quyết được những vấn đề đó, nhà nước và UBND các cấp cầnphải tác động vào nông nghiệp, nông thôn thông qua những chính sách chủyếu, đó là:
Chính sách ruộng đất: Để phát triển nông nghiệp nông thôn thì Nhà nướccần phải có những chính sách khuyến khích nông dân thực hiện đồn điền, dồnthửa và tạo điều kiện cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy định.Chính sách thuế: Nhà nước điều chỉnh làm sao cho chính sách thuế phùhợp với từng địa phương Chính sách thuế có vai trò quan trọng trong việcđiều tiết lợi ích giữa các thành phần kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ởnông thôn
Chính sách khoa học công nghệ: Nhà nước cần đưa ứng dụng khoa họccông nghệ vào sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý, phù hợp với nhu cầusản xuất từng vùng, từng địa phương
Trang 22Chính sách đầu tư: Nhà nước và UBND các cấp cần có những chính sáchđầu tư hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn nhằm phát triển tổng thể.
Cơ chế, chính sách giải quyết các vấn đề KT - XH bức xúc:
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước và cả hệ thống chính trị củachúng ta đã có nhiều cố gắng thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực xã hội và
đã đạt được những kết quả nhất định, đặc biệt là trong lĩnh vực giảm nghèo,bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội Tuy nhiên, những kết quả này vẫn chưavững chắc, tỷ lệ tái nghèo còn cao, việc giải quyết một số vấn đề bức xúc tiến
bộ còn chậm, những bất cập này làm hạn chế thành tựu của chúng ta Nhândân cảm nhận thành quả của phát triển KT - XH một cách thực tế và cụ thểthông qua cuộc sống và môi trường phải đối diện hàng ngày Chính vì vậy đòihỏi Đảng và Nhà nước phải tạo được những chuyển biến thực sự trong việcgiải quyết những vấn đề này Không thể giải quyết các vấn đề xã hội bức xúctrong một thời gian ngắn nhưng phải tạo được những bước tiến rõ rệt
Biện pháp cơ bản để giải quyết các vấn đề trên là hoàn thiện hệ thốngpháp luật, các cơ chế chính sách, tiêu chuẩn đánh giá và chế tài xử lý, tăngcường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; tăngcường phố biến và giáo dục pháp luật; nhà nước tăng đầu tư đi đôi với huyđộng mọi nguồn lực của xã hội; đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp,trước hết là người đi đầu, đồng thời phát huy tính tích cực của cả hệ thốngchính trị tham gia vào việc giải quyết các nhiệm vụ bức xúc này
1.2 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ
-XÃ HỘI BỨC XÚC NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Trong lịch sử phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của thế giới, cónhiều vấn đề lặp lại ở các quốc gia khác nhau Thành công và thất bại của quốcgia đi trước là tài sản vô giá cho quốc gia đi sau Vì vậy để giải quyết tốt các vấn
Trang 23đề bức xúc nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH NNNT cần tham khảo kinhnghiệm một số nước trên thế giới cũng như một số tỉnh thành trong cả nước.
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới, là nước lớn nhất trongkhu vực Đông Á Sau những thất bại bi thảm về kinh tế đầu thập niên 1960,Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc đã bầu Lưu Thiếu Kỳ làm chủ tịchnước, nhưng Mao Trạch Đông vẫn nắm chức chủ tịch Đảng Dưới ảnh hưởngchủ yếu của Lưu Thiếu Kỳ, Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình khởi xướng cải cáchkinh tế, mở đầu từ Hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng cộng sản TrungQuốc (12/1978) Đây là cuộc cải tổ nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạchhóa tập trung sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc TrungQuốc theo hình thức kinh tế hỗn hợp
CNH nói chung và CNH, HĐH NNNT nói riêng ở Trung Quốc kể từ saucải cách năm 1978 đã mang lại rất nhiều thành tựu NN đã đạt được tốc độtăng trưởng rất cao Việc giải quyết vấn đề bức xúc nảy sinh trong quá trìnhCNH, HĐH ở Trung Quốc được thực hiện theo một số hướng:
- Về giải quyết việc làm ở nông thôn Trung Quốc
Việc làm là một trong những vấn đề bức xúc của Trung Quốc Trong giaiđoạn 1985 - 1990 đã có khoảng 15 triệu người di cư từ NT ra thành thị Tronggiai đoạn 2000 - 2008 con số này từ 78 triệu người lên 132 triệu người, làmcho tỷ lệ lao động nông thôn di cư ra thành thị trong tổng lao động đang làmviệc ở đô thị tăng từ 36,9% lên 46,7% Những bức xúc về việc làm ở nôngthôn đã buộc chính phủ phải tìm cách giải quyết Chính phủ, chính quyền cáccấp và nông dân dã tập trung phát triển xí nghiệp hương trấn, đồng thời xâydựng thêm nhiều thành phố trên địa bàn nông thôn
- Về việc rút lao động khỏi nông nghiệp.
Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế và thực hiện ứng dụng tiến bộ KH &
CN, số lượng và tỷ trọng lao động NN ở Trung Quốc đã không ngừng giảm từ
Trang 24391 triệu người năm 1991 còn 340 triệu người năm 2005 Tỷ trọng lao độngnông nghiệp cũng không ngừng giảm từ 68% năm 1990 còn 50% năm 1998,45% năm 2007 Sự phát triển của nông nghiệp, nhất là các ngành nghề phinông nghiệp ở nông thôn đã góp phẩn giảm lao động nông nghiệp, tăng thunhập cho dân cư nông thôn [14, tr.50].
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những quốc gia Đông Á sớm phát triển theo conđường CNH, trước hết CNH NT
- CNH của Nhật Bản, trước hết thực hiện CNH, HĐH NNNT, nhờ chủtrương đúng đó năng suất lao động NN đã tăng nhanh và đẩy nhanh chuyểndịch cơ cấu kinh tế NNNT, đảm bảo việc làm và thu nhập cho nông dân
- Việc phát triển KH & CN nông nghiệp theo hướng nghiên cứu, ứngdụng các công nghệ tiết kiệm đất Trong điều kiện của một quốc gia có quỹđất NN rất hạn hẹp, Nhật Bản đã chú trọng phát triển KH & CN nôngnghiệp theo hướng nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ tiết kiệm đất Đểphát triển KH & CN và giáo dục đào tạo cho nông dân ở nông thôn, NhậtBản đã khuyến khích phát triển các mô hình liên kết đào tạo có địa chỉ giữacác chủ thể sản xuất NN với các cơ sở đào tạo như các trường đại học, caođẳng, dậy nghề
- Để phát triển NN theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, phục vụ cho xuấtkhẩu, Nhật Bản đã đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng KT - XH nôngthôn Trong đó, ban đầu đã chú trọng xây dựng hệ thống giao thông, điện,thông tin liên lạc, nhờ đó đã tạo ra những thuận lợi lớn cho hoạt động sản xuấtcủa nông dân Nỗ lực lớn của Chính phủ và chính quyền các cấp là thực hiệnchính sách có lợi cho nông dân
- Chính sách đất đai được thực hiện theo chủ trương chia đều cho đấtnông dân Chính sách đó đã góp phần tạo ra nền sản xuất nông nghiệp với quy
mô nhỏ là chủ yếu Sau đó, hợp tác xã NN đã trở thành chru thể hỗ trợ đắc lực
Trang 25đối với việc nâng cao sức cạnh tranh của các hộ nông dân Hiện nay, 100%nông dân Nhật Bản đã vào hợp tác xã NN, vốn đầu tư trung bình của 1 HTX
là 5 triệu USD Hợp tác xã NN được tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, bìnhđẳng, dân chủ, đảm bảo lợi ích ngày càng tăng cho nông dân
- Quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn ở Nhật Bản thựchiện song hành với quá trình giải phóng lao động nông nghiệp Do đó, số laođộng được rút ra từ nông thôn đến các đô thị lớn rất ít Lao động nông nghiệpgiảm từ 15,5 triệu người xuống còn 14,5 triệu người Để giải quyết vấn đề laođộng dôi dư ở NT, Chính phủ Nhật Bản đã chủ động thực hiện chính sách đưacông nghiệp lớn từ đô thị về nông thôn trên cơ sở đặc thù của vùng nông thôn,bao gồm cả các ngành công nghiệp chế biến, cơ khí, hóa chất Ngay từ năm
1883 đã có tới 80% số nhà máy lớn được xây dựng ở nông thôn Để tạo thuậnlợi đưa công nghiệp, Chính phủ đã tập trung phát triển kết cấu hạ tầng vànguồn nhân lực NT, nhất là giáo dục đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho nôngdân Đồng thời khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thônlàm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn
- Về vấn đề CNH NNNT với bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, tiếpbiến kinh nghiệm quốc tế Năm khởi đầu của cải cách Minh Trị (1868) là thờiđiểm xuất phát của quá trình CNH, HĐH ở Nhật Bản Một trong những đặctrưng của văn hóa Nhật Bản khác với phương Tây là tính chất cộng đồng khépkín trong ứng xử xã hội, tính cạnh tranh cá thể tương đối yếu Với đặc trưng
đó, Nhật Bản tìm con đường đi riêng của mình Đó là phát huy đến mức tối đasức mạnh văn hóa dân tộc Trong giai đoạn đầu của thời kỳ Minh Trị đã từnghình thành hai quan điểm đối nghịch nhau Một bên gay gắt phê phán văn hóadân tộc là bảo thủ, lạc hậu Điển hình cho quan điểm này là Arinori Mori.Dưới ảnh hưởng của khuynh hướng này, đã có thời ngườià Nhật rất tích cực
cổ vũ cho tư tưởng “thoát Á nhập Âu” Trái ngược với A Mori, khuynhhướng do N Motoda đứng đầu, đề cao đến mức cực đoan những giá trị văn
Trang 26hóa truyền thống Chính nhờ sự cọ xát của những quan điểm cực đoan ấy,người Nhật đã dần dần hiện ra phương thức cần thiết của họ, tiêu biểu làYukichi Eukuzawa và Keyu Nakamura Khác với khuynh hướng cực đoan,Yukichi Eukuzawa thừa nhận những hạn chế, lạc hậu của văn hóa truyềnthống, nhưng lại coi đó chính là nền để HĐH Nhật Bản, HĐH NNNT Từnhững tư tưởng đó, người Nhật đã tìm ra một phương châm chung cho côngcuộc cải cách, gói trọn trong 4 chữ Hòa Thần Dương Khí.
- Nhân tố con người được người Nhật khai thác triệt để trong việc tổchức công ty và các xí nghiệp sản xuất kinh doanh Họ dung hợp quy luậtcạnh tranh với những chuẩn mức tương trợ cộng đồng vốn có trong xã hộinông nghiệp truyền thống để xây dựng mô hình công ty mẹ - công ty con theonguyên tắc gia đạo Để xây dựng mô hình này, các doanh nghiệp Nhật đã sửdụng hàng loạt các chuẩn mực của văn hóa truyền thống Các doanh nghiệp,trang trại Nhật Bản xây dựng chế độ làm việc suốt đời và khuyến khích chatruyền con nối Với cách làm này họ đã biến các doanh nghiệp, trang trạithành 1 tập thể, mà mỗi thành viên đều thấy mình phải đem hết tài năng vàcông sức ra để xây dựng Từ những suy nghĩ đó có thể rút ra một nhận xét cótính phương pháp luận là con người là vốn quý và mỗi dân tộc đều có một nềnvăn hóa riêng của mình, nếu biết khai thác tối đa nguồn lực con người, biếntất cả những gì có trong di sản văn hóa truyền thống, thì sức mạnh của dân tộctrong sự nghiệp CNH, HĐH sẽ tăng lên gấp bội [14, tr.71]
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc nằm ở nửa phía Nam của bán đảo Triều Tiên Sau chiếntranh Triều Tiên (1953), kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh chóng, là mộttrong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sửthế giới hiện đại Từ một nước nghèo trở thành một trong những nước giàu.GDP bình quân đầu người tăng từ 100 USD (1963) lên 10000 USD (1995)
và 30000 USD năm 2008 Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống của
Trang 27nhân dân được tăng cao rất nhanh trở nên ngang bằng thậm chí cao hơn cácquốc gia phát triển khác ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ Chỉ số phát triểncon người đạt 0,912 vào năm 2006 Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế HànQuốc là kinh tế thị trường, nhưng sự điều tiết của nhà nước đóng vai tròquan trọng.
Về phát triển KH & CN, dạy nghề, cung cấp tín dụng cho nông thôn Đểthúc đẩy tăng năng suất lao động trong NN, Chính phủ Hàn Quốc đã dành30% vốn viện trợ tái thiết của Mỹ đầu tư cho KH & CN, dạy nghề, cung cấptín dụng cho NT Đồng thời, tăng cường phát triển hệ thống kết cấu hạ tầngphục vụ NNNT như xây dựng các viện nghiên cứu về nông nghiệp, hệ thốngđường sắt, đường bộ, thủy lợi, thông tin liên lạc, hệ thống điện nông thôn.Đến năm 1960 đã có tới 70% nông dân được dùng điện với giá ngang mứcthành thị
- Bên cạnh đó xây dựng kết cấu hạ tầng cho từng hộ nông dân, phát triển
xí nghiệp làng mới, giải quyết vấn đề lao động nông thôn Thực hiện chínhsách thúc đẩy phát triển nông dân bằng những việc rất cụ thể: xây dựng kếtcấu hạ tầng cho từng hộ nông dân thông qua các chương trình như ngói hóanhà ở, dựng hàng rào ; chính sách phát triển kết cấu hạ tầng cộng đồng nhưđầu tư xây dựng cầu, đường giao thông, hệ thống cung cấp điện, điện thoại,
hệ thống cung cấp nước sạch Lúc đầu nhà nước là đầu tư chủ yếu, về sauthực hiện chính sách nhà nước và dân cùng làm Đến 1973, đầu tư của nôngdân cho phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn dã tăng gấp 10 lần đầu tư nhànước Hỗ trợ của nhà nước cho nông thôn dần được chuyển sang các hìnhthức cho vay và trợ cấp Phát triển công nghiệp nông thôn dựa vào phát triểncác nhà máy vệ tinh cho các tập đoàn kinh tế
Hàn Quốc là một trong những nước có tỷ lệ rất cao trong 2 chỉ tiêu: tỉ lệcủa sinh viên du học trên tổng số sinh viên trong nước và tỷ lệ người du họctrở về trong tổng số sinh viên du học Tỷ lệ sinh viên vào đại học rất cao so
Trang 28với nhiều nước châu Á Thành quả này nhờ có các cơ chế liên quan đến việcthi tuyển và đãi ngộ người tài [14, tr.63].
1.2.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh của Việt Nam
1.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
Từ năm 2006 - 2010, toàn tỉnh đã tạo việc làm mới cho 117.500 laođộng, bình quân mỗi năm 23.500 lao động Trong lĩnh vực NNNT, tiếp tụcthực hiện có hiệu quả các dự án chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, pháttriển kinh tế trang trại, nuôi trồng thuỷ sản, hình thành vùng sản xuất chănnuôi tập trung, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giải quyết việclàm cho gần 30.000 lao động Trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, vớiviệc thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh đạt kết quả khá, một số ngành côngnghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi thế so sánh phát triển nhanh, bước đầuphát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao, các làng nghề truyềnthống được khôi phục, phát triển…đã thu hút trên 53.300 lao động
Sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn vệ sinh môi trườngnói chung và môi trường nông thôn nói riêng, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã đưa
ra các giải pháp như: Tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm củangười dân, cộng đồng trong giữ gìn vệ sinh môi trường nông thôn Mỗi làngxóm có thể chọn một ngày nhất định trong tuần hoặc trong tháng làm ngàytổng vệ sinh chung
Mỗi hộ gia đình nên có sọt chứa rác và tự phân loại rác, bỏ đúng nơi quyđịnh Phân và nước thải trong chăn nuôi cần được xử lý bằng cách xây hầmbiogas, nuôi giun, ủ phân trước khi sử dụng, không thải trực tiếp phân vànước thải ra môi trường Về lâu dài, các hộ cần đăng ký sản xuất trong cáckhu chăn nuôi tập trung, đưa các trang trại ra ngoài đồng theo quy hoạch; xâydựng và sử dụng loại nhà tiêu hai ngăn, hay nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh.Trong sản xuất nông nghiệp, cần tuyên truyền và hướng dẫn người dânhạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thu gom vỏ bao đúng nơi quy định để
Trang 29xử lý Tăng cường sử dụng phân xanh, phân hữu cơ tại chỗ kết hợp với phânhoá học, không dùng phân tươi bón trực tiếp cho cây trồng.
Ở nhiều địa phương trong tỉnh Vĩnh Phúc đã xuất hiện phong trào xâydựng nhà chứa rác, thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng Đơn cử như ởhuyện Lập Thạch, những ngôi nhà đó xuất hiện trên khắp các cánh đồng, gópphần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm
1.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Về giải quyết việc làm: Bắc Ninh đã dành gần 6 tỷ đồng hỗ trợ các doanhnghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực địaphương Các doanh nghiệp đào tạo và sử dụng lao động đảm bảo thời gianlàm việc liên tục từ một năm trở lên, mức hỗ trợ 380.000 đồng/ người/ tháng,thời gian tối đa không quá 5 tháng
Theo khảo sát của ngành công thương Bắc Ninh, ngành nghề phi nôngnghiệp nông thôn đã thu hút, sử dụng tới trên 105.600 lao động, chiếm 24,9 %tổng số lao động nông thôn và được cơ cấu theo 10 nhóm ngành nghề cơ bảnnhư sản xuất kinh doanh tổng hợp, thương nghiệp, đồ gỗ dân dụng, đồ gỗ mỹnghệ, xây dựng dân dụng, chế biến nông, lâm, thủy sản Ngành nghề phinông nghiệp này chủ yếu là những nhóm ngành tiểu thủ công nghiệp sử dụng
số lượng lớn lao động và nguồn nguyên vật liệu tại chỗ, phù hợp với điều kiện
tổ chức sản xuất theo qui mô hộ gia đình Ngoài những sản phẩm cùng loạivới các sản phẩm được sản xuất trong nước, trong khu vực ASEAN, TrungQuốc có một số sản phẩm nổi tiếng có lợi thế cạnh tranh như đồ gỗ mỹ nghệ,
đồ đồng, đồ nhôm và được sản xuất, tiêu thụ hàng năm với sản lượng lớn Tuy nhiên, một số ngành nghề và sản phẩm truyền thống của tỉnh đang kémphát triển, thậm chí đang bị mai một như chế biến tơ tằm, mây tre đan, gốm
sứ gia dụng, tranh dân gian Để ngành nghề phi nông nghiệp nông thôn tiếptục phát triển, tỉnh Bắc Ninh đang triển khai thực hiện 6 nhóm giải pháp vềtuyên truyền phổ biến pháp luật, qui hoạch phát triển ngành nghề, có chính
Trang 30sách thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại, hỗ trợ giới thiệu sản phẩm, tổ chứcđào tạo ngành nghề, đào tạo nguồn nhân lực
Về vấn đề giải quyết ô nhiễm môi trường Để khắc phục tình trạng ônhiễm môi trường ngày càng gia tăng, tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng Quy chếbảo vệ môi trường, trong đó bao gồm nhiều biện pháp “mạnh tay” như cắtđiện, ngừng cấp vốn vay đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường Riêngtrong năm 2009 đã có 21 cơ sở tái chế nhựa thuộc xã Đông Phong, huyện YênPhong bị cắt nguồn cung cấp điện do vi phạm các quy định của Luật bảo vệmôi trường Ngoài ra, Bắc Ninh cũng thực hiện một số biện pháp khác nhưtriển khai quy hoạch bãi chôn lấp rác thải tập trung, áp dụng thử nghiệm một
số giải pháp như sản xuất sạch, các biện pháp quản lý môi trường, các môhình xử lý chất thải dạng khí, nước…
- Về giải quyết tham nhũng UBND tỉnh đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác cảicách hành chính theo hướng công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quanNhà nước, đơn giản hoá 820 thủ tục hành chính, đã khai trương và đưa vào hoạtđộng mô hình “Một cửa liên thông hiện đại” tại 4 đơn vị cấp huyện là UBNDthành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 2 huyện Tiên Du, Thuận Thành Các SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động thương binh và xã hội, UBNDcác huyện Thuận Thành, Gia Bình, Yên Phong được cấp giấy chứng nhận ápdụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000, nângtổng số đơn vị được cấp giấy chứng nhận trên địa bàn tỉnh lên 23 đơn vị
1.2.2.3 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Dương là nơi thíchhợp trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế, xuất khẩu Bình Dương còn lànơi có nhiều khoáng sản cho sản xuất công nghiệp vật liệu xây dựng như gạchngói, gốm sứ
Để thu hút các nhà đầu tư, Bình Dương quy hoạch dải đất Thuận An, Dĩ
An nằm ở phía bắc quốc lộ A Được sự đồng lòng giúp của người dân việc
Trang 31giải phóng mặt bằng xây dựng kết cấu hạ tầng, giao thông khu công nghiệpđược thực hiện dễ dàng Các cán bộ và các nhà đầu tư có mối quan hệ giúp đỡnhau trong những công việc gặp khó khăn, vướng mắc.
Bình Dương không dùng tiền ngân sách hoặc vay ngân hàng để xây dựngkết cấu hạ tầng mà giao toàn quyền cho nhà đầu tư nên đã phát huy hiệu quả cao.Vấn đề thủ tục hành chính được cơ chế “một chỗ, một cửa” được quántriệt, giúp cho Bình Dương được lòng và thu hút các nhà đầu tư
Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, gần thành phố HồChí Minh, có đường cao tốc đi thẳng tới sân bay Tân Sơn Nhất nên BìnhDương rất thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện chophát triển CNH, HĐH
1.2.1.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Hải Dương
Cách thực hiện giải quyết những vấn đề bức xúc nảy sinh trong quá trìnhCNH, HĐH NNNT ở các nước và các tỉnh có thể rút ra một số bài học kinhnghiệm đối với tỉnh Hải Dương:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế bằng con đường CNH, HĐH bền vững.
Trước hết thực hiện CNH, HĐH NNNT; đưa công nghiệp lớn từ đô thị vềnông thôn, song hành với quá trình giải phóng lao động NN Đồng thời,khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở NN làm vệ tinh cho cácdoanh nghiệp lớn
Thứ hai, kinh nghiệm giải quyết việc làm, rút lao động khỏi NN, ly nông
bất ly hương Bài học kinh nghiệm lớn nhất của Trung Quốc, Nhật Bản, HànQuốc, Đài Loan là chính phủ, chính quyền các cấp và nông dân đã tập trungphát triển các xí nghiệp hương trấn (Trung Quốc), doanh nghiệp làng mới(Hàn Quốc), phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng thêm nhiều thànhphố trên địa bàn nông thôn Kinh nghiệm của Nhật Bản là CNH nông nghiệp,nông thôn thực hiện song hành với quá trình giải phóng lao động nôngnghiệp Để đáp ứng với yêu cầu hội nhập WTO, Nhật Bản, Hàn Quốc, đặcbiệt quan tâm đầu tư giáo dục, đào tạo, trong việc tạo ra cơ chế để đẩy mạnh
Trang 32nghiên cứu khoa học và công nghệ và nỗ lực của doanh nghiệp, nông dântrong quá trình học hỏi nước ngoài Hay tỉnh Bắc Ninh, Vĩnh Phúc từ việc vừađào tạo vừa sử dụng lao động tại chỗ.
Thứ ba, bài học kinh nghiệm về CNH, HĐH NNNNT bền vững với việc
bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, tiếp biến kinh nghiệm quốc tế Trên cơ
sở tính chất cộng đồng khép kín trong ứng xử xã hội, tính cạnh tranh cá thểtương đối yếu, Nhật Bản phát huy đến mức tối đa sức mạnh văn hóa dân tộcbởi 4 chữ Hòa Thần Dương Khí Đặc biệt, khai thác triệt để nhân tố conngười, phát huy tối đa sức mạnh cộng đồng bằng việc dung hợp quy luật cạnhtranh với những chuẩn mực tương trợ cộng đồng vốn có trong xã hội nôngnghiệp truyền thống để xây dựng mô hình công ty mẹ - công ty con theonguyên tắc gia đạo Các doanh nghiệp, trang trại Nhật Bản xây dựng chế độlàm việc suốt đời và khuyến khích cha truyền con nối Giá trị tập thể luônluôn được đề cao, không phải bằng khẩu hiệu mà bằng cơ chế điều tiết Mộttrong những biểu hiện rõ nhất là chế độ quyết định tập thể
Thứ tư, bài học kinh nghiệm về việc thực hiện CNH, HĐH NNNT ở một
số tỉnh của Việt Nam đó là vấn đề giải quyết ô nhiễm môi trường Đây là vấn
đề cấp bách không riêng là của các tỉnh ở Việt Nam mà còn cả các nước trênthế giới Vì vậy khi Hải Dương tiến hành CNH, HĐH NNNT thì cần đưa ranhững biện pháp xử lí mạnh mẽ những KCN, KCX… của doanh nghiệp gây ônhiễm môi trường
1.3 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH, CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VÀ CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG VỀ GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI BỨC XÚC NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn Người cho đó là con đường tất yếu phải đi để xây
Trang 33dựng đất nước giàu mạnh Trong bài “Con đường phía trước” với bút danhC.K đăng trên báo Nhân dân số 2143 ngày 20/1/1969, Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ rõ: “nước ta vốn là nước nông nghiệp lạc hậu, đó là chỗ bắt đầu
đi của chúng ta… Đời sống nhân dân chỉ có thể dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách rộng rãi: dùng máy móc cả trong công nghiệp và nông nghiệp, máy sẽ chắp thêm tay cho người, làm cho sức người tăng lên gấp trăm, gấp nghìn lần và giúp người làm việc phi thường,
… đó là con đường phải đi của chúng ta”
Phát biểu tại Đại hội Công đoàn tỉnh Thanh Hoá lần thứ 6 ngày19/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định vai trò quan trọng của nôngnghiệp trong quá trình CNH, HĐH đất nước: “Nước ta là nước nôngnghiệp…, muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấynông nghiệp làm gốc Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sởphát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, lương thực chocông nghiệp và tiêu thụ hàng hoá của công nghiệp làm ra”
1.3.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp
Theo Hồ Chí Minh, nông nghiệp luôn có một vị trí hết sức đặc biệt đốivới xã hội Phát triển nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn của mọivấn đề xã hội Vì lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản hàng đầucủa con người là vấn đề ăn, mặc Đối với nước ta là một nước nông nghiệp,
Hồ Chí Minh cho rằng “nghề nông là gốc” Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâmđến nông nghiệp và phát triển nông nghiệp Trong các bài nói, bài viết Ngườiluôn nhấn mạnh đến vai trò của nông nghiệp bằng nhiều từ khác nhau: Nôngnghiệp là gốc, nông nghiệp là chính, nông nghiệp là mặt trận chính, nôngnghiệp là mặt trân cơ bản, nông nghiệp là việc quan trọng nhất… Trong khilãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâmlược, Hồ Chí Minh cho rằng vai trò của sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa đốivới sự thành bại của kháng chiến Nông nghiệp, nông thôn lúc bấy giờ có thể
Trang 34nói là toàn bộ hậu phương của cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh nhiều lần nhắcđên câu châm ngôn “thực túc binh cường” Ngay khi cuộc kháng chiến bắtđầu nổ ra, Hồ Chí Minh đã nhận định để kháng chiến chóng thành công thìphải tích cực phát triển nông nghiệp làm cơ sở, làm hậu phương cho tiềntuyến lớn [16, tr.54]
1.3.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại vừa tư cách cá nhân, vừa là
thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộcsống cá nhân hài hòa, phong phú Người đã nêu một định nghĩa về conngười: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩarộng là đồng bào cả nước” Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa baogiờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng Khi bàn vềchính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh,
Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô
cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích củamỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽkhông thể phát huy được Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủnghĩa cá nhân, Người viết: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải
là "giày xéo lên lợi ích cá nhân" Con người, với tư cách là những cá nhân,
không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộngđồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù
bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một
cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ
bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những
"người nô lệ mất nước" và "người cùng khổ" [14, tr.80]
Trang 351.3.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh về CNH, HĐH NNNT, Đảng ta
đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn và đã đạt được nhiều thành tựu Ngay từĐại hội III (9/1960), Đảng ta đã quyết tâm: “Xây dựng một nền KT - XH chủnghĩa cân đối và hiện đại kết hợp với NN, lấy công nghiệp làm nền tảng, ưutiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triểnnông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước NN lạc hậuthành một nước công nghiệp và nông nghiệp hiện đại”
Đảng ta đã xác định phát triển đất nước phải bằng sức mạnh tổng hợpkết hợp nội lực của dân tộc với sức mạnh của cả thời đại
Tại Đại hội IX (4/2001), Đảng đã chỉ rõ: “CNH, HĐH của nước ta cần và
có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt”
Đối với NNNT: “tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết
để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn”.
Đại hội X (4/2006) chủ trương: tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnhquốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là xuhướng tất yếu của nền kinh tế
Việc xác định vị trí quan trọng của NNNT và nông dân trong quá trìnhHĐH đất nước trong thời kì đổi mới là thực tế khách quan Với tỷ lệ lớn dân
cư nông thôn Việt Nam hiện nay, không có sự giàu có của nông dân, thì không
có sự giàu có của đất nước, không có HĐH NT, thì không có hiện đại hóaquốc gia
Trên cơ sở những quyết sách quan trọng của Đảng, nhiều văn bản phápluật và chính sách của Nhà nước đã được ban hành, nhằm thể chế hóa nhữngchủ trương của Đảng, như: thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ,giao đất, giao rừng lâu dài cho hộ nông dân, không thu thuế sử dụng đất nôngnghiệp, thủy lợi phí Những chính sách vĩ mô đó và sự điều hành của các
Trang 36chính quyền các cấp đã giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, tạo độnglực mới góp phần tạo ra những thành quả NNNT trong những năm qua.
1.3.2 Quan điểm của tỉnh Hải Dương
Trong sự nghiệp đổi mới, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh (tháng 1/1997) đếnnay, Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã có những quan điểm mới đúng đắn, với tưduy kinh tế năng động, nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh và truyền thống
vẻ vang của quê hương, thu hút mạnh nguồn vốn từ trong và ngoài nước, từngbước chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng CNH, HĐH HảiDương đang được biết đến như một vùng kinh tế khởi sắc và hứa hẹn pháttriển mạnh mẽ trong tương lai không xa
Phát biểu tại Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, đồng chí Bùi ThanhQuyến, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Hải Dương nhấn mạnh:Tỉnh sẽ vận dụng sáng tạo những quan điểm của Đại hội lần thứ XI của Đảng
để giải quyết những vấn đề do thực tế cuộc sống đặt ra Việc học tập sẽ liên hệchặt chẽ với thực tiễn, đặc biệt chú trọng liên hệ với tình hình chính trị, kinh
tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương, đơn vị mình, trong đó có tìnhhình thực hiện nhiệm vụ năm 2011 Mục tiêu của tỉnh Hải Dương là nâng caonăng lực, sức chiến đấu của Đảng bộ; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch,vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; huy động
và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế caohơn mức bình quân chung của cả nước, phát triển nhanh và bền vững; nângcao đời sống vật chất và tinh tinh thần của nhân dân; giữ vững an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội; tạo tiền đề để đến năm 2020, Hải Dương cơ bản trởthành tỉnh công nghiệp Tỉnh Hải Dương đặt ra mục tiêu, tổng sản phẩm GDPtăng bình quân 11%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 36-37 triệuđồng (khoảng 1.800 USD); hàng năm giải quyết việc làm cho 3,2 vạn laođộng
Trang 37Các nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh Hải Dương là: đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư để đạt các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế; tiếptục phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, đẩy mạnh chăn nuôi gắn vớicông nghiệp chế biến, phát triển kinh tế dịch vụ trong nông thôn và xây dựngnông thôn mới để đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.Tỉnh phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng cạnh tranh các ngành dịch vụ,phấn đấu giá trị sản xuất các ngành dịch vụ giai đoạn 2011 - 2015 tăng bìnhquân 14%
Kết luận chương 1: Trong chương 1, trước hết đề tài đã hệ thống hóa
những khái niệm mới nhất, công cụ nhận thức, phân tích, nhận xét, đánh giá,định hướng giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc trong thực hiệnCNH, HĐH NNNT theo hướng phát triển bền vững
Thứ hai, đề tài đã tập trung phân tích hai nhân tố quan trọng nhất góp
phần khắc phục và phát triển kinh tế, xã hội theo hướng hiện đại, phát triểnnhững bền vững ở nông thôn Việt Nam hiện nay
Thứ ba, đề tài đã nêu bật kinh nghiệm thành công và không thành công
trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc quá trình CNH, HĐH NNNT củamột số nước và 1 số tỉnh Từ việc thực hiện của các nước trên thế giới nhưTrung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số tỉnh trên cả nước như Bắc Ninh,Vĩnh Phúc, Bình Dương, Hải Dương rút ra được nhiều bài học kinh nghiệmcho việc giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội bức xúc nảy sinh trong quátrình CNH, HĐH NNNT
Trang 38ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 63,3%; đất lâm nghiệp chiếm 6,08%, đấtcanh tác 46,2%; đất ở 6,87%, đất chưa sử dụng 7,47% Tỉnh Hải Dương đượcchia thành 2 vùng chính là vùng đồi núi chiếm khoảng 11% diện tích đất tựnhiên dùng trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lấy gỗ và vùng đồng bằngchiếm 82% dùng trồng cây lương thực, rau màu, cây đặc sản.
Trang 39Khí hậu Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm,chia thành 4 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23°C, lượng mưa từ
1500 - 1700 mm, độ ẩm không khí trung bình cao từ 78 - 87% Đặc điểm khíhậu, thời tiết này thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Hệ thống sông ngòi của tỉnh khá dày đặc gồm hệ thống sông Thái Bình,sông Luộc có khả năng bù đắp phù sa cho ruộng, cung cấp nước cho sảnxuất và cũng là những tuyến giao thông đường thủy tạo điều kiện giao lưuhàng hóa trong tỉnh và ngoài tỉnh
Tài nguyên khoáng sản của tỉnh không nhiều, nhưng một số có trữ lượnglớn, giá trị kinh tế cao, là nguồn nguyên liệu để phát triển công nghiệp như đávôi, cao lanh, sét chịu lửa Đá vôi xi măng ở huyện Kinh Môn trữ lượng 200triệu tấn, chất lượng tốt, CaCO3 đạt 90 - 97%, đủ sản xuất 5 - 6 triệu tấn ximăng Cao lanh ở huyện Kinh Môn, Chí Linh trữ lượng 40 vạn tấn, tỉ lệ sắt 3oxit là 0,8 - 1,7%, nhôm 3 oxit là 17 - 19% cung cấp đủ nguyên liệu cho sảnxuất sành, sứ Sét chịu lửa của huyện Chí Linh trữ lượng 8 triệu tấn, chấtlượng tốt, cung cấp nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa Bô xít ở huyện KinhMôn trữ lượng 200.000 tấn Tuy nhiên, hiệu quả quản lý và khai thác chưa tốtnhất là than và đá
Hải Dương là vùng đất văn hiến địa linh nhân kiệt có nhiều di tích lịch sửnhư Côn Sơn - Kiếp Bạc thờ anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giớinhư Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo
Ngoài ra còn có khu miệt vườn vải thiều - Thanh Hà, làng Cò - ThanhMiện, văn miếu - Mao Điền là những nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, hấpdẫn, mang đậm nét đặc trưng của văn hóa Bắc Bộ
Hải Dương có hệ thống kết cấu hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho
KT - XH của tỉnh phát triển
Hệ thống giao thông gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, phân bố hợp
lí tạo điều kiện giao lưu thuận lợi giữa các huyện và với các tỉnh khác
Trang 40Đường bộ: có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là đường
cấp 1 cho 4 làn xe đi lại thuận tiện Quốc lộ 5 từ Hà Nội đi thành phố cảngHải Phòng, chạy ngang qua tỉnh 44 km, đây là đường giao thông chiến lược,vận chuyển toàn bộ hàng hoá xuất nhập khẩu qua cảng Hải Phòng và nội địa.Quốc lộ 18 từ Nội Bài qua Bắc Ninh đến tỉnh Quảng Ninh, đoạn chạyqua huyện Chí Linh Hải Dương dài 20 km
Quốc lộ 183, nối quốc lộ 5 với quốc lộ 18, quy mô cấp I đồng bằng.Quốc lộ 37 dài 12,4 km, đây là đường vành đai chiến lược quốc gia, phục
vụ trực tiếp cho khu du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc
Quốc lộ 38 dài 14 km là đường cấp III đồng bằng
Đường tỉnh có 13 tuyến dài 258 km là đường nhựa tiêu chuẩn cấp IIIđồng bằng
Đường sắt tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5 đápứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh
Đường thuy với 400 km đường sông cho tàu, thuyền 500 tấn qua lại dễ
dàng Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn/năm và hệ thống bến bãi đápứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi
Có thể khẳng định rằng, hệ thống giao thông trên đảm bảo cho việc giaolưu kinh tế của tỉnh nhà với các địa phương khác được thuận lợi
Về hệ thống điện, trên địa bàn tỉnh có Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại công
suất 1040 MW, hệ thống lưới điện khá hoàn chỉnh đảm bảo cung cấp điện antoàn và chất lượng ổn định Ngoài ra, tỉnh còn có 5 trạm biến áp 110/35 kV,tổng dung lượng 197 MVA và 11 trạm 35/10 KV, các trạm được phân bố đềutrên địa bàn Lưới điện 110,35 KV đảm bảo tiêu chuẩn kĩ thuật, phục vụ tốtnhu cầu cho sản xuất và sinh hoạt
Về mạng lưới bưu chính viễn thông, bưu điện tỉnh đã xây dựng mạng
lưới phủ sóng di động trên phạm vi toàn tỉnh, 100% thôn xã đều có điện thoạiliên lạc trực tiếp nhanh chóng với cả nước và quốc tế