1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giá trị chẩn đoán xơ hoá gan bằng kỹ thuật ARFI và APRI trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn ở Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

7 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị chẩn đoán xơ hoá gan bằng kỹ thuật ARFI và APRI trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn ở Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Bùi Hữu Hoàng, Võ Huy Văn, Nguyễn Đình Chương, Phan Thế Sang, Quách Tiến Phong, Nguyễn Thị Bích Dung
Trường học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 717,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày so sánh giá trị chẩn đoán xơ hoá gan của kỹ thuật ARFI, chỉ số tỷ số AST trên số lượng tiểu cầu (Aspartate aminotransferase to Platelet Ratio Index: APRI) trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn với FibroScan được sử dụng làm tiêu chuẩn tham chiếu.

Trang 1

GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN XƠ HOÁ GAN BẰNG KỸ THUẬT ARFI

VÀ APRI TRÊN BỆNH NHÂN VIÊM GAN SIÊU VI B MẠN

Ở BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bùi Hữu Hoàng 1,2 , Võ Huy Văn 1 , Nguyễn Đình Chương 1 , Phan Thế Sang 1 , Quách Tiến Phong 1 ,

Nguyễn Thị Bích Dung 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Kỹ thuật tạo hình bằng xung lực bức xạ âm (ARFI: Acoustic Radiation Force Impulse) là một

phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm nhập đơn giản, phù hợp để đánh giá xơ hoá gan ở Việt Nam Kỹ thuật này đã được ứng dụng khá phổ biến trên thế giới, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu chứng minh giá trị của ARFI tại Việt Nam, đặc biệt là trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn

Mục tiêu: So sánh giá trị chẩn đoán xơ hoá gan của kỹ thuật ARFI, chỉ số tỷ số AST trên số lượng tiểu cầu

(Aspartate aminotransferase to Platelet Ratio Index: APRI) trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn với FibroScan được sử dụng làm tiêu chuẩn tham chiếu

Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang phân tích trên 114 bệnh nhân ≥18 tuổi đến khám tại

phòng khám Viêm Gan, bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ 02/2019 đến 03/2021 Các giá trị kết quả của ARFI và APRI được phân tích nhằm tìm mối tương quan, giá trị chẩn đoán, ngưỡng cắt trong chẩn đoán xơ hoá gan đáng kể trở lên (F ≥2) và xơ gan (so với FibroScan)

Kết quả: Mức độ xơ hoá gan đo bằng ARFI và FibroScan có mối tương quan rất chặt (r=0,917, p <0,001),

còn APRI chỉ có mối tương quan trung bình với FibroScan (r=0,592, p <0,001) Diện tích dưới đường cong (AUROC) của ARFI trong chẩn đoán F ≥2 và XG (F4) lần lượt là 0,975 (khoảng tin cậy (KTC) 95%: 0,942 – 0,995, p <0,001) và 0,986 (KTC 95%: 0,947 – 0,999, p <0,001) Điểm cắt tối ưu của ARFI để chẩn đoán F ≥2 và F4 lần lượt là 1,3 m/s (độ nhạy: 83,3%, độ đặc hiệu: 100%), và 1,7 m/s (độ nhạy: 97%, độ đặc hiệu: 93%)

Kết luận: ARFI là phương pháp tốt để đánh giá xơ hoá gan và xơ gan ở người bệnh viêm gan siêu vi B mạn

khi so sánh với FibroScan

Từ khoá: viêm gan siêu vi B mạn, xơ hoá gan, ARFI, FibroScan

ABSTRACT

THE VALUE OF ACOUSTIC RADIATION FORCE IMPULSE IMAGING AND APRI

FOR EVALUATING LIVER FIBROSIS IN PATIENTS WITH CHRONIC HEPATITIS B INFECTION

AT UNIVERSITY MEDICAL CENTER, HO CHI MINH CITY

Bui Huu Hoang, Vo Huy Van, Nguyen Dinh Chuong, Phan The Sang, Quach Tien Phong Nguyen Thi Bich Dung * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 5 - 2021: 459 - 465

Background: Acoustic radiation force impulse (ARFI) is a simple, non-invasive method for assessment of

liver fibrosis which is compatible with Vietnamese healthcare system ARFI has been widely studied and accepted worldwide but poorly researched in Vietnam, especially in patients with chronic hepatitis B (CHB) infection

Objectives: To evaluate the correlation, performance, cut-off values of ARFI and The Aspartate

aminotransferase to Platelet Ratio Index (APRI) using trasient elastography (FibroScan) as a reference in patients

1 Khoa Tiêu Hoá, Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

2 Bộ môn Nội Tổng Quát, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

with CHB infection

Methods: In this cross-sectional study, 114 adult patients with CHB infection who visited Liver clinic at the

University Medical Center, Ho Chi Minh city from February 2019 to March 2021 were enrolled The clinical information and non-invasive liver stiffness methods (APRI, ARFI and FibroScan) were collected The Area Under the Receiver Operating Characteristic (AUROC), Pearson correlation were used to analyze the correlation and accuracy of ARFI, APRI in comparison to FibroScan

Results: ARFI correlated closely with FibroScan (r=0.917, p <0.001) while the correlation between

APRI and FibroScan was just moderate (r=0.592, p <0.001) AUROC analysis showed that the Area Under the Curve (AUC) of ARFI in diagnosing significant fibrosis and cirrhosis were 0.975 (95% confidence interval (CI): 0.942 - 0.995, p <0.001), and 0.986 (95% CI: 0.947 - 0.999, p <0.001), respectively The optimal cut-off value of ARFI for predicting significant fibrosis was 1.37 (sens: 83.3%, spec: 100%), and for cirrhosis was 1.7 (sens: 97%, spec: 93%)

Conclusion: ARFI can be a significant non-invasive technique for liver stiffness assessment in patients with

CHB infection

Keywords: chronic hepatitis B, liver fibrosis, ARFI, FibroScan

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đánh giá xơ hoá gan (XHG) là việc làm bắt

buộc khi tiếp cận một bệnh nhân viêm gan siêu

vi B mạn (VGSVBM)(1,2) Mặc dù sinh thiết gan

vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng nhưng hiện

nay hầu như không còn được sử dụng để đánh

giá XHG ở nhóm bệnh nhân này vì đây là

phương pháp xâm nhập, có thể gây biến chứng,

khó thực hiện nhiều lần để theo dõi diễn tiến

bệnh Kỹ thuật đo độ đàn hồi gan thoáng qua

bằng máy FibroScan là phương pháp không xâm

nhập, được Cục quản lý thực phẩm và dược

phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận vào năm 2013

như là tiêu chuẩn tham chiếu để đánh giá XHG

ở các bệnh gan mạn tính(3) Năm 2015, hiệp hội

nghiên cứu bệnh gan Châu Âu đã đề nghị có thể

sử dụng FibroScan là tiêu chuẩn để đánh giá xơ

hoá gan(4) Kỹ thuật tạo hình bằng xung lực bức

xạ âm (ARFI) đã có nhiều nghiên cứu chứng

minh mức độ tương quan tốt với sinh thiết gan

và FibroScan nhưng đa phần được thực hiện ở

bệnh nhân viêm gan siêu vi C mạn Tại Việt

Nam, có một số nghiên cứu so sánh giá trị chẩn

đoán XHG của ARFI khi đối chiếu với FibroScan

và sinh thiết gan nhưng lại tiến hành trên đối

tượng bệnh gan mạn nói chung(5,6).Chính vì vậy,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu so sánh giá trị

chẩn đoán XHG của kỹ thuật ARFI so với

FibroScan ở bệnh nhân VGSVBM Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đánh giá giá trị của APRI trên các bệnh nhân này, một chỉ số đã được Tổ chức

Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng để ước lượng XHG ở các quốc gia có nguồn lực y tế hạn chế(7)

Mục tiêu

Khảo sát giá trị chẩn đoán XHG và XG của

kỹ thuật ARFI và APRI trên bệnh nhân VGSVBM, bằng cách sử dụng giá trị kết quả của FibroScan làm ngưỡng tham chiếu Mục tiêu cụ thể bao gồm:

Khảo sát mối tương quan giữa ARFI, APRI

so với FibroScan trong đánh giá XHG ở bệnh nhân VGSVBM

Khảo sát giá trị, điểm cắt tối ưu trong chẩn đoán XHG đáng kể trở lên (F ≥2) và XG (F4) của ARFI, APRI ở bệnh nhân VGSVBM

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn (VGSVBM) đến khám tại phòng khám Viêm Gan, bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ 02/2019 đến 03/2021

Tiêu chuẩn chọn vào

Bệnh nhân ≥18 tuổi bị nhiễm siêu vi viêm gan B mạn (có HBsAg dương tính >6 tháng hoặc HBsAg dương tính và antiHBc IgM âm tính)

Trang 3

được đưa vào nghiên cứu(8)

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân xơ gan cổ trướng, u gan, phụ nữ

có thai, đợt cấp của viêm gan mạn (ALT tăng 5

lần so với giới hạn trên mức bình thường); viêm

gan siêu vi C mạn và viêm gan do rượu (nam

tiêu thụ >30 g cồn/ngày, nữ >20 g cồn/ngày); gan

nhiễm mỡ mức độ trung bình - nặng (CAP ≥ S2,

đo bằng máy FibroScan); kết quả ARFI,

FibroScan không đạt chuẩn (tỷ lệ thành công

<60% hay IQR >30%), người bệnh không đồng ý

tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích,

tiến cứu

Cỡ mẫu

Với mục tiêu không bỏ sót bệnh nhân XHG

đáng kể trở lên (F≥2) nên cỡ mẫu để ước tính độ

nhạy được tính toán theo công thức:

TP (True positive) + FN (False negative) =

= 31,46

N = = = 54,25

Như vậy cỡ mẫu tối thiểu là 55 bệnh nhân

nếu dựa vào tiêu chí độ nhạy trong chẩn đoán

XHG đáng kể trở lên (F≥2)

Với mục tiêu chẩn đoán chính xác bệnh nhân

XG (F4) nên cỡ mẫu để ước tính độ đặc hiệu

được tính toán theo công thức:

TN (True negative) + FP (False positive) =

= 12,98

N = = = 68,29

Như vậy cỡ mẫu tối thiểu là 69 bệnh nhân

nếu dựa vào tiêu chí độ đặc hiệu trong chẩn

đoán XG (F4)

Z là hằng số phân phối chuẩn, khi α=0,05

thì Z=1,96 Sai số của các xác suất mong muốn

(w) là 10% Pse là độ nhạy của ARFI trong

chẩn đoán XHG từ mức đáng kể trở lên, ở đây Pse=0,91 theo nghiên cứu của Kirchel G(9) Psp

là độ đặc hiệu của ARFI trong chẩn đoán XG, ở đây Psp=0,965 theo nghiên cứu của Kirchel

G(8) Pdis (tỉ lệ hiện hành) của XHG đáng kể trở lên (F ≥2) và XG (F4) trong số bệnh nhân VGSVBM lần lượt là 0,58 và 0,19 theo phân tích gộp của Lian MJ(10)

Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu là

69 bệnh nhân Thực tế, nghiên cứu của chúng tôi thu nhận được 114 bệnh nhân thoả tiêu chí

Thu thập số liệu

Bệnh nhân VGSVBM thoả tiêu chuẩn chọn vào, đồng ý tham gia nghiên cứu được thu thập thông tin theo mẫu, xét nghiệm máu và siêu âm đàn hồi trong cùng 1 ngày Siêu âm đo độ đàn hồi gan bằng kỹ thuật ARFI (máy ACUSON Juniper, Siemens Healthineers) được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa Tiêu Hoá, bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, đã được huấn luyện thuần thục Đo độ đàn hồi gan bằng FibroScan (Echosens) được thực hiện bởi các bác

sĩ ở phòng khám Gan Mật Sài Gòn Quy trình đo ARFI, FibroScan theo sự hướng dẫn của hiệp hội siêu âm thế giới(11) Độ cứng của gan đo bằng FibroScan được biểu diễn bằng đơn vị kPa trong khi đó kết quả ARFI được biểu diễn dưới dạng vận tốc sóng biến dạng (m/s) Phân độ xơ hoá gan dựa theo hệ thống phân loại METAVIR: F0 (không xơ hoá), F1 (xơ hoá gan nhẹ), F2 (xơ hoá gan đáng kể), F3 (xơ hoá gan nặng), F4 (xơ gan)(12) Ngưỡng cắt của FibroScan: F0-1 <7 KPa, F2: 7 - <9,5 KPa, F3: 9,5 - <11 KPa, F4 ≥11 KPa(8)

Độ nhiễm mỡ gan được đo đồng thời trên cùng một thể tích gan, được thể hiện bằng “thông số giảm âm được kiểm soát” CAP (Controlled Attenuation Parameter) Giá trị đo độ nhiễm mỡ CAP được thể hiện bằng đơn vị Decibel/ m (dB/ m) Kết quả của độ nhiễm mỡ của gan (CAP) cũng là giá trị trung vị (median) của 10 lần đo hợp lệ Mức độ nhiễm mỡ (Steatosis Grade (S)) được phân loại theo điểm CAP như sau: S0 < 248 dB/m, S1 (248 – 268 dB/m), S2 (268-280 dB/m) và S3 >280 dB/m(13)

Trang 4

APRI được tính theo công thức:

APRI =

Giới hạn trên của mức bình thường (Upper

Limit Normal) của AST là 40 U/L (nam) và 31

U/L (nữ) theo giá trị tham chiếu của phòng xét

nghiệm, bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM

Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

Số liệu được quản lý bằng phần mềm Excel

2010 và xử lý bằng phần mềm thống kê R 3.5.2

So sánh trung bình từ 3 nhóm trở lên bằng phân

tích phương sai 1 yếu tố (one way ANOVA)

Phân tích hậu kiểm để thấy sự khác biệt giữa

từng nhóm bằng phương pháp Tukey Sử dụng

tương quan Pearson để đánh giá mức độ tương

quan giữa APRI, ARFI với FibroScan Tính AUC

để đo lường giá trị chẩn đoán XHG đáng kể trở

lên (F ≥2) và XG (F4) của ARFI, APRI Điểm cắt

tối ưu trong chẩn đoán được xác định bằng

phương pháp Youden Chỉ số p <0,05 được xem

là có ý nghĩa thống kê

Y đức

Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng

Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của bệnh

viện ĐH Y Dược TP HCM, số 71/GCN-HĐĐĐ

ký ngày 26/06/2021

KẾT QUẢ

Từ tháng 02/2019 đến tháng 03/2021, có 114

bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu khoảng 50 tuổi, 2/3 là nam giới Đa số bệnh nhân tham gia nghiên cứu đã từng điều trị bằng thuốc kháng siêu vi B, chỉ khoảng 15% chưa điều trị Khoảng 15% bệnh nhân có tình trạng gan nhiễm

mỡ nhẹ (Bảng 1)

Bảng 1 Đặc điểm dân số nghiên cứu (N=114)

Biến số

Tuổi (năm) 51,60 ± 10,06 Giới tính (nam) 69 (60,53%) Bệnh nhân chưa điều trị 17 (14,91%) BMI (kg/m 2 ) 21,56 ± 1,91 HbsAg dương tính và anti HbcIgM âm tính 9 (7,89%)

HbsAg dương > 6 tháng 105 (92,11%) HBeAg dương tính 28 (24,56%) AST (U/L) 35,67 ± 13,07 ALT (U/L) 29,67 ± 14,45 GGT (U/L) 43,26 ± 38,58 Tiểu cầu (10 9 /L) 169,25 ± 67,97

WBC (10 9 /L) 6,14 ± 1,91

Hb (g/l) 140,39 ± 22,15 Creatinin (mg/dl) 0,91 ± 0,11 FibroScan (kPa)

Mức độ nhiễm mỡ

CAP (giá trị trung bình) 197,85 ± 37,46

Bảng 2 Vận tốc sóng biến dạng trung bình theo từng mức độ xơ hoá gan

Số lượng (%) 16 (14%) 25 (21,9%) 28 (24,6%) 13 (11,4%) 32 (28,1%) Chỉ số p ARFI (m/s) 1,11 ± 0,15 1,29 ± 0,14 1,51 ± 0,11 1,61 ± 0,15 2,3 ± 0,56 <0,001

Tỉ lệ bệnh nhân XHG F ≥2 là 64,1% Vận tốc

sóng biến dạng đo bằng ARFI (m/s) có sự khác

biệt giữa các nhóm khi phân tích phương sai

ANOVA (Bảng 2) Tuy nhiên, phân tích hậu

kiểm (post-hoc analysis) chỉ ghi nhận trị số ARFI

ở nhóm F4 khác biệt có ý nghĩa thống kê với các

nhóm còn lại Từ F3 đến F0, giữa hai nhóm liền

kề không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

giữa vận tốc sóng biến dạng của ARFI (Bảng 3)

Bảng 3 Phân tích hậu kiểm sự khác nhau về vận tốc

sóng biến dạng giữa các mức độ XHG

Sự khác biệt giữa các nhóm KTC 95% Chỉ số p

F1-F0 0,18 -0,09-0,45 0,36 F2-F0 0,4 0,13-0,66 < 0,001 F2-F1 0,22 -0.02-0,46 0,088 F3-F0 0,50 0,18-0,83 < 0,001

F4-F0 1,19 0,93-1,46 < 0,001 F4-F1 1,01 0,78-1,25 < 0,001

Trang 5

Sự khác biệt giữa các nhóm KTC 95% Chỉ số p

F4-F2 0,80 0,57-1,02 < 0,001

F4-F3 0,69 0,41-0,98 < 0,001

Mối tương quan giữa APRI, ARFI với

FibroScan trong đánh giá xơ hoá gan

APRI có mối tương quan thuận, mức độ

trung bình yếu (r=0,592) với FibroScan Mức độ

XHG đo bằng kỹ thuật ARFI so với FibroScan có

mối tương quan thuận, rất chặt chẽ (r=0,917)

(Bảng 4)

Bảng 4 Mối tương quan giữa ARFI, APRI với

FibroScan trong đánh giá xơ hoá gan

APRI 0,592 0,465 - 0,704 < 0,001

ARFI (m/s) 0,917 0,883 - 0,942 < 0,001

Giá trị chẩn đoán xơ hoá gan từ mức đáng kể

trở lên, xơ gan của APRI và ARFI

ARFI là một công cụ tốt để chẩn đoán XHG F

≥2 và F4 khi dùng giá trị kết quả của FibroScan

làm ngưỡng tham chiếu, với AUC lần lượt là 0,975 và 0,986 Với ngưỡng cắt 1,37 m/s để chẩn đoán F ≥2 thì ARFI có độ nhạy và đặc hiệu lần lượt là 83,33% và 100% Ngưỡng cắt 1,7 m/s của ARFI cho phép chẩn đoán F4 với độ nhạy và đặc hiệu lần lượt là 97% và 93% ARFI có độ tương hợp tốt với FibroScan khi chẩn đoán XHG F ≥2

và F4 với hệ số Kappa lần lượt là 0,863 và 0,849

(Bảng 5)

APRI là một công cụ có mức độ tương quan trung bình để chẩn đoán XHG F ≥ 2 và F4 khi lấy FibroScan là ngưỡng tham chiếu, với AUC lần lượt là 0,702 và 0,785 Với ngưỡng cắt 0,45 để chẩn đoán F ≥2 thì APRI có độ nhạy và đặc hiệu lần lượt là 71% và 63,5% Ngưỡng cắt 0,73 m/s của ARFI cho phép chẩn đoán F4 với độ nhạy và đặc hiệu lần lượt là 80,1% và 82,5% ARFI có độ tương hợp trung bình với FibroScan để chẩn đoán XHG F ≥2 và F4 với hệ số Kappa lần lượt là

0,557 và 0,623 (Bảng 5)

Bảng 5 Giá trị chẩn đoán XHG đáng kể trở lên, XG và ngưỡng cắt tối ưu của ARFI, APRI

Xơ hoá gan từ mức đáng kể trở lên (F ≥2)

Xơ gan (F4)

BÀN LUẬN

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Tỉ lệ XHG F ≥2 trong nghiên cứu là 64,1%,

tương đồng với các nghiên cứu khác trên đối

tượng VGSVBM ở trong nước như của Bùi Hữu

Hoàng (58%) và ở thế giới như phân tích gộp của

Lian MJ (58%)(10,14)

Vận tốc sóng biến dạng đo bằng kỹ thuật

ARFI bắt đầu có sự khác biệt khi bệnh nhân có

mức XHG F ≥2 và rõ rệt hơn ở F3 và F4 Số liệu

gián tiếp cho thấy ARFI khó có thể phân biệt

rạch ròi F0 và F1, tuy nhiên điều này không

mang nhiều ý nghĩa trên lâm sàng vì ngưỡng F

≥2 mới là cột mốc đáng lưu ý khi quản lý bệnh

nhân VGSVBM Các phân tích gộp về giá trị

chẩn đoán XHG trên bệnh nhân VGSVBM của

ARFI cũng chỉ xem xét từ mức F ≥2(15,16)

Mối tương quan giữa APRI, ARFI với FibroScan trong đánh giá xơ hoá gan

Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ XHG đo bằng kỹ thuật ARFI (m/s) và FibroScan (KPa) có mối tương quan chặt chẽ với nhau (r=0,917) Nghiên cứu tương tự như chúng tôi khi dùng ngưỡng tham chiếu bằng FibroScan của Lê Thanh Liêm (2012) và Kircheis G (2012) đều cho thấy kết quả tương đồng với hệ số tương quan lần lượt là 0,83 và 0,92(6,9) Hai nghiên cứu nói trên đều thu nhận cả người khoẻ mạnh và viêm gan do các nguyên nhân khác chứ không chỉ đơn thuần là VGSVBM như nghiên cứu của chúng tôi Do vậy, có thể thấy độ XHG đo bằng kỹ thuật ARFI và FibroScan có mối tương quan chặt với nhau trong bệnh lý gan mạn nói chung

Trang 6

Giá trị chẩn đoán XHG đáng kể trở lên và XG

của ARFI, APRI

Trong chẩn đoán XHG F ≥ 2 và F4, ARFI là

một công cụ chẩn đoán tốt, với AUC lần lượt là

0,975 và 0,986 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi

phù hợp với nghiên cứu của Lê Thanh Liêm với

AUC (F ≥2) là 0,918; của Kircheis với AUC (F ≥2)

và AUC (F4) lần lượt là 0,969 và 0,991(6,9) Khi xét

trên dân số VGSVBM nói riêng, AUC của ARFI

khi chẩn đoán XHG F ≥2 là 0,89 (KTC 95%: 0,86 –

0,91) dựa trên phân tích gộp của Xu XY (2019)(16)

Trong 11 nghiên cứu được khảo sát trong phân

tích gộp nói trên, ARFI được đối chiếu với kết

quả sinh thiết gan chứ không phải FibroScan,

cho nên giá trị chẩn đoán ARFI thấp hơn kết quả

nghiên cứu của chúng tôi Hiện tại, chúng tôi

chưa tìm được nghiên cứu nào trên bệnh nhân

VGSVBM và dùng FibroScan làm tiêu chuẩn quy

chiếu để có sự so sánh trực tiếp Dẫu rằng có sự

khác biệt AUC như trên nhưng nhìn chung ARFI

là một phương pháp có độ chính xác cao khi

chẩn đoán XHG F ≥2 và F4 Ngoài ra, nghiên cứu

của chúng tôi còn chỉ ra rằng ARFI có mức độ tương hợp tốt với FibroScan ở cả hai cột mốc XHG F ≥2 và F4 với hệ số Kappa lần lượt là 0,863, và 0,849

Giá trị ngưỡng cắt ARFI của nghiên cứu chúng tôi để chẩn đoán XHG F ≥2 cao hơn so với các nghiên cứu đơn lẻ được dẫn chứng và gần với giá trị khuyến nghị của nhà sản xuất máy ARFI (Siemens) cũng như phân tích gộp của

Friedrich-Rust M (2012) (Bảng 6)(17) Sự khác biệt này có lẽ liên quan đến dân số nghiên cứu Nishimura T đã cho thấy ở cùng một mức độ XHG, chẩn đoán bằng sinh thiết gan vẫn có sự khác biệt về độ đàn hồi gan đo bằng ARFI ở hai nhóm VGSVBM và viêm gan siêu vi C mạn (VGSVCM)(18)

Nghiên cứu của chúng tôi không đề cập đến ngưỡng xơ hoá gan nặng (F ≥3) vì theo các khuyến cáo thực hành lâm sàng thì bệnh nhân F2 và F3 sẽ có hướng xử trí tương tự, chỉ khi bệnh nhân XG tức F4 thì bắt đầu chiến lược theo dõi, tầm soát các biến chứng(1,2,7)

Bảng 6 Giá trị ngưỡng cắt ARFI (m/s) qua các nghiên cứu

Lê Thanh Liêm (2012) (6) VGSVBM, VGSVCM, người khoẻ mạnh FibroScan 1,25

Kircheis G (2012) (9) Viêm gan mạn do nhiều nguyên nhân FibroScan 1,29 1,6

Friedrich-Rust M (2012) (17) Viêm gan mạn do nhiều nguyên nhân

(phân tích gộp) Sinh thiết gan 1,34 1,55 1,80 Khuyến nghị từ nhà sản xuất

Giá trị chẩn đoán XHG F ≥2 của APRI trong

nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn trong phân

tích gộp của Xu YX (2019) trên cùng đối tượng

VGSVBM (AUC: 0,78, KTC 95%: 0,74 – 0,81)(16)

Các nghiên cứu trong phân tích gộp đều được

sinh thiết gan để so sánh, điểm khác biệt này góp

phần giải thích sự chênh lệch AUC Nguyên

nhân quan trọng hơn cả, có lẽ là do đa số bệnh

nhân trong nghiên cứu chúng tôi đều đã được

điều trị thuốc kháng siêu vi viêm gan B (85%)

Theo nghiên cứu của Kim WR (2016) thì APRI

không phù hợp để đánh giá XHG ở bệnh nhân

VGSVBM khi đang điều trị Nhóm tác giả này lý

giải rằng khi sử dụng thuốc kháng siêu vi sẽ làm cho AST, ALT giảm nhanh trong thời gian ngắn, dẫn đến sự thay đổi chỉ số APRI AST, ALT giảm phản ánh sự thoái lui của hiện tượng viêm chứ không hẳn làm cải thiện tình trạng XHG Do đó, khi bệnh nhân đang điều trị thì APRI và mức độ XHG không còn tương xứng như khi chưa điều trị(20)

KẾT LUẬN

Mức độ XHG đo bằng kỹ thuật AFRI có mối tương quan thuận, mức độ chặt chẽ (r = 0,917) với FibroScan ở bệnh nhân VGSVBM Kỹ thuật

Trang 7

ARFI là công cụ tốt để chẩn đoán XHG F ≥2 và

F4 ở bệnh nhân VGSVBM với AUC lần lượt là

0,975 và 0,986 Kỹ thuật ARFI có mối tương hợp

tốt với kỹ thuật đo đàn hồi gan bằng FibroScan,

với hệ số Kappa lần lượt là 0,863 (F ≥2) và 0,849

(F4) Ngưỡng cắt để chẩn đoán XHG F ≥2 và F4 ở

bệnh nhân VGSVBM của ARFI lần lượt là 1,37

m/s (độ nhạy 83,3%, độ đặc hiệu 100%), và 1,7

m/s (độ nhạy 97%, độ đặc hiệu 93%)

APRI có giá trị trung bình trong chẩn đoán

XHG F ≥2 và F4 ở bệnh nhân VGSVBM với AUC

lần lượt là 0,702 và 0,785 Điểm cắt của APRI lần

lượt là 0,45 (độ nhạy 71%, độ đặc hiệu 63,5%) và

0,73 (độ nhạy 80,1%, độ đặc hiệu 82,5%)

Lời cảm ơn: Nhóm nghiên cứu xin chân thành

cảm ơn công ty Siemens Healthineers đã hỗ trợ

máy siêu âm ACUSON Juniper cũng như kinh

phí nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lampertico P, Agarwal K, Berg T, et al (2017) "EASL 2017

Clinical Practice Guidelines on the management of hepatitis B

virus infection" J Hepatol, 67(2):370–398

2 Terrault NA, Lok ASF, McMahon BJ, et al (2018) "Update on

prevention, diagnosis, and treatment of chronic hepatitis B:

AASLD 2018 hepatitis B guidance" Hepatology, 67(4):1560–

1599

3 U.S Food and Drug Administration (FDA) (2013) Echosens’

FibroScan® System 510(k) Summary K123806 Manufacturer:

Echosens SA

4 EASL-ALEH (2015) Clinical Practice Guidelines: Non-invasive

tests for evaluation of liver disease severity and prognosis J

Hepatol, 63(1):237–264

5 Trần Thị Khánh Tường (2015) "Nghiên cứu giá trị chẩn đoán

xơ hoá gan bằng phối hợp kĩ thuật ARFI và APRI ở các bệnh

nhân viêm gan mạn" Luận Văn Tiến Sĩ Y Học, Đại học Y Dược

Huế

6 Le Thanh Liem, Bui Hong Linh, Le Nhat Thong, et al (2012)

"Noninvasive liver fibrosis evaluation by Acuson S2000 and

Fibroscan on 554 cases: comparision ARFI to Transient

Elastography" Poster presented at Asian Ocenian Congress of

Radiology 2012 Sidney, Australia

7 World Health Organization (2015) Guideline for the

prevention care and treatment of person with chronic hepatitis

B infection

8 Bộ Y Tế Việt Nam (2019) Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị

bệnh viêm gan vi rút B

9 Kircheis G (2012) "Evaluation of acoustic radiation force impulse imaging for determination of liver stiffness using

transient elastography as a reference" World Journal of

Gastroenterology, pp.1077

10 Lian MJ, Zhang JQ, Chen SD, et al (2019) "Diagnostic accuracy

of γ-glutamyl transpeptidase-to-platelet ratio for predicting

hepatitis B-related fibrosis: a meta-analysis" Eur J Gastroenterol

Hepatol, 31(5):599–606

11 Ferraioli G., Filice C., Castera L, et al (2015) "WFUMB Guidelines and Recommendations for Clinical Use of

Ultrasound Elastography: Part 3: Liver" Ultrasound Med Biol,

41(5):1161–1179

12 Bedossa P, Poynard T (1996) "An algorithm for the grading of

activity in chronic hepatitis C" Hepatology, 24(2); 289–293

13 Karlas T, Petroff D, Sasso M, et al (2017) "Individual patient data meta-analysis of controlled attenuation parameter (CAP)

technology for assessing steatosis" J Hepatol, 66(5):1022–1030

14 Bùi Hữu Hoàng, Nguyễn Đình Chương (2021) "Khảo sát mối tương quan giữa chỉ số GPRI và APRI với ARFI trong đánh giá

xơ hoá gan ở bệnh nhân nhiễm vi-rút viêm gan B mạn" Y Học

Thành Phố Hồ Chí Minh, 25(2):106

15 Hu X, Qiu L, Liu D, et al (2017) "Acoustic Radiation Force Impulse (ARFI) Elastography for non‑invasive evaluation of hepatic fibrosis in chronic hepatitis B and C patients: a

systematic review and meta-analysis" Med Ultrason, 19(1):23

16 Xu XY, Wang WS, Zhang QM, et al (2019) "Performance of

common imaging techniques vs serum biomarkers in assessing

fibrosis in patients with chronic hepatitis B: A systematic

review and meta-analysis" World J Clin Cases, 7(15); 2022–2037

17 Friedrich-Rust M, Nierhoff J, Lupsor M, et al (2012)

"Performance of Acoustic Radiation Force Impulse imaging for the staging of liver fibrosis: a pooled meta-analysis: Acoustic

Radiation Force Impulse meta-analysis and liver fibrosis" J

Viral Hepat, 19(2):e212–e219

18 Nishimura T, Iijima H, Nishikawa H., et al (2019) "Liver fibrosis markers as assessed by ultrasound elastography and serum samples: A large comparative study in hepatitis virus B

and C liver diseases" Hepatol Res, pp.13332

19 Ye XP, Ran HT, Cheng J, et al (2012) "Liver and Spleen Stiffness Measured by Acoustic Radiation Force Impulse Elastography for Noninvasive Assessment of Liver Fibrosis and Esophageal Varices in Patients With Chronic Hepatitis B"

J Ultrasound Med, 31(8):1245–1253

20 Kim WR, Berg T, Asselah T, et al (2016) "Evaluation of APRI and FIB-4 scoring systems for non-invasive assessment of

hepatic fibrosis in chronic hepatitis B patients" J Hepatol,

64(4):773–780

Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 15/07/2021

Ngày đăng: 14/07/2022, 14:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đặc điểm dân số nghiên cứu (N=114) - Giá trị chẩn đoán xơ hoá gan bằng kỹ thuật ARFI và APRI trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn ở Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 1. Đặc điểm dân số nghiên cứu (N=114) (Trang 4)
Bảng 2. Vận tốc sóng biến dạng trung bình theo từng mức độ xơ hoá gan - Giá trị chẩn đoán xơ hoá gan bằng kỹ thuật ARFI và APRI trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn ở Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2. Vận tốc sóng biến dạng trung bình theo từng mức độ xơ hoá gan (Trang 4)
Bảng 6. Giá trị ngưỡng cắt ARFI (m/s) qua các nghiên cứu - Giá trị chẩn đoán xơ hoá gan bằng kỹ thuật ARFI và APRI trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn ở Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 6. Giá trị ngưỡng cắt ARFI (m/s) qua các nghiên cứu (Trang 6)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w