Bài viết trình bày so sánh giá trị chẩn đoán xơ hoá gan của kỹ thuật ARFI, chỉ số tỷ số AST trên số lượng tiểu cầu (Aspartate aminotransferase to Platelet Ratio Index: APRI) trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn với FibroScan được sử dụng làm tiêu chuẩn tham chiếu.
Trang 1GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN XƠ HOÁ GAN BẰNG KỸ THUẬT ARFI
VÀ APRI TRÊN BỆNH NHÂN VIÊM GAN SIÊU VI B MẠN
Ở BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bùi Hữu Hoàng 1,2 , Võ Huy Văn 1 , Nguyễn Đình Chương 1 , Phan Thế Sang 1 , Quách Tiến Phong 1 ,
Nguyễn Thị Bích Dung 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Kỹ thuật tạo hình bằng xung lực bức xạ âm (ARFI: Acoustic Radiation Force Impulse) là một
phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm nhập đơn giản, phù hợp để đánh giá xơ hoá gan ở Việt Nam Kỹ thuật này đã được ứng dụng khá phổ biến trên thế giới, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu chứng minh giá trị của ARFI tại Việt Nam, đặc biệt là trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn
Mục tiêu: So sánh giá trị chẩn đoán xơ hoá gan của kỹ thuật ARFI, chỉ số tỷ số AST trên số lượng tiểu cầu
(Aspartate aminotransferase to Platelet Ratio Index: APRI) trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn với FibroScan được sử dụng làm tiêu chuẩn tham chiếu
Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang phân tích trên 114 bệnh nhân ≥18 tuổi đến khám tại
phòng khám Viêm Gan, bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ 02/2019 đến 03/2021 Các giá trị kết quả của ARFI và APRI được phân tích nhằm tìm mối tương quan, giá trị chẩn đoán, ngưỡng cắt trong chẩn đoán xơ hoá gan đáng kể trở lên (F ≥2) và xơ gan (so với FibroScan)
Kết quả: Mức độ xơ hoá gan đo bằng ARFI và FibroScan có mối tương quan rất chặt (r=0,917, p <0,001),
còn APRI chỉ có mối tương quan trung bình với FibroScan (r=0,592, p <0,001) Diện tích dưới đường cong (AUROC) của ARFI trong chẩn đoán F ≥2 và XG (F4) lần lượt là 0,975 (khoảng tin cậy (KTC) 95%: 0,942 – 0,995, p <0,001) và 0,986 (KTC 95%: 0,947 – 0,999, p <0,001) Điểm cắt tối ưu của ARFI để chẩn đoán F ≥2 và F4 lần lượt là 1,3 m/s (độ nhạy: 83,3%, độ đặc hiệu: 100%), và 1,7 m/s (độ nhạy: 97%, độ đặc hiệu: 93%)
Kết luận: ARFI là phương pháp tốt để đánh giá xơ hoá gan và xơ gan ở người bệnh viêm gan siêu vi B mạn
khi so sánh với FibroScan
Từ khoá: viêm gan siêu vi B mạn, xơ hoá gan, ARFI, FibroScan
ABSTRACT
THE VALUE OF ACOUSTIC RADIATION FORCE IMPULSE IMAGING AND APRI
FOR EVALUATING LIVER FIBROSIS IN PATIENTS WITH CHRONIC HEPATITIS B INFECTION
AT UNIVERSITY MEDICAL CENTER, HO CHI MINH CITY
Bui Huu Hoang, Vo Huy Van, Nguyen Dinh Chuong, Phan The Sang, Quach Tien Phong Nguyen Thi Bich Dung * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 5 - 2021: 459 - 465
Background: Acoustic radiation force impulse (ARFI) is a simple, non-invasive method for assessment of
liver fibrosis which is compatible with Vietnamese healthcare system ARFI has been widely studied and accepted worldwide but poorly researched in Vietnam, especially in patients with chronic hepatitis B (CHB) infection
Objectives: To evaluate the correlation, performance, cut-off values of ARFI and The Aspartate
aminotransferase to Platelet Ratio Index (APRI) using trasient elastography (FibroScan) as a reference in patients
1 Khoa Tiêu Hoá, Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
2 Bộ môn Nội Tổng Quát, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2with CHB infection
Methods: In this cross-sectional study, 114 adult patients with CHB infection who visited Liver clinic at the
University Medical Center, Ho Chi Minh city from February 2019 to March 2021 were enrolled The clinical information and non-invasive liver stiffness methods (APRI, ARFI and FibroScan) were collected The Area Under the Receiver Operating Characteristic (AUROC), Pearson correlation were used to analyze the correlation and accuracy of ARFI, APRI in comparison to FibroScan
Results: ARFI correlated closely with FibroScan (r=0.917, p <0.001) while the correlation between
APRI and FibroScan was just moderate (r=0.592, p <0.001) AUROC analysis showed that the Area Under the Curve (AUC) of ARFI in diagnosing significant fibrosis and cirrhosis were 0.975 (95% confidence interval (CI): 0.942 - 0.995, p <0.001), and 0.986 (95% CI: 0.947 - 0.999, p <0.001), respectively The optimal cut-off value of ARFI for predicting significant fibrosis was 1.37 (sens: 83.3%, spec: 100%), and for cirrhosis was 1.7 (sens: 97%, spec: 93%)
Conclusion: ARFI can be a significant non-invasive technique for liver stiffness assessment in patients with
CHB infection
Keywords: chronic hepatitis B, liver fibrosis, ARFI, FibroScan
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đánh giá xơ hoá gan (XHG) là việc làm bắt
buộc khi tiếp cận một bệnh nhân viêm gan siêu
vi B mạn (VGSVBM)(1,2) Mặc dù sinh thiết gan
vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng nhưng hiện
nay hầu như không còn được sử dụng để đánh
giá XHG ở nhóm bệnh nhân này vì đây là
phương pháp xâm nhập, có thể gây biến chứng,
khó thực hiện nhiều lần để theo dõi diễn tiến
bệnh Kỹ thuật đo độ đàn hồi gan thoáng qua
bằng máy FibroScan là phương pháp không xâm
nhập, được Cục quản lý thực phẩm và dược
phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận vào năm 2013
như là tiêu chuẩn tham chiếu để đánh giá XHG
ở các bệnh gan mạn tính(3) Năm 2015, hiệp hội
nghiên cứu bệnh gan Châu Âu đã đề nghị có thể
sử dụng FibroScan là tiêu chuẩn để đánh giá xơ
hoá gan(4) Kỹ thuật tạo hình bằng xung lực bức
xạ âm (ARFI) đã có nhiều nghiên cứu chứng
minh mức độ tương quan tốt với sinh thiết gan
và FibroScan nhưng đa phần được thực hiện ở
bệnh nhân viêm gan siêu vi C mạn Tại Việt
Nam, có một số nghiên cứu so sánh giá trị chẩn
đoán XHG của ARFI khi đối chiếu với FibroScan
và sinh thiết gan nhưng lại tiến hành trên đối
tượng bệnh gan mạn nói chung(5,6).Chính vì vậy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu so sánh giá trị
chẩn đoán XHG của kỹ thuật ARFI so với
FibroScan ở bệnh nhân VGSVBM Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đánh giá giá trị của APRI trên các bệnh nhân này, một chỉ số đã được Tổ chức
Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng để ước lượng XHG ở các quốc gia có nguồn lực y tế hạn chế(7)
Mục tiêu
Khảo sát giá trị chẩn đoán XHG và XG của
kỹ thuật ARFI và APRI trên bệnh nhân VGSVBM, bằng cách sử dụng giá trị kết quả của FibroScan làm ngưỡng tham chiếu Mục tiêu cụ thể bao gồm:
Khảo sát mối tương quan giữa ARFI, APRI
so với FibroScan trong đánh giá XHG ở bệnh nhân VGSVBM
Khảo sát giá trị, điểm cắt tối ưu trong chẩn đoán XHG đáng kể trở lên (F ≥2) và XG (F4) của ARFI, APRI ở bệnh nhân VGSVBM
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn (VGSVBM) đến khám tại phòng khám Viêm Gan, bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ 02/2019 đến 03/2021
Tiêu chuẩn chọn vào
Bệnh nhân ≥18 tuổi bị nhiễm siêu vi viêm gan B mạn (có HBsAg dương tính >6 tháng hoặc HBsAg dương tính và antiHBc IgM âm tính)
Trang 3được đưa vào nghiên cứu(8)
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân xơ gan cổ trướng, u gan, phụ nữ
có thai, đợt cấp của viêm gan mạn (ALT tăng 5
lần so với giới hạn trên mức bình thường); viêm
gan siêu vi C mạn và viêm gan do rượu (nam
tiêu thụ >30 g cồn/ngày, nữ >20 g cồn/ngày); gan
nhiễm mỡ mức độ trung bình - nặng (CAP ≥ S2,
đo bằng máy FibroScan); kết quả ARFI,
FibroScan không đạt chuẩn (tỷ lệ thành công
<60% hay IQR >30%), người bệnh không đồng ý
tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích,
tiến cứu
Cỡ mẫu
Với mục tiêu không bỏ sót bệnh nhân XHG
đáng kể trở lên (F≥2) nên cỡ mẫu để ước tính độ
nhạy được tính toán theo công thức:
TP (True positive) + FN (False negative) =
= 31,46
N = = = 54,25
Như vậy cỡ mẫu tối thiểu là 55 bệnh nhân
nếu dựa vào tiêu chí độ nhạy trong chẩn đoán
XHG đáng kể trở lên (F≥2)
Với mục tiêu chẩn đoán chính xác bệnh nhân
XG (F4) nên cỡ mẫu để ước tính độ đặc hiệu
được tính toán theo công thức:
TN (True negative) + FP (False positive) =
= 12,98
N = = = 68,29
Như vậy cỡ mẫu tối thiểu là 69 bệnh nhân
nếu dựa vào tiêu chí độ đặc hiệu trong chẩn
đoán XG (F4)
Z là hằng số phân phối chuẩn, khi α=0,05
thì Z=1,96 Sai số của các xác suất mong muốn
(w) là 10% Pse là độ nhạy của ARFI trong
chẩn đoán XHG từ mức đáng kể trở lên, ở đây Pse=0,91 theo nghiên cứu của Kirchel G(9) Psp
là độ đặc hiệu của ARFI trong chẩn đoán XG, ở đây Psp=0,965 theo nghiên cứu của Kirchel
G(8) Pdis (tỉ lệ hiện hành) của XHG đáng kể trở lên (F ≥2) và XG (F4) trong số bệnh nhân VGSVBM lần lượt là 0,58 và 0,19 theo phân tích gộp của Lian MJ(10)
Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu là
69 bệnh nhân Thực tế, nghiên cứu của chúng tôi thu nhận được 114 bệnh nhân thoả tiêu chí
Thu thập số liệu
Bệnh nhân VGSVBM thoả tiêu chuẩn chọn vào, đồng ý tham gia nghiên cứu được thu thập thông tin theo mẫu, xét nghiệm máu và siêu âm đàn hồi trong cùng 1 ngày Siêu âm đo độ đàn hồi gan bằng kỹ thuật ARFI (máy ACUSON Juniper, Siemens Healthineers) được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa Tiêu Hoá, bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, đã được huấn luyện thuần thục Đo độ đàn hồi gan bằng FibroScan (Echosens) được thực hiện bởi các bác
sĩ ở phòng khám Gan Mật Sài Gòn Quy trình đo ARFI, FibroScan theo sự hướng dẫn của hiệp hội siêu âm thế giới(11) Độ cứng của gan đo bằng FibroScan được biểu diễn bằng đơn vị kPa trong khi đó kết quả ARFI được biểu diễn dưới dạng vận tốc sóng biến dạng (m/s) Phân độ xơ hoá gan dựa theo hệ thống phân loại METAVIR: F0 (không xơ hoá), F1 (xơ hoá gan nhẹ), F2 (xơ hoá gan đáng kể), F3 (xơ hoá gan nặng), F4 (xơ gan)(12) Ngưỡng cắt của FibroScan: F0-1 <7 KPa, F2: 7 - <9,5 KPa, F3: 9,5 - <11 KPa, F4 ≥11 KPa(8)
Độ nhiễm mỡ gan được đo đồng thời trên cùng một thể tích gan, được thể hiện bằng “thông số giảm âm được kiểm soát” CAP (Controlled Attenuation Parameter) Giá trị đo độ nhiễm mỡ CAP được thể hiện bằng đơn vị Decibel/ m (dB/ m) Kết quả của độ nhiễm mỡ của gan (CAP) cũng là giá trị trung vị (median) của 10 lần đo hợp lệ Mức độ nhiễm mỡ (Steatosis Grade (S)) được phân loại theo điểm CAP như sau: S0 < 248 dB/m, S1 (248 – 268 dB/m), S2 (268-280 dB/m) và S3 >280 dB/m(13)
Trang 4APRI được tính theo công thức:
APRI =
Giới hạn trên của mức bình thường (Upper
Limit Normal) của AST là 40 U/L (nam) và 31
U/L (nữ) theo giá trị tham chiếu của phòng xét
nghiệm, bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM
Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Số liệu được quản lý bằng phần mềm Excel
2010 và xử lý bằng phần mềm thống kê R 3.5.2
So sánh trung bình từ 3 nhóm trở lên bằng phân
tích phương sai 1 yếu tố (one way ANOVA)
Phân tích hậu kiểm để thấy sự khác biệt giữa
từng nhóm bằng phương pháp Tukey Sử dụng
tương quan Pearson để đánh giá mức độ tương
quan giữa APRI, ARFI với FibroScan Tính AUC
để đo lường giá trị chẩn đoán XHG đáng kể trở
lên (F ≥2) và XG (F4) của ARFI, APRI Điểm cắt
tối ưu trong chẩn đoán được xác định bằng
phương pháp Youden Chỉ số p <0,05 được xem
là có ý nghĩa thống kê
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng
Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của bệnh
viện ĐH Y Dược TP HCM, số 71/GCN-HĐĐĐ
ký ngày 26/06/2021
KẾT QUẢ
Từ tháng 02/2019 đến tháng 03/2021, có 114
bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu khoảng 50 tuổi, 2/3 là nam giới Đa số bệnh nhân tham gia nghiên cứu đã từng điều trị bằng thuốc kháng siêu vi B, chỉ khoảng 15% chưa điều trị Khoảng 15% bệnh nhân có tình trạng gan nhiễm
mỡ nhẹ (Bảng 1)
Bảng 1 Đặc điểm dân số nghiên cứu (N=114)
Biến số
Tuổi (năm) 51,60 ± 10,06 Giới tính (nam) 69 (60,53%) Bệnh nhân chưa điều trị 17 (14,91%) BMI (kg/m 2 ) 21,56 ± 1,91 HbsAg dương tính và anti HbcIgM âm tính 9 (7,89%)
HbsAg dương > 6 tháng 105 (92,11%) HBeAg dương tính 28 (24,56%) AST (U/L) 35,67 ± 13,07 ALT (U/L) 29,67 ± 14,45 GGT (U/L) 43,26 ± 38,58 Tiểu cầu (10 9 /L) 169,25 ± 67,97
WBC (10 9 /L) 6,14 ± 1,91
Hb (g/l) 140,39 ± 22,15 Creatinin (mg/dl) 0,91 ± 0,11 FibroScan (kPa)
Mức độ nhiễm mỡ
CAP (giá trị trung bình) 197,85 ± 37,46
Bảng 2 Vận tốc sóng biến dạng trung bình theo từng mức độ xơ hoá gan
Số lượng (%) 16 (14%) 25 (21,9%) 28 (24,6%) 13 (11,4%) 32 (28,1%) Chỉ số p ARFI (m/s) 1,11 ± 0,15 1,29 ± 0,14 1,51 ± 0,11 1,61 ± 0,15 2,3 ± 0,56 <0,001
Tỉ lệ bệnh nhân XHG F ≥2 là 64,1% Vận tốc
sóng biến dạng đo bằng ARFI (m/s) có sự khác
biệt giữa các nhóm khi phân tích phương sai
ANOVA (Bảng 2) Tuy nhiên, phân tích hậu
kiểm (post-hoc analysis) chỉ ghi nhận trị số ARFI
ở nhóm F4 khác biệt có ý nghĩa thống kê với các
nhóm còn lại Từ F3 đến F0, giữa hai nhóm liền
kề không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa vận tốc sóng biến dạng của ARFI (Bảng 3)
Bảng 3 Phân tích hậu kiểm sự khác nhau về vận tốc
sóng biến dạng giữa các mức độ XHG
Sự khác biệt giữa các nhóm KTC 95% Chỉ số p
F1-F0 0,18 -0,09-0,45 0,36 F2-F0 0,4 0,13-0,66 < 0,001 F2-F1 0,22 -0.02-0,46 0,088 F3-F0 0,50 0,18-0,83 < 0,001
F4-F0 1,19 0,93-1,46 < 0,001 F4-F1 1,01 0,78-1,25 < 0,001
Trang 5Sự khác biệt giữa các nhóm KTC 95% Chỉ số p
F4-F2 0,80 0,57-1,02 < 0,001
F4-F3 0,69 0,41-0,98 < 0,001
Mối tương quan giữa APRI, ARFI với
FibroScan trong đánh giá xơ hoá gan
APRI có mối tương quan thuận, mức độ
trung bình yếu (r=0,592) với FibroScan Mức độ
XHG đo bằng kỹ thuật ARFI so với FibroScan có
mối tương quan thuận, rất chặt chẽ (r=0,917)
(Bảng 4)
Bảng 4 Mối tương quan giữa ARFI, APRI với
FibroScan trong đánh giá xơ hoá gan
APRI 0,592 0,465 - 0,704 < 0,001
ARFI (m/s) 0,917 0,883 - 0,942 < 0,001
Giá trị chẩn đoán xơ hoá gan từ mức đáng kể
trở lên, xơ gan của APRI và ARFI
ARFI là một công cụ tốt để chẩn đoán XHG F
≥2 và F4 khi dùng giá trị kết quả của FibroScan
làm ngưỡng tham chiếu, với AUC lần lượt là 0,975 và 0,986 Với ngưỡng cắt 1,37 m/s để chẩn đoán F ≥2 thì ARFI có độ nhạy và đặc hiệu lần lượt là 83,33% và 100% Ngưỡng cắt 1,7 m/s của ARFI cho phép chẩn đoán F4 với độ nhạy và đặc hiệu lần lượt là 97% và 93% ARFI có độ tương hợp tốt với FibroScan khi chẩn đoán XHG F ≥2
và F4 với hệ số Kappa lần lượt là 0,863 và 0,849
(Bảng 5)
APRI là một công cụ có mức độ tương quan trung bình để chẩn đoán XHG F ≥ 2 và F4 khi lấy FibroScan là ngưỡng tham chiếu, với AUC lần lượt là 0,702 và 0,785 Với ngưỡng cắt 0,45 để chẩn đoán F ≥2 thì APRI có độ nhạy và đặc hiệu lần lượt là 71% và 63,5% Ngưỡng cắt 0,73 m/s của ARFI cho phép chẩn đoán F4 với độ nhạy và đặc hiệu lần lượt là 80,1% và 82,5% ARFI có độ tương hợp trung bình với FibroScan để chẩn đoán XHG F ≥2 và F4 với hệ số Kappa lần lượt là
0,557 và 0,623 (Bảng 5)
Bảng 5 Giá trị chẩn đoán XHG đáng kể trở lên, XG và ngưỡng cắt tối ưu của ARFI, APRI
Xơ hoá gan từ mức đáng kể trở lên (F ≥2)
Xơ gan (F4)
BÀN LUẬN
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tỉ lệ XHG F ≥2 trong nghiên cứu là 64,1%,
tương đồng với các nghiên cứu khác trên đối
tượng VGSVBM ở trong nước như của Bùi Hữu
Hoàng (58%) và ở thế giới như phân tích gộp của
Lian MJ (58%)(10,14)
Vận tốc sóng biến dạng đo bằng kỹ thuật
ARFI bắt đầu có sự khác biệt khi bệnh nhân có
mức XHG F ≥2 và rõ rệt hơn ở F3 và F4 Số liệu
gián tiếp cho thấy ARFI khó có thể phân biệt
rạch ròi F0 và F1, tuy nhiên điều này không
mang nhiều ý nghĩa trên lâm sàng vì ngưỡng F
≥2 mới là cột mốc đáng lưu ý khi quản lý bệnh
nhân VGSVBM Các phân tích gộp về giá trị
chẩn đoán XHG trên bệnh nhân VGSVBM của
ARFI cũng chỉ xem xét từ mức F ≥2(15,16)
Mối tương quan giữa APRI, ARFI với FibroScan trong đánh giá xơ hoá gan
Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ XHG đo bằng kỹ thuật ARFI (m/s) và FibroScan (KPa) có mối tương quan chặt chẽ với nhau (r=0,917) Nghiên cứu tương tự như chúng tôi khi dùng ngưỡng tham chiếu bằng FibroScan của Lê Thanh Liêm (2012) và Kircheis G (2012) đều cho thấy kết quả tương đồng với hệ số tương quan lần lượt là 0,83 và 0,92(6,9) Hai nghiên cứu nói trên đều thu nhận cả người khoẻ mạnh và viêm gan do các nguyên nhân khác chứ không chỉ đơn thuần là VGSVBM như nghiên cứu của chúng tôi Do vậy, có thể thấy độ XHG đo bằng kỹ thuật ARFI và FibroScan có mối tương quan chặt với nhau trong bệnh lý gan mạn nói chung
Trang 6Giá trị chẩn đoán XHG đáng kể trở lên và XG
của ARFI, APRI
Trong chẩn đoán XHG F ≥ 2 và F4, ARFI là
một công cụ chẩn đoán tốt, với AUC lần lượt là
0,975 và 0,986 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
phù hợp với nghiên cứu của Lê Thanh Liêm với
AUC (F ≥2) là 0,918; của Kircheis với AUC (F ≥2)
và AUC (F4) lần lượt là 0,969 và 0,991(6,9) Khi xét
trên dân số VGSVBM nói riêng, AUC của ARFI
khi chẩn đoán XHG F ≥2 là 0,89 (KTC 95%: 0,86 –
0,91) dựa trên phân tích gộp của Xu XY (2019)(16)
Trong 11 nghiên cứu được khảo sát trong phân
tích gộp nói trên, ARFI được đối chiếu với kết
quả sinh thiết gan chứ không phải FibroScan,
cho nên giá trị chẩn đoán ARFI thấp hơn kết quả
nghiên cứu của chúng tôi Hiện tại, chúng tôi
chưa tìm được nghiên cứu nào trên bệnh nhân
VGSVBM và dùng FibroScan làm tiêu chuẩn quy
chiếu để có sự so sánh trực tiếp Dẫu rằng có sự
khác biệt AUC như trên nhưng nhìn chung ARFI
là một phương pháp có độ chính xác cao khi
chẩn đoán XHG F ≥2 và F4 Ngoài ra, nghiên cứu
của chúng tôi còn chỉ ra rằng ARFI có mức độ tương hợp tốt với FibroScan ở cả hai cột mốc XHG F ≥2 và F4 với hệ số Kappa lần lượt là 0,863, và 0,849
Giá trị ngưỡng cắt ARFI của nghiên cứu chúng tôi để chẩn đoán XHG F ≥2 cao hơn so với các nghiên cứu đơn lẻ được dẫn chứng và gần với giá trị khuyến nghị của nhà sản xuất máy ARFI (Siemens) cũng như phân tích gộp của
Friedrich-Rust M (2012) (Bảng 6)(17) Sự khác biệt này có lẽ liên quan đến dân số nghiên cứu Nishimura T đã cho thấy ở cùng một mức độ XHG, chẩn đoán bằng sinh thiết gan vẫn có sự khác biệt về độ đàn hồi gan đo bằng ARFI ở hai nhóm VGSVBM và viêm gan siêu vi C mạn (VGSVCM)(18)
Nghiên cứu của chúng tôi không đề cập đến ngưỡng xơ hoá gan nặng (F ≥3) vì theo các khuyến cáo thực hành lâm sàng thì bệnh nhân F2 và F3 sẽ có hướng xử trí tương tự, chỉ khi bệnh nhân XG tức F4 thì bắt đầu chiến lược theo dõi, tầm soát các biến chứng(1,2,7)
Bảng 6 Giá trị ngưỡng cắt ARFI (m/s) qua các nghiên cứu
Lê Thanh Liêm (2012) (6) VGSVBM, VGSVCM, người khoẻ mạnh FibroScan 1,25
Kircheis G (2012) (9) Viêm gan mạn do nhiều nguyên nhân FibroScan 1,29 1,6
Friedrich-Rust M (2012) (17) Viêm gan mạn do nhiều nguyên nhân
(phân tích gộp) Sinh thiết gan 1,34 1,55 1,80 Khuyến nghị từ nhà sản xuất
Giá trị chẩn đoán XHG F ≥2 của APRI trong
nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn trong phân
tích gộp của Xu YX (2019) trên cùng đối tượng
VGSVBM (AUC: 0,78, KTC 95%: 0,74 – 0,81)(16)
Các nghiên cứu trong phân tích gộp đều được
sinh thiết gan để so sánh, điểm khác biệt này góp
phần giải thích sự chênh lệch AUC Nguyên
nhân quan trọng hơn cả, có lẽ là do đa số bệnh
nhân trong nghiên cứu chúng tôi đều đã được
điều trị thuốc kháng siêu vi viêm gan B (85%)
Theo nghiên cứu của Kim WR (2016) thì APRI
không phù hợp để đánh giá XHG ở bệnh nhân
VGSVBM khi đang điều trị Nhóm tác giả này lý
giải rằng khi sử dụng thuốc kháng siêu vi sẽ làm cho AST, ALT giảm nhanh trong thời gian ngắn, dẫn đến sự thay đổi chỉ số APRI AST, ALT giảm phản ánh sự thoái lui của hiện tượng viêm chứ không hẳn làm cải thiện tình trạng XHG Do đó, khi bệnh nhân đang điều trị thì APRI và mức độ XHG không còn tương xứng như khi chưa điều trị(20)
KẾT LUẬN
Mức độ XHG đo bằng kỹ thuật AFRI có mối tương quan thuận, mức độ chặt chẽ (r = 0,917) với FibroScan ở bệnh nhân VGSVBM Kỹ thuật
Trang 7ARFI là công cụ tốt để chẩn đoán XHG F ≥2 và
F4 ở bệnh nhân VGSVBM với AUC lần lượt là
0,975 và 0,986 Kỹ thuật ARFI có mối tương hợp
tốt với kỹ thuật đo đàn hồi gan bằng FibroScan,
với hệ số Kappa lần lượt là 0,863 (F ≥2) và 0,849
(F4) Ngưỡng cắt để chẩn đoán XHG F ≥2 và F4 ở
bệnh nhân VGSVBM của ARFI lần lượt là 1,37
m/s (độ nhạy 83,3%, độ đặc hiệu 100%), và 1,7
m/s (độ nhạy 97%, độ đặc hiệu 93%)
APRI có giá trị trung bình trong chẩn đoán
XHG F ≥2 và F4 ở bệnh nhân VGSVBM với AUC
lần lượt là 0,702 và 0,785 Điểm cắt của APRI lần
lượt là 0,45 (độ nhạy 71%, độ đặc hiệu 63,5%) và
0,73 (độ nhạy 80,1%, độ đặc hiệu 82,5%)
Lời cảm ơn: Nhóm nghiên cứu xin chân thành
cảm ơn công ty Siemens Healthineers đã hỗ trợ
máy siêu âm ACUSON Juniper cũng như kinh
phí nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lampertico P, Agarwal K, Berg T, et al (2017) "EASL 2017
Clinical Practice Guidelines on the management of hepatitis B
virus infection" J Hepatol, 67(2):370–398
2 Terrault NA, Lok ASF, McMahon BJ, et al (2018) "Update on
prevention, diagnosis, and treatment of chronic hepatitis B:
AASLD 2018 hepatitis B guidance" Hepatology, 67(4):1560–
1599
3 U.S Food and Drug Administration (FDA) (2013) Echosens’
FibroScan® System 510(k) Summary K123806 Manufacturer:
Echosens SA
4 EASL-ALEH (2015) Clinical Practice Guidelines: Non-invasive
tests for evaluation of liver disease severity and prognosis J
Hepatol, 63(1):237–264
5 Trần Thị Khánh Tường (2015) "Nghiên cứu giá trị chẩn đoán
xơ hoá gan bằng phối hợp kĩ thuật ARFI và APRI ở các bệnh
nhân viêm gan mạn" Luận Văn Tiến Sĩ Y Học, Đại học Y Dược
Huế
6 Le Thanh Liem, Bui Hong Linh, Le Nhat Thong, et al (2012)
"Noninvasive liver fibrosis evaluation by Acuson S2000 and
Fibroscan on 554 cases: comparision ARFI to Transient
Elastography" Poster presented at Asian Ocenian Congress of
Radiology 2012 Sidney, Australia
7 World Health Organization (2015) Guideline for the
prevention care and treatment of person with chronic hepatitis
B infection
8 Bộ Y Tế Việt Nam (2019) Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
bệnh viêm gan vi rút B
9 Kircheis G (2012) "Evaluation of acoustic radiation force impulse imaging for determination of liver stiffness using
transient elastography as a reference" World Journal of
Gastroenterology, pp.1077
10 Lian MJ, Zhang JQ, Chen SD, et al (2019) "Diagnostic accuracy
of γ-glutamyl transpeptidase-to-platelet ratio for predicting
hepatitis B-related fibrosis: a meta-analysis" Eur J Gastroenterol
Hepatol, 31(5):599–606
11 Ferraioli G., Filice C., Castera L, et al (2015) "WFUMB Guidelines and Recommendations for Clinical Use of
Ultrasound Elastography: Part 3: Liver" Ultrasound Med Biol,
41(5):1161–1179
12 Bedossa P, Poynard T (1996) "An algorithm for the grading of
activity in chronic hepatitis C" Hepatology, 24(2); 289–293
13 Karlas T, Petroff D, Sasso M, et al (2017) "Individual patient data meta-analysis of controlled attenuation parameter (CAP)
technology for assessing steatosis" J Hepatol, 66(5):1022–1030
14 Bùi Hữu Hoàng, Nguyễn Đình Chương (2021) "Khảo sát mối tương quan giữa chỉ số GPRI và APRI với ARFI trong đánh giá
xơ hoá gan ở bệnh nhân nhiễm vi-rút viêm gan B mạn" Y Học
Thành Phố Hồ Chí Minh, 25(2):106
15 Hu X, Qiu L, Liu D, et al (2017) "Acoustic Radiation Force Impulse (ARFI) Elastography for non‑invasive evaluation of hepatic fibrosis in chronic hepatitis B and C patients: a
systematic review and meta-analysis" Med Ultrason, 19(1):23
16 Xu XY, Wang WS, Zhang QM, et al (2019) "Performance of
common imaging techniques vs serum biomarkers in assessing
fibrosis in patients with chronic hepatitis B: A systematic
review and meta-analysis" World J Clin Cases, 7(15); 2022–2037
17 Friedrich-Rust M, Nierhoff J, Lupsor M, et al (2012)
"Performance of Acoustic Radiation Force Impulse imaging for the staging of liver fibrosis: a pooled meta-analysis: Acoustic
Radiation Force Impulse meta-analysis and liver fibrosis" J
Viral Hepat, 19(2):e212–e219
18 Nishimura T, Iijima H, Nishikawa H., et al (2019) "Liver fibrosis markers as assessed by ultrasound elastography and serum samples: A large comparative study in hepatitis virus B
and C liver diseases" Hepatol Res, pp.13332
19 Ye XP, Ran HT, Cheng J, et al (2012) "Liver and Spleen Stiffness Measured by Acoustic Radiation Force Impulse Elastography for Noninvasive Assessment of Liver Fibrosis and Esophageal Varices in Patients With Chronic Hepatitis B"
J Ultrasound Med, 31(8):1245–1253
20 Kim WR, Berg T, Asselah T, et al (2016) "Evaluation of APRI and FIB-4 scoring systems for non-invasive assessment of
hepatic fibrosis in chronic hepatitis B patients" J Hepatol,
64(4):773–780
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 15/07/2021