1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nội soi điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em: Báo cáo một ca lâm sàng và tổng kết y văn

7 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Phẫu thuật nội soi điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em: Báo cáo một ca lâm sàng và tổng kết y văn trình bày mô tả đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán và phương pháp điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em.

Trang 1

Laparoscopic Procedure for the Treatment of Oncocytic Adrenal Cortical Adenoma: A Case Report and Systematic Studies Review

Chau Nguyen Tuyet Van*, Huynh Cao Nhan, Truong Trong Nhan, Truong Dinh Khai

City Children’s Hospital, 15 Vo Tran Chi, Tan Kien, Binh Chanh, Ho Chi Minh City, Vietnam

Received 24 April 2022 Revised 9 May 2022; Accepted 12 May 2022

Abstract Objective: To describe clinical evidence, diagnosis and treatment interventions for

Oncocytic Adrenal Cortical Adenoma in children.

Methods: A case study of a 15-years-old child diagnosed with Oncocytic Adrenal Cortical

Adenoma at the City Children’s Hospital was reported Patient admitted to the hospital complaining of having headache and significant on-going weight gain in duration 6 months Patient was performed an CT scan of the abdominal area which later revealed an abnormal site positioning at the adrenal gland area of the kidney The patient was underwent laparoscopic removal of the tumor (the abnormal site) and the specimens of the tumor were sent for histopathology report that agreed with our earlier suspected diagnosis and confirmed Oncocytic Adrenal Cortical Adenoma

Results: Patient recovered well after operation and discharged within a short length of stay

Patient was scheduled for a routine check-up as per doctor requests.

Conclusion: Nowadays, there are limited systematic review studies conducting an

investigation about Adrenal -Cortical Adenoma in children with in-depth details describing characteristics of those examinations and clinical evidence, disease differentiation and effective treatment plans Laparoscopic was agreed to be a minimally invasive intervention procedure that was suitable and appropriately applied for this type of diagnosis.

Keywords: adrenal tumor, oncocytic adrenal cortical adenoma in children, laparoscopic

procedure

* Corresponding author.

E-mail address: tuyetvan270990@yahoo.com.vn

https://doi.org/10.47973/jprp.v6i4.422

162

Trang 2

I Đặt vấn đề

U vỏ thượng thận là một bệnh lý hiếm gặp

[11] Phần lớn các trường hợp là lành tính và

ở dạng không hoạt động, thường xảy ra ở giới

nữ độ tuổi trung niên Có rất ít báo cáo y văn

(<200 ca) [12] về bệnh lý này cho đến thời

điểm hiện nay, riêng ở trẻ em, số ca được báo

cáo là dưới 20 ca [13-14] Tỉ lệ mắc hàng năm

trên toàn thế giới là 0.3 - 0.38/ 1.000.000 trẻ,

đạt cao nhất trong khoảng 0 - 4 tuổi

Triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán, điều trị

và tiên lượng chủ yếu dựa trên các tài liệu tổng quan Ở trẻ em thường biểu hiện các triệu chứng nam hóa, dậy thì sớm ngoại vi, cường vỏ thượng thận (Cushing’s syndrome)

Đa số u vỏ thượng thận là lành tính, phát hiện tình cờ trong quá trình thăm khám, có 2 dạng: không hoạt động (thường gặp) và dạng hoạt động với biểu hiện các đặc điểm lâm sàng của u [15] U dạng phồng bào đã được báo cáo ở nhiều vị trí giải phẫu khác nhau, phổ biến nhất là tuyến giáp, thận và tuyến nước bọt U ở vỏ thượng thận là cực kỳ hiếm và rất ít trường hợp được mô tả trong tài liệu Phẫu thuật cắt u là phương pháp điều trị được

Phẫu thuật nội soi điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em:

Báo cáo một ca lâm sàng và tổng kết y văn

Châu Nguyễn Tuyết Vân*, Huỳnh Cao Nhân, Trương Trọng Nhân, Trương Đình Khải

Bệnh viện Nhi đồng Thành Phố, 15 Võ Trần Chí, Tân Kiên, Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam

Nhận ngày 24 tháng 4 năm 2022 Chỉnh sửa ngày 9 tháng 5 năm 2022; Chấp nhận đăng ngày 12 tháng 5 năm 2022

Tóm tắt Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán và phương pháp điều trị u vỏ thượng thận

ở trẻ em.

Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo 1 trường hợp u vỏ thượng thận được điều trị tại Bệnh

viện Nhi đồng Thành phố Bệnh nhi nữ 15 tuổi, nhập viện vì đau đầu và tăng cân nhanh, chụp cắt lớp vi tính ghi nhận có một khối tổn thương xuất phát từ thượng thận trái Bệnh nhi được phẫu thuật nội soi cắt u, gửi giải phẫu bệnh và kết quả phù hợp với chẩn đoán ban đầu là Oncocytic adrenal cortical adenoma.

Kết quả: Giai đoạn hậu phẫu, bệnh nhi hồi phục tốt, xuất viện sớm và vẫn còn được theo

dõi, tái khám định kì theo hẹn.

Kết luận: Hiện nay, có rất ít các báo cáo y văn về bệnh lý u vỏ thượng thận ở trẻ em, các

triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán và phương pháp điều trị chủ yếu dựa vào các tài liệu tổng quan Phẫu thuật nội soi là phương pháp xâm lấn tối thiểu có thể được thực hiện trên bệnh

lý này.

Từ khóa: u thượng thận, u vỏ thượng thận ở trẻ em, nội soi cắt u thượng thận

* Tác giả liên hệ

E-mail address: tuyetvan270990@yahoo.com.vn

https://doi.org/10.47973/jprp.v6i4.422

Trang 3

lựa chọn, hóa xạ trị không cần thiết đối với

trường hợp u không có bằng chứng di căn

II Ca lâm sàng

Bé gái, 15 tuổi, nhập viện với lí do đau

đầu, tăng cân nhanh Bệnh 6 tháng nay, người

nhà thấy bé tăng cân nhanh (>10kg), vết rạn

da xuất hiện nhiều ở tay, bụng, thỉnh thoảng

có cơn đau đầu, bé ăn uống, tiêu tiểu bình

thường, siêu âm bụng phát hiện u tuyến

thượng thận

Bệnh nhi được thăm khám, thực hiện các

xét nghiệm máu và chụp cắt lớp vi tính ổ

bụng Ghi nhận lúc khám: bé có cao huyết áp

(HA: 140/90mmHg), cân nặng ở bách phân

vị thứ 90 so với tuổi, vẻ mặt Cushing, mụn

trứng cá, rạn da tay, bụng, rậm lông vùng

lưng, không có dấu thần kinh khu trú, không

sờ chạm khối bất thường ở bụng

Hình 1 Vết rạn da trên thành bụng

của bệnh nhi Xét nghiệm: test Dexa liều thấp: dương

tính, Cortisol máu tăng: 25.2 µg/dL,

Metanephrine/ Normetanephrine máu: bình

thường, Aldosterone máu/ Active Renin:

bình thường, ACTH máu: giảm: < 1.5 pg/

mL, DHEA.SO4 thấp: 0.128 µg/mL

(0.5-3.5), Kali máu thấp <2.5-3.0, Adrenaline/ Noradrenaline/ Dopamin/ Metanephrine nước tiểu: bình thường, Cortisol niệu tăng: 2445µg/24h

Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng : khối tổn thương xuất phát từ tuyến thượng thận trái, giới hạn rõ, kích thước 33*26*27mm, tổn thương có đậm độ thấp, tương đối đồng nhất, bắt thuốc tương phản mạnh và thải thuốc mạnh trong thì muộn, theo dõi Adenoma tuyến thượng thận trái Chẩn đoán phân biệt: Pheochromocytoma Không ghi nhận hình ảnh di căn và hạch phì đại bất thường

Loãng xương toàn bộ các thân đốt sống

Hình 2 Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng - khối

tổn thương nằm ở thượng thận trái Sau 14 ngày xác định bệnh, kiểm soát huyết áp với Enalapril, lợi tiểu Thiazide, điều chỉnh điện giải (hạ Kali máu) bằng đường truyền tĩnh mạch và đường uống, bệnh nhi được hội chẩn ngoại khoa, có chỉ định phẫu thuật Chúng tôi thực hiện phương pháp nội soi ổ bụng, vào khoang sau phúc mạc, ghi nhận khối tổn thương nằm ở thượng thận trái, giới hạn rõ, mật độ chắc, kích thước khoảng 3*3cm, mặt trên u sát tụy, mặt trong tiếp giáp với lách, mặt dưới u dính vào cực trên thận, mặt ngoài dính lỏng lẻo vào thành bên phúc mạc sau Tiến hành tách dính và cắt bỏ toàn

Trang 4

bộ khối u bằng Harmonic, Bibolar nội soi

Gửi u làm giải phẫu bệnh Trong quá trình

phẫu thuật, không ghi nhận tổn thương các

cơ quan lân cận và những bất thường khác đi

kèm Tổng thời gian phẫu thuật là 60 phút

Hình 3 Vị trí 3 lỗ trocar ở hông trái bệnh

nhi: 1 trocar 10mm và 2 trocar 5mm

Hình 4 Hình ảnh đại thể của khối u

thượng thận Bệnh nhi được chuyển khoa lâm sàng sau

1 ngày điều trị tại khoa Hồi sức Ngoại, theo

dõi trong giai đoạn hậu phẫu, huyết áp được

kiểm soát tốt với Enalapril giảm bằng 1/3

so với liều điều trị trước mổ, ngưng lợi tiểu Thiazide, Kali máu trở về bình thường Giải phẫu bệnh là mô u gồm nhiều tế bào lớn, đa diện, bào tương ưa toan, hạt nhân đơn độc, vài chỗ chứa 1-2 nhân, không thấy hình ảnh phân bào Hóa mô miễn dịch: Synaptophysin (+), Calretinin (+) khu trú Kết luận: U vỏ thượng thận dạng phồng bào

Hình 5 Hình ảnh vi thể của khối u

thượng thận trên lame giải phẫu bệnh Bệnh nhi được xuất viện vào ngày hậu phẫu thứ 7, tái khám định kỳ đến nay (4 tháng sau mổ) được 2 đợt, sau xuất viện 2 tuần và 3 tháng, huyết áp được kiểm soát tốt 100-120/70mmHg, cân nặng giảm đáng kể ( giảm 9 kg/ 4 tháng), vết rạn da và mụn có cải thiện, sẹo mổ cũ lành tốt và thẩm mỹ Các xét nghiệm máu và siêu âm ổ bụng trong giới hạn bình thường

III Bàn luận

Chúng tôi mô tả một trường hợp u vỏ thượng thận dạng phồng bào (OACT) ở trẻ em hiếm gặp trên lâm sàng Kakimoto và cộng sự [16] là những người đầu tiên báo cáo về OACT vào năm 1986 Cho đến nay, nguyên nhân của OACT vẫn chưa được biết rõ, các khối u này được cấu tạo chủ yếu từ các tế bào có nhiều

tế bào chất dạng hạt, bạch cầu ái toan Những thay đổi tế bào chất này là do có nhiều ty thể [17] và sự gia tăng ty thể này được Gasparre

Trang 5

và cộng sự [18] cho là một phản ứng bù đắp

cho rối loạn chức năng tế bào, có thể là do sự

tăng sinh quá mức của DNA ty thể mà không

có phiên mã RNA tương ứng, dẫn đến sự gia

tăng quá mức của ty thể trong tế bào

Một nghiên cứu dịch tễ học của Kanitra

và cộng sự [9] cho thấy 66% được tìm thấy ở

bệnh nhân nữ, 64% ở tuyến thượng thận trái

và 66% là không có chức năng Tuổi trung

bình lúc chẩn đoán là 44 tuổi (2,5-77 tuổi), và

kích thước khối u trung bình là 80 mm

(16-285 mm) Tổng cộng 35% là lành tính, 41%

có khả năng ác tính và 24% là ác tính So với

bệnh nhân nữ, bệnh nhân nam có nguy cơ

phát triển ác tính cao hơn (36% so với 18%,

P = 0,035) Tỷ lệ sống sau 5 năm của OACT

lành tính là 100%, là 88% ở những trường

hợp không chắc ác tính và 47% ở những

trường hợp ác tính Tuy nhiên, có những hạn

chế trong số liệu thống kê, đó là không bao

gồm trẻ em dưới 2,5 tuổi Không có dữ liệu

dịch tễ học cho một số lượng lớn trẻ em, vì

chỉ có một số trường hợp được báo cáo

Các đặc điểm lâm sàng biểu hiện bệnh và

cận lâm sàng ở trẻ em không đặc hiệu, chỉ

có ý nghĩa gợi ý chẩn đoán, đa phần là tình

cờ phát hiện, không có bệnh sử điển hình, dễ

bị bỏ sót và cũng không có yếu tố gia đình

Trường hợp báo cáo của chúng tôi, các triệu

chứng gợi ý tương đối đầy đủ như: tăng

huyết áp, béo phì, hội chứng Cushing, các xét

nghiệm máu như Cortisol máu tăng, ACTH

máu giảm, rối loạn điện giải giúp nghĩ đến

tình trạng bất thường từ vỏ thượng thận và

cuối cùng là chụp cắt lớp vi tính ghi nhận một

khối tổn thương ở vùng thượng thận Vì vậy,

chúng tôi hướng đến chẩn đoán u vỏ thượng

thận và đưa ra phương pháp điều trị dựa theo

các báo cáo y văn là phẫu thuật cắt u

Phương pháp phẫu thuật được chúng tôi lựa

chọn là phẫu thuật nội soi sau phúc mạc Năm

2014, Akin và cộng sự báo cáo một trường hợp nội soi cắt OACT đầu tiên ở trẻ em [19] Đến năm 2021, Xiao Chun Chen và cộng sự báo cáo một trường hợp phẫu thuật nội soi cắt OACT đầu tiên ở trẻ em có sự hỗ trợ của robot Tuy nhiên, liệu có nên cắt bỏ tuyến nội soi đối với các khối u ác tính hoặc tiềm ẩn ác tính với đường kính khối u> 6 cm hay không vẫn còn nhiều tranh cãi Cho đến nay sự đồng thuận là hạn chế phương pháp nội soi đối với các khối

u thượng thận có đường kính >5 - 6 cm [21] Hiện nay, tiêu chuẩn Lin Weiss Bisceglia (LWB) thường được sử dụng trong chẩn đoán bệnh lý của OACT Các tiêu chuẩn đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn chính nào sau đây được phân loại là ác tính: Tỷ lệ phân bào> 5/50 HPF, phân bào không điển hình và xâm lấn tĩnh mạch OACT đáp ứng bất kỳ tiêu chí phụ nào sau đây được phân loại là có tiềm năng

ác tính: kích thước > 10 cm và / hoặc trọng lượng> 200g, hoại tử, xâm lấn vỏ bao hoặc thâm nhiễm hình sin Trong trường hợp không

có tiêu chí chính hoặc phụ, OACT được coi là lành tính [9] Về mặt đại thể, khối u thượng thận chúng tôi cắt ra có màu nâu sẫm, giới hạn rõ, còn nguyên vỏ bao, giải phẫu bệnh

mô học và nhuộm hóa mô miễn dịch phù hợp với tiêu chí của một OACT lành tính Chức năng nội tiết tố không thể phân biệt lành tính với ác tính hoặc tiên lượng Tuy nhiên, phần lớn các OACT dương tính với synaptophysin (50%, P <0,001) và âm tính với vimentin (62%, P = 0,009) là lành tính [9], cũng có báo cáo rằng Ki67 có thể phản ánh mức độ ác tính

và tiên lượng của OACT [23-24]

OACT chủ yếu là khối u lành tính, nhưng cũng có những báo cáo về bệnh ác tính và có

sự bổ trợ hóa - xạ trị trong trường hợp di căn [22] Ở trẻ em bị OACT không di căn, có thể không cần xạ trị hoặc hóa trị

Trang 6

Đến thời điểm hiện tại, sau 4 tháng điều

trị, chúng tôi theo dõi và chưa ghi nhận có

sự di căn hay tái phát của u trong trường hợp

báo cáo này

IV Kết luận

U vỏ thượng thận ở trẻ em là bệnh lý hiếm

gặp Có rất ít các báo cáo về OACT ở trẻ em,

và căn nguyên vẫn chưa rõ ràng Hầu hết các

OACT là khối u lành tính không chức năng

Tiêu chuẩn Lin Weiss Bisceglia thường được

sử dụng để chẩn đoán OACT ở trẻ em, và

chẩn đoán OACT chủ yếu cũng là dựa trên

các xét nghiệm mô học và bệnh lý ENTs1 và

synaptophysin là hai trong số những chất chỉ

điểm cụ thể nhất trong các khối u tăng bạch cầu

ái toan [20] Phẫu thuật cắt bỏ u là chìa khóa

vàng để điều trị sớm Chúng tôi tin rằng phẫu

thuật nội soi cho bệnh nhi OACT với khối u

còn vỏ bao nguyên vẹn, ranh giới rõ ràng giữa

khối u và các mô xung quanh và không có sự

xâm lấn hạch bạch huyết khu vực là tương đối

an toàn và mang lại hiệu quả điều trị lẫn thẩm

mỹ Trẻ em bị OACT dường như không cần xạ

trị và hóa trị Ki67 có thể phản ánh mức độ ác

tính và tiên lượng của OACT

Tài liệu tham khảo

[1] Elnaw EAA, Ibrahim AAB, Abdullah

EAA Feminizing adrenocortical

adenoma in a girl from a

resource-limited setting: a case report J Med

Case Rep 2021;21;15(1):605 https://

doi.org/10.1186/s13256-021-03203-8

[2] Narayanan N, Kamalanathan S,

Sahoo J et al Pediatric Adrenocortical

Oncocytoma presenting as Cushing’s

Syndrome and Peripheral Precocious

Puberty: A Case Report and Review

of Literature J ASEAN Fed Endocr

Soc 2021;36(2):205-208 https://doi org/10.15605/jafes.036.02.17

[3] Sundaram S, Kuruvilla S, Varghese RG

et al Adrenocortical oncocytoma a case report Indian J Pathol Microbiol 2004;47(3):387-389

[4] Tahar GT, Nejib KN, Sadok SS et al Adrenocortical oncocytoma: a case report and review of literature J Pediatr Surg 2008;43(5):E1-3

[5] Xiao GQ, Pertsemlidis DS, Unger PD Functioning adrenocortical oncocytoma:

a case report and review of the literature Ann Diagn Pathol

2005;9(5):295-297 https://doi.org/10.1016/j anndiagpath.2005.05.005

[6] Lim YJ, Lee SM, Shin JH et al Virilizing adrenocortical oncocytoma

in a child: a case report J Korean Med Sci 2010;25(7):1077-1079 https://doi org/10.3346/jkms.2010.25.7.1077 [7] Yoon JH, Cha SS, Yoon SK Computed tomography and magnetic resonance images of adrenocortical oncocytoma cases J Korean Med Sci 2014;29(3):445-451 https://doi org/10.3346/jkms.2014.29.3.445

[8] Pereira BD, Rios ES, Cabrera RA et al Adrenocortical oncocytoma presenting

as Cushing’s syndrome: an additional report of a paediatric case Endocr Pathol 2014;25(4):397-403 https://doi org/10.1007/s12022-014-9325-8

[9] Kanitra JJ, Hardaway JC, Soleimani

T et al Adrenocortical oncocytic neoplasm: A systematic review Surgery 2018;164:(6):1351-1359 https://doi org/10.1016/j.surg.2018.04.044

[10] Chen XC, Tang YM, Mao Y et al Oncocytic adrenocortical tumor with

Trang 7

uncertain malignant potential in

pediatric population: A case report

and review of literature World J Clin

Cases 2021;9(20):5675-568 https://doi

org/10.12998/wjcc.v9.i20.5675

[11] Ohtake H, Kawamura H, Matsuzaki M et

al Oncocytic adrenocortical carcinoma

Ann Diagn Pathol

2010;14(3):204-208 https://doi.org/10.1016/j

anndiagpath.2009.06.006

[12] Yan K, Xu X, Liu X et al Corrigendum:

The Associations Between Maternal

Factors During Pregnancy and the Risk

of Childhood Acute Lymphoblastic

Leukemia: A Meta-Analysis Pediatr

Blood Cancer 2016;63(5):953-954

https://doi.org/10.1002/pbc.25962

[13] Gumy-Pause F, Bongiovanni M,

Wildhaber B et al Adrenocortical

oncocytoma in a child Pediatr Blood

Cancer 2008;50(3):718-721 https://doi

org/10.1002/pbc.21090

[14] Agarwal S, Agarwal K Rare pediatric

adrenocortical carcinoma with oncocytic

change: a cytologic dilemma Endocr

Patho 2011;22(1):40-43 https://doi

org/10.1007/s12022-010-9142-7

[15] Bisceglia M, Ludovico O, Di Mattia

A et al Adrenocortical oncocytic

tumors: report of 10 cases and review

of the literature Int J Surg Pathol

2004;12(3):231-243 https://doi

org/10.1177/106689690401200304

[16] Kakimoto S, Yushita Y, Sanefuji T et al

Non-hormonal adrenocortical adenoma

with oncocytoma-like appearances

Hinyokika Kiyo 1986;32(5):757-763

[17] Ertan Y, Argon A, Özdemir M et al

Oncocytic Adreno Cortical Tumors:

Pathological Features of 16 Cases and

Review of the Literature J Environ

Pathol Toxicol Oncol

2017;36(3):237-244 https://doi.org/10.1615/ jenvironpatholtoxicoloncol.2017021895 [18] Gasparre G, Bonora E, Tallini G et

al Molecular features of thyroid oncocytic tumors Mol Cell Endocrinol 2010;321(1):67-76 https://doi org/10.1016/j.mce.2010.02.022

[19] Akin M, Erginel B, Tanik C et al The first laparo- scopic resection of an aldosterone-secreting adrenocortical oncocytoma in a child J Pediatr Surg Case Rep 2014;2(9):424-427 https:// doi.org/10.1016/j.epsc.2014.08.002 [20] Li H, Hes O, MacLennan GT et al Immunohistochemical distinction of metastases of renal cell carcinoma to the adrenal from primary adrenal nodules, including oncocytic tumor Virchows Arch 2015;466(5):581-588 https://doi org/10.1007/s00428-015-1732-9

[21] Henry JF, Sebag F, Iacobone M et al Results of laparoscopic adrenalectomy for large and potentially malignant tumors World J Surg

2002;26(8):1043-1047 https://doi.org/10.1007/s00268-002-6666-0

[22] Tanaka K, Kumano Y, Kanomata N et

al Oncocytic adrenocortical carcinoma Urology 2004;64:376-377 https://doi org/10.1016/j.urology.2004.04.023 [23] Papathomas TG, Pucci E, Giordano

TJ et al An International Ki67 Reproducibility Study in Adrenal Cortical Carcinoma Am J Surg Pathol 2016;40(4):569-576 https://doi org/10.1097/PAS.0000000000000574 [24] Erickson LA Challenges in surgical pathology of adrenocortical tumours Histopathology 2018;72(1):82-96 https://doi.org/10.1111/his.13255

Ngày đăng: 14/07/2022, 14:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

II. Ca lâm sàng - Phẫu thuật nội soi điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em: Báo cáo một ca lâm sàng và tổng kết y văn
a lâm sàng (Trang 3)
Hình 2. Chụp cắt lớp vi tín hổ bụng - khối - Phẫu thuật nội soi điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em: Báo cáo một ca lâm sàng và tổng kết y văn
Hình 2. Chụp cắt lớp vi tín hổ bụng - khối (Trang 3)
Hình 4. Hình ảnh đại thể của khố iu - Phẫu thuật nội soi điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em: Báo cáo một ca lâm sàng và tổng kết y văn
Hình 4. Hình ảnh đại thể của khố iu (Trang 4)
Hình 5. Hình ảnh vi thể của khố iu - Phẫu thuật nội soi điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em: Báo cáo một ca lâm sàng và tổng kết y văn
Hình 5. Hình ảnh vi thể của khố iu (Trang 4)
Hình 3. Vị trí 3 lỗ troca rở hơng trái bệnh - Phẫu thuật nội soi điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em: Báo cáo một ca lâm sàng và tổng kết y văn
Hình 3. Vị trí 3 lỗ troca rở hơng trái bệnh (Trang 4)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm