1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm của nồng độ non-HDL-C ở bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn đạt mục tiêu điều trị LDL-C

7 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm của nồng độ non-HDL-C ở bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn đạt mục tiêu điều trị LDL-C
Tác giả Hoàng Văn Sỹ, Nguyễn Quốc Đạt, Nguyễn Minh Kha
Người hướng dẫn TS.BS. Hoàng Văn Sỹ, ThS. Học Lâm Minh Quang
Trường học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 884,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đặc điểm của nồng độ non-HDL-C ở bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn đạt mục tiêu điều trị LDL-C trình bày mô tả đặc điểm nồng độ non-HDL-C ở bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn đạt mục tiêu điều trị LDL-C (LDL-C < 70 mg/dL) và đánh giá tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ non-HDL-C đạt mục tiêu điều trị theo các khuyến cáo điều trị hiện nay.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM CỦA NỒNG ĐỘ NON-HDL-C

Ở BỆNH NHÂN CÓ HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH MẠN

ĐẠT MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ LDL-C

Hoàng Văn Sỹ 1 , Nguyễn Quốc Đạt 1 , Nguyễn Minh Kha 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Các hướng dẫn khuyến cáo nồng độ non-HDL-C được coi như một yếu tố nguy cơ tim mạch

chính trong mục tiêu điều trị cho bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn và nồng đồ mục tiêu tương ứng cao hơn mục tiêu LDL-C là 30 mg/dL Tuy nhiên, nồng độ của non-HDL-C còn ít được đánh giá ở bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn tại Việt Nam

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nồng độ non-HDL-C ở bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn đạt mục tiêu điều

trị LDL-C (LDL-C < 70 mg/dL) và đánh giá tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ non-HDL-C đạt mục tiêu điều trị theo các khuyến cáo điều trị hiện nay

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả 122 bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng mạch

vành mạn nhập bệnh viện Chợ Rẫy trong khoảng thời gian từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2020

Kết quả: Trong 122 bệnh nhân, độ tuổi trung bình là 66,6 ± 10,9 tuổi, tỷ lệ giới nam:nữ là 2:1 Nồng độ

trung bình của non-HDL-C và LDL-C lần lượt là 82,1 mg/dL và 54,4 mg/dL Trong dân số nghiên cứu, có 16,4% số bệnh nhân có nồng độ C <100 mg/dL Những bệnh nhân thuộc nhóm có nồng độ

non-HDL-C cao (≥85 mg/dL) chỉ số BMI cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có nồng độ non-HDL-non-HDL-C thấp Ở các thông số về bilan lipid, cũng ghi nhận nồng độ cholesterol toàn phần và triglyceride cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm có nồng độ non-HDL-C cao

Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn có tỷ lệ đạt mục tiêu

non-HDL-C thấp Bệnh nhân có nồng độ non-HDL-C cao có chỉ số BMI cao hơn, các thông số trong bilan lipid như cholesterol toàn phần, LDL-C và triglyceride cao hơn so với nhóm có nồng độ non-HDL-C thấp

Từ khóa: non-HDL-C, hội chứng mạch vành mạn, LDL-C

ABSTRACT

PROFILE OF NON-HIGH-DENSITY LIPOPROTEIN CHOLESTEROL IN PATIENTS WITH CHRONIC

CORONARY SYNDROME ACHIEVED LDL-C TREATMENT GOALS

Hoang Van Sy, Nguyen Quoc Dat, Nguyen Minh Kha

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 3 - 2021: 141 - 147

Background: Guidelines recommended non-high-density lipoprotein cholesterol (non-HDL-C) as a

co-primary target and set non-HDL-C goals as 30 mg/dl higher than low-density lipoprotein cholesterol (LDL-C) goals However, the level of non-HDL-C is largely uncertain in Vietnamese patients

Objectives: To describe the profiles of non-HDL-C in patients with chronic coronary syndrome, and to

assess the proportion of patients with non-HDL-C levels achieving treatment goals according to current treatment recommendations

Methods: A cross-sectional descriptive study of 122 consecutive patients with chronic coronary syndrome

admitted Cho Ray Hospital from January 2020 to June 2020

1 Bộ môn Nội Tổng quát, Khoa Y, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS.BS Hoàng Văn Sỹ ĐT: 0975979186 Email: hoangvansy@gmail.com

Trang 2

Results: Among 122 patients, the mean age was 66.6 ± 10.9 years, and the male to female ratio was 2:1 The

mean level of non-HDL-C and LDL-C were 81.2 mg/dL and 55.4 mg/dL, respectively Of these, 16.4% achieved non-HDL-C <85 mg/dL Patients in the group with high levels of non-HDL-C (>100 mg/dL) had a significantly higher BMI compared to the group with low levels of non-HDL-C In the parameters of lipid, the level of total cholesterol and triglyceride was also significantly higher in the group with high levels of non-HDL-C

Conclusions: Our study showed that the rate of patients with acute myocardial infarction achieved

non-HDL-C goals was low Patients with high levels of non-HDL-C have a lower mean age, higher BMI, and lipid parameters such as total cholesterol, and triglyceride had higher level than the group with low levels of non-HDL-C

Keywords: non-HDL cholesterol, chronic coronary syndrome, LDL-Cholesterol

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn lipid máu là một trong những yếu

tố khởi đầu cho quá trình hình thành và phát

triển của xơ vữa động mạch Rối loạn lipid máu

sẽ làm rối loạn chức năng của nội mạc mạch

máu, dẫn đến xơ vữa động mạch, bệnh động

mạch vành Trong quá khứ, mục tiêu điều trị để

giảm nguy cơ bệnh mạch vành là giảm nồng độ

LDL-C vì nồng độ tăng cao có liên quan đến tỷ lệ

mắc bệnh mạch vành cao hơn(1) Tuy nhiên,

nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguy cơ xảy ra

các biến cố tim mạch trong tương lai vẫn còn cao

mặc dù đạt được các mục tiêu về LDL-C, huyết

áp và đường huyết một cách tích cực Cụ thể, có

bằng chứng cho thấy thậm chí đạt được mục

tiêu LDL-C<70 mg/dL đã được đề xuất theo các

khuyến cáo hiện hành ở những bệnh nhân có

nguy cơ rất cao vẫn có thể để lại nguy cơ tồn dư

cao bị các biến cố tim mạch chính(2)

Nhiều nghiên cứu, báo cáo trên thế giới đã

chứng minh non-HDL-C là một trong những

yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư quan trọng

Dựa theo các khuyến cáo của NCEP-ATP III, đối

với nhóm bệnh nhân đang điều trị LDL-C <100

mg/dL nhưng non-HDL-C >130 mg/dL có tỷ số

rủi ro cho bệnh mạch vành trong tương lai bằng

1,32 (khoảng tin cậy 95% 1,17 - 1,50) so với đạt cả

hai mục tiêu về LDL-C và non-HDL-C Ngược

lại, bệnh nhân đang điều trị với LDL-C >100

mg/dL nhưng non-HDL-C <130 mg/dL có tỷ số

rủi ro mắc bệnh mạch vành là 1,02 (khoảng tin

cậy 95%, 0,92 - 1,12) tương tự so với những

người đạt được cả hai mục tiêu(3) Từ những

nghiên cứu được nêu trên, cho thấy rằng non-HDL-C vượt trội hơn LDL-C về dự đoán nguy

cơ và có thể là mục tiêu hiệu quả hơn trong điều trị hạ lipid máu, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao Bởi vì non-HDL-C được xem là 1 yếu tố nguy cơ tồn dư tim mạch và một số khuyến cáo xem như là mục tiêu chính nên việc đánh giá nồng độ non-HDL-C ở những bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn có ý nghĩa quan trọng để dự đoán và ngăn ngừa biến cố tim mạch xảy ra trong tương lai(4)

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự khác biệt về sắc tộc trong dự đoán nguy cơ bệnh mạch vành Mô hình dự đoán Framingham dự đoán chính xác nguy cơ bệnh mạch vành ở người da trắng và người da đen sống ở Hoa Kỳ, tuy nhiên,

nó đánh giá quá cao nguy cơ ở người Đông Nam

Á(5) Tại Việt Nam, dữ liệu nghiên cứu về chỉ số non-HDL-C trên bệnh nhân bị hội chứng mạch vành mạn vẫn còn hạn chế Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu khảo sát nồng

độ non-HDL-C ở bệnh nhân bị hội chứng mạch vành mạn đã đạt mục tiêu điều trị LDL-C theo khuyến cáo

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân bị hội chứng mạch vành mạn có nồng độ LDL-C đạt mục tiêu điều trị theo khuyến cáo của Hội Tim Hoa Kỳ/Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ (AHA/ACC) 2018(6) Bệnh nhân trong nghiên cứu được lựa chọn liên tiếp

từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 6 năm 2020 tại bệnh viện Chợ Rẫy

Trang 3

Tiêu chuẩn chọn

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu đủ 18 tuổi,

có khả năng nhận thức và ký vào bản đồng

thuận tham gia nghiên cứu

Hội chứng mạch vành mạn được chẩn đoán

theo tiêu chuẩn gồm: tiền sử nhồi máu cơ tim

trước đó ít nhất 3 tháng, hẹp ít nhất 50% diện

tích động mạch vành chính trên chụp mạch

vành qua da, tiền sử can thiệp đặt stent động

mạch vành hoặc mổ bắc cầu mạch vành, đau

ngực do thiếu máu cơ tim khẳng định bằng điện

tâm đồ gắng sức hoặc xạ hình cơ tim hoặc siêu

âm tim gắng sức dương tính Bệnh nhân gọi là

đạt mục tiêu điều trị khi có nồng độ LDL-C <70

mg/dL(7)

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân đang bị hội chứng vành cấp, suy

tim nặng đang dùng thuốc vận mạch hoặc có các

bệnh lý nặng đi kèm như đột quỵ cấp, hôn mê,

ung thư giai đoạn cuối, suy gan, suy thận nặng

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Các biến số nghiên cứu

Nồng độ non-HDL-C được tính bằng cách

tổng nồng độ cholesterol máu trừ cho nồng độ

HDL-C Theo khuyến cáo của AHA/ACC 2018

gọi là đạt mục tiêu khi LDL-C <70 mg/dL và

nồng độ non-HDL-C <100 mg/dL(6)

Xử lý thống kê

Các biến liên tục được thể hiện bằng trung

bình ± độ lệch chuẩn nếu phân bố chuẩn và

trung vị - khoảng tứ phân vị nếu phân bố không

chuẩn Biến danh định được trình bày dưới dạng

tần số (phần trăm) Bệnh nhân trong nghiên cứu

được chia thành 2 nhóm đạt và không đạt mục

tiêu điều trị theo nồng độ non-HDL-C Dùng

phép kiểm student-t cho biến liên tục có phân bố

chuẩn, phép kiểm Mann-Whitney test cho biến

liên tục không có phân phối chuẩn và phép kiểm

chi bình phương hoặc chính xác Fisher cho biến

phân loại, để so sánh các biến số ở 2 nhóm Dữ

liệu được nhập và xử theo phần mềm Stata 13

(StataCorp 2013 Stata Statistical Software: Release

13 College Station, TX: StataCorp LP)

Y đức

Nghiên cứu được chấp thuận bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh với số

623/ĐHYD-HĐĐĐ ký ngày 12/11/2019

KẾT QUẢ

Trong thời gian nghiên cứu có 122 bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn có nồng độ LDL-C <70 mg/dL được nhận vào nghiên cứu

Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 66,6 ± 10,9 và tỷ lệ nam gần gấp đôi so với nữ (66% so với 34%) Nồng độ LDL-C trong nghiên cứu có giá trị trung bình là 54,4 ± 11,2 mg/dL Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu có tiền căn tăng huyết áp với 108 trường hợp, chiếm 88,5% Các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như đái tháo đường chiếm 38,5%, hút thuốc lá chiếm 26,2%

Bảng 1 thể hiện một số đặc điểm nhân trắc của

dân số nghiên cứu

Nồng độ non-HDL-C trong nghiên cứu có trung bình là 82,1 ± 32,6 mg/dL Trung vị là 75

mg/dL, khoảng tứ phân vị là 65,0 - 91,0 Hình 1A

cho thấy phân bố về nồng độ non-HDL-C của bệnh nhân trong nghiên cứu

Dựa theo mục tiêu điều trị của AHA/ACC cho chỉ số nồng độ non-HDL-C, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ số bệnh nhân có nồng độ LDL-C<70 mg/dL và đạt mục tiêu về non-HDL-C (non-HDL-C <100 mg/dL) là 83,4% (102 bệnh nhân)

Số bệnh nhân không đạt mục tiêu về non-HDL-C khoảng 5 lần chiếm 16,4% số bệnh

nhân (Hình 1B)

Chúng tôi tiến hành so sánh các đặc điểm về

nhân trắc học (Bảng 1) và các xét nghiệm cận lâm

sàng cơ bản, cũng như các chỉ số trong bilan

lipid máu (Bảng 2) giữa 2 nhóm bệnh nhân có

nồng độ non-HDL-C đạt mục tiêu và không đạt mục tiêu theo khuyến cáo của AHA/ACC 2018

Trang 4

Hình 1A: Đặc điểm phân bố nồng độ non-HDL-C của dân số nghiên cứu 1B Tỷ lệ phân bố 2 nhóm đạt và

không đạt mục tiêu điều trị của non-HDL-C

Bảng 1: Đặc điểm chung của 2 nhóm đạt và không đạt mục tiêu về nồng độ non-HDL-C

N = 122

Đạt mục tiêu

N = 102

Không đạt

N = 20 P

Giá trị là trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc số lượng (phần trăm) *Phép kiểm chính xác Fisher

Bảng 2: Đặc điểm về các chỉ số sinh hóa máu ở bệnh nhân đạt và không đạt mục tiêu điều trị theo nồng độ

non-HDL-C

N = 122

Đạt mục tiêu

N = 102

Không đạt

Triglyceride, mg/dL 137,5 (99 – 219) 125,5 (92 – 179) 343,5 (234 – 469,5) < 0,001*

Giá trị là trung bình ± Độ lệch chuẩn hoặc trung vị (khoảng tứ phân vị) *: Phép kiểm Mann-Whitney test

Khi so sánh giữa 2 nhóm bệnh nhân bệnh

mạch vành mạn có nồng độ LDL-C <70 mg/dL

đạt và không đạt mục tiêu điều trị về nồng độ

non-HDL-C ghi nhận không có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về các đặc điểm nhân trắc chung,

ngoài trừ thông số liên quan đến cân nặng và

tiền căn gia đình bệnh mạch vành sớm Theo đó,

nhóm bệnh nhân không đạt mục tiêu điều trị có

chỉ số BMI cao hơn, tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số BMI ≥23 kg/m2 và tiền căn gia đình mắc bệnh tim mạch sớm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đạt mục tiêu điều trị về nồng độ non-HDL-C với p <0,05

Tương tự, khi so sánh về các xét nghiệm cơ bản không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Trang 5

giữa 2 nhóm (Bảng 2) Chúng tôi tìm thấy có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm về chỉ

số cholesterol toàn phần và triglyceride Bệnh

nhân hội chứng mạch vành mạn có nồng độ

LDL-C <70 mg/dL khi không đạt mục tiêu điều

trị về nồng độ non-HDL-C sẽ có cholesterol toàn

phần và triglyceride cao hơn đáng kể so với

nhóm đạt mục tiêu với p <0,001

BÀN LUẬN

Về phương pháp đo lường, non-HDL-C cho

phép đánh giá tất cả các lipoprotein chứa

apolipoprotein B bao gồm LDL-C, VLDL-C,

IDL-C, chylomicrons và các lipoprotein giàu

triglyceride khác Tất cả các chất trên có đóng

góp cho nguy cơ xơ vữa được tính bằng

non-HDL-C chứ không phải chỉ có LDL-C đơn độc(8)

Chúng tôi tiến hành so sánh về nồng độ

non-HDL-C và tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu về điều

trị non-HDL-C với các tác giả trong và ngoài

nước khác Năm 2013, Võ Thị Dễ tiến hành

nghiên cứu sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân

bệnh động mạch vành đã được can thiệp

Nghiên cứu trên cho thấy rằng chỉ có 55,4% bệnh

nhân tuân thủ điều trị thuốc điều trị rối loạn

lipid máu có LDL-C <100 mg/dL, 21,6% bệnh

nhân có LDL-C <70 mg/dL và chỉ có 44,3% bệnh

nhân tuân thủ điều trị thuốc điều trị rối loạn

lipid máu có non-HDL-C <130 mg/dl và 11,4%

bệnh nhân có non-HDL-C <100 mg/dL Đặc biệt,

trong những bệnh nhân có LDL-C <70 mg/dL, tỷ

lệ non-HDL-C <100 mg/dL từ 24% đến 52%(9)

Năm 2005, một phân tích tổng hợp của Stein

EA về 22.070 bệnh nhân điều trị rối loạn lipid

máu Trong đó phân tích dưới nhóm trên 1158

bệnh nhân có LDL-C <70 mg/dL cho những đối

tượng nguy cơ rất cao đa phần là bệnh nhân

bệnh mạch vành có triglyceride dao động từ 200

- 500 mg/dL thì tỷ lệ non-HDL-C <100 mg/dL là

70% Ở phân tích dưới nhóm LDL-C <70 mg/dL,

kết quả là giá trị trung bình non-HDL-C là 94

mg/dL và non-HDL-C là khó đạt mục tiêu khi

TG tăng cao(10)

Trong nghiên cứu của Karalis DG năm

2011 tiến hành thu thập số liệu 10.040 bệnh nhân bệnh mạch vành Nồng độ trung bình C là 109 ± 34 mg/dl Tỷ lệ

non-HDL-C đạt mục tiêu điều trị là 44% (non-HDL-non-HDL-C

<100 mg/dL)(11) Nghiên cứu Wongcharoen W (2017) tiến hành đánh giá hồi cứu các bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim trong thời gian từ năm 2006 -2013

Sau khi theo dõi 868 bệnh nhân trong khoảng thời gian trung bình 2,6 ± 1,6 năm thì có 34,4% đạt mục tiêu điều trị non-HDL-C <100 mg/dL và 23,7% đạt mục tiêu LDL-C <70 mg/dL(12)

Năm 2011, Virani SS tiến hành nghiên cứu trên 21.801 bệnh nhân bệnh mạch vành mạn thì

có 51% cùng đạt mục tiêu điều trị LDL-C và non-HDL-C theo ATP III (với LDL-C <100 mg/dL và non-HDL-C <130 mg/dL là đạt mục tiêu)(13) Trong phân tích dưới nhóm dành cho bệnh nhân

có nồng độ triglyceride cao ≥200 mg/dL (n =

3781, chiếm 17,3% dân số nghiên cứu) thì tỷ lệ đạt được mục tiêu LDL-C <100 mg/dL vẫn cao (74%), nhưng tỷ lệ đạt được mục tiêu kết hợp cho LDL-C và non-LDL-C chỉ 51% Theo khuyến cáo hiện hành thời điểm đó dành cho những bệnh nhân nguy cơ rất cao với mục tiêu LDL-C

<70 mg/dL và mục tiêu non-HDL-C <100 mg/dL thì tỷ lệ đạt được mục tiêu LDL-C thấp (41%) Thậm chí, tỷ lệ đạt được mục tiêu kết hợp của LDL-C <70 mg/dL và non-HDL-C <100 mg/dL là

13% Các lý do có thể bao gồm thiếu nhận thức

về tầm quan trọng của chỉ số non- HDL-C và

trong nghiên cứu này có thể bao gồm một thất

bại trong việc tăng cường liệu pháp statin hoặc thêm các loại thuốc hạ lipid khác khi có chỉ định Nghiên cứu trên cho thấy việc quản lý và điều trị rối loạn lipid máu của bệnh nhân chỉ tập trung cách đạt được mục tiêu LDL-C đơn thuần, trong khi mục tiêu non-HDL-C vẫn chưa được chú

ý(13)

Tỷ lệ non-HDL-C đạt mục tiêu ở các nghiên cứu trong nước và ngoài nước rất khác nhau Tùy thuộc vào đối tượng bệnh nghiên cứu và tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá non-HDL-C đạt

Trang 6

mục tiêu khác nhau Trong nghiên cứu của

chúng tôi sở dĩ tỷ lệ non-HDL-C đạt mục tiêu

cao hơn các nghiên cứu trong và ngoài nước là

bởi vì đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là

những bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn

đã được điều trị, dân số nghiên cứu chọn vào

đều có LDL-C <70 mg/dL và đa phần đang điều

trị statin tích cực Do đó, nồng độ non-HDL-C

thấp hơn và dễ đạt mục tiêu điều trị hơn

Chúng tôi còn nhận thấy bệnh nhân không

đạt mục tiêu về nồng độ non-HDL-C có nồng độ

triglyceride cao hơn rất nhiều so với nhóm bệnh

nhân đạt mục tiêu (Bảng 2) Một trong những lý

do được đưa ra để giải thích vấn đề này là sự gia

tăng nồng độ triglyceride có liên quan đến nồng

độ cao hơn của các lipoprotein giàu triglyceride

(VLDL-C và chylomicron tàn dư), nồng độ

HDL-C thấp hơn và tăng nồng độ của các hạt

LDL nhỏ đậm đặc Một lập luận ủng hộ lợi ích

từ việc giảm nồng độ triglyceride thông qua

những thay đổi mức độ non-HDL-C, theo đó

triglyceride là yếu tố quan trọng quyết định đến

kích thước hạt LDL(14) Khi nồng độ triglyceride

dưới mức thấp chúng sẽ làm LDL biểu hiện ưu

thế dạng hạt lớn nổi (dạng A) và khi nồng độ

triglyceride mức độ cao sẽ làm LDL thể hiện ưu

thế các hạt nhỏ đậm đặc (dạng B) Cho nên, giảm

nồng độ triglyceride từ 250 mg/dL xuống 100

mg/dL sẽ khiến hầu hết các hạt chuyển đổi sang

dạng Patrick A (2017) tìm hiểu mối tương quan

non-HDL-C và triglyceride cho thấy rằng có mối

tương quan mạnh giữa non-HDL-C và chỉ số

triglyceride (r=0,6, p <0,01)(15)

KẾT LUẬN

Nghiên cứu chúng tôi cho thấy nồng độ

trung bình non-HDL-C ở bệnh nhân hội chứng

mạch vành mạn có LDL-C <70 mg/dL là 82,1 ±

32,6 mg/dl, trung vị là 75 mg/dL (65,0 - 91,0) Tỷ

lệ bệnh nhân bệnh mạch vành mạn có LDL-C

<70 mg/dL đạt mục tiêu điều trị về nồng độ non-HDL-C theo AHA/ACC năm 2018 là 83,6%, gấp khoảng 5 lần so với nhóm không đạt mục tiêu với 16,4% Nhóm bệnh nhân không đạt mục tiêu

về nồng độ non-HDL-C có cân nặng lớn hơn, tiền căn gia đình mắc bệnh tim mạch sớm, nồng

độ cholesterol toàn phần và triglyceride cao hơn

có ý nghĩa thống kê so với nhóm đạt mục tiêu điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Baigent C, Blackwell L, Emberson J, et al (2010) Efficacy and safety of more intensive lowering of LDL cholesterol: a meta-analysis of data from 170,000 participants in 26

randomised trials Lancet, 376(9753):1670-1681

2 Fruchart JC, Davignon J, Hermans MP, et al (2014) Residual macrovascular risk in 2013: what have we learned?

Cardiovasc Diabetol, doi: 10.1186/1475-2840-13-26

3 Third Report of the National Cholesterol Education Program (NCEP) (2002) Expert Panel on Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Cholesterol in Adults (Adult

Treatment Panel III) final report Circulation,

106(25):3143-3421

4 Boekholdt SM, Arsenault BJ, Mora S, et al (2012) Association

apolipoprotein B levels with risk of cardiovascular events

among patients treated with statins: a meta-analysis JAMA,

307(12):1302-1309

5 Kent DM, Griffith J (2002) The Framingham scores overestimated the risk for coronary heart disease in

Japanese, Hispanic, and Native American cohorts ACP J Club, 136(1):36

6 Grundy SM, Stone NJ, Bailey AL, et al (2019) 2018 AHA/ACC/AACVPR/AAPA/ABC/ACPM/ADA/AGS/APhA /ASPC/NLA/PCNA Guideline on the Management of Blood Cholesterol: Executive Summary: A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task

Force on Clinical Practice Guidelines J Am Coll Cardiol,

73(24):3168-3209

7 Knuuti J, Wijns W, Saraste A, et al (2020) 2019 ESC Guidelines for the diagnosis and management of chronic

coronary syndromes Eur Heart J, 41(3):407-477

8 Sniderman AD, Islam S, Yusuf S, et al (2012) Discordance

analysis of apolipoprotein B and non-high density lipoprotein cholesterol as markers of cardiovascular risk in

the INTERHEART study Atherosclerosis, 225(2):444-449

9 Võ Thị Dễ (2013) Nghiên cứu sự tuân thủ điều trị của bệnh

nhân bệnh động mạch vành đã được can thiệp Luận văn Tiến sĩ Y học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh

10 Stein EA, Sniderman A, Laskarzewski P (2005) Assessment

of reaching goal in patients with combined hyperlipidemia: low-density lipoprotein cholesterol, non-high-density

lipoprotein cholesterol, or apolipoprotein B Am J Cardiol,

96(9a):36-43

Trang 7

11 Karalis DG, Subramanya RD, Hessen SE, et al (2011)

Achieving optimal lipid goals in patients with coronary

artery disease Am J Cardiol, 107(6):886-890

12 Wongcharoen W, Sutthiwutthichai S, Gunaparn S, et al

(2017) Is non-HDL-Cholesterol a better predictor of

long-term outcome in patients after acute myocardial infarction

compared to LDL-cholesterol? a retrospective study BMC

Cardiovasc Disord, 17(1):10

13 Virani SS, Woodard LD, Landrum CR, et al (2006)

Institutional, provider, and patient correlates of low-density

lipoprotein and non-high-density lipoprotein cholesterol

goal attainment according to the Adult Treatment Panel III

guidelines Am Heart J, 161(6):1140-1146

14 Davidson MH, Bays HE, Stein E, et al (2006) Effects of

hypertriglyceridemic subjects Clin Cardiol, 29(6):268-273

15 Lawler PR, Akinkuolie AO, Chu AY, et al (2017) Atherogenic Lipoprotein Determinants of Cardiovascular Disease and Residual Risk Among Individuals With Low

Low-Density Lipoprotein Cholesterol J Am Heart Assoc,

6(7):e005549

Ngày nhận bài báo: 04/04/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2021 Ngày bài báo được đăng: 25/05/2021

Ngày đăng: 14/07/2022, 14:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1A: Đặc điểm phân bố nồng độ non-HDL-C của dân số nghiên cứu. 1B. Tỷ lệ phân bố 2 nhóm đạt và - Đặc điểm của nồng độ non-HDL-C ở bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn đạt mục tiêu điều trị LDL-C
Hình 1 A: Đặc điểm phân bố nồng độ non-HDL-C của dân số nghiên cứu. 1B. Tỷ lệ phân bố 2 nhóm đạt và (Trang 4)
Bảng 1: Đặc điểm chung của 2 nhóm đạt và khơng đạt mục tiêu về nồng độ non-HDL-C - Đặc điểm của nồng độ non-HDL-C ở bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn đạt mục tiêu điều trị LDL-C
Bảng 1 Đặc điểm chung của 2 nhóm đạt và khơng đạt mục tiêu về nồng độ non-HDL-C (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w