Bài viết Đặc điểm của nồng độ non-HDL-C ở bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn đạt mục tiêu điều trị LDL-C trình bày mô tả đặc điểm nồng độ non-HDL-C ở bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn đạt mục tiêu điều trị LDL-C (LDL-C < 70 mg/dL) và đánh giá tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ non-HDL-C đạt mục tiêu điều trị theo các khuyến cáo điều trị hiện nay.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM CỦA NỒNG ĐỘ NON-HDL-C
Ở BỆNH NHÂN CÓ HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH MẠN
ĐẠT MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ LDL-C
Hoàng Văn Sỹ 1 , Nguyễn Quốc Đạt 1 , Nguyễn Minh Kha 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Các hướng dẫn khuyến cáo nồng độ non-HDL-C được coi như một yếu tố nguy cơ tim mạch
chính trong mục tiêu điều trị cho bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn và nồng đồ mục tiêu tương ứng cao hơn mục tiêu LDL-C là 30 mg/dL Tuy nhiên, nồng độ của non-HDL-C còn ít được đánh giá ở bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn tại Việt Nam
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nồng độ non-HDL-C ở bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn đạt mục tiêu điều
trị LDL-C (LDL-C < 70 mg/dL) và đánh giá tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ non-HDL-C đạt mục tiêu điều trị theo các khuyến cáo điều trị hiện nay
Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả 122 bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng mạch
vành mạn nhập bệnh viện Chợ Rẫy trong khoảng thời gian từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2020
Kết quả: Trong 122 bệnh nhân, độ tuổi trung bình là 66,6 ± 10,9 tuổi, tỷ lệ giới nam:nữ là 2:1 Nồng độ
trung bình của non-HDL-C và LDL-C lần lượt là 82,1 mg/dL và 54,4 mg/dL Trong dân số nghiên cứu, có 16,4% số bệnh nhân có nồng độ C <100 mg/dL Những bệnh nhân thuộc nhóm có nồng độ
non-HDL-C cao (≥85 mg/dL) chỉ số BMI cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có nồng độ non-HDL-non-HDL-C thấp Ở các thông số về bilan lipid, cũng ghi nhận nồng độ cholesterol toàn phần và triglyceride cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm có nồng độ non-HDL-C cao
Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn có tỷ lệ đạt mục tiêu
non-HDL-C thấp Bệnh nhân có nồng độ non-HDL-C cao có chỉ số BMI cao hơn, các thông số trong bilan lipid như cholesterol toàn phần, LDL-C và triglyceride cao hơn so với nhóm có nồng độ non-HDL-C thấp
Từ khóa: non-HDL-C, hội chứng mạch vành mạn, LDL-C
ABSTRACT
PROFILE OF NON-HIGH-DENSITY LIPOPROTEIN CHOLESTEROL IN PATIENTS WITH CHRONIC
CORONARY SYNDROME ACHIEVED LDL-C TREATMENT GOALS
Hoang Van Sy, Nguyen Quoc Dat, Nguyen Minh Kha
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 3 - 2021: 141 - 147
Background: Guidelines recommended non-high-density lipoprotein cholesterol (non-HDL-C) as a
co-primary target and set non-HDL-C goals as 30 mg/dl higher than low-density lipoprotein cholesterol (LDL-C) goals However, the level of non-HDL-C is largely uncertain in Vietnamese patients
Objectives: To describe the profiles of non-HDL-C in patients with chronic coronary syndrome, and to
assess the proportion of patients with non-HDL-C levels achieving treatment goals according to current treatment recommendations
Methods: A cross-sectional descriptive study of 122 consecutive patients with chronic coronary syndrome
admitted Cho Ray Hospital from January 2020 to June 2020
1 Bộ môn Nội Tổng quát, Khoa Y, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: TS.BS Hoàng Văn Sỹ ĐT: 0975979186 Email: hoangvansy@gmail.com
Trang 2Results: Among 122 patients, the mean age was 66.6 ± 10.9 years, and the male to female ratio was 2:1 The
mean level of non-HDL-C and LDL-C were 81.2 mg/dL and 55.4 mg/dL, respectively Of these, 16.4% achieved non-HDL-C <85 mg/dL Patients in the group with high levels of non-HDL-C (>100 mg/dL) had a significantly higher BMI compared to the group with low levels of non-HDL-C In the parameters of lipid, the level of total cholesterol and triglyceride was also significantly higher in the group with high levels of non-HDL-C
Conclusions: Our study showed that the rate of patients with acute myocardial infarction achieved
non-HDL-C goals was low Patients with high levels of non-HDL-C have a lower mean age, higher BMI, and lipid parameters such as total cholesterol, and triglyceride had higher level than the group with low levels of non-HDL-C
Keywords: non-HDL cholesterol, chronic coronary syndrome, LDL-Cholesterol
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn lipid máu là một trong những yếu
tố khởi đầu cho quá trình hình thành và phát
triển của xơ vữa động mạch Rối loạn lipid máu
sẽ làm rối loạn chức năng của nội mạc mạch
máu, dẫn đến xơ vữa động mạch, bệnh động
mạch vành Trong quá khứ, mục tiêu điều trị để
giảm nguy cơ bệnh mạch vành là giảm nồng độ
LDL-C vì nồng độ tăng cao có liên quan đến tỷ lệ
mắc bệnh mạch vành cao hơn(1) Tuy nhiên,
nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguy cơ xảy ra
các biến cố tim mạch trong tương lai vẫn còn cao
mặc dù đạt được các mục tiêu về LDL-C, huyết
áp và đường huyết một cách tích cực Cụ thể, có
bằng chứng cho thấy thậm chí đạt được mục
tiêu LDL-C<70 mg/dL đã được đề xuất theo các
khuyến cáo hiện hành ở những bệnh nhân có
nguy cơ rất cao vẫn có thể để lại nguy cơ tồn dư
cao bị các biến cố tim mạch chính(2)
Nhiều nghiên cứu, báo cáo trên thế giới đã
chứng minh non-HDL-C là một trong những
yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư quan trọng
Dựa theo các khuyến cáo của NCEP-ATP III, đối
với nhóm bệnh nhân đang điều trị LDL-C <100
mg/dL nhưng non-HDL-C >130 mg/dL có tỷ số
rủi ro cho bệnh mạch vành trong tương lai bằng
1,32 (khoảng tin cậy 95% 1,17 - 1,50) so với đạt cả
hai mục tiêu về LDL-C và non-HDL-C Ngược
lại, bệnh nhân đang điều trị với LDL-C >100
mg/dL nhưng non-HDL-C <130 mg/dL có tỷ số
rủi ro mắc bệnh mạch vành là 1,02 (khoảng tin
cậy 95%, 0,92 - 1,12) tương tự so với những
người đạt được cả hai mục tiêu(3) Từ những
nghiên cứu được nêu trên, cho thấy rằng non-HDL-C vượt trội hơn LDL-C về dự đoán nguy
cơ và có thể là mục tiêu hiệu quả hơn trong điều trị hạ lipid máu, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao Bởi vì non-HDL-C được xem là 1 yếu tố nguy cơ tồn dư tim mạch và một số khuyến cáo xem như là mục tiêu chính nên việc đánh giá nồng độ non-HDL-C ở những bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn có ý nghĩa quan trọng để dự đoán và ngăn ngừa biến cố tim mạch xảy ra trong tương lai(4)
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự khác biệt về sắc tộc trong dự đoán nguy cơ bệnh mạch vành Mô hình dự đoán Framingham dự đoán chính xác nguy cơ bệnh mạch vành ở người da trắng và người da đen sống ở Hoa Kỳ, tuy nhiên,
nó đánh giá quá cao nguy cơ ở người Đông Nam
Á(5) Tại Việt Nam, dữ liệu nghiên cứu về chỉ số non-HDL-C trên bệnh nhân bị hội chứng mạch vành mạn vẫn còn hạn chế Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu khảo sát nồng
độ non-HDL-C ở bệnh nhân bị hội chứng mạch vành mạn đã đạt mục tiêu điều trị LDL-C theo khuyến cáo
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân bị hội chứng mạch vành mạn có nồng độ LDL-C đạt mục tiêu điều trị theo khuyến cáo của Hội Tim Hoa Kỳ/Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ (AHA/ACC) 2018(6) Bệnh nhân trong nghiên cứu được lựa chọn liên tiếp
từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 6 năm 2020 tại bệnh viện Chợ Rẫy
Trang 3Tiêu chuẩn chọn
Bệnh nhân tham gia nghiên cứu đủ 18 tuổi,
có khả năng nhận thức và ký vào bản đồng
thuận tham gia nghiên cứu
Hội chứng mạch vành mạn được chẩn đoán
theo tiêu chuẩn gồm: tiền sử nhồi máu cơ tim
trước đó ít nhất 3 tháng, hẹp ít nhất 50% diện
tích động mạch vành chính trên chụp mạch
vành qua da, tiền sử can thiệp đặt stent động
mạch vành hoặc mổ bắc cầu mạch vành, đau
ngực do thiếu máu cơ tim khẳng định bằng điện
tâm đồ gắng sức hoặc xạ hình cơ tim hoặc siêu
âm tim gắng sức dương tính Bệnh nhân gọi là
đạt mục tiêu điều trị khi có nồng độ LDL-C <70
mg/dL(7)
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân đang bị hội chứng vành cấp, suy
tim nặng đang dùng thuốc vận mạch hoặc có các
bệnh lý nặng đi kèm như đột quỵ cấp, hôn mê,
ung thư giai đoạn cuối, suy gan, suy thận nặng
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Các biến số nghiên cứu
Nồng độ non-HDL-C được tính bằng cách
tổng nồng độ cholesterol máu trừ cho nồng độ
HDL-C Theo khuyến cáo của AHA/ACC 2018
gọi là đạt mục tiêu khi LDL-C <70 mg/dL và
nồng độ non-HDL-C <100 mg/dL(6)
Xử lý thống kê
Các biến liên tục được thể hiện bằng trung
bình ± độ lệch chuẩn nếu phân bố chuẩn và
trung vị - khoảng tứ phân vị nếu phân bố không
chuẩn Biến danh định được trình bày dưới dạng
tần số (phần trăm) Bệnh nhân trong nghiên cứu
được chia thành 2 nhóm đạt và không đạt mục
tiêu điều trị theo nồng độ non-HDL-C Dùng
phép kiểm student-t cho biến liên tục có phân bố
chuẩn, phép kiểm Mann-Whitney test cho biến
liên tục không có phân phối chuẩn và phép kiểm
chi bình phương hoặc chính xác Fisher cho biến
phân loại, để so sánh các biến số ở 2 nhóm Dữ
liệu được nhập và xử theo phần mềm Stata 13
(StataCorp 2013 Stata Statistical Software: Release
13 College Station, TX: StataCorp LP)
Y đức
Nghiên cứu được chấp thuận bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh với số
623/ĐHYD-HĐĐĐ ký ngày 12/11/2019
KẾT QUẢ
Trong thời gian nghiên cứu có 122 bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn có nồng độ LDL-C <70 mg/dL được nhận vào nghiên cứu
Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 66,6 ± 10,9 và tỷ lệ nam gần gấp đôi so với nữ (66% so với 34%) Nồng độ LDL-C trong nghiên cứu có giá trị trung bình là 54,4 ± 11,2 mg/dL Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu có tiền căn tăng huyết áp với 108 trường hợp, chiếm 88,5% Các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như đái tháo đường chiếm 38,5%, hút thuốc lá chiếm 26,2%
Bảng 1 thể hiện một số đặc điểm nhân trắc của
dân số nghiên cứu
Nồng độ non-HDL-C trong nghiên cứu có trung bình là 82,1 ± 32,6 mg/dL Trung vị là 75
mg/dL, khoảng tứ phân vị là 65,0 - 91,0 Hình 1A
cho thấy phân bố về nồng độ non-HDL-C của bệnh nhân trong nghiên cứu
Dựa theo mục tiêu điều trị của AHA/ACC cho chỉ số nồng độ non-HDL-C, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ số bệnh nhân có nồng độ LDL-C<70 mg/dL và đạt mục tiêu về non-HDL-C (non-HDL-C <100 mg/dL) là 83,4% (102 bệnh nhân)
Số bệnh nhân không đạt mục tiêu về non-HDL-C khoảng 5 lần chiếm 16,4% số bệnh
nhân (Hình 1B)
Chúng tôi tiến hành so sánh các đặc điểm về
nhân trắc học (Bảng 1) và các xét nghiệm cận lâm
sàng cơ bản, cũng như các chỉ số trong bilan
lipid máu (Bảng 2) giữa 2 nhóm bệnh nhân có
nồng độ non-HDL-C đạt mục tiêu và không đạt mục tiêu theo khuyến cáo của AHA/ACC 2018
Trang 4Hình 1A: Đặc điểm phân bố nồng độ non-HDL-C của dân số nghiên cứu 1B Tỷ lệ phân bố 2 nhóm đạt và
không đạt mục tiêu điều trị của non-HDL-C
Bảng 1: Đặc điểm chung của 2 nhóm đạt và không đạt mục tiêu về nồng độ non-HDL-C
N = 122
Đạt mục tiêu
N = 102
Không đạt
N = 20 P
Giá trị là trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc số lượng (phần trăm) *Phép kiểm chính xác Fisher
Bảng 2: Đặc điểm về các chỉ số sinh hóa máu ở bệnh nhân đạt và không đạt mục tiêu điều trị theo nồng độ
non-HDL-C
N = 122
Đạt mục tiêu
N = 102
Không đạt
Triglyceride, mg/dL 137,5 (99 – 219) 125,5 (92 – 179) 343,5 (234 – 469,5) < 0,001*
Giá trị là trung bình ± Độ lệch chuẩn hoặc trung vị (khoảng tứ phân vị) *: Phép kiểm Mann-Whitney test
Khi so sánh giữa 2 nhóm bệnh nhân bệnh
mạch vành mạn có nồng độ LDL-C <70 mg/dL
đạt và không đạt mục tiêu điều trị về nồng độ
non-HDL-C ghi nhận không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về các đặc điểm nhân trắc chung,
ngoài trừ thông số liên quan đến cân nặng và
tiền căn gia đình bệnh mạch vành sớm Theo đó,
nhóm bệnh nhân không đạt mục tiêu điều trị có
chỉ số BMI cao hơn, tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số BMI ≥23 kg/m2 và tiền căn gia đình mắc bệnh tim mạch sớm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đạt mục tiêu điều trị về nồng độ non-HDL-C với p <0,05
Tương tự, khi so sánh về các xét nghiệm cơ bản không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Trang 5giữa 2 nhóm (Bảng 2) Chúng tôi tìm thấy có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm về chỉ
số cholesterol toàn phần và triglyceride Bệnh
nhân hội chứng mạch vành mạn có nồng độ
LDL-C <70 mg/dL khi không đạt mục tiêu điều
trị về nồng độ non-HDL-C sẽ có cholesterol toàn
phần và triglyceride cao hơn đáng kể so với
nhóm đạt mục tiêu với p <0,001
BÀN LUẬN
Về phương pháp đo lường, non-HDL-C cho
phép đánh giá tất cả các lipoprotein chứa
apolipoprotein B bao gồm LDL-C, VLDL-C,
IDL-C, chylomicrons và các lipoprotein giàu
triglyceride khác Tất cả các chất trên có đóng
góp cho nguy cơ xơ vữa được tính bằng
non-HDL-C chứ không phải chỉ có LDL-C đơn độc(8)
Chúng tôi tiến hành so sánh về nồng độ
non-HDL-C và tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu về điều
trị non-HDL-C với các tác giả trong và ngoài
nước khác Năm 2013, Võ Thị Dễ tiến hành
nghiên cứu sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân
bệnh động mạch vành đã được can thiệp
Nghiên cứu trên cho thấy rằng chỉ có 55,4% bệnh
nhân tuân thủ điều trị thuốc điều trị rối loạn
lipid máu có LDL-C <100 mg/dL, 21,6% bệnh
nhân có LDL-C <70 mg/dL và chỉ có 44,3% bệnh
nhân tuân thủ điều trị thuốc điều trị rối loạn
lipid máu có non-HDL-C <130 mg/dl và 11,4%
bệnh nhân có non-HDL-C <100 mg/dL Đặc biệt,
trong những bệnh nhân có LDL-C <70 mg/dL, tỷ
lệ non-HDL-C <100 mg/dL từ 24% đến 52%(9)
Năm 2005, một phân tích tổng hợp của Stein
EA về 22.070 bệnh nhân điều trị rối loạn lipid
máu Trong đó phân tích dưới nhóm trên 1158
bệnh nhân có LDL-C <70 mg/dL cho những đối
tượng nguy cơ rất cao đa phần là bệnh nhân
bệnh mạch vành có triglyceride dao động từ 200
- 500 mg/dL thì tỷ lệ non-HDL-C <100 mg/dL là
70% Ở phân tích dưới nhóm LDL-C <70 mg/dL,
kết quả là giá trị trung bình non-HDL-C là 94
mg/dL và non-HDL-C là khó đạt mục tiêu khi
TG tăng cao(10)
Trong nghiên cứu của Karalis DG năm
2011 tiến hành thu thập số liệu 10.040 bệnh nhân bệnh mạch vành Nồng độ trung bình C là 109 ± 34 mg/dl Tỷ lệ
non-HDL-C đạt mục tiêu điều trị là 44% (non-HDL-non-HDL-C
<100 mg/dL)(11) Nghiên cứu Wongcharoen W (2017) tiến hành đánh giá hồi cứu các bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim trong thời gian từ năm 2006 -2013
Sau khi theo dõi 868 bệnh nhân trong khoảng thời gian trung bình 2,6 ± 1,6 năm thì có 34,4% đạt mục tiêu điều trị non-HDL-C <100 mg/dL và 23,7% đạt mục tiêu LDL-C <70 mg/dL(12)
Năm 2011, Virani SS tiến hành nghiên cứu trên 21.801 bệnh nhân bệnh mạch vành mạn thì
có 51% cùng đạt mục tiêu điều trị LDL-C và non-HDL-C theo ATP III (với LDL-C <100 mg/dL và non-HDL-C <130 mg/dL là đạt mục tiêu)(13) Trong phân tích dưới nhóm dành cho bệnh nhân
có nồng độ triglyceride cao ≥200 mg/dL (n =
3781, chiếm 17,3% dân số nghiên cứu) thì tỷ lệ đạt được mục tiêu LDL-C <100 mg/dL vẫn cao (74%), nhưng tỷ lệ đạt được mục tiêu kết hợp cho LDL-C và non-LDL-C chỉ 51% Theo khuyến cáo hiện hành thời điểm đó dành cho những bệnh nhân nguy cơ rất cao với mục tiêu LDL-C
<70 mg/dL và mục tiêu non-HDL-C <100 mg/dL thì tỷ lệ đạt được mục tiêu LDL-C thấp (41%) Thậm chí, tỷ lệ đạt được mục tiêu kết hợp của LDL-C <70 mg/dL và non-HDL-C <100 mg/dL là
13% Các lý do có thể bao gồm thiếu nhận thức
về tầm quan trọng của chỉ số non- HDL-C và
trong nghiên cứu này có thể bao gồm một thất
bại trong việc tăng cường liệu pháp statin hoặc thêm các loại thuốc hạ lipid khác khi có chỉ định Nghiên cứu trên cho thấy việc quản lý và điều trị rối loạn lipid máu của bệnh nhân chỉ tập trung cách đạt được mục tiêu LDL-C đơn thuần, trong khi mục tiêu non-HDL-C vẫn chưa được chú
ý(13)
Tỷ lệ non-HDL-C đạt mục tiêu ở các nghiên cứu trong nước và ngoài nước rất khác nhau Tùy thuộc vào đối tượng bệnh nghiên cứu và tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá non-HDL-C đạt
Trang 6mục tiêu khác nhau Trong nghiên cứu của
chúng tôi sở dĩ tỷ lệ non-HDL-C đạt mục tiêu
cao hơn các nghiên cứu trong và ngoài nước là
bởi vì đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là
những bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn
đã được điều trị, dân số nghiên cứu chọn vào
đều có LDL-C <70 mg/dL và đa phần đang điều
trị statin tích cực Do đó, nồng độ non-HDL-C
thấp hơn và dễ đạt mục tiêu điều trị hơn
Chúng tôi còn nhận thấy bệnh nhân không
đạt mục tiêu về nồng độ non-HDL-C có nồng độ
triglyceride cao hơn rất nhiều so với nhóm bệnh
nhân đạt mục tiêu (Bảng 2) Một trong những lý
do được đưa ra để giải thích vấn đề này là sự gia
tăng nồng độ triglyceride có liên quan đến nồng
độ cao hơn của các lipoprotein giàu triglyceride
(VLDL-C và chylomicron tàn dư), nồng độ
HDL-C thấp hơn và tăng nồng độ của các hạt
LDL nhỏ đậm đặc Một lập luận ủng hộ lợi ích
từ việc giảm nồng độ triglyceride thông qua
những thay đổi mức độ non-HDL-C, theo đó
triglyceride là yếu tố quan trọng quyết định đến
kích thước hạt LDL(14) Khi nồng độ triglyceride
dưới mức thấp chúng sẽ làm LDL biểu hiện ưu
thế dạng hạt lớn nổi (dạng A) và khi nồng độ
triglyceride mức độ cao sẽ làm LDL thể hiện ưu
thế các hạt nhỏ đậm đặc (dạng B) Cho nên, giảm
nồng độ triglyceride từ 250 mg/dL xuống 100
mg/dL sẽ khiến hầu hết các hạt chuyển đổi sang
dạng Patrick A (2017) tìm hiểu mối tương quan
non-HDL-C và triglyceride cho thấy rằng có mối
tương quan mạnh giữa non-HDL-C và chỉ số
triglyceride (r=0,6, p <0,01)(15)
KẾT LUẬN
Nghiên cứu chúng tôi cho thấy nồng độ
trung bình non-HDL-C ở bệnh nhân hội chứng
mạch vành mạn có LDL-C <70 mg/dL là 82,1 ±
32,6 mg/dl, trung vị là 75 mg/dL (65,0 - 91,0) Tỷ
lệ bệnh nhân bệnh mạch vành mạn có LDL-C
<70 mg/dL đạt mục tiêu điều trị về nồng độ non-HDL-C theo AHA/ACC năm 2018 là 83,6%, gấp khoảng 5 lần so với nhóm không đạt mục tiêu với 16,4% Nhóm bệnh nhân không đạt mục tiêu
về nồng độ non-HDL-C có cân nặng lớn hơn, tiền căn gia đình mắc bệnh tim mạch sớm, nồng
độ cholesterol toàn phần và triglyceride cao hơn
có ý nghĩa thống kê so với nhóm đạt mục tiêu điều trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Baigent C, Blackwell L, Emberson J, et al (2010) Efficacy and safety of more intensive lowering of LDL cholesterol: a meta-analysis of data from 170,000 participants in 26
randomised trials Lancet, 376(9753):1670-1681
2 Fruchart JC, Davignon J, Hermans MP, et al (2014) Residual macrovascular risk in 2013: what have we learned?
Cardiovasc Diabetol, doi: 10.1186/1475-2840-13-26
3 Third Report of the National Cholesterol Education Program (NCEP) (2002) Expert Panel on Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Cholesterol in Adults (Adult
Treatment Panel III) final report Circulation,
106(25):3143-3421
4 Boekholdt SM, Arsenault BJ, Mora S, et al (2012) Association
apolipoprotein B levels with risk of cardiovascular events
among patients treated with statins: a meta-analysis JAMA,
307(12):1302-1309
5 Kent DM, Griffith J (2002) The Framingham scores overestimated the risk for coronary heart disease in
Japanese, Hispanic, and Native American cohorts ACP J Club, 136(1):36
6 Grundy SM, Stone NJ, Bailey AL, et al (2019) 2018 AHA/ACC/AACVPR/AAPA/ABC/ACPM/ADA/AGS/APhA /ASPC/NLA/PCNA Guideline on the Management of Blood Cholesterol: Executive Summary: A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task
Force on Clinical Practice Guidelines J Am Coll Cardiol,
73(24):3168-3209
7 Knuuti J, Wijns W, Saraste A, et al (2020) 2019 ESC Guidelines for the diagnosis and management of chronic
coronary syndromes Eur Heart J, 41(3):407-477
8 Sniderman AD, Islam S, Yusuf S, et al (2012) Discordance
analysis of apolipoprotein B and non-high density lipoprotein cholesterol as markers of cardiovascular risk in
the INTERHEART study Atherosclerosis, 225(2):444-449
9 Võ Thị Dễ (2013) Nghiên cứu sự tuân thủ điều trị của bệnh
nhân bệnh động mạch vành đã được can thiệp Luận văn Tiến sĩ Y học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
10 Stein EA, Sniderman A, Laskarzewski P (2005) Assessment
of reaching goal in patients with combined hyperlipidemia: low-density lipoprotein cholesterol, non-high-density
lipoprotein cholesterol, or apolipoprotein B Am J Cardiol,
96(9a):36-43
Trang 711 Karalis DG, Subramanya RD, Hessen SE, et al (2011)
Achieving optimal lipid goals in patients with coronary
artery disease Am J Cardiol, 107(6):886-890
12 Wongcharoen W, Sutthiwutthichai S, Gunaparn S, et al
(2017) Is non-HDL-Cholesterol a better predictor of
long-term outcome in patients after acute myocardial infarction
compared to LDL-cholesterol? a retrospective study BMC
Cardiovasc Disord, 17(1):10
13 Virani SS, Woodard LD, Landrum CR, et al (2006)
Institutional, provider, and patient correlates of low-density
lipoprotein and non-high-density lipoprotein cholesterol
goal attainment according to the Adult Treatment Panel III
guidelines Am Heart J, 161(6):1140-1146
14 Davidson MH, Bays HE, Stein E, et al (2006) Effects of
hypertriglyceridemic subjects Clin Cardiol, 29(6):268-273
15 Lawler PR, Akinkuolie AO, Chu AY, et al (2017) Atherogenic Lipoprotein Determinants of Cardiovascular Disease and Residual Risk Among Individuals With Low
Low-Density Lipoprotein Cholesterol J Am Heart Assoc,
6(7):e005549
Ngày nhận bài báo: 04/04/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2021 Ngày bài báo được đăng: 25/05/2021