n thiệp động mạch vành đã trở thành một phương pháp điều trị hữu hiệu bệnh lý động mạch vành. Đây là phương pháp điều trị xâm lấn, có thể xảy ra biến chứng. Bài viết nghiên cứu sự biến đổi nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI trước và sau can thiệp động mạch vành ở bệnh nhân hội chứng vành cấp.
Trang 1NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ BNP HUYẾT THANH
VÀ hs-cTnI TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH
Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG VÀNH CẤP
Đoàn Văn Chung 1 , Hoàng Anh Tiến 2 , Hồ Anh Bình 3
TÓM TẮT
Mục tiêu: Can thiệp động mạch vành đã trở thành một phương pháp điều trị hữu hiệu bệnh lý động mạch
vành Đây là phương pháp điều trị xâm lấn, có thể xảy ra biến chứng Bên cạnh đó, nhiều chất chỉ điểm sinh học mới đã và đang được chứng minh về giá trị tiên lượng tử vong hoặc các biến cố tim mạch chính ở bệnh nhân mắc hội chứng vành cấp, đặc biệt sau can thiệp động mạch vành (ĐMV)
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 78 bệnh nhân có hội
chứng vành cấp nhập viện được chụp và can thiệp động mạch vành tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên từ tháng
4 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018
Kết quả: Giá trị của nồng độ BNP huyết thanh tăng lên sau CT 24 giờ (p >0,05) lần lượt
483,99±1092,58pg/ml; 312,78±485,25pg/ml Giá trị của hs-cTnI tăng lên sau CT 24 giờ (p <0,01) lần lượt 1463,50±2115,30 pg/ml; 760,52±1698,75 pg/ml Liên quan tỷ lệ nghịch giữa nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI với phân suất tống máu EF trước và sau can thiệp động mạch vành, (p <0,01) Có sự tương quan thuận chiều mức độ vừa giữa nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI trước can thiệp với p=0,001 và r=+0,363 Không có
sự tương quan giữa nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI sau can thiệp 24 giờ với p=0,969 và r=-0,005
Kết luận: BNP huyết thanh và hs-cTnI có thể được sữ dụng để theo dõi và tiên lượng bệnh nhân hội chứng
vành cấp được can thiệp
Từ khóa: hội chứng vành cấp, can thiệp động mạch vành, biến đổi nồng độ BNP huyết thanh
ABSTRACT
B-TYPE NATRIURETIC PEPTIDE AND HIGH-SENSITIVITY CARDIAC TROPONIN I LEVELS BEFORE AND AFTER PERCUTANEOUS CORONARY INTERVENTION IN PATIENTS
WITH ACUTE CORONARY SYNDROME
Doan Van Chung, Hoang Anh Tien, Ho Anh Binh
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 3 - 2021: 126 - 132
Objectives: Percutaneous coronary intervention (PCI) has become an effective treatment for coronary artery
disease This is a minimally invasive procedure, can cause complications In addition, a wide range of new biological markers have been proven in prognostic values of death or major adverse cardiovascular events (MACE) in patients with acute coronary syndrome, especially after coronary intervention
Methods: Setting a cross-sectional description in 78 patients on acute coronary syndrome patients
undergone coronary artery angiography and intervention at Phu Yen General Hospital from April 2017 to August 2018
Results: The value of serum BNP concentration increased after 24-hour PCI (p >0.05) 483.99 ± 1092.58
pg/ml, respectively; 312.78 ± 485.25 pg/ml The value of hs-cTnI increased after 24-hour PCI (p <0.01) 1463.50 ± 2115.30 pg/ml, respectively; 760.52 ± 1698.75 pg/ml There was a negative correlation between serum BNP level
1BV Đa khoa tỉnh Phú Yên 2Trường ĐH Y Dược Huế 3BV Trung Ương Huế
Tác giả liên lạc: TS.BS Hồ Anh Bình ĐT: 0913489896 Email: drhoanhbinh@gmail.com
Trang 2and hs-cTnI level with ejection fraction (EF) before and after percutaneous coronary intervention (p <0.01) There was a moderate positive correlation between serum BNP level and hs-cTnI level before PCI with p=0.001 and r=+0.363 There was no correlation between serum BNP level and hs-cTnI level after 24-hour PCI with p=0.969 and r=-0.005
Conclusion: B-type natriuretic peptide and high-sensitivity cardiac troponin I can be used to follow up and
make the prognosis of intervened acute coronary syndrome patients
Keywords: acute coronary syndrome, percutaneous coronary intervention (PCI), B-type natriuretic peptide
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chụp và can thiệp động mạch vành (ĐMV)
được Andreas Grüntzig thực hiện lần đầu tiên
năm 1977 tại Zurich (Thụy Sĩ), cho đến nay đã
có nhiều bước tiến bộ vượt bậc mang lại hiệu
quả cao Can thiệp động mạch vành đã trở
thành một phương pháp điều trị hữu hiệu
bệnh lý động mạch vành Đây là phương pháp
điều trị xâm lấn, có thể xảy ra biến chứng
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên
cứu về các yếu tố nguy cơ, từ các nghiên cứu
này, nhiều hệ thống điểm nguy cơ dự báo biến
chứng và tử vong hình thành và đã được áp
dụng tại nhiều Trung tâm Tim mạch can thiệp
như: Mayo Clinic Risk Score, Euro Score, PCI
Risk Score, SYNTAX Score(1)
Những năm gần đây, nhiều chất chỉ điểm
sinh học mới đã và đang được chứng minh về
giá trị tiên lượng tử vong hoặc các biến cố tim
mạch chính ở bệnh nhân mắc hội chứng vành
cấp (HCVC)(2)
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả những bệnh nhân có hội chứng vành
cấp nhập viện được chụp và can thiệp động
mạch vành tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên
từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu phải
thỏa mãn các điều kiện sau:
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là nhồi
máu cơ tim cấp có ST chênh lên và không có ST
chênh lên hoặc cơn đau thắt ngực (ĐTN) không
ổn định theo khuyến cáo 2015 của Hội tim mạch
học Việt Nam(3)
Bệnh nhân và gia đình đồng ý và hợp tác tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân không có chỉ định can thiệp động mạch vành
Đối tượng can thiệp động mạch vành thất bại như không đưa được dây dẫn, bóng, giá đỡ qua tổn thương
Các biến chứng xảy ra trong can thiệp hoặc ngay sau can thiệp như bệnh nhân tử vong, cần phẫu thuật cầu nối chủ-vành cấp cứu
Có các tình trạng bệnh lý sau: Chấn thương
cơ, viêm cơ tim, bệnh van tim, rung nhĩ, bệnh phổi mạn tính, sốc do mọi nguyên nhân, suy thận, bệnh hệ thống, mang máy tạo nhịp, chấn thương hoặc tai biến mạch máu não (TBMMN) dưới 3 tháng
Các bệnh nhân không hợp tác nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Thu thập dữ liệu và các bước tiến hành
Mỗi bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu được khảo sát theo phiếu nghiên cứu được thiết kế
sẵn lần lượt theo quy trình:
Hành chính: Tên, tuổi, giới, nghề nghiệp, địa chỉ, ngày giờ vào viện, lý do vào viện
Tiền sử: Hút thuốc lá, tăng huyết áp, rối loạn lipid, đái tháo đường, nhồi máu cơ tim cũ, bệnh mạch vành đã đặt stent
Ghi nhận các kết quả của các xét nghiệm liên quan như: công thức máu, mỡ máu, chức năng thận, điện tâm đồ, siêu âm tim
Định lượng nồng độ B type natriuretic
Trang 3peptide: BNP, hs-cTnI vào thời điểm lúc nhập
viện hoặc trước can thiệp và sau can thiệp động
mạch vành qua da trong thời gian 24 h
Kết quả chụp động mạch vành với tổn
thương cần chỉ định can thiệp ĐMV qua da
Thống kê và xử lý số liệu
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y
học, sử dụng phần mềm Microsoft Excel và
SPSS 20.0
Thống kê phân tích: so sánh các tỷ lệ và
kiểm định mối liên quan giữa các biến số định
tính bằng phép kiểm định chi bình phương
Kết quả khác biệt được xem là có ý nghĩa
thống kê với p <0,05
KẾT QUẢ
Qua nghiên cứu 78 bệnh nhân có hội chứng
vành cấp đươc chụp và can thiệp động mạch
vành, chúng tôi thu được một số kết quả sau:
Đặc điểm chung và lâm sàng
Bảng 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm
tuổi và giới
Nhóm tuổi
Tỷ lệ
< 0,05
Tỷ lệ được can thiệp động mạch vành của
nam chiếm đa số hơn so với nữ (78,2% so với
21,8%) Tỷ lệ các đối tượng từ 50 tuổi trở lên có
chỉ định can thiệp mạch vành chiếm ưu thế
94,9%, trong đó đối tượng từ 50-70 tuổi chiếm tỷ
lệ 60,30% (p <0,05) (Bảng 1)
Bảng 2: Phân bố các thể lâm sàng của đối tượng
nghiên cứu
<0,05
Trong các thể lâm sàng, đau thắt ngực không
ổn định (ĐTNKÔĐ) chiếm tỷ lệ cao nhất 44,9%; thấp nhất NMKSTCL chiếm tỷ lệ 19,2% (p <0,05) Phần lớn đối tượng nghiên cứu nằm ở độ II Killip 33,3% Có 02 trường hợp có phân độ IV
2,6% (p <0,05) (Bảng 2)
Đặc điểm cận lâm sàng
Bảng 3: Phân bố vị trí tổn thương động mạch vành
Tỷ lệ tổn thương động mạch vành phải chiếm cao nhất 69,2%, tiếp đến là tổn thương động mạch liên thất trước 65,4% Tổn thương thân chung chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,3% Bệnh nhân có tổn thương 1 nhánh động mạch vành chiếm tỷ lệ cao nhất 48,7% Tổn thương 3 nhánh
chiếm tỷ lệ thấp nhất 21,8% (Bảng 3)
Bảng 4: Phân bố nồng độ BNP huyết thanh trước và sau can thiệp 24 giờ
BNP huyết thanh
(pg/ml)
Hs-cTnI (pg/ml)
Nồng độ của BNP huyết thanh sau can thiệp
24 giờ tăng lên so với trước can thiệp (p >0,05)
lần lượt 312,78±485,25 pg/ml; 483,99±1092,58
pg/ml Nồng độ của hs-cTnI sau can thiệp 24 giờ tăng lên rất cao so với trước can thiệp, sự thay đổi có ý nghĩa thống kê (p <0,05) lần lượt
Trang 4760,52±1698,75 pg/ml; 1463,50±2115,30 pg/ml
(Bảng 4)
Giá trị của hs-cTnI ở nhóm lâm sàng
CĐTNKÔĐ sau can thiệp 24 giờ tăng lên rất cao
so với trước can thiệp, sự thay đổi nồng độ có ý
nghĩa thống kê (p <0,05) lần lượt 110,81±309
pg/ml, 932,84±1895 pg/ml (Bảng 5)
Nồng độ BNP huyết thanh sau can thiệp 24 giờ tăng lên so với thời điểm trước can thiệp ở nhóm có tổn thương 3 nhánh là 376,80±474,47 pg/ml; 942,70±2151,48 pg/ml (p <0,05) Nồng độ hs-cTnI sau can thiệp 24 giờ tăng lên rất cao ở 2 nhóm có tổn thương 2 nhánh và 3 nhánh so với
trước can thiệp (p <0,05) (Bảng 6)
Bảng 5: Phân bố nồng độ BNP và hs-cTnI theo các thể lâm sàng trước và sau can thiệp 24 giờ
BNP
(pg/ml)
hs-cTnI
(pg/ml)
Bảng 6: Liên quan nồng độ BNP huyết thanh với số nhánh động mạch vành tổn thương trước và sau can thiệp 24 giờ
BNP
(pg/ml)
hs-cTnI
(pg/ml)
Bảng 7: Liên quan nồng độ của BNP huyết thanh và hs-cTnI với EF
BNP
(pg/ml)
hs-cTnI
(pg/ml)
Đối với nhóm có EF <50%: sự gia tãng nồng
độ BNP huyết thanh và hs-cTnI trước và sau can
thiệp không có ý nghĩa thống kê (p >0,05) Đối
với nhóm có EF >50%: nồng độ hs-cTnI tãng cao
sau can thiệp 24 giờ, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p <0,05) Nồng độ BNP huyết thanh có
sự biến đổi không đáng kể trước và sau can
thiệp (p >0,05) (Bảng 7)
Tương quan giữa nồng độ BNP huyết thanh,
hs-cTnI trước can thiệp động mạch vành Hình 1: Tương quan giữa nồng độ BNP huyết thanh,
hs-cTnI trước can thiệp động mạch vành
Trang 5Có sự tương quan thuận chiều mức độ vừa
giữa nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI trước
can thiệp với p=0,001 <0,05 và r = +0,363 Phương
trình hồi quy tuyến tính y = 0,1038 x + 233,82
(Hình 1, 2)
Hình 2: Tương quan giữa nồng độ BNP huyết thanh,
hs-cTnI sau can thiệp động mạch vành
BÀN LUẬN
Nồng độ của BNP huyết thanh và hs-cTnI trước
và sau can thiệp động mạch vành
Nồng độ chung của BNP huyết thanh trước
can thiệp 312,78±485,25 pg/ml nhưng thấp hơn
24h sau can thiệp 483,99±1092,58 pg/ml lý giải
cho vấn đề này có thể sau can thiệp 24h có sự tổn
thương hệ thống mạch vành tim nên chỉ số BNP
huyết thanh đã gia tãng cao hơn BNP huyết
thanh trước khi vào viện Sự khác biệt không có
ý nghĩa thống kê (p <0,05)
Khảo sát nồng độ của hs-cTnI, kết quả
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ
hs-cTnI của bệnh nhân sau can thiệp mạch vành có
xu hướng tăng lên nhiều sau can thiệp 24 giờ, có
ý nghĩa thống kê Qua nhiều nghiên cứu trên thế
giới cho chúng ta thấy rằng hs-cTnI có giá trị tiên
lượng trong bệnh động mạch vành nói chung và
nhồi máu cơ tim nói riêng Nghiên cứu về độ
nhạy cao Troponin T và Troponin I trong hội
chứng mạch vành cấp dự đoán các tổn thương
mạch vành đáng kể và lâu dài kết luận xét
nghiệm hs-cTnT và hs-cTnI cho thấy khả năng
tương tự để dự đoán tổn thương mạch vành
đáng kể ở bệnh nhân NSTE-ACS NT-proBNP
vượt trội hơn cả xét nghiệm hs-cTn như là dấu hiệu tiên lượng lâu dài ở nhóm bệnh nhân này Nghiên cứu của tác giả Zanchin T năm 2016
về mối liên hệ giữa nồng độ hs-Troponin T trước can thiệp động mạch vành qua da với kết quả lâm sàng ở bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành ổn định cho thấy có 1/4 trường hợp tăng nồng độ hs-Troponin T trước can thiệp động mạch vành, mức tăng hs-Troponin T có liên quan tỷ lệ thuận với nguy cơ tử vong và được xem như là giá trị tiên lượng độc lập cho tử vong
do tất cả nguyên nhân trong vòng 1 năm(4) Ngoài ra xét đến mối liên quan giữa nồng độ hs-Troponin T và kết quả lâm sàng sau can thiệp động mạch vành qua da, nghiên cứu của tác giả Ndrepepa G năm 2016 về giá trị tiên lượng của hs-Troponin T sau can thiệp động mạch vành qua da ở những bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành ổn định cho thấy ở những bệnh động mạch vành ổn định mà không có tình trạng tăng hs-Troponin T trước can thiệp thì sự tăng nồng
độ hs-Troponin T sau can thiệp không có mối liên quan với tỷ lệ tử vong sau can thiệp(5) Điều này được giải thích với trường hợp nhồi máu cơ tim cấp, nồng độ Troponin tăng và đạt đỉnh trong khoảng 24 giờ đầu tiên và giảm chậm dần sau đó về mức dưới percentile thứ 99 vào khoảng ngày thứ 6(6) Do đó, để đánh giá chính xác hơn cần làm thêm xét nghiệm hs-cTnI sau khoảng thời gian dài hơn nữa sau can thiệp mạch vành
Liên quan giữa nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI với các đặc điểm chung trong can thiệp ĐMV trước và sau can thiệp 24 giờ
Liên quan nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI với các thể lâm sàng trước và sau can thiệp 24 giờ
Theo nghiên cứu của chúng tôi nồng độ của BNP huyết thanh ở các thể lâm sàng sau can thiệp 24 giờ đều tăng lên không đáng kể so với khi bệnh nhân nhập viện (p >0,05) Qua phân tích các nghiên cứu đều ghi nhận vai trò tiên lượng tử vong của NT-proBNP ở bệnh nhân đau
Trang 6thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim
(NMCT) không có ST chênh lên và NMCT có
đoạn ST chênh lên Trên thực tế lâm sàng, các
yếu tố tiên lượng tử vong ở bệnh nhân HCVC đã
được chứng minh bao gồm men tim, protein
phản ứng C sự thay đổi điện tâm đồ Nhiều
nghiên cứu về giá trị nồng độ NT-proBNP huyết
thanh trong tiên lượng ở bệnh nhân HCVC và
ghi nhận những khác biệt giữa nhóm NMCT cấp
có ST chênh lên và HCVC không có ST chênh
lên Nghiên cứu trên 609 bệnh nhân HCVC
trong đó 204 NMCT cấp có ST chênh lên, 220
NMCT không có ST chênh lên và 185 ĐTNKÔĐ
được theo dõi 51 tháng Nồng độ NT-proBNP
huyết thanh tãng cao ở bệnh nhân HCVC,
NMCT cấp có ST chênh lên là 1034
pmol/L(390-2076), NMCT không có ST chênh lên là 644
pmol/L (217-1507) và ĐTNKÔĐ là 179 pmol/L
(62-477)(5) Nhóm bệnh nhân có nồng độ
NT-proBNP huyết thanh cao (>545 pmol/L) nguy cơ
tử vong tãng gấp 3,9 lần so với nhóm bệnh nhân
với nồng độ NT-proBNP thấp
Khảo sát nồng độ hs-cTnI ở nhóm lâm sàng
CĐTNKÔĐ sau can thiệp 24 giờ tãng lên rất cao
so với trước can thiệp (p <0,05)
Liên quan nồng độ BNP huyết thanh, hs-cTnI
với số nhánh động mạch vành tổn thương
trước và sau can thiệp
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy,
nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI sau can
thiệp 24 giờ đều tăng lên ở cả 3 nhóm có tổn
thương so với trước can thiệp, sự gia tăng nồng
độ so với số nhánh động mạch vành tổn thương
không có ý nghĩa thống kê (p >0,05) Theo kết
quả của Lê Phúc Nguyên, nồng độ hs-CRP tăng
dần với số lượng mạch vành tổn thương nhưng
không có ý nghĩa thống kê với p >0,05(7) Sau can
thiệp 24 giờ, nồng độ hs-CRP ở cả 3 nhóm đều
tăng nhưng chưa thấy có mối liên quan với số
nhánh động mạch vành bị tổn thương
Liên quan nồng độ của BNP huyết thanh và
hs-cTnI với EF trước và sau can thiệp
Kết quả nghiên cứu chúng tôi ghi nhận qua
nồng độ BNP huyết thanh trước vào viện càng cao thì mức độ phân suất tống máu (EF) suy giảm (p <0,01) Sự gia tăng nồng độ chung của BNP huyết thanh sau can thiệp 24 giờ tương ứng với mức độ suy giảm phân suất tống máu (p<0,05) Hs-cTnI trước và sau can thiệp cũng gia tăng đối nghịch với sự suy giảm phân suất thống máu, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,01) Nghiên cứu Hoàng Anh Tiến (2010) trên 82 đối tượng suy tim ghi nhận nồng độ chung của NT-proBNP cũng gia tăng theo mức độ suy giảm EF, cụ thể EF >55%: 1525, 90±3020,35; EF: 40-54%: 3011, 58±5233,46; EF:30-39%: 3830,87±5491,09 và EF <30%: 5870,39±5849,88(1) Nồng độ NT-proBNP tương quan nghịch với chức nãng tâm thu thất trái và được đề xuất là công cụ chẩn đoán và là chất chỉ điểm sinh học
có giá trị tiên lượng ở bệnh nhân suy tim(8) Những khuyến cáo về sử dụng BNP và NT-proBNP trong đánh giá suy tim xem cả hai chất này là tương đương nhau Chức nãng tâm thu thất trái trên siêu âm tim rất hữu ích trong xác định bệnh nhân có tiên lượng xấu Mặc dù siêu
âm tim vẫn còn là tiêu chuẩn vàng đối với phát hiện giảm chức nãng tâm thu thất trái, thì NT-proBNP vẫn là một lựa chọn tốt đối với theo dõi chức nãng tâm thu thất trái trong quần thể dân
số có bệnh nhưng không có triệu chứng
Tương quan giữa nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI trong can thiệp động mạch vành trước
và sau can thiệp 24 giờ
Về mối tương quan giữa nồng độ BNP huyết
thanh, hs-cTnI theo thời gian, kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy có mối tương quan thuận chiều mức độ vừa nồng độ 2 chất trước can thiệp có sự tương quan thuận chiều mức độ vừa giữa nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI trước can thiệp với p=0,001 <0,05 và r = +0,363 Phương trình hồi quy tuyến tính y = 0,1038 x +
233,82 Không có sự tương quan giữa nồng độ
BNP huyết thanh và hs-cTnI sau can thiệp 24 giờ với p=0,969 >0,05 và r = -0,005 Phương trình hồi quy tuyến tính y=2E-05
Trang 7Nghiên cứu Nguyễn Đặng Duy Quang về
mối tương quan giữa nồng độ hs-CRP và
hs-cTnT theo thời gian, kết quả cho thấy có mối
tương quan thuận chiều mức độ nhẹ nồng độ 2
chất trước CT (r=0,354; p <0,05), sau CT 12 giờ
(r=0,290; p<0,05) và sau CT 24 giờ (r=0,359;
p <0,05)(6)
Tuy nhiên, nghiên cứu quan trọng và lớn
đầu tiên về NT-proBNP trong chẩn đoán suy tim
cấp là nghiên cứu PRIDE (Pro-BNP Investigation
of Dyspnea in the Emergency Department) được
thực hiện trên 600 bệnh nhân tại bệnh viện
Massachusetts - ĐH Y Khoa Harvard - Boston -
Hoa Kỳ Nghiên cứu PRIDE cho thấy nếu sử
dụng NT-proBNP thì độ chính xác của chẩn
đoán suy tim tăng lên rất nhiều: tăng nồng độ
NT-proBNP là yếu tố độc lập mạnh nhất chẩn
đoán suy tim (odds ratio 44, 95%CI, 21.0 - 91.0, p
<0,0001) Khi nồng độ NT-proBNP thấp (<300
ng/L) có thể loại trừ khả năng bệnh nhân bị suy
tim, với giá trị tiên lượng âm tính đến 99%
Nghiên cứu PRIDE cũng cho thấy điểm cắt >450
ng/L cho bệnh nhân <50 tuổi và điểm cắt >900
ng/L cho bệnh nhân ³50 tuổi có độ nhậy và độ
chuyên cao trong chẩn đoán suy tim cấp Đồng
thời nồng độ NT-proBNP tương quan chặt chẽ
với độ nặng suy tim (p <0,001)(9)
KẾT LUẬN
Giá trị của nồng độ BNP huyết thanh tăng
lên sau CT 24 giờ (p> 0,05) lần lượt
483,99±1092,58 pg/ml; 312,78±485,25 pg/ml Giá
trị của hs-cTnI tăng lên sau CT 24 giờ (p <0,01)
lần lượt 1463,50±2115,30 pg/ml; 760,52±1698,75
pg/ml
Liên quan tỷ lệ nghịch giữa nồng độ BNP
huyết thanh và hs-cTnI với phân suất tống máu
EF trước và sau can thiệp động mạch vành, (p<0,01)
Có sự tương quan thuận chiều mức độ vừa giữa nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI trước can thiệp với p=0,001 và r = +0,363 Không có sự tương quan giữa nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI sau can thiệp 24 giờ với p=0,969 và r = -0,005
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hoàng Anh Tiến (2005) Nghiên cứu giá trị chẩn đoán của nồng độ Pro-Terminal B-type Natrinuretic Peptide
(NT-ProBNP) ở đột cấp của suy tim mạn Luận Án Tiến Sĩ Y Học,
Trường Đại học Y Dược Huế
2 Jernberg T, Jamesa S, Lindahl B, et al (2004) “Natriuretic
peptides in unstable coronary artery disease” Eur Heart J,
25:1486-1493
3 Phạm Gia Khải và cs (2008) “Can thiệp động mạch vành qua da” Khuyến cáo về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa giai
đoạn 2008 của Hội Tim mạch học Việt Nam
4 Zanchin T (2016) “Preprocedural high-sensitivity cardiac troponin T and clinical outcomes in patients with stable coronary disease undergoing elective percutaneous coronary
intervention” Circ Cardiovasc Interv, 9:e003202
5 Ndrepepa G, et al (2016) “Prognostic value of hs-Troponin T after percutaneous coronary intervention in patients with
stable coronary artery disease” Rev Esp Cardiol, 69:746-53
6 Nguyễn Đặng Duy Quang (2014) Nghiên cứu sự thay đổi nồng độ hs-CRP và hs-Troponin T trước và sau can thiệp động
mạch vành qua da Luận Văn Thạc Sĩ Y Học, Đại học Y Dược
Huế
7 Lê Phúc Nguyên (2006) Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ hs-CRP trước và sau can thiệp động mạch vành qua da ở bệnh
viện Trung Ương Huế Luận Văn Thạc sĩ Y Học, Đại học Y Dược
Huế
8 Fournier JA, et al (2008) “The high sensitivity C-reactive protein level one month after bare-metal coronary stenting
may predict late adverse events” Rev Esp Cardiol, 81:313-316
9 Đỗ Quang Huân (2013) “Sử dụng Peptides lợi niệu Natri (BNP và ProBNP) trong chẩn đoán suy tim”, Chuyên đề tim
mạch học Nhà Xuất Bản Y Học, tp Hồ Chí Minh
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2021