1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths khoa học giáo dục biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại học sư phạm hà nội

107 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Trong Việc Sử Dụng Ngân Sách Nhà Nước Ở Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học giáo dục
Thể loại luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 739 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong thời gianqua, bên cạnh việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước một cách khoahọc, hiệu quả, mang lại những thành tích đáng tự hào của trường thì cũng

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến tài chính,

nguồn lực tài chính, ngân sách nhà nước, biện pháp quản

1.2.2 Khái niệm nguồn lực tài chính 10

1.2.4 Vai trò của nguồn lực tài chính trong phát triển giáo dục

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN

LÝ KHI SỬ DỤNG NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở

2.1 Một số nét về Trường Đại học sư phạm Hà Nội và Phòng Kế

2.1.1 Vài nét về Trường Đại học sư phạm Hà Nội 312.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của phòng Kế hoạch - Tài chính -

2.2 Thực trạng việc sử dụng và quản lý nguồn đầu tư tài chính cho

2.2.1 Thực trnạg sử dụng những đầu tư tài chính từ nguồn vốn

2.2.2 Thực trạng sử dụng những đầu tư tài chính từ nguồn vốn

2.3 Đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên về tình hình

sử dụng, quản lý nguồn ngân sách nhà nước của trường

2.3.1 Tình hình sử dụng, quản lý nguồn ngân sách nhà nước 42

Trang 2

hàng năm của trường Đại học sư phạm Hà Nội

2.3.2 Đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên về tình hình sử

dụng, quản lý nguồn ngân sách nhà nước của trường Đại

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHĂM NÂNG

CAO HIỆU QUẢ TRONG VIỆC SỬ DỤNG NGÂN

SÁCH NHÀ NƯỚC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

3.1.1 Quan điểm và nguyên tắc đầu tư phát triển giáo dục nói

chung và giáo dục đại học nói riêng 693.1.2 Căn cứ vào tình hình đầu tư, quản lý và sử dụng nguồn

ngân sách nhà nước ở trường Đại học sư phạm Hà Nội

3.1.3 Căn cứ vào mối quan hệ giữa tài chính với các yếu tố

3.1.4 Căn cứ vào xu hướng phát triển Giáo dục - đào tạo của

Đại học sư phạm Hà Nội trong giai đoạn tới 75

3.2 Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng

nguồn ngân sách nhà nước ở trường Đại học sư phạm Hà Nội 76

Trang 3

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê đội ngũ cán bộ giảng dạy của trường ĐHSP Hà

Bảng 2.2: NSNN chi cho các hoạt động tại trường ĐHSP Hà Nội 39

Bảng 2.3: Tổng nguồn kinh phí ngoài NSNN của ĐHSP Hà Nội từ

Bảng 2.4: So sánh nguồn ngân sách trong và ngoài nhà nước của

Bảng 2.5: Các khoản chi thường xuyên trong ngân sách đào tạo hàng

Bảng 2.6: Đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên về mức độ đầu tư

NSNN hàng năm cho trường ĐHSP Hà Nội 51

Bảng 2.7: Đánh giá của cán bộ quản lý trường, Khoa và cán bộ phòng

tài vụ tình hình sử dụng nguồn NSNN tại ĐHSP Hà Nội 54

Bảng 2.8: Đánh giá về tầm quan trọng của việc sử dụng, quản lý

Bảng 2.9: Đánh giá về việc quản lý, sử dụng nguồn NSNN được đầu

Bảng 2.10: Đánh giá về tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn NSNN

Bảng 2.11: Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý, sử

dụng nguồn NSNN tại trường ĐHSP Hà Nội 63

Bảng 3.1: Cải tiến tổ chức công tác kế toán của phòng tài vụ 81

Bảng 3.2: Tính cần thiết của những biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn

ngân sách nhà nước ở trường ĐHSP Hà Nội 85

Bảng 3.3: Tính khả thi của những biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn

ngân sách nhà nước tại trường ĐHSP Hà Nội 86

Bảng 3.4: Sự tương quan giữa tính khả thi và tính cần thiết của các

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1: Tính cần thiết của những biện pháp sử dụng hiệu quả

Biểu đồ 3.2: Tính khả thi của những biện pháp sử dụng hiệu quả

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trường ĐHSP Hà Nội 31

Sơ đồ 3.1: Quan hệ giữa quản lý và các nguồn lực trong tổ chức 73

Sơ đồ 3.2: Quan hệ giữa tài chính và các nhân tố trong tổ chức 75

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và lần thứ VIII đã xác định

“Giáo dục Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế

-xã hội”, từ đó đã đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển giáo dục đào

tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Một trong những

giải pháp đó là “Tăng cường nguồn lực cho giáo dục”, “Tăng tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục đào tạo”.

Nước ta mặc dù nền kinh tế còn phát triển ở mức độ thấp, chưa bềnvững nhưng ngân sách đầu tư cho giáo dục năm sau luôn cao hơn năm trước.Song mức độ đầu tư cho giáo dục - đào tạo còn hạn chế, chưa theo kịp với tốc

độ và quy mô phát triển ngày càng lớn của đất nước Để coi giáo dục thực sựlà sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn xã hội, Nhà nước phảităng cường đầu tư nguồn ngân sách cho giáo dục đào tạo, tạo điều kiện thuậnlợi cho giáo dục phát triển tương xứng với tốc độ phát triển của đất nước

Trong 60 năm qua, Trường ĐHSP Hà Nội được coi là “máy cái” của hệ

thống các trường sư phạm trong cả nước Trong hoạt động của mình, nhàtrường đã thực hiện nhiệm vụ đào tạo trên cơ sở đầu tư các nguồn lực tàichính của nhà trường trong đó nguồn lực tài chính có ý nghĩa rất to lớn

Từ 12/10/1999 theo quyết định số 201/1999 QĐ-TTg, Trường ĐHSP HàNội được tách ra khỏi Đại học Quốc Gia Hà Nội, xây dựng một trường ĐHSP

trọng điểm Như vậy trường ĐHSP trọng điểm là “máy cái” không chỉ của ngành sư phạm mà còn là “máy cái” chung của cả ngành giáo dục của cả nước

góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực phát triển nền kinh tế xã hội đất nước

Cùng với sự nỗ lực không ngừng của nhà trường trong quá trình thựchiện mục tiêu đề ra, Đảng và Nhà nước ta đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để

Trang 7

nhà trường thực hiện được nhiệm vụ như: tăng cường nguồn lực tài chính,tăng tỷ trọng ngân sách nhà nước cho giáo dục Tuy nhiên, trong thời gianqua, bên cạnh việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước một cách khoahọc, hiệu quả, mang lại những thành tích đáng tự hào của trường thì cũng tồntại không ít khó khăn và hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng nguồnngân sách này.

Để tìm hiểu, phân tích và đánh giá những thành tựu và hạn chế trong cơchế quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước tại Nhà trường trong thời gianqua, đồng thời tìm kiếm những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng

nguồn ngân sách đó ở Trường ĐHSP Hà Nội, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở Trường ĐHSP Hà Nội”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý và sử dụng ngânsách nhà nước tại Trường ĐHSP Hà Nội từ đó đề xuất các biện pháp quản lýnâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước trong quản lý tàichính ở Trường ĐHSP Hà Nội

3 Giả thuyết và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Giả thuyết khoa học

Quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước phục vụ cho các hoạt động củatrường ĐHSP Hà Nội trong thời gian qua đã thực hiện tương đối tốt Tuynhiên, thực tế hiện nay việc quản lý sử dụng nguồn lực tài chính còn có nhữngvấn đề cần hoàn thiện để hiệu quả hơn Nếu đề xuất và áp dụng các biện phápquản lý trong việc sử dụng ngân sách nhà nước một cách phù hợp, đồng bộgóp phần đảm bảo nguồn lực tài chính cho các hoạt động của trường trongthời gian tới đạt hiệu quả cao hơn

Trang 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý, biện pháp quản lý,nguồn ngân sách Nhà nước

- Khảo sát thực trạng biện pháp quản lý trong việc sử dụng ngân sáchnhà nước tại Trường ĐHSP Hà Nội

- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý trong việc sửdụng ngân sách nhà nước ở Trường ĐHSP Hà Nội Từ đó khảo nghiệm tínhkhả thi của các biện pháp đề xuất

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý nguồn ngân sách nhà nước ở trường ĐHSP Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

+ Mục đích: Phân tích và tổng hợp các tài liệu lý luận về ngân sách nhà

nước trong quản lý tài chính

+ Nội dung: Tài liệu lý luận về nguồn ngân sách được sử dụng ở

Trường ĐHSP Hà Nội

+ Cách thức tiến hành: Sưu tầm, hệ thống, phân tích các tài liệu lý luận

về quản lý, biện pháp quản lý trong việc sử dụng ngân sách nhà nước

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 9

5.2.1 Phương pháp điều tra

+ Mục đích: Thiết kế bảng hỏi nhằm thu thập ý kiến của các cán bộ

quản lý, giảng viên các khoa trong trường về việc quản lý, sử dụng ngân sáchnhà nước trong quản lý tài chính

+ Nội dung: Bảng hỏi được thiết kế xoay quanh các nội dung trong

việc quản lý, sử dụng nguồn ngân sách nhà nước ở Trường ĐHSP Hà Nội

+ Cách thức tiến hành: Tiến hành phát phiếu hỏi tới các khách thể khảo sát

về vấn đề biện pháp quản lý nguồn ngân sách nhà nước ở trường ĐHSP Hà Nội

5.2.2 Phương pháp quan sát

+ Mục đích: Thu thập những số liệu khách quan và tin cậy về việc sử

dụng, quản lý nguồn ngân sách nhà nước ở trường ĐHSP Hà Nội

+ Nội dung: Quan sát quá trình làm việc và sử dụng nguồn ngân sách nhà

nước tại Trường ĐHSP Hà Nội từ đó để đề ra các biện pháp quản lý hữu hiệu

+ Cách thức tiến hành: Tiến hành quan sát thông qua quá trình làm

việc, các số liệu thống kê về hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn ngân sáchnhà nước ở trường ĐHSP Hà Nội

5.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

+ Mục đích: Tổng kết các số liệu về việc sử dụng, quản lý nguồn ngân

sách nhà nước ở trường ĐHSP Hà Nội

+ Nội dung: Thông qua việc tổng kết tình hình quản lý và sử dụng

nguồn ngân sách nhà nước qua các năm

+ Cách thức tiến hành: Tiến hành tổng kết các số liệu khách quan từ

các báo cáo tổng kết hàng năm về việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước ởtrường ĐHSP Hà Nội

5.2.4 Phương pháp chuyên gia

+ Mục đích: Thông qua trao đổi nhằm thu thập ý kiến của các nhà khoa

học chuyên môn sâu về quản lý trong sử dụng ngân sách nhà nước trong quản

lý tài chính

+ Nội dung: Trao đổi về nguồn ngân sách được sử dụng cụ thể ra sao

của Trường ĐHSP Hà Nội

+ Cách thức tiến hành: Tổ chức toạ đàm, gặp riêng, trò chuyện

5.3 Các phương pháp bổ trợ

Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu

Trang 10

Sử dụng toán thống kê như số trung bình cộng, bình quân gia quyền, hệ

số tương quan để xử lý các số liệu qua kết quả điều tra khảo sát, thu thậpthông tin, trên cơ sở đó rút ra các nhận xét khoa học khái quát Đồng thời từkết quả thu được sơ đồ hóa kết quả nghiên cứu để minh họa

6 Cái mới của đề tài

Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy thực trạng quản lý nguồn lực tàichính về sử dụng ngân sách nhà nước và các biện pháp quản lý nguồn lực tàichính vế sử dụng ngân sách của Trường ĐHSP Hà Nội nhìn chung là hợp lývà có những kết quả đáng kể trong hoạt động của nhà trường Vì vậy, các kếtquả nghiên cứu của luận văn sẽ là các số liệu tin cậy cho Ban giám hiệu nhàtrường trong việc rút kinh nghiệm khi quản lý, sử dụng nguồn ngân sách nhànước đảm bảo có hiệu quả hơn

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,

đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý, biện pháp quản lý, biệp pháp quản lý

ngân sách nhà nước

Chương 2: Thực trạng quản lý trong việc sử dụng ngân sách nhà nước

ở Trường ĐHSP Hà Nội

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý

trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở Trường ĐHSP Hà Nội

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, BIỆN PHÁP QUẢN LÝ,

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Trang 11

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

 Ở nước ngoài:

Những công trình nghiên cứu về đầu tư cho giáo dục đều được bắtnguồn từ tư duy kinh tế về giáo dục và thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữatài chính và giáo dục Từ xã xưa, tư duy kinh tế của loài người về giáodục đãxuất hiện và phát triển không ngừng Quản Trọng, nhà chính trị danh tiếng

thời Chiến quốc đã hiến kế cho Tề Hoàn Công “Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân” Phát triển tư tưởng trên, Khổng Tử đã diễn đạt tường minh hơn

“Thập niên chi kế, mạc nhi chủng mộc, bách niên chi kế mạc nhi chủng nhân" Bác Hồ của chúng ta đã lĩnh hội tư tưởng cả các bậc tiền nhân và căn dặn các thế hệ “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.

Các nhà kinh tế hoạc Phương Tây từ Wiliam Petty (1623 - 1687) đếnAdam Smith (1723 - 1790) trong tác phẩm kinh điển đầu tiên của mình đã cónhững phát biểu sâu sắc về giá trị của một con người có sự giáo dục Vàonhững năm 20 của thế kỷ 20, nhà kinh tế học người Nga X.E Strumilin đãchứng minh bằng thực tiễn rất xác đáng rằng: Bỏ một đồng vốn vào giáo dục

sẽ sinh lợi gấp bốn lần cho nền kinh tế Ở những giai đoạn trước đây, nghiêncứu tài chính đầu tư cho giáo dục đã được sự quan tâm của các nhà kinh tế,các nhà giáo dục ở Liên Xô (cũ) Nhiều tác phẩm nghiên cứu về vấn đề này

đã được công bố như: V.I Baxoc - Những vấn đề tài chính cho giáo dục, Nhà xuất bản tài chính Mátxcơva năm 1971; V.A Jamin - Kinh tế học giáo dục, Nhà xuất bản kinh tế Mátxcơva năm 1060; V.E Komarov - Những vấn đề đào tạo và sử dụng các bộ chuyên môn, Nhà xuất bản kinh tế, Mátxcơva năm

1972 X.L Kostanian - Đối tượng và phương pháp kinh tế giáo dục, Nhà xuất

bản Đại học năm 1996…

Trang 12

 Ở Việt Nam:

Trong những năm 80 của thế kỷ 20, ngành giáo dục - đào tạo khi xâydựng chiến lược và quy hoạch phát triển đã tổ chức một số nhóm cán bộnghiên cứu một số vấn đề khoa học (Dự báo phát triển giáo dục, dự báo nhucầu đào tạo cán bộ chuyên môn và công nhân kỹ thuật, dự báo đầu tư và giáodục…) nhằm xác định các thông số chủ yếu làm luận cứ cho các mục tiêuphát triển giáo dục - đào tạo Năm 1998, Vụ khoa học giáo dục môi trường

thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư đã thực hiện đề tài “Một số vấn đề chính sách đầu

tư phát triển giáo dục - đào tạo trong thời gian tới” Đề tài đã khái quát hiện

thực và nêu giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục - đào tạo ởnước ta những năm 2000

Nhiều công trình nghiên cứu và luận án tiến sĩ về kinh tế đã nghiên cứu

về đầu tư tài chính cho giáo dục như Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thu

Hà “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách hệ thống giáo dục quốc dân” tại trường Đại học kinh tế Quốc dân và nhiều luận án về lĩnh vực kinh tế

giáo dục cũng được nghiên cứu tại trường Cán bộ, quản lý giáo dục Các côngtrình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh của đầu tư và quản lý tài chínhtrong giáo dục và đã đi đến những kết luận khái quát:

- Sự phát triển của nền giáo dục - đào tạo sẽ không thể có được nếukhông có sự đầu tư thích đáng, thể hiện việc tăng cường nguồn kinh phí vànhững biện pháp quản lý nguồn kinh phí đó một cách có hiệu quả

- Có một sự liên quan mật thiết giữa phát triển con người và phát triểnkinh tế xã hội

- Đầu tư cho lĩnh vực giáo dục là đầu tư có hiệu quả nhất và nó đang trởthành quốc sách của các quốc gia trên thế giới

Trang 13

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã nghiêncứu về đầu tư ngân sách cho giáo dục, hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách chogiáo dục quốc dân Nhưng ít có công trình nghiên cứu về biện pháp quản lýnhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước Vì vậy,luận văn đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này.

1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến tài chính, nguồn lực tài chính, ngân sách nhà nước, biện pháp quản lý ngân sách nhà nước

1.2.1 Tài chính

Kinh tế chính trị Mác - Lênin đã chỉ rõ, tài chính là một phạm trù kinh

tế khách quan, nó thuộc về phạm trù phân phối Như mọi phạm trù kinh tếkhách quan khác, tài chính có lịch sử phát sinh, phát triển của nó Tài chính rađời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định khi mà ở đó có nhữnghiện tượng kinh tế, xã hội khách quan nhất định xuất hiện và tồn tại Có thểxem những hiện tượng kinh tế xã hội khách quan đó như những tiền đề kháchquan quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính với tư cách là mộtphạm trù kinh tế - lịch sử

Cuối chế độ công xã nguyên thuỷ, phân công lao động xã hội đã bắtđầu phát triển đặc biệt là sự phân công giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp,sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm cho tiền tệ xuất hiện Cũng vào thời kỳnày, chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội bắt đầu phân chia giai cấp và đấu tranhgiai cấp Trong điều kiện lịch sử đó, nhà nước xuất hiện Với tư cách là người

có quyền lực chính trị, nhà nước đã nắm lấy việc đúc tiền, in tiền và lưu thôngđồng tiền, tác động đến sự độc lập của đồng tiền, trên phương diện quy địnhhiệu lực pháp lý của đồng tiền và tạo môi trường pháp lý cho việc tạo lập vàsử dụng tiền tệ Trong điều kiện kinh tế hàng hoá tiền tệ, hình thức tiền tệ đãđược các chủ thể trong xã hội sử dụng vào việc tham gia phân phối sản phẩm

Trang 14

xã hội và thu nhập quốc dân để tạo lập nên các quỹ tiền tệ riêng phục vụ chocác mục đích riêng của mỗi chủ thể Thông qua các thứ thuế bằng tiền vàcông trái bằng tiền, Nhà nước đã tập trung vào tay mình một bộ phận sảnphảm xã hội và thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ để lập ra các quỹ tiềntệ riêng phục vụ cho hoạt động của nhà nước và phục vụ các nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội.

Theo từ điển Tiếng Việt (1997), thứ nhất “tài chính là tiền nong và sự thu chi”, thứ hai, “tài chính là việc quản lý của cải vật chất xã hội tính bằng tiền theo những mục đích nhất định”[28, tr.256]

Trong điều kiện tồn tại và phát triển các quan hệ hàng hoá - tiền tệ,nguồn lực tài chính tạo lập ra trước hết được phân bố dưới hình thức giá trị vàbiểu hiện ở quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ

Sự tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ phản ánh kết quả các các quá trìnhphân phối Trong quá trình đó phát sinh hàng loạt các quan hệ kinh tế dướicác hình thức giá trị, như:

- Quan hệ kinh tế giữa nhà nước và tổ chức kinh tế phát sinh trongquá trình nhà nước huy động vốn vào ngân sách nhà nước và cấpphát tài trợ vốn từ ngân sách cho các tổ chức kinh tế

- Quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước,quản lý kinh tế - xã hội thông qua cấp phát kinh phí hoạt động từngân sách nhà nước cho các tổ chức đó

- Quan hệ kinh tế giữa nhà nước và dân cư phát sinh thông qua quátrình phân phối lại quỹ ngân sách nhà nước tiền tệ trong khu vựcdân cư

Trang 15

- Quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế với nhau và với khách hàngcủa mình: Được thực hiện thông qua việc cung ứng tiêu thụ hànghoá và dịch vụ với nhau và huy động vốn trên thị trường tài chính.

- Quan hệ kinh tế trong nội bộ các tổ chức kinh tế

Từ những sự phân tích trên có thể định nghĩa về tài chính trong cơ chế

thị trường như sau: Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ và tiêu dùng của các chủ thể trogn xã hội.

Tài chính trong cơ chế thị trường không chỉ bó hẹp ở ngân sách nhànước, tài chính doanh nghiệp mà còn mở rộng ra các quỹ như quỹ bảo hiểm,quỹ tín dụng, tài chính hộ gia đình… Qua đó chúng ta cần có các giải phápnhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triểnkinh tế nói chung và cho sự nghiệp giáo dục đào tạo nói riêng

Tài chính luôn được hiểu là một phạm trù phân phối dưới hình thức giá trị,không những thế còn được nhấn mạnh: tài chính là một phạm trù của lĩnh vực giátrị, nó có thể đo lường giá trị và biểu hiện giá trị Chính vì vậy: Tài chính phảnánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chínhthông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ haytiêu dùng của các chủ thể (pháp nhân hay thể nhân) trong xã hội

Qua đó, chúng ta cần phải có các giải pháp khác nhau nhằm khai thácvà sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế nóichung và cho sự gnhiệp giáo dục đào tạo nói riêng

1.2.2 Khái niệm nguồn lực tài chính

Cũng cần nhận rõ rằng, trong tiến trình phát triển của xã hội loài người,thông qua chính sách và cơ chế quản lý kinh tế của mình, nhà nước giữ vai trò

Trang 16

tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sản xuất hàng hoá thôngqua công cụ nguồn lực tài chính.

Nguồn lực tài chính tiền tệ đang vận động với chức năng phương tiệnthanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sửdụng các quỹ tiền tệ

Sự vận động của các nguồn lực tài chính được phản ánh thông qua sựvận động của những bộ phận xã hội dưới hình thức giá trị (tiền tệ) Nguồn lựctài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định

Với nhận thức về tầm quan trọng đặc biệt của ngân sách nhà nước dànhcho giáo dục - đào tạo trong quá trình phát triển đất nước, các quốc gia trênthế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn quan tâm đầu tư thích đáng chosựg nghiệp giáo dục - đào tạo Đầu tư cho sựg nghiệp này được coi là đầu tư

cơ bản, là đầu tư cho sự phát triển hoàn chỉnh con người - động lực trực tiếpcủa sự phát triển kinh tế - xã hội Garey Becker, nhà kinh tế học Hoa Kỳ đã

khẳng định “không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực” Đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo xét về nguồn hình

thành bao gồm nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và nguồn ngânsách ngoài nhà nước

Ngân sách luôn gắn liền với nhà nước, một nhà nước ra đời trước hếtphải có nguồn lực tài chính để chi tiêu cho mục đích bảo vệ sự tồn tại và hoạtđộng của mình

Trước hết, chi ngân sách cho sự gnhiệp giáo dục - đào tạo là một nộidung cơ bản nhất của hoạt động chi ngân sách nhà nước và được ưu tiên hàngđầu Ngân sách nhà nước đã từng bước đảm bảo ổn định đời sống của đội ngũcán bộ giảng dạy, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ giảng dạy,học tập và nghiên cứu Ngân sách nhà nước còn có vai trò điều phối cơ cấucủa mỗi trường cũng như toàn bộ hệ thống

Trang 17

Sự nghiệp giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn dân, do dân và vìdân Quan tâm đến sự nghiệp này là trách nhiệm của toàn xã hội Với địnhhướng phát triển giáo dục đào tạo, thực hiện xã hội hoá giáo dục - đào tạo, đadạng hoá các nguồn đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo với phương châm

“nhà nước và nhân dân cùng làm”.

Tóm lại: Nguồn lực tài chính cung cấp cho giáo dục và đào tạo được

tạo ra từ việc phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân, chủ yếuđược phân phối từ quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng

1.2.3 Khái niệm ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử Sựhình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện vàphát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ trong các phương thức sản xuất củacác cộng đồng và nhà nước Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tạicủa kinh tế hàng hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và pháttriển của ngân sách nhà nước

Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng: Nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh

của xã hội có giai cấp, nó là sản phẩm của đấu tranh giai cấp Nhà nước xuấthiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để duy trì và phát triển xãhội Để thực hiện chức năng đó, nhà nước phải có nguồn lực tài chính Bằngquyền lực công cộng, nhà nước đã ấn định các thứ thuế, bắt công dân phảiđóng góp và chi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát… những dầndần những tham vọng về lãnh thổ, vè chủ quyền đưa đến các cuộc chiến tranhxâm lược làm cho bộ máy thống trị, quân đội ngày càng lớn Thuế không đảmbảo được nhu cầu chi tiêu buộc nhà nước phải vay nợ bằng cách phát hànhcông trái

Trang 18

Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của nhà nước và chi tiêu của nhàvua không có sự tách biệt nhau Khi giai cấp tư sản ra đời, sự lớn mạnh

về kinh tế của giai cấp này đòi hỏi phải phá bỏ căn cứ phong kiến, mởrộng thị trường và lưu thông hàng hoá tự do Giai cấp tư sản gây áp lực

về kinh tế, tài chính đối với nhà vua, từng bước tham gia và khống chếnghị viện Giai cấp tư sản đấu tranh đòi hỏi nhà vua không được quyềnquyết định thu thuế mà phải do nghị viện quyết định Sau đó cuộc đấutranh chuyển sang đòi tách chi tiêu cảu nhà vua ra khỏi chi tiêu của nhànước và toàn bộ chi tiêu của nhà nước phải do nghị viện quyết định Tấtnhiên, nhà vua không dễ dàng chấp nhận, nhưng với thế lực đang lênngày càng lớn mạnh nhất là khi đã khống chế nghị viện, giai cấp tư sản

đã dành được thắng lợi Tuy nhiên, thu của nhà nước và chi của nhà nướcvẫn là hai mảng riêng biệt Giai cấp tư sản tiếp tục cuộc đấu tranh đòi hỏithống nhất thu nhập và chi tiêu của nhà nước vào một và vì vậy ngânsách nhà nước đã ra đời Ngân sách nhà nước chỉ các khoản thu nhập vàcác khoản chi tiêu của nhà nước được thể chế hoá bằng pháp luật Quốchội thực hiện quyền lập pháp về ngân sách nhà nước còn quyền hànhpháp giao cho Chính phủ thực hiện

Ngân sách nhà nước đã có quá trình ra đời và hình thành suốt từ thế kỷXII đế thế kỷ XVIII Cho đến nay, các nhà nước khác nhau đến tạo lập và sửdung ngân sách nhà nước Thế nhưng, người ta vẫn chưa có sự nhất trí vềngân sách nhà nước là gì Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm ngân sáchnhà nước và phổ biến là :

- Ngân sách nhà nước là bản dự toán thu - chi tài chính của nhà nướctrong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm

- Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kếhoạch tài chính cơ bản của nhà nước

Trang 19

- Ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trongquá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chínhkhác nhau.

Các ý kiến trên xuất phát từ cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có nhân tốhợp lý của chúng song chưa đầy đủ Khái niệm ngân sách nhà nước là một kháiniệm trừu tượng nhưng ngân sách nhà nước là một hoạt động tài chính cụ thể củanhà nước Khái niệm ngân sách nhà nước phải được xem xét trên các mặt hìnhthức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng trong ngân sách nhà nước

Xét về hình thức, ngân sách nhà nước là một bản dự toán thu và chi dochính phủ lập ra, để trình quốc hội phê chuẩn và giao cho chính phủ tổ chứcthực hiện

Xét về thực thể, ngân sách nhà nước bao gồm những nguồn thu cụ thể,những khoản chi cụ thể và được định lượng Các nguồn thu đều được nộp vàoquỹ tiền tệ và các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy

Thu và chi quỹ này có quan hệ ràng buộc với nhau gọi là cân đối Cânđối thu chi ngân sách nhà nước là một cân đối lớn trong nền kinh tế thị trườngvà được nhà nước quan tâm đặc biệt Vì lẽ đó, có thể khẳng định ngân sáchnhà nước là một quỹ tiền tệ lớn của nhà nước

Xét về các quan hệ kinh tế chứa đựng trong ngân sách nhà nước, cáckhoản thu nhập quỹ ngân sách nhà nước, các khoản chi - xuất quỹ ngân sáchnhà nước để phản ánh những quan hệ kinh tế nhất định giữa nhà nước vàngười nọp, giữa nhà nước với cơ quan, đơn vị thụ hưởng quỹ Hoạt động thuchi của ngân sách nhà nước là một hoạt động tạo lập - sử dụng quỹ ngân sáchnhà nước làm cho vốn tiền tệ, nguồn lưucj tài chính vận động giữa một bên lànhà nước và một bên là chủ thể phân phối và ngược lại Hoạt động đa dạng,phong phú được tiến hành trên mọi lĩnh vực và có tác động lên mọi chủ thể

Trang 20

kinh tế - xã hội Những quan hệ thu nộp và cấp phát qua quỹ ngân sách nhànước là những quan hệ được xác định trước, định lượng được và nhà nước sửdụng chúng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.

Từ sự phân tích ở trên ta có thể xác định, ngân sách nhà nước được đặctrưng bằng sự vận động của các nguồn lực tài chính gắn liền với quá trình tạo lập,sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng củanhà nước trên cơ sở luật định Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước vàcác chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồnlực tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu

Ngân sách nhà nước, xét về hình thức là một bảng tổng hợp các khoảnthu chi của nhà nước, xét về nội dung kinh tế thì ngân sách nhà nước là hệthống các quan hệ kin tế giữa nhà nước và các tổ chức kinh tế và dân cư

Điều 1, Luật ngân sách nhà nước đã được Quốc hội Khoá IX kỳ họp thứ 9

thông qua xác định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán và đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước” Qua đó, thấy rằng ngân sách

nhà nước được huy động và sử dụng tuỳ thuộc vào chính sách nhà nước và cácmục tiêu nhà nước đặt ra trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau

Trong cơ chế thị trường, ngân sách nhà nước không còn là ngân sách củatoàn bộ nền kinh tế quốc dân nhưng trong tất cả nguồn đầu tư cho sự nghiệp đàotạo thì nguồn ngân sách nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo và quan trọng thứ nhất

Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã khẳng định: “Đầu

tư cho giáo dục - đào tạo lấy từ nguồn chi thường xuyên và từ nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục - đào tạo và phải được tập trung… Tăng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục đào tạo để đạt được 15% tổng chi ngân sách vào năm 2000”.

Trang 21

Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là khoản chimang tính chất tiêu dùng xã hội nhằm góp phần đảm bảo, duy trì và phát triểnkinh tế - xã hội thông qua việc sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nướcdưới hình thức không hoàn trả trực tiếp Tuy nhiên về mặt tác dụng lâu dài,chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là khoản chi có tínhchất tích luỹ bởi khoản chi này là nhân tố quyết định đến việc tăng trưởng nềnkinh tế trong tương lai.

1.2.4 Vai trò của nguồn lực tài chính trong phát triển giáo dục - đào tạo

Mọi mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo sẽ không trở thànhhiện thực nếu không có sự đầu tư cho giáo dục - đào tạo một cách thoả đáng.Phải xét đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển hạ tầng xã hội Năm

1988, 74 nhà khoa học đạt giải Nobel đã khuyến cáo “…Giáo dục cần được ưu tiên tuyệt đối trong mọi ngân sách để có thể góp phần nâng cao khả năng sáng tạo của con người”.

Các nguồn lực tài chính cung cấp cho giáo dục đào tạo cũng đuwọc tạo

ra từ việc phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân, chủ yếu từ tích luỹ và quỹtiêu dùng

Tất cả các nguồn vốn cho giáo dục - đào tạo được gộp lại thành hainguồn sau:

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp

- Nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước cấp: Bao gồm sự đóng gópcủa các tổ chức kinh tế - xã hội, vốn của nhà trường do hoạt độngnghiên cứu khoa học và lao động sản xuất tạo ra, nguồn vốn tài trợcủa nước ngoài (của các tổ chức quốc tế, cấc tổ chức phi chính phủ,

Trang 22

kiều bào ở nước ngoài ) sự đóng góp của dân, mở các trường lớpngoài công lập.

Sự nghiệp giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn dân, vì dân và do dân

Do đó, việc quan tâm đến sự nghiệp này là trách nhiệm của toàn xã hội vớiđịnh hướng phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, thực hiện xã hội hoá trong

đào tạo với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”.

Khi nghiên cứu mức độ cung cấp tài chính cho giáo dục đào tạo, cácquốc gia thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

- Tỷ trọng ngân sách nhà nước dành cho giáo dục đào tạo (tính theo %)

- Chi phí cho giáo dục đào tạo trong ngân sách nhà nước (tính bìnhquân trên đầu dân số)

- Tỷ trọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho giáo dục - đào tạo so vớivốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước (tính theo %)

Theo mục đích kinh tế, việc phân bổ ngân sách nhà nước cho giáo dụcđào tạo được chia làm hai khoản: chi thường xuyên và chi đầu tư

Khoản chi thường xuyên cho hoạt động giáo dục đào tạo chiếm % trongtổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo (79% năm 1994) Trongkhoản chi thường xuyên này, chi cho tiền lương chiếm tỷ trọng cao hơn cả(gần 2/3 năm 1994) Đây là đặc trưng của chi phí giáo dục ở hầu hết mọi quốcgia, còn khoản chi đầu tư chủ yếu dành cho việc mua sắm thiết bị và dành vốncho việc xây dựng mới

Nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước chiếm vị trí hết sức quan trọngnhằm bổ sung cho thiếu hụt của ngân sách giáo dục đào tạo

1.2.5 Khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục - đào tạo

1.2.5.1 Khái niệm về quản lý

Trang 23

Trong bộ Tư Bản, C.Mác đã viết: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần đến mức độ nhiều hay ít của sự quản lý” Quản lý ra đời cùng với sự xuất

hiện của hợp tác và phân công lao động Khái niệm quản lý là một khái niệm rấtrộng và được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu

- Theo quan điểm của các nhà điều khiển học, quản lý là sự tác động cómục đích đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi từ trạng thái này sangtrạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống, tạo lập hệ thống, điềukhiển hệ thống

- Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin, quản lý làsự xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thànhnhững chức năng xuất hiện trong sự vận động đối với các bộphận riêng lẻ của nó

- Theo quan điểm của các tác giả trong nước cho rằng quản lý là sựtác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý để tạo ra mộtsự chuyển biến của toàn bộ hệ thống nhằm đạt được mục đíchnhất định

Như vậy, khái niệm quản lý bao gồm các nội dung sau:

+ Quản lý là một hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người lao động vàsinh hoạt tập thể nhằm kiểm soát, điều khiển khách thể quản lý để thực hiệncác mục tiêu mà chủ thể quản lý hay cộng đồng xã hội đặt ra

+ Quản lý là xử lý các mối quan hệ quản lý (Chủ thể và khách thể trongquản lý, các thành tố trong quản lý)

+ Hoạt động quản lý phát huy được nhân tố con người với tư cách là bộphận quan trọng nhất của khách thể quản lý và đạt hiệu quả cao khi nótạo ra được cái toàn thể - chỉnh thể từ nhiều cá nhân và các phương

Trang 24

tiện, điều kiện vật chất, tinh thần tương ứng với mục tiêu quản lý.

+ Quản lý là một nghề phức tạp cần những năng lực và phẩm chất tổng hợp

Như vậy:

Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi có hoạt động chung, đó là sựtác động của củ thể đến khách thể quản lý trong đó điều quan trọng nhất là nhânlực - nhằm thực hiện các mục tiêu và chức năng của chủ thể quản lý

1.2.5.2 Khái niệm về quản lý giáo dục

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang:

“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theođường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chấtcủa nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quátrình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến

tiến lên trạng thái mới về chất” [32, tr.128].

- Theo tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng mục đích cuối cùng của quản lýgiáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thôngminh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thânvà của toàn xã hội

- Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng đã nhấn mạnh nhiệm vụ

của công tác quản lý trong tình hình mới: “Đổi mới cơ bản công tác quản lý và tổ chức giáo dục,…nhằm tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập suốt đời theo hướng thiết thực, hiện đại, gắn chặt với yêu cầu xã hội” [16, tr.384].

Thực chất của khái niệm quản lý giáo dục có hai cấp độ chủ yếu là cấp độ

vĩ mô và cấp độ vi mô:

+ Đối với cấp vĩ mô:

Trang 25

Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mụcđích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả cácmặt xích của hệ thống (từ cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằmthực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻmà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.

+ Đối với cấp vi mô:

Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống tác động tự giác (có ý thức, cómục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tậpthể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lựclượng trong xã hội và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và cóhiệu quả mục tiêu giáo dục nhà trường

Quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến cáckhách thể quản lý Nói một cách đầy đủ hơn, quản lý giáo dục là hệ thốngnhững tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lýtrong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ

sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lựclượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.Quản lý giáo dục chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, tác động của quản

lý xã hội

Bản chất của quản lý giáo dục:

+ Quản lý bao giờ cũng chia ra thành chủ thể quản lý và đối tượng bịquản lý Đây là đặc điểm cơ bản đầu tiên của quản lý giáo dục

Nếu chủ thể quản lý không có thì việc quản lý đặt ra là vô nghĩa Quản

lý giáo dục là quản lý việc đào tạo con người, hình thành và hoàn thiện nhâncách, tái sản xuất nguồn lực Đối tượng bị quản lý ở đây là những người thựchiện hoặc nhận sự giáo dục và đào tạo Vì không có gì phức tạp bằng quản lý

Trang 26

con người nên có thể nói quản lý giáo dục, quản lý việc giáo dục và đào tạocon người là loại hình quản lý khó khăn nhất, đòi hỏi chủ thể quản lý phải cónhững năng lực, phẩm chất tương xứng với công việc.

+ Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều cómối quan hệ ngược

Quản lý được diễn ra nhờ các tín hiệu của mình, đó là các thông tin.Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối tượng quản lý thì phải đưa ra các thôngtin, đó là thông tin điều khiển Còn đối tượng muốn định hướng hoạt động củamình phải tiếp nhận các thông tin điều khiển cấp trên (của chủ thể quản lý) cùngcác đảm bảo vật chất khác để tính toán và tự điều khiển chính mình

+ Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi

Khi đối tượng quản lý mở rộng quy mô các mối quan hệ thì không phảichủ thể quản lý hết cách mà vẫn có thể tiếp tục quản lý có hiệu quả nếu đổimới quá trình quản lý thông qua việc cấu trúc lại hệ thống và ủy quyền quản

lý cho các cấp trung gian

Trường hợp ngược lại: Khi chủ thể quản lý trở nên xơ cứng, quan liêu,đưa ra những tác động quản lý độc đoán, lỗi thời, phi lý thì không phải tất cảcác đối tượng bị quản lý bị bó tay mà họ vẫn có thể thích nghi và tồn tại theohai cách:

Họ phải tồn tại tương ứng với tác động quản lý của chủ thể

Họ biến đổi cấu trúc của bản thân để thích nghi với mệnh lệnh quản lýphi lý của chủ thể

+ Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuậtNói quản lý là một khoa hoc vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng là các mốiquan hệ quản lý, có phương pháp luận nghiên cứu riêng, có những phươngpháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để nghiên cứu như phương pháp phântích toán, kinh tế, xã hội học, lịch sử…

Trang 27

Quản lý đồng thời còn là một nghệ thuật vì nó còn phụ thuộc một phầnvào tài nghệ, bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ, bề dày kinh nghiệm của người lãnhđạo tổ chức.

Quản lý còn là một nghề với nghĩa là các nhà lãnh đạo, tổ chức phải cótri thức quản lý

+ Quản lý gắn liền với quyền lực và danh tiếng

Người lãnh đạo có ưu thế quan trọng trong tổ chức, họ có khả năngđiều khiển người khác và chi phối các nguồn lực vì tài sản của tổ chức, có thểđể lại danh tiếng cho người khác và cộng đồng, nếu họ lãnh đạo tổ chức củamình phát triển và đạt được mục tiêu của tổ chức

1.2.5.2 Quản lý đào tạo

Quản lý đào tạo là quá trình cơ sở giáo dục xác định mục tiêu đào tạo,

tổ chức xây dựng và ban hành chương trình đào tạo, tổ chức thực hiện kếhoạch đào tạo các chuyên ngành đã được giao Các cơ sở trực tiếp điều hànhmọi hoạt động đào tạo theo chương trình, kế hoạch đào tạo và những quy địnhchung mà các cấp có thẩm quyền đã ban hành

Nội dung quản lý đào tạo bao gồm:

- Quản lý mục tiêu đào tạo

- Quản lý chương trình đào tạo

- Quản lý phương pháp, phương thức đào tạo

- Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo

Quản lý đào tạo là quản lý các mục tiêu cụ thể của các yếu tố sau:

- Mục tiêu đào tạo

- Nội dung đào tạo

Trang 28

- Phương pháp đào tạo

- Lực lượng đào tạo

- Đối tượng đào tạo

- Hình thức tổ chức đào tạo

- Điều kiện đào tạo

- Môi trường đào tạo

- Quy chế đào tạo

- Bộ máy tổ chức đào tạo

Các yếu tố trên hoạt động tương tác với nhau, làm nảy sinh những tình huống

có vấn đề đòi hỏi phải giải quyết kịp thời Vì vậy quản lý đào tạo chính là quátrình xử lý những tình huống có vấn đề trong quá trình đào tạo để nhà trườngphát triển, đạt tới chất lượng tổng thể và bền vững

1.2.6 Đầu tư và quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính trong phát triển giáo dục - đào tạo

1.2.6.1 Nguồn lực tài chính dành cho giáo dục - đào tạo

Nguồn lực tài chính dành cho giáo dục - đào tạo theo quan điểm củacác nhà kinh tế học tư bản chủ nghĩa được coi là quá trình tích luỹ tư bản vàgiáo dục đào tạo là tạo cho con người có tri thức để điều khiển bản năng laođộng của mình có mục đích, để làm tăng năng suất lao động, tăng thu nhập

Vì vậy, đầu tư cho giáo dục đào tạo được coi là đầu tư tư bản vào con người

Trong thực tiễn cho thấy, trình độ giáo dục đào tạo sẽ quyết định mứcthu nhập của người lao động Bằng cấp và học vấn càng cao thì thu nhập hàngnăm càng lớn Sự đầu tư cho giáo dục quá ít sẽ ảnh hưởng không tốt đến sựphát triển kinh tế Về phương diện này, chúng ta có thể rút ra những bài học

Trang 29

bổ ích từ sự phát triển kinh tế của các nước đã và đang phát triển mạnh.

Trong điều kiện nước ta, nền kinh tế còn có nhiều khó khăn song Đảngvà Nhà nước đã và đang rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục đào tạo, tăngdần tỷ trọng chi cho giáo dục đào tạo qua từng năm Ngân sách nhà nước đảmbảo ổn định từng bước đời sống của cán bộ, giáo viên Tuy nhiên, so với yêucầu chi của sự nghiệp giáo dục đào tạo chưa năm nào đáp ứng được quá 65%.Trước hết, tỷ lệ tăng ngân sách chưa bù tỷ lệ trượt giá và tăng quy mô tựnhiên do nhu cầu học tập của học sinh ở các cấp độ tuổi các các cấp học,ngành học (hệ quả của sự tăng cơ học dân số) Phần chi cho giảng dạy và họctập chỉ chiếm khoảng 20% vì thế tình trạng dạy chay vẫn còn phổ biến

Nếu quan niệm đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư cho sự phát triểnthì ngân sách dành cho xây dựng cơ bản còn quá thấp; chưa năm nào ngânsách đầu tư cho xây dựng cơ bản củ giáo dục đào tạo đạt được 5% trong tổngvốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước (Theo quy định tại Quyết định248/ttg thì hàng năm phải dành ít nhất 5% vốn xây dựng cơ bản cho giáo dụcđào tạo trong tổng số vốn xây dựng cơ bản của nhà nước)

Ngân sách sự nghiệp giáo dục đào tạo vốn đã hạn hẹp mà lại còn phảisử dụng để chi các loại hình trường không nằm trong hệ thống giáo dục quốcdân (theo Nghị định 90/CP của chính phủ) như hệ thống trường Đảng, trường cácĐoàn thể, các trung tâm chính trị tại các huyện, đào tạo lại công chức….Như vậyngân sách thực chi cho giáo duc đào tạo lại càng hạn hẹp thêm

Với chủ trương xã hội hoá giáo dục nhưng do chưa được thể chế hoá cơ

sở pháp lý, quy định rõ ràng đầu tư ngân sách có hạn không đủ chi cho cácyêu cầu nên khó khắc phục tình trạng phải thu của người học ngoài quy địnhcủa nhà nước Có nhiều cơ sở đặt ra nhiều khoản thu, chi bất hợp lý gây raảnh hưởng xấu tới chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng và Nhà nước

Để chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại

Trang 30

hoá của đất nước cần phải có chiến lược đầu tư cho giáo dục đào tạo theo hướng:

- Đầu tư cho giáo dục đào tạo được huy động từ nhiều nguồn: ngânsách nhà nước, đóng góp của xã hội, viện trợ và vay ưu đãi của nướcngoài và các tổ chức quốc tế

- Nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước (ở cấp trung ương và địa phương)phải đáp ứng nhu cầu cơ bản của phát triển giáo dục đào tạo

- Nguồn đầu tư từ xã hội như đóng góp hợp lý từ bản than, gia đình,cộng đồng các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực qua đào tạo, các tổchức xã hội

- Mở rộng nguồn đầu tư nước ngoài theo các phương thức viện trợ,vay ưu đãi theo con đường nhà nước và ngoài nhà nước

Thể hiện quan trọng nhất về mức độ quán triệt “giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư cho sự phát triển”, mọi mục

tiêu của chiến lược phát triển giáo dục đào tạo sẽ không trở thành hiện thựcnếu như không có sự đầu tư cho giáo dục đào tạo một cách thoả đáng Phảixem đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng xã hội.Trong 10 năm qua, tỷ trọng đầu tư cho giáo dục đào tạo trong ngân sách nhànước tăng đáng kể qua từng năm Ngân sách nhà nước đảm bảo từng bước ổnđịnh đời sống của đội ngũ cán bộ giáo viên, tuy đời sống giáo viên còn ở mứcthấp nhưng ngân sách đã đảm bảo mức lương cho đội ngũ giáo viên toànngành giáo dục đào tạo ưu tiên có hệ số, phụ cấp đứng lớp để tổng mức thunhập cao hơn một số ngành hành chính sự nghiệp khác

1.2.6.2 Quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính dành cho giáo dục đào tạo

-Sử dụng tốt nguồn lực tài chính trong phát triển giáo dục đào tạo chínhlà thực hiện nghiêm túc các quy trình của quá trình quản lý tài chính nhằm

Trang 31

đảm bảo cho công tác đào tạo trong nhà trường thông qua 4 khâu sau đây:

- Khâu lập kế hoạch: Khi lập kế hoạch tài chính cho đào tạo phải dựa

vào quy mô đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển sự nghiệp giáodục đào tạo Nắm đầy đủ số liệu về biên chế, học sinh, sinh viên, cơ

sở vật chất của nhà trường năm báo cáo để có cơ sở dự kiến chonăm kế hoạch Dựa vào số liệu đã thực hiện trong năm báo cáo vềtổng số chi cho các hoạt động trong nhà trường như chi cho conngười, chi quản lý hành chính, mua sắm sửa chữa, chi nghiệp vụchuyên môn và các khoản chi xây dựng cơ bản, chương trình mụctiêu… để làm cơ sở dự kiến cho năm kế hoạch

- Khâu điều hành thực hiện: Cấp phát kinh phí và thực hiện các

khoản chi tiêu hợp lý, kịp thời theo kế hoạch đảm bảo các hoạtđộng thường xuyên cho nhà trường Giám sát việc điều hành việcchi tiêu cho các bộ phận đảm bảo đúng chế độ, đúng mục đích và

có hiệu quả

- Khâu quyết toán kinh phí: là một khâu của việc sử dụng kinh phí

nhằm phản ánh đầy đủ các khoản chi và báo cáo quyết toán ngânsách theo đúng chế độ quy định của luật ngân sách và pháp lệnh kếtoán thống kê về biểu mẫu, thời gian, nội dung các khoản chi tiêu.Trên cơ sở báo cáo quyết toán để phân tích đánh giá tình hình thựchiện kế hoạch chi tiêu cho công tác đào tạo, rút ra được những ưunhược điểm trong quá trình quản lý đồng thời làm cơ sở cho việc lập

kế hoạch năm sau sát hiện thực hơn

- Cuối cùng là khâu kiểm tra: việc thực hiện kế hoạch không phải bao

giờ cũng đúng như dự kiến, vì vậy đòi hỏi phải có sự kiẻm trathường xuyên để nắm tình hình về quản lý tài chính nhằm đảm bảocho hiệu quả đầu tư

Trang 32

Để quản lý các nguồn lực tài chính cho giáo dục đào tạo ở tầm vĩ mônhà nước xây dựng các định mức chi Các định mức chi này do Bộ Tài chính,

Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định và xem xéthàng năm đối với giáo dục và đào tạo Các định mức chi được xác định trên

cơ sở số lượng học sinh, sinh viên Thông qua định mức chi ngân sách hàngnăm cho giáo dục đào tạo đã góp phần định hướng, sắp xếp cơ cấu mạng lướitrường trong hệ thống giáo dục quốc dân, các viện nghiên cứu nhằm phát huytiềm lực của đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất của mỗi trường trongtoàn hệ thống, tạo ra chất lượng cao và hiệu quả lớn của hệ thống các cơ sởđào tạo Tập trung ngân sách nhà nước cho những mục tiêu chương trình quốcgia như: xác định hệ thống trường, phổ cập giáo dục, xây dựng các trường đạihọc quốc gia trọng điểm, đại học vùng, miền…

Bên cạnh đó, thông qua cơ cấu chi ta thấy chi phí thường xuyên của cáctrường đại học chiếm trên 90% tổng số kinh phí cho sự nghiệp giáo dục đạihọc Chi phí thường xuyên có nhiều nội dung khác nhau, nhưng chủ yếu là chilương và phụ cấp lương cho bộ máy của trường, chi cho công tác giảng dạyvà học tập, chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định… đó là những khoản chiphí nhằm đảm bảo các hoạt động cho các cơ sở phục vụ đào tạo

Nội dung quản lý nguồn lực tài chính của ngân sách nhà nước đượcphân cấp theo ngành dọc thông qua hệ thống kho bạc nhà nước Bộ Tài chínhlà đơn vị tổng dự toán Trung ương, hàng năm lập kế hoạch trình lên Chínhphủ, phải dựa vào yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục đào tạo, nắm đầyđủ số liệu về biên chế số học sinh, sinh viên, cơ sở vật chất của các trường đạihọc thuộc các Bộ chủ quản đã lập kế hoạch và dựa vào số liệu thực hiện củacác năm trước đó Các Bộ chủ quản khi được Bộ Tài chính giao kế hoạchcũng tiến hành phân bổ kinh phí cho các cơ sở đào tạo trực thuộc theo các chỉtiêu như trên và các cơ sở đào tạo là đơn vị dự toán cấp 2, là nơi trực tiếp sửdụng kinh phí

Trang 33

Khâu cấp phát kinh phí cũng phải kịp thời, đảm bảo kế hoạch hoạtđộng thường xuyên cho công tác đào tạo Cuối cùng là khâu quyết toán kinhphí, phải đảm bảo các khoản chi, báo cáo quyết toán đúng tiến độ và biểumẫu, nội dung và thời gian báo cáo theo quy định.

Đối với các cơ sở đào tạo, việc quản lý tài chính trong công tác đào tạocũng phải theo một quy trình đã quy định chung Trước hết về khâu lập kếhoạch, hàng năm, căn cứ vào chỉ tiêu tuyển sinh đã được giao, căn cứ vàonhiệm vụ đào tạo, thực tế nhu câu chi tiêu và dựa vào báo cáo tài chính củanăm trước để lập kế hoạch ngân sách cho công tác đào tạo năm nay

Khi được giao kế hoạch ngân sách, để triên khai thực hiện chi tiêu, các

cơ sở đào tạo phải làm việc với từng bộ phận, khoa, phòng trong đơn vị đểthông báo về số kinh phí được chi trong năm, từ đó lên kế hoạch cho từng nộidung công việc và cuối cùng kế toán là nơi thực hiện việc thu, chi, kinh phícho từng bộ phận, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện kế hoạch chi theođúng các quy định hiện hành của nhà nước Các khoa phòng, đơn vị, cá nhânkhi có nhu cầu chi tiêu cho công việc đã có trong kế hoạch (ví dụ như kếhoạch giảng dạy, học tập, thực tế chuyên môn, viết giáo trình, mua sắm vật tưcho phòng thí nghiệm….), lập dự trù kinh phí trình lãnh đạo phê duyệt và đếnlàm các thủ tục khác về tài chính với bộ phận kế toán Cuối năm, khi kết thúcnăm tài chính, bộ phận kế toán có trách nhiệm lập báo cáo tài chính gửi các

cơ quan có thẩm quyền để báo cáo và đề nghị được phê duyệt

Các khoản chi thường xuyên cho đào tạo từ ngân sách nhà nước làkhoản chi nhằm thực hiện việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội của địa phương Vì vậy, khoản chi này tương đối ổnđịnh và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong ngân sách sự nghiệp giáo dục

Xét theo nội dung chi quản lý hành chính, chi thường xuyên cho giáodục được chia thành bốn nhóm chi:

Trang 34

- Nhóm 1: Chi cho con người.

- Nhóm 2: Chi quản lý hành chính.

- Nhóm 3: Chi giảng dạy học tập.

- Nhóm 4: Chi mua sắm, sửa chữa.

Chi cho con người: Bao gồm lương, phụ cấp, phúc lợi, các khoản bảo

hiểm xã hội Đây là khoản chi bù đắp hao phí lao động, đảm bảo duy trì quátrình tái sản xuất sức lao động cho đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viêncủa đơn vị Trong thực tế, chi cho con người năm nào cũng cao hơn kế hoạchnhưng vẫn chưa đảm bảo được cuộc sống cho cán bộ giaó viên, vì vậy việctăng cường đầu tư cho giáo dục và có các chính sách ưu đãi với giáo viên làcấp thiết

Nhóm chi quản lý hành chính: Bao gồm các mục: Chi về công tác phí,

công vụ phí (điện nước, xăng xe, hội nghị, văn phòng phẩm….) Đây là khoảnchi mang tính gián tiếp đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ, chi kịp thời và cần phảiquản lý chi một cách tiết kiệm và có hiệu quả

Nhóm chi giảng dạy, học tập: Bao gồm việc mua tài liệu, sách giáo

khoa, giáo trình, băng, đĩa, đồ dùng học tập, phấn viết bảng, thực tập, thựctế… Khoản chi này phần nhiều phụ thuộc vào cơ sở vật chất, quy mô đào tạo.Đây là khoản chi nhằm đáp ứng phương tiện phục vụ cho việc giảng dạy, giúpcho giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh một cách có hiệu quả Chính

vì vậy, có thể nói đây là khoản chi có ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất đến chấtlượng đào tạo

Nhóm chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định: Là khoản chi cho việc

sửa chữa, nâng cấp phòng học, bàn ghế, trang thiết bị cho lớp học đảm bảo cơ

sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy học tập Đây là một khoản chi cầnđược ưu tiên vì tình trạng chung trong những năm gần đây cơ sở vật chất bị

Trang 35

xuống cấp một cách nghiêm trọng, trang thiết bị, đồ dùng dạy học thiếu thốndẫn đến chất lượng dạy học không đảm bảo.

Ở mỗi giai đoạn khác nhau thì tỷ trọng giữa các nhóm chi còn tuỳ thuộcvào những nhân tố ảnh hưởng như mục tiêu về việc đào tạo con người, mức

độ phát triển của kinh tế - xã hội…

Tiểu kết chương 1

Nguồn lực tài chính là tiền tệ đang vận động với chức năng phương tiệnthanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sửdụng các quỹ tiền tệ

Nguồn lực tài chính cho giáo dục - đào tạo được tạo ra từ việc phânphối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân, chủ yếu được phân phối từ quỹtích luỹ và quỹ tiêu dùng

Trong giáo dục - đào tạo, nguồn lực tài chính giữ vai trò cơ sở, làmđòn bẩy, thúc đẩy cho giáo dục - đào tạo phát triển Không có sự phát triểnnào của giáo dục - đào tạo lại không gắn liền với đầu tư tài chính Thôngqua quá trình phân phối, cùng với những chính sách, nguồn lực tài chính đãchi trả lương cho bộ máy của hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo đội ngũ,đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng trường, lớp và các trang thiết bịgiảng dạy, học tập…

Đất nước ta tuy thoát qua danh sách các nước nghèo nhưng vẫn là nước

có thu nhập thấp Vì vậy, ảnh hưởng đến việc phân phối, chi tiêu nói chung.Giáo dục là quốc sách, mặc dù nhà nước đã cố gắng đầu tư cho ngân sáchgiáo dục song việc sử dụng, quản lý sao cho nguồn ngân sách ấy có hiệu quảthiết thực vẫn còn là vấn đề gặp không ít khó khăn Vì vậy, nắm được cơ sở lýluận về vấn đề này làm cơ sở định hướng cho những người hoạch định chínhsách giáo dục và đề ra biện pháp hữu hiệu để đạt kết quả tốt hơn

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ

KHI SỬ DỤNG NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

2.1 Một số nét về Trường Đại học sư phạm Hà Nội và Phòng Kế hoạch - Tài chính

2.1.1 Vài nét về Trường Đại học sư phạm Hà Nội

Trường ĐHSP Hà Nội được thành lập ngày 11 tháng 10 năm 1951 theoNghị định 276 của Bộ Quốc gia Giáo dục Ngày 10 tháng 12 năm 1993 theo

Nghị định 97/ CP của Chính phủ, trường là một trường thành viên của Đại

học Quốc gia Hà Nội Ngày 12 tháng 10 năm 1999 theo Quyết định số201/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trường được tách ra khỏi Đại họcQuốc gia Hà Nội và mang tên là Trường ĐHSP Hà Nội

CÁC ĐƠN VỊ PHỤC VỤ ĐÀO TẠO

CÁC ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

BAN GIÁM HIỆU

Trang 37

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trường ĐHSP Hà Nội

* Về đội ngũ cán bộ:

Tính đến thời điểm ngày 01 tháng 01 năm 2011, trường ĐHSP Hà Nội

có tổng số 1334 cán bộ, viên chức trong đó:

- Số cán bộ tham gia giảng dạy (trực tiếp và kiêm nhiệm): 959 người(chiếm tỷ lệ 65%)

- Số cán bộ quản lý hành chính, nghiên cứu viên, nhân viên: 375 người(chiếm tỷ lệ 35%)

Mặc dù có số lượng đội ngũ cán bộ đông đảo và tỷ lệ giữa khối cán

bộ trực tiếp giảng dạy và tổng số cán bộ công nhân viên là khoảng 2/3nhưng đứng trước yêu cầu cấp thiết về quy mô đào tạo và nghiên cứu khoahọc thì trường ĐHSP Hà Nội còn thiếu hụt nhiều cán bộ giảng dạy, đặc biệtlà những người có kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu Nhất là những nămgần đây, số cán bộ giảng dạy có kinh nghiệm là các Giáo sư, Phó giáo sư vềnghỉ hưu rất nhiều, việc bổ sung lực lượng thay thế đang là bài toán cấpbách của nhà trường

Bảng 2.1: Thống kê đội ngũ cán bộ giảng dạy của trường ĐHSP Hà Nội (tính đến tháng

01 năm 2011)

TT Giảng viên Giáo

Phó giáo sư

Tiến sĩ khoa học

Tiến sĩ

Thạc sĩ

Đại học

Cao đẳng

Trung cấp

Tổng cộng

Trang 38

* Về đào tạo và nghiên cứu khoa học:

Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ đổimới, Trường ĐHSP Hà Nội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, được

xã hội tín nhiệm và đánh giá cao Tính đến năm 2004, Trường ĐHSP Hà Nội

đã đào tạo 76.300 cử nhân (41.092 cử nhân chính quy, 26.910 cử nhân tạichức, 7.624 cử nhân từ xa, 674 cử nhân thuộc các hệ khác), 3.885 thạc sĩ (580thạc sĩ Toán-Tin, 350 thạc sĩ Vật lý, 358 thạc sĩ Hóa học, 379 thạc sĩ Sinh -KTNN, 960 thạc sĩ Ngữ văn, 232 thạc sĩ Lịch sử, 205 thạc sĩ Địa lý, 703 thạc

sĩ Tâm lý - Giáo dục, 28 thạc sĩ Sư phạm kỹ thuật, 4 thạc sĩ Giáo dục Tiểu học

vị 86 thạc sĩ Giáo dục Mầm non)

Trường ĐHSP Hà Nội cũng là một trong những trường có thành tíchxuất sắc trong đào tạo tài năng trẻ cho đất nước Hệ THPT chuyên đã đào tạogần 2.000 học sinh tốt nghiệp phổ thông loại giỏi và xuất sắc Có 36 học sinhđoạt Huy chương (10 Huy chương Vàng, 17 Huy chương Bạc và 11 Huychương Đồng) tại các kỳ thi Olympic quốc tế Đặc biệt là liên tục từ năm

1999 đến nay, năm nào trường cũng có học sinh đoạt Huy chương VàngOlympic quốc tế và khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Trường có hơn 2.000 công trình nghiên cứu khoa học Trong giaiđoạn 1996-2003, trường có trên 600 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhànước và cấp Bộ trong đó có 178 đề tài thuộc các chương trình trọng điểmquốc gia, 11 đề tài đặc biệt cấp Bộ, 3 đề tài trọng điểm cấp Bộ, Nhiều nhàkhoa học của trường trở thành các nhà khoa học tầm cỡ quốc gia và quốc tếvà được nhận các Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước.Trong năm học 2004-2005, trường đã tiến hành nghiệm thu 135 đề tàinghiên cứu khoa học trong đó có 26 đề tài cấp Nhà nước, 44 đề tài cấp Bộvà 65 đề tài cấp Trường Hiện nay, trường đang triển khai 172 đề tài nghiêncứu khoa học trong đó có 26 đề tài cấp Nhà nước, 77 đề tài cấp Bộ, 113 đề

Trang 39

tài cấp Trường trong đó có 25% số đề tài phục vụ đổi mới phương pháp đàotạo

Liên tục từ năm 1998 đến nay, Trường ĐHSP Hà Nội đều có sinh viênđạt giải cao Năm 2003 trường có hơn 600 công trình nghiên cứu khoa học củasinh viên Trường đã được Bộ GD - ĐT ghi nhận là một trong những đơn vị đạtthành tích xuất sắc trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học Trong 10năm trở lại đây, trường có 8 giải Nhất, 11 giải Nhì, 6 giải Ba, 20 giải Khuyếnkhích cấp Bộ của sinh viên nghiên cứu khoa học Trường là một trong 7 trường

ĐH có thành tích sinh viên nghiên cứu khoa học cao nhất trong cả nước

* Về cơ sở vật chất và phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học:

Với nhận thức: cơ sở vật chất kỹ thuật là một yếu tố quan trọng để bảođảm yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học nên TrườngĐHSP Hà Nội luôn quan tâm đầu tư để cơ sở vật chất kỹ thuật của trườngngày càng được khang trang, hiện đại Nhà trường đã có đủ giảng đường,thư viện, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, cơ sở thực tập và phươngtiện kỹ thuật phục vụ cho dạy và học và ngày càng được trang bị hiện đạihơn Hiện tại giảng đường của trường có tổng diện tích là 19.760 m2 và 181phòng học; hệ thống các phòng máy tính có tổng diện tích là 2.812 m2 và

36 phòng; Trung tâm thông tin thư viện của trường có tổng diện tích là6.334 m2 và 31 phòng; hệ thống các phòng thí nghiệm có tổng diện tích là2.545 m2 và 38 phòng

Qua 60 năm xây dựng và phát triển, Trường ĐHSP Hà Nội đã và đang

phấn đấu làm tròn chức năng "máy cái của ngành giáo dục", trở thành trường

chuẩn mực vừa đào tạo giáo viên các cấp có chất lượng cao vừa nghiên cứukhoa học đạt trình độ tiên tiến làm nòng cốt thúc đẩy sự phát triển của hệthống sư phạm trong cả nước, góp phần giải quyết các vấn đề then chốt củagiáo dục quốc dân nói chung và ngành sư phạm nói riêng

Trang 40

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của phòng Kế hoạch Tài chính Trường Đại học sư phạm Hà Nội

-* Về cơ cấu của phòng KH-TC:

Phòng Kế hoạch_Tài chính gồm có: 16 kế toán viên Trong đó có:

01 kế toán trưởng kiêm trưởng phòng: Phụ trách chung; 03 Phó trưởngphòng; 12 Kế toán viên Gồm các kế toán sau:

- Kế toán ngân hàng

- Kế toán xây dựng cơ bản

Ngày đăng: 14/07/2022, 13:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An, Phan Tùng Mậu (2000), "Thực trạng và giải pháp chính sách tài chính phát triển giáo dục - đào tạo trong giai đoạn tới", Tạp chí Phát triển giáo dục, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải phápchính sách tài chính phát triển giáo dục - đào tạo trong giai đoạntới
Tác giả: Nguyễn Văn An, Phan Tùng Mậu
Năm: 2000
2. Đặng Quốc Bảo (1997), Kinh tế giáo dục, Tài liệu dùng cho học viên cao học GDH, Viện KHGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
3. Đặng Quốc Bảo (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhàtrường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
4. Nguyễn Lương Bằng, "Vai trò của GD-ĐT đối với sự phát triển kinh tế xã hội", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của GD-ĐT đối với sự phát triển kinh tếxã hội
5. Nguyễn Xuân Cường (2006), Biện pháp quản lý nguồn lực tài chính đầu tư cho các trường Trung học phổ thông công lập tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý nguồn lực tài chínhđầu tư cho các trường Trung học phổ thông công lập tỉnh BắcNinh trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Xuân Cường
Năm: 2006
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Các văn bản pháp luật hiện hành về giáo dục và đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật hiện hành vềgiáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2002
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1998), Một số vấn đề chính sách đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chính sách đầu tư pháttriển giáo dục - đào tạo trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 1998
8. Bộ Tài chính (2002), Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21 tháng 3 năm 2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2002 của Chính phủ về chế độ tài chính cho đơn vị sự nghiệp có thu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21 tháng 3 năm2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16tháng 1 năm 2002 của Chính phủ về chế độ tài chính cho đơn vị sựnghiệp có thu
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2002
9. Bộ Tài chính (2004), Các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật ngân sách nhà nước năm 2002 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004), Nxb Tài chính, Hà Nội - 2004. V.I. Baoxov - Những vấn đề tài chính cho giáo dục. Nhà xuất bản tài chính, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật ngân sáchnhà nước năm 2002" (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004),Nxb Tài chính, Hà Nội - 2004. V.I. Baoxov - "Những vấn đề tàichính cho giáo dục. Nhà xuất bản tài chính
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2004
10. Đỗ Văn Chấn (2000), Bài giảng về kinh tế học giáo dục cho các lớp cao học quản lý giáo dục, Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý GD-ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng về kinh tế học giáo dục cho các lớp caohọc quản lý giáo dục
Tác giả: Đỗ Văn Chấn
Năm: 2000
11. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009), Tập bài giảng Lý luận quản lý và quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Lýluận quản lý và quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2009
12. Chính hủ (2002), Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2002 về “Chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm2002 về “Chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu”
Tác giả: Chính hủ
Năm: 2002
13. Hoàng Chúng (1998), Phương pháp thống kê toán học trong KHGD - Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong KHGD
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Vũ Cao Đàm (2002), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.15. Phan Bá Đạt (2007), Chế độ chính sách về Quản lý tài chính, thu chi ngân sách, quản lý mua sắm tài sản và hệ thống mục lục ngân sách mới trong cơ quan nhà nước, đơn vị, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học", NxbGiáo dục, Hà Nội.15. Phan Bá Đạt (2007), "Chế độ chính sách về Quản lý tài chính, thu chingân sách, quản lý mua sắm tài sản và hệ thống mục lục ngânsách mới trong cơ quan nhà nước, đơn vị
Tác giả: Vũ Cao Đàm (2002), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.15. Phan Bá Đạt
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kờ đội ngũ cán bộ giảng dạy của trường ĐHSP Hà Nội (tính đến tháng - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.1 Thống kờ đội ngũ cán bộ giảng dạy của trường ĐHSP Hà Nội (tính đến tháng (Trang 37)
Bảng 2.2: NSNN chi cho cỏc hoạt động tại trường ĐHSP Hà Nội - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.2 NSNN chi cho cỏc hoạt động tại trường ĐHSP Hà Nội (Trang 44)
2 Thu từ nhà ăn + gửi - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
2 Thu từ nhà ăn + gửi (Trang 45)
Bảng 2.3: Tổng nguụ̀n kinh phớ ngoài NSNN của ĐHSP Hà Nội - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.3 Tổng nguụ̀n kinh phớ ngoài NSNN của ĐHSP Hà Nội (Trang 45)
Bảng 2.4: So sỏnh nguụ̀n ngõn sỏch trong và ngoài nhà nước - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.4 So sỏnh nguụ̀n ngõn sỏch trong và ngoài nhà nước (Trang 46)
Bảng 2.5: Cỏc khoản chi thường xuyờn trong ngõn sỏch đào tạo hàng năm của trường ĐHSP Hà Nội - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.5 Cỏc khoản chi thường xuyờn trong ngõn sỏch đào tạo hàng năm của trường ĐHSP Hà Nội (Trang 49)
Bảng 2.6: Đỏnh giỏ của cỏn bộ quản lý và giảng viờn về mức độ đầu tư NSNN hàng năm - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.6 Đỏnh giỏ của cỏn bộ quản lý và giảng viờn về mức độ đầu tư NSNN hàng năm (Trang 55)
Bảng 2.7: Đỏnh giỏ của cỏn bộ quản lý trường, Khoa và cỏn bộ phũng tài vụ tỡnh hỡnh sử dụng - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.7 Đỏnh giỏ của cỏn bộ quản lý trường, Khoa và cỏn bộ phũng tài vụ tỡnh hỡnh sử dụng (Trang 58)
Bảng 2.8: Đỏnh giỏ về tầm quan trọng của việc sử dụng, quản lý nguụ̀n - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.8 Đỏnh giỏ về tầm quan trọng của việc sử dụng, quản lý nguụ̀n (Trang 60)
Bảng 2.9: Đánh giá về viợ̀c quản lý, sử dụng nguụ̀n NSNN được đõ̀u tư cho trường - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.9 Đánh giá về viợ̀c quản lý, sử dụng nguụ̀n NSNN được đõ̀u tư cho trường (Trang 63)
Bảng 2.10: Đỏnh giỏ về tớnh hiệu quả của việc sử dụng nguụ̀n NSNN - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.10 Đỏnh giỏ về tớnh hiệu quả của việc sử dụng nguụ̀n NSNN (Trang 65)
Bảng 2.11: Đỏnh giỏ vờ̀ cỏc yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng nguụ̀n NSNN tại trường ĐHSP Hà Nội - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 2.11 Đỏnh giỏ vờ̀ cỏc yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng nguụ̀n NSNN tại trường ĐHSP Hà Nội (Trang 67)
Bảng 3.1: Cải tiến tổ chức cụng tỏc kế toỏn của phũng tài vụ - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 3.1 Cải tiến tổ chức cụng tỏc kế toỏn của phũng tài vụ (Trang 86)
1 Tăng quyền tự chủ và trách nhiợ̀m - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
1 Tăng quyền tự chủ và trách nhiợ̀m (Trang 91)
Bảng 3.3: Tính khả thi của những biợ̀n pháp sử dụng hiợ̀u quả nguụ̀n ngõn sách nhà nước - Ths  khoa học giáo dục biện  pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở trường đại  học sư phạm hà nội
Bảng 3.3 Tính khả thi của những biợ̀n pháp sử dụng hiợ̀u quả nguụ̀n ngõn sách nhà nước (Trang 91)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w