Bài viết Các yếu tố liên quan đến kiến thức dinh dưỡng và hành vi tuân thủ chế độ ăn uống của người bệnh viêm tụy cấp trình bày xác định mối liên quan giữa các đặc điểm cá nhân, tình trạng dinh dưỡng, tình trạng bệnh lý với kiến thức dinh dưỡng và hành vi tuân thủ chế độ ăn uống.
Trang 1CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC DINH DƯỠNG
VÀ HÀNH VI TUÂN THỦ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH VIÊM TỤY CẤP
Cao Mạnh Hùng 1 , Trần Thụy Khánh Linh 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Chế độ dinh dưỡng đúng cho người bệnh viêm tụy cấp là một trong những yếu tố quan trọng
giúp người bệnh hồi phục tốt hơn cũng như phòng ngừa nguy cơ viêm tụy cấp tái phát Để có được chế độ dinh dưỡng phù hợp và hành vi tuân thủ chế độ ăn uống đúng thì việc trang bị, củng cố lại những kiến thức cơ bản về chế độ dinh dưỡng trong bệnh lý viêm tụy cấp cũng như giúp người bệnh nâng cao việc tuân thủ chế độ ăn uống hằng ngày sau khi xuất viện là điều rất quan trọng Tuy nhiên muốn đạt được hiệu quả trong việc giáo dục sức khỏe (GDSK) cần quan tâm tới các yếu tố liên quan có thể tác động tới kiến thức và hành vi tuân thủ chế độ ăn uống của người bệnh để từ đó có thể điều chỉnh cũng như xây dựng được chương trình tư vấn GDSK phù hợp
và giúp đạt được hiệu quả tốt hơn
Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm cá nhân, tình trạng dinh dưỡng, tình trạng bệnh lý với
kiến thức dinh dưỡng và hành vi tuân thủ chế độ ăn uống
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bán thực nghiệm (Quasi-Experimental Study), một nhóm gồm
44 người bệnh viêm tụy cấp điều trị tại khoa Nội tiêu hóa, bệnh viện Nhân dân Gia Định trong khoảng thời gian
từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 4 năm 2021, được can thiệp GDSK về chế độ dinh dưỡng và tham gia khảo sát trước can thiệp và sau khi xuất viện một tháng
Kết quả: Sau khi phân tích số liệu thu được của 44 người bệnh, chúng tôi thấy rằng các đặc điểm về giới
tính, trình độ học vấn, chế độ ăn kiêng, chế độ dinh dưỡng hằng ngày có mối liên quan với kiến thức dinh dưỡng (p <0,05) Đối với hành vi tuân thủ chế độ ăn uống cũng cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với một số đặc điểm về giới tính, chế độ ăn kiêng, chế độ dinh dưỡng hằng ngày và nguyên nhân viêm tụy cấp
Kết luận: Trong chương trình giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng cho người bệnh viêm tụy cấp cần lưu ý
tới một số đặc điểm về giới tính, trình độ học vấn, chế độ ăn kiêng, chế độ dinh dưỡng hằng ngày và các nguyên nhân gây ra viêm tụy để đưa ra các hình thức tư vấn sức khỏe phù hợp cho từng người bệnh nhằm nâng cao hiệu quả GDSK
Từ khóa: mối liên quan, kiến thức, hành vi, dinh dưỡng, viêm tụy cấp, giáo dục sức khỏe
ABSTRACT
ASSOCIATED FACTORS TO NUTRITIONAL KNOWLEDGE AND DIETARY ADHERENCE
BEHAVIOR AMONG PATIENTS WITH ACUTE PANCREATITIS
Cao Manh Hung, Tran Thuy Khanh Linh
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 5 - 2021: 339 - 349
Background: Proper nutrition for patients with acute pancreatitis is one of the important factors that help
patients recover better as well as prevent the risk of acute pancreatitis from recurring In order to have a suitable diet and follow the right behaviors to comply with the diet, it is necessary to equip and reinforce the basic knowledge about nutrition of acute pancreatitis as well as help patients improve nutritional behavior and daily post-discharge dietary compliance However, in order to be effective in health education, it is necessary to pay
1 Bộ môn Điều dưỡng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: CN Cao Mạnh Hùng ĐT: 0307106098 Email: manhhungcr2018@gmail.com
Trang 2attention to the relevant factors that can affect the patient's knowledge and behavior to adhere to the diet From there, it is possible to adjust as well as build an appropriate health education counseling program and help achieve better results
Objectives: Determine the relationship between individual characteristics, nutritional status, medical status
with nutritional knowledge and dietary adherence behavior
Methods: The Quasi-Experimental Study, a group of 44 patients with acute pancreatitis treated at the
Department of Gastroenterology, Gia Dinh People's Hospital from November 2020 to April 2021 The patient will receive health education on nutrition regimen and participating in the survey before the intervention and 1 month after discharge
Results: After analyzing the collected data of 44 patients, we found that the characteristics of gender,
education level, diet, daily nutrition were related to nutritional knowledge (p <0.05) For the behavior of adherence
to the diet also showed a statistically significant association with some characteristics of gender, diet, daily nutrition and cause of acute pancreatitis
Conclusions: In the health education program on nutrition for patients with acute pancreatitis, it is
necessary to pay attention to some characteristics of gender, education level, diet, daily nutrition and causes of acute pancreatitis From there, providing appropriate forms of health counseling for each patient to improve the effectiveness of health education
Keywords: relationship, knowledge, behavior, nutrition, acute pancreatitis, health education
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng luôn đóng một vai trò quan
trọng và ảnh hưởng tới quá trình hồi phục của
người bệnh Đặc biệt đối với người bệnh viêm
tụy cấp dinh dưỡng luôn được quan tâm trong
quá trình điều trị, việc chọn hình thức nuôi
dưỡng và thời điểm bắt đầu nuôi ăn bằng đường
tiêu hóa cho người bệnh viêm tụy cấp tùy thuộc
vào mức độ nặng và các dấu hiệu lâm sàng của
người bệnh(1) Dinh dưỡng hợp lý giúp đảm bảo
cân bằng nitơ, duy trì mức glucose và lipid phù
hợp Ngoài ra, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho
người bệnh sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong, giảm biến
chứng và rút ngắn thời gian điều trị(2)
Các nghiên cứu về kiến thức và sự tuân thủ
chế độ dinh dưỡng ở người bệnh viêm tụy cấp
cho thấy rằng hầu hết người bệnh viêm tụy cấp
(VTC) khi nhập viện chưa có kiến thức về bệnh
và chế độ dinh dưỡng(3,4) Nghiên cứu của Xiuli
LLZ(2003) chỉ ra rằng gần 80% người bệnh viêm
tụy cấp khi nhập viện chưa có hiểu biết gì về
bệnh, sau khi được tư vấn giáo dục sức khỏe tại
bệnh viện có 50% người bệnh tuân thủ theo tất
cả các hướng dẫn Còn trong nghiên cứu của
Włochal M, Swora-Cwynar E (2015) chỉ ra rằng
kiến thức về dinh dưỡng của người bệnh viêm tụy là chưa đủ, hầu hết trong số họ có kiến thức
lý thuyết về chế độ dinh dưỡng ở những mức độ khác nhau song tỉ lệ tuân thủ chế độ dinh dưỡng chưa cao, nhiều người bệnh gặp khó khăn trong thực hiện chế độ ăn hằng ngày
Thực tế tại Việt Nam, người bệnh viêm tụy
cấp khi nhập viện đa phần còn lúng túng, lo lắng khi chưa biết chế độ ăn uống như thế nào là phù hợp, một số ít người bệnh còn tự ý ăn uống khi chưa có chỉ định của bác sĩ Và việc ăn uống không phù hợp ít nhiều sẽ gây ra những ảnh hưởng tới sức khỏe của người bệnh, đặc biệt đối
với người bệnh viêm tụy cấp việc có hiểu biết
đầy đủ về chế độ dinh dưỡng và tuân thủ tốt chế
độ ăn uống theo chỉ định của bác sĩ là rất quan trọng vì nó được xem là một phần của chỉ định điều trị Do đó, cần thiết phải có một chương trình giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng cho
người bệnh viêm tụy cấp để giúp người bệnh
viêm tụy cấp có hiểu biết đúng và đầy đủ về chế
độ dinh dưỡng cũng như giúp nâng cao sự tuân thủ chế độ ăn uống khi người bệnh điều trị tại bệnh viện và đặc biệt là sau khi xuất viện để phòng ngừa viêm tụy cấp tái phát Tuy nhiên
Trang 3cần lưu ý tới các đặc điểm cá nhân, tình trạng
dinh dưỡng hiện tại và các đặc điểm về tình
trạng bệnh lý của người bệnh để có thể xây dựng
được chương trình GDSK phù hợp và đem lại
hiệu quả cao Do đó chúng tôi quyết định thực
hiện nghiên cứu để tìm hiểu về mối liên quan
giữa kiến thức dinh dưỡng, hành vi tuân thủ chế
độ ăn với các đặc điểm cá nhân, tình trạng dinh
dưỡng và bệnh lý của người bệnh
Mục tiêu
Xác định mối liên quan giữa kiến thức dinh
dưỡng và hành vi tuân thủ chế độ ăn uống với
các đặc điểm cá nhân, tình trạng dinh dưỡng và
tình trạng bệnh lý của người bệnh viêm tụy cấp
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Trên 44 người được chẩn đoán xác định
viêm tụy cấp đang điều trị nội trú tại khoa Nội
tiêu hóa, bệnh viện Nhân dân Gia Định từ tháng
11/2020 đến 04/2021
Tiêu chí chọn vào
Người bệnh (NB) được chẩn đoán xác định
viêm tụy cấp đang điều trị nội trú tại bệnh viện
và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại ra
NB trong đợt cấp tính của viêm tụy mãn
Người bệnh được chẩn đoán xác định viêm
tụy cấp nhưng có rối loạn nhận thức do các bệnh
lý về thần kinh hoặc do hội chứng cai rượu gây
ra Người bệnh viêm tụy cấp nhưng có dị tật
(câm, điếc, mù) Người bệnh VTC là người nước
ngoài Những người bệnh này không được chọn
vì có thể làm sai lệch kết quả của can thiệp giáo
dục sức khỏe trong nghiên cứu này
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Bán thực nghiệm bao gồm một nhóm người
bệnh tham gia nghiên cứu được đánh giá trước
can thiệp giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng và
sau khi xuất viện một tháng
Cỡ mẫu
Chúng tôi áp dụng công thức so sánh hai tỉ
lệ của một nhóm nghiên cứu trước và sau can thiệp GDSK:
n: cỡ mẫu cần cho nghiên cứu (cỡ mẫu tối thiểu)
α: sai lầm loại 1, ước tính 5%
β: sai lầm loại 2, ước tính 10%
10,5
q:
p: giá trị phụ thuộc q
p = 1 – q
p1: là tỉ lệ kiến thức/thực hành của người bệnh sau tư vấn GDSK (p1=0,5)(3)
p2: là tỉ lệ kiến thức/thực hành của người bệnh trước tư vấn GDSK (p2 = 0,2)(3)
Suy ra:
Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện
Phương pháp thu thập số liệu
Thực hiện lấy thông tin của người bệnh dựa theo phiếu thu thập số liệu được soạn sẵn bao gồm 3 phần: Thông tin chung gồm 3 nội dung: đặc điểm cá nhân 7 câu, đặc điểm về tình trạng dinh dưỡng 3 câu, đặc điểm về tình trạng bệnh 4 câu Kiến thức về chế độ dinh dưỡng: 17 câu hỏi với 3 lựa chọn “đồng ý” “không đồng ý”,
“không biết”, các câu trả lời đúng được tính là 1 điểm, các câu trả lời sai hoặc người bệnh trả lời
“không biết” được tính 0 điểm, điểm kiến thức dao động từ 0-17 điểm Hành vi tuân thủ chế độ
ăn uống: 9 nội dung với 4 lựa chọn “không bao giờ”, “thỉnh thoảng”, “thường xuyên”, “luôn luôn” được quy đổi thành điểm từ 0-3 điểm, điểm hành vi tuân thủ dao động từ 0-27 điểm Trong đó các câu hỏi phần kiến thức dinh dưỡng được lấy từ nghiên cứu “Đánh giá kiến thức dinh dưỡng của người bệnh viêm tụy” của tác giả Włochal M(4), sau đó chúng tôi áp dụng quy trình dịch xuôi và dịch ngược để đảm bảo tính
Trang 4đồng nhất của nội dung các câu hỏi Phần thông
tin chung và hành vi tuân thủ chế độ ăn uống
được chúng tôi tự xây dựng Tất cả nội dung của
bộ câu hỏi được tiến hành gửi cho 5 chuyên gia
đánh giá, góp ý và sau đó được chỉnh sửa lại cho
phù hợp Chúng tôi tiến hành khảo sát lần 1 trên
44 người bệnh và tính được độ tin cậy
Cronbach’s alpha như sau:
Bảng 1 Hệ số tin cậy Cronbach’s alpha
Câu hỏi Hệ số Cronbach’s
alpha
Hành vi tuân thủ chế độ ăn uống 0,84
Sau khi người bệnh hoàn thành khảo sát
lần 1, chúng tôi tiến hành cung cấp các nội
dung GDSK liên quan đến chế độ dinh dưỡng
cho từng người bệnh viêm tụy cấp tại giường
bệnh, bao gồm bài trình chiếu, tờ rơi và sổ ghi
chú dinh dưỡng Trong suốt quá trình tư vấn
người bệnh được cùng chia sẻ, thảo luận và
đặt câu hỏi để hiểu rõ các nội dung được tư
vấn đồng thời có thể trao đổi với nghiên cứu
viên trong suốt quá trình điều trị tại bệnh viện
và người bệnh có thể liên lạc qua điện thoại
sau khi xuất viện nều cần Người bệnh được lựa chọn một trong các hình thức trả lời khảo sát lần 2 sau khi xuất viện một tháng qua điện thoại trực tiếp, ứng dụng Zalo/Facebook, thư điện tử hoặc phỏng vấn tại nhà Những người bệnh đã được tư vấn GDSK và hoàn thành đầy
đủ hai lần khảo sát theo kế hoạch xem như hoàn thành thời gian nghiên cứu
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.1, xử lý
và phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 14 Đối với thống kê mô tả: các biến định tính dùng tần số, tỷ lệ; các biến định lượng dùng trung bình, độ lệch chuẩn
Đối với thống kê phân tích được sử dụng
để tìm mối liên quan giữa các biến số độc lập bao gồm đặc điểm cá nhân, đặc tính dinh dưỡng và tình trạng bệnh lý với các biến phụ thuộc bao gồm kiến thức dinh dưỡng và hành
vi tuân thủ chế độ ăn uống là các biến định lượng Vì vậy các phép kiểm sử dụng là kiểm định Mann Whitney, Spearman Có ý nghĩa thống kê khi p <0,05; KTC 95%
Liệt kê và định nghĩa các biến số
Bảng 2 Các biến số chính trong nghiên cứu
Biến độc lập Tuổi Được tính từ năm sinh của người bệnh cho tới năm tiến hành nghiên cứu (2021) Thứ tự 3 nhóm: 18-40 tuổi, 41-60 tuổi và trên 60 tuổi
Trình độ học vấn
Cấp học cao nhất mà người bệnh đã học Cấp 1 (bao gồm không biết chữ và học từ lớp 1 đến lớp 5), nhóm cấp 2- cấp 3 (bao gồm học từ lớp 6 đến lớp 12), nhóm trên cấp 3 (bao gồm
trung cấp/cao đẳng/đại học/sau đại học)
Thứ tự 3 giá trị: dưới cấp 1, cấp 2 – cấp 3 và trên cấp 3
2 giá trị dựa theo tính chất công việc gồm lao động nhẹ và lao động nặng nhọc Tình trạng kinh tế Dựa theo mức thu nhập bình quân đầu người/tháng Thứ tự 3 giá trị gồm nghèo, trung bình,
khá/giàu
Tình trạng hôn
nhân Trạng thái hôn nhân hiện tại của người bệnh Nhị giá 2 giá trị gồm độc thân hoặc sống chung với vợ/chồng Chỉ số khối cơ thể Được tính dựa trên chiều cao và cân nặng hiện tại của NB Thứ tự
Đã từng trải qua
phẫu thuật Những cuộc phẫu thuật người bệnh đã phải trải qua trước đây Nhị giá 2 giá trị không hoặc có
Số lần nhập viện
vì viêm tụy cấp Số lần điều trị bệnh viêm tụy cấp từ trước tới nay Nhị giá 2 giá trị 1 lần và ≥2 lần Thời gian viêm tụy Thời gian tính từ khi người bệnh bị viêm tụy lần đầu tiên cho tới nay Nhị giá 2 giá trị ≤6 tháng, >6 tháng
Trang 5Tên biến Định nghĩa Loại biến Giá trị biến số
Nguyên nhân
2 giá trị do nguyên nhân bệnh lý hoặc do rượu bia Chế độ ăn kiêng Là chế độ ăn uống theo bệnh lý hoặc ăn kiêng theo hướng dẫn của chuyên gia mà người bệnh đang thực hiện Nhị giá 2 giá trị có và không Chế độ dinh
dưỡng hằng ngày Người chuẩn bị bữa ăn hằng ngày cho người bệnh Nhị giá 2 giá trị tự nấu ăn hoặc được vợ/chồng/người thân nấu
Biến phụ thuộc Kiến thức dinh
dưỡng
Gồm 17 câu hỏi với 3 lựa chọn, các câu trả lời đúng được tính
liên tục
Từ 0-17 điểm Hành vi tuân thủ
chế độ ăn uống Gồm 9 câu với 4 mức độ được quy đổi từ 0-3 điểm cho mỗi câu Từ 0-27 điểm
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội Đồng
Đạo Đức Trong Nghiên Cứu Y Sinh Học Đại học
Y Dược TP Hồ Chí Minh, số 810/HĐĐĐ-ĐHYD
KẾT QUẢ
Đặc điểm cá nhân của người bệnh
Người bệnh có tuổi đời từ 41-60 tuổi chiếm
tỷ lệ 45,4% (20/44), người bệnh nam chiếm tỷ lệ
cao hơn với 75% (33/44) Về học vấn, tỷ lệ người
bệnh có trình độ cấp 2 và cấp 3 chiếm phần lớn
với 54,5% (24/44) Người bệnh thuộc nhiều
ngành nghề khác nhau Tình trạng kinh tế, thu
nhập người bệnh chủ yếu ở mức trung bình với
86,4% (36/44) Người bệnh đã kết hôn chiếm tỷ lệ
88,6% (39/44)
Đặc điểm về tình trạng dinh dưỡng của NB
Người bệnh có chỉ số khối cơ thể (BMI) ở
mức bình thường là 47,7% (21/44), người bệnh
thuộc nhóm thừa cân – béo phì chiếm tỷ lệ 40,9%
(18/44) Trong đó có 13,6% (6/44) người bệnh
đang thực hiện chế độ ăn kiêng cho bệnh lý mãn
tính khác Nguồn thông tin về chế độ dinh
dưỡng người bệnh có được thông qua: bác
sĩ/nhân viên y tế là 56,8% (25/44), Diễn đàn hoặc
mạng xã hội chiếm tỷ lệ 54,6% (24/44) Về chế độ
ăn uống hằng ngày có 65,9% (29/44) người bệnh
được người thân chuẩn bị bữa ăn
Đặc điểm về tình trạng bệnh lý của người bệnh
Người bệnh không có các bệnh lý nội khoa
mãn tính kèm theo là 68,2% (30/44), người bệnh
có Đái tháo đường 15,9% (7/44) và tăng huyết áp
11,4% (5/44) Có 81,8% (36/44) người bệnh chưa
từng trải qua phẫu thuật Người bệnh nhập viện
lần đầu tiên do viêm tụy cấp là 61,4% (27/44) Thời gian bị viêm tụy cấp của người bệnh chủ yếu là dưới 6 tháng với tỷ lệ 70,5% (31/44) Về lý
do khiến người bệnh nhập viện, 100% (44/44) người bệnh xuất hiện tình trạng đau bụng và có thể kèm theo các dấu hiệu khác như buồn nôn – nôn chiếm tỷ lệ 31,8% (14/44), mệt mỏi – vã mồ hôi chiếm 31,8% (14/44) Nguyên nhân viêm tụy cấp được xác định: thức uống có cồn (rượu, bia)
là 43,2% (19/44), tăng triglycerid 22,7% (10/44), các nguyên nhân khác chiếm 27,3% (12/44)
Mối liên quan của đặc điểm cá nhân với kiến thức dinh dưỡng
Các đặc điểm về giới tính, trình độ học vấn
có mối liên quan với kiến thức dinh dưỡng của người bệnh cả trước và sau can thiệp GDSK,
p <0,05 Còn lại các đặc điểm về nhóm tuổi, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, tình trạng hôn nhân không thấy có mối liên quan với kiến thức dinh
dưỡng, p >0,05 (Bảng 3)
Mối liên quan giữa kiến thức dinh dưỡng và đặc điểm dinh dưỡng của người bệnh
Các đặc điểm chế độ ăn kiêng, chế độ dinh dưỡng hằng ngày có mối liên quan với kiến thức dinh dưỡng và có ý nghĩa thống kê với p <0,05
(Bảng 4)
Mối liên quan giữa kiến thức về dinh dưỡng và tình trạng bệnh lý
Đặc điểm về tình trạng phẫu thuật chỉ có mối liên quan với kiến thức dinh dưỡng của NB sau can thiệp GDSK, với p <0,05 Còn lại các đặc điểm về số lần bị viêm tụy, thời gian viêm tụy và nguyên nhân gây ra viêm tụy không cho thấy có
Trang 6mối liên quan với kiến thức dinh dưỡng, p >0,05 (Bảng 5)
Bảng 3 Mối liên quan giữa các đặc điểm cá nhân của người bệnh với kiến thức dinh dưỡng (N=44)
Đặc điểm Tần số(n) Kiến thức trước can thiệp Kiến thức sau can thiệp
Giới tính
0,016 a 12,9-14,7
Nhóm tuổi
0,11 b
0,46 b
13,6-16,1
Trình độ học vấn
0,002 b
0,009 b
9,8-16,2
Nghề nghiệp
0,35 a 13,4-15,6
Tình trạng kinh tế
Tình trạng hôn nhân
0,56 a 13,5-16,5
(a) Mann Whitney (b) Spearman ĐTB: Điểm trung bình KTC: Khoảng tin cậy
Bảng 4 Mối liên quan giữa kiến thức dinh dưỡng với các đặc tính dinh dưỡng (N=44)
Đặc điểm Tần số Kiến thức trước can thiệp Kiến thức sau can thiệp
Chỉ số khối cơ thể (BMI) Cân nặng thấp (<18,5) 5 8,8
0,69 b
0,58 b
9,4-15,8 Bình thường (18,5–
Chế độ ăn kiêng
Chế độ dinh dưỡng hằng ngày
(a) Mann Whitney (b) Spearman ĐTB: Điểm trung bình KTC: Khoảng tin cậy
Bảng 5 Mối liên quan giữa đặc điểm tình trạng bệnh với kiến thức dinh dưỡng (N=44)
Đặc điểm Tần số (n) Kiến thức trước can thiệp Kiến thức sau can thiệp
Tình trạng phẫu thuật
0,02 a 14,9-16,8
Số lần nhập viện vì viêm tụy
0,29 a 13,5-15,4
Thời gian bị viêm tụy
Trang 7Đặc điểm Tần số (n) Kiến thức trước can thiệp Kiến thức sau can thiệp
0,09 a 13,7-15,4
Nguyên nhân viêm tụy
(a) Mann Whitney (b) Spearman ĐTB: Điểm trung bình KCT: Khoảng tin cậy
Mối liên quan giữa hành vi tuân thủ chế độ ăn
uống với các đặc điểm cá nhân
Đối với đặc điểm về giới tính có mối liên
quan với hành vi tuân thủ chế độ ăn uống của
NB cả trước và sau can thiệp GDSK (p <0,05)
Còn lại các đặc điểm về nhóm tuổi, trình độ học
vấn, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế và tình
trạng hôn nhân không cho thấy mối liên quan
với hành vi tuân thủ chế độ ăn uống kể cả trước
và sau GDSK, p >0,05 (Bảng 6)
Mối liên quan giữa hành vi tuân thủ chế độ ăn
uống với đặc tính dinh dưỡng
Các đặc điểm về chế độ ăn kiêng, chế độ
dinh dưỡng hằng ngày cho thấy mối liên quan
với hành vi tuân thủ chế độ ăn của NB, có ý
nghĩa thống kê (p <0,05) Riêng đặc điểm về chỉ
số khối cơ thể không thấy có mối liên quan với hành vi tuân thủ của người bệnh kể cả trước và
sau can thiệp (p >0,05) (Bảng 7)
Mối liên quan giữa hành vi tuân thủ chế độ ăn uống với các đặc điểm bệnh lý
Đặc điểm về tình trạng phẫu thuật chỉ cho thấy có mối liên quan với hành vi tuân thủ sau GDSK Đối với nguyên nhân gây ra viêm tụy cấp
có mối liên quan với hành vi tuân thủ của NB cả trước và sau can thiệp, p <0,05 Còn lại đặc điểm
về số lần bị viêm tụy và thời gian bị viêm tụy không cho thấy có mối liên quan với hành vi
tuân thủ của người bệnh, p >0,05 (Bảng 8)
Bảng 6 Mối liên quan giữa hành vi tuân thủ chế độ ăn uống với các đặc điểm cá nhân (N=44)
Đặc điểm Tần số(n) Hành vi trước can thiệp Hành vi sau can thiệp
Giới tính
0,004 a 18,8-20,9
Nhóm tuổi
0,47 b
12,1-16,4 21,1
0,95 b
19,9-22,3
Trình độ học vấn
0,17 b
6,4-18,8 19,2
0,054 b
9,8-16,2
Nghề nghiệp
0,47 a 19,4-21,7
Tình trạng kinh tế
0,76 a 19,7-21,6
Tình trạng hôn nhân
0,5 a 19,7-23,5
(a) Mann Whitney (b) Spearman ĐTB: Điểm trung bình KCT: Khoảng tin cậy
Trang 8Bảng 7 Mối liên quan giữa hành vi tuân thủ chế độ ăn uống với đặc tính dinh dưỡng (N=44)
Đặc điểm Tần số (n) Hành vi trước can thiệp Hành vi sau can thiệp
Chỉ số khối cơ thể (BMI)
0,51 b
7,3-15,9 17,8
0,7 b
13,9-21,7
Chế độ ăn kiêng
<0,001 a 18,1-21,9 20,2
0,003 a 19,2-21,1
Chế độ dinh dưỡng hằng ngày
0,0007 a 15,7-19,8 22,9
<0,001 a 21,7-24,1
(a) Mann Whitney (b) Spearman ĐTB: Điểm trung bình KCT: Khoảng tin cậy
Bảng 8 Mối liên quan giữa hành vi tuân thủ chế độ ăn uống với các đặc điểm bệnh lý (N=44)
Đặc điểm Tần số (n) Hành vi trước can thiệp Hành vi sau can thiệp
Tình trạng phẫu thuật
0,03 a 20,9-24,9
Số lần nhập viện vì viêm tụy
0,92 a 19,7-21,8
Thời gian bị viêm tụy
Nguyên nhân viêm tụy
0,001 a 21,1-23,1
(a)Mann Whitney (b) Spearman ĐTB: Điểm trung bình KCT: Khoảng tin cậy
BÀN LUẬN
Trên 44 người bệnh trong nghiên cứu của
chúng tôi, nam giới chiếm tỷ lệ cao với 75%
(33/44) Độ tuổi trung bình 46,4 ± 14,4 Người
bệnh nhập viện lần đầu tiên do viêm tụy cấp là
61,4% (27/44) Thời gian bị viêm tụy cấp của
người bệnh chủ yếu là dưới 6 tháng với tỷ lệ
70,5% (31/44) Về lý do khiến người bệnh nhập
viện, 100% (44/44) người bệnh xuất hiện tình
trạng đau bụng và có thể kèm theo các dấu hiệu
khác như buồn nôn – nôn chiếm tỷ lệ 31,8%
(14/44), mệt mỏi – vã mồ hôi chiếm 31,8%
(14/44), các triệu chứng ghi nhận trên phù hợp
với các đặc điểm của bệnh viêm tụy cấp(5,6)
Tương tự như trong các nghiên cứu của Trần
Thanh Hưng (2018)(7), Wlochal M (2015)(4),
nguyên nhân viêm tụy cấp được xác định chủ
yếu do thức uống có cồn (rượu, bia) là 43,2% (19/44), tăng triglycerid 22,7% (10/44), các nguyên nhân khác chiếm 27,3% (12/44)
Liên quan giữa các đặc điểm cá nhân, đặc tính dinh dưỡng, tình trạng bệnh với kiến thức dinh dưỡng của người bệnh
Mối liên quan giữa kiến thức dinh dưỡng trước GDSK với đặc điểm về giới tính, nữ giới có điểm kiến thức 12,3 điểm cao hơn 2,2 điểm so với nam giới, sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê với p=0,02 Tương tự sau GDSK nữ giới có điểm kiến thức dinh dưỡng là 15,6 điểm cao hơn 1,8 điểm so với nam giới và có ý nghĩa thống kê với p=0,016 Lý giải về sự khác biệt này, ở Việt Nam theo truyền thống người Á Đông, nữ giới thường là người chuẩn bị bữa ăn hằng ngày cho bản thân và gia đình do đó họ thường có sự
Trang 9quan tâm nhiều hơn nam giới trong việc tìm
hiểu và lựa chọn các loại thực phẩm cũng như
cách chế biến thực phẩm phù hợp với sở thích và
thói quen ăn uống của các thành viên trong gia
đình vì vậy lượng kiến thức về dinh dưỡng của
nữ giới thường cao hơn so với nam giới Theo
Wardle J (2004)(8) sự khác biệt về giới tính trong
lựa chọn thực phẩm dường như một phần là do
phụ nữ thường chú trọng kiểm soát cân nặng
nhiều hơn và một phần do nữ giới yêu thích việc
ăn uống lành mạnh Đối với kiến thức dinh
dưỡng so với trình độ học vấn trước GDSK cho
thấy trong ba nhóm, những người bệnh có trình
độ học vấn trên cấp 3 (Trung cấp – Cao đẳng -
Đại học – Sau đại học) có điểm kiến thức là 12,1
điểm cao hơn hai nhóm còn lại và thấp nhất
trong ba nhóm là nhóm cấp 1 với 9 điểm, sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,002
Tương tự sau GDSK nhóm trình độ học vấn trên
cấp 3 vẫn có điểm kiến thức cao nhất với 15,3
điểm cao hơn 13,8 điểm ở nhóm cấp 2 – cấp 3 và
13 điểm ở nhóm cấp 1, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p=0,009 Sự khác biệt được ghi
nhận ở trên cho thấy điểm kiến thức dinh dưỡng
của người bệnh có sự tương quan với trình độ
học vấn, những người bệnh trình độ học vấn cao
hơn cho thấy điểm kiến thức cao hơn các nhóm
còn lại Lý giải về điều này thường những người
bệnh có trình độ học vấn cao sẽ dễ dàng tiếp cận
với các nguồn thông tin, có khả năng tự tìm hiểu
và kỹ năng tìm kiếm tài liệu về các vấn đề mà họ
quan tâm một cách dễ dàng hơn chính điều đó
có thể dẫn đến điểm kiến thức ở nhóm này cao
hơn các nhóm còn lại Các đặc điểm cá nhân nêu
trên là những đặc điểm khó hoặc không thể thay
đổi ở người bệnh tuy nhiên dựa trên những đặc
điểm này chúng ta có thể đưa ra những cách
thức tiếp cận và tư vấn sức khỏe phù hợp với
từng nhóm người bệnh cụ thể
Đối với người bệnh có thực hiện ăn kiêng do
bệnh lý nội khoa mãn tính có điểm kiến thức
trước GDSK là 13,7 điểm cao hơn so với 10,2
điểm ở nhóm không ăn kiêng, sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê với p=0,002 Sau GDSK điểm
kiến thức ở nhóm ăn kiêng là 15,8 điểm cao hơn 1,8 điểm so với nhóm không ăn kiêng, với p=0,041 Tuy nhiên chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu có các đặc điểm tương tự để so sánh đối chiếu, thêm vào đó việc khai thác thông tin
về chế độ ăn kiêng của người bệnh hoàn toàn mang tính chất chủ quan do người bệnh tự đưa
ra, chúng tôi chỉ mới dừng lại ở mức độ ghi nhận người bệnh có hay không ăn kiêng mà chưa ghi nhận được về mức độ ăn kiêng của người bệnh như thế nào, chế độ ăn kiêng đó đã phù hợp với bệnh lý mãn tính đang điều trị hay chưa cũng như chưa đánh giá được mức độ tuân thủ chế độ
ăn kiêng đó của người bệnh Liên quan tới chế
độ ăn uống hằng ngày, trước GDSK nhóm người bệnh tự nấu ăn có điểm kiến thức 11,9 điểm cao hơn so với 10,1 điểm ở nhóm người bệnh được người khác chuẩn bị bữa ăn hằng ngày, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,028 Sau GDSK điểm kiến thức của người bệnh ở nhóm tự nấu
ăn là 15,9 điểm cao hơn 2,3 điểm so với nhóm được người khác chuẩn bị bữa ăn, p=0,0019 Lý giải về sự khác biệt này, người tự chuẩn bị bữa
ăn thường là người soạn thảo thực đơn và chọn lựa thực phẩm cũng như cách chế biến phù hợp
do vậy họ thường phải tìm hiểu thông tin nhiều hơn và có hiểu biết hơn so với người bệnh được người khác chuẩn bị sẵn bữa ăn
Liên quan giữa kiến thức dinh dưỡng với tình trạng phẫu thuật, sau GDSK ở nhóm người bệnh đã từng phẫu thuật trước đây có điểm kiến thức là 15,9 điểm cao hơn 2 điểm so với nhóm chưa từng phẫu thuật trước đây và có ý nghĩa thống kê với p=0,02 Lý giải về điều này những người bệnh đã từng phẫu thuật trước đây có thể
họ đã từng trải qua giai đoạn ăn uống theo bệnh
lý trước và phẫu thuật vì vậy họ sẽ có nhiều quan tâm tới chế độ ăn bệnh lý và một phần nào
họ đã có những kiến thức nhất định về chế độ ăn uống theo bệnh lý Các đặc điểm liên quan tới bệnh lý viêm tụy cấp bao gồm số lần bị viêm tụy, thời gian viêm tụy, nguyên nhân viêm tụy
so với kiến thức dinh dưỡng lại không cho thấy
có ý nghĩa thống kê Thông thường các đặc điểm
Trang 10nêu trên có mối liên quan với kiến thức trong các
nghiên cứu khác Điều này có thể lý giải do can
thiệp GDSK cung cấp chưa đạt được hiệu quả tối
ưu vì những người bệnh càng có kinh nghiệm và
thời gian điều trị bệnh lâu sẽ có kiến thức hơn so
với người bệnh mới Tuy nhiên trong nghiên
cứu này sau can thiệp GDSK, điểm kiến thức của
người bệnh tăng đáng kể cho thấy việc tư vấn
GDSK đã phần nào đem lại hiệu quả nhất định
Trong quá trính tư vấn sức khỏe chúng tôi nhận
thấy những người bệnh bị viêm tụy cấp lần đầu
có nhiều quan tâm cũng như đặt nhiều câu hỏi
liên quan tới chế độ dinh dưỡng hơn so với
những người bệnh đã từng viêm tụy trước đây
Trong số những người đã từng bị viêm tụy trước
đây nhiều người cho biết họ chưa từng nhận
được chương trình tư vấn GDSK nào, những căn
dặn của bác sĩ và nhân viên y tế trước đây chỉ
dường lại ở dặn dò người bệnh kiêng cữ rượu
bia, tránh thức ăn nhiều dầu mỡ do đó trong
nghiên cứu này có thể lý giải phần nào về việc
chưa thấy sự khác biệt về điểm kiến thức với số
lần viêm tụy của người bệnh Tác giả Wlochal M
(2015) cũng chỉ ra rằng có 30% người đã từng
viêm tụy không tìm kiếm thông tin hoặc không
sử dụng các tư vấn về chế độ ăn uống trong hơn
hai năm Thêm vào đó cơ mẫu trong nghiên cứu
của chúng tôi còn nhỏ nên có thể chưa thể hiện
được mối liên quan nói trên
Liên quan giữa các đặc điểm cá nhân, đặc tính
dinh dưỡng, tình trạng bệnh với hành vi tuân
thủ chế độ ăn uống
Mối liên quan giữa hành vi tuân thủ chế độ
ăn uống trước GDSK với đặc điểm về giới tính, ở
nhóm người bệnh là nữ có điểm hành vi tuân
thủ đúng là 17,6 điểm cao hơn so với 13,1 điểm ở
người bệnh nam, sự liên quan giữa giới tính và
hành vi tuân thủ chế độ ăn uống có ý nghĩa
thống kê với p=0,005 Tương tự sau can thiệp
GDSK mặc dù tất cả người bệnh đều có điểm
hành vi tuân thủ tăng đáng kể song nữ giới vẫn
có điểm hành vi tuân thủ là 22,9 điểm cao hơn so
với 19,9 điểm ở nam giới, sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê với p=0,004 Lý giải về sự khác
biệt này tương tự sự khác biệt về kiến thức dinh dưỡng, nữ giới thường là người trực tiếp lựa chọn các loại thực phẩm, cách chế biến món ăn mỗi ngày phù hợp với bản thân và các thành viên trong gia đình Điều này được chứng minh trong nghiên cứu của Wardle J (2004)(8) xem xét 4 hành vi lựa chọn thực phẩm trong một mẫu lớn
từ 23 quốc gia Phụ nữ có xu hướng tránh thực phẩm giàu chất béo, ăn trái cây và chất xơ và hạn chế muối ở hầu hết 23 quốc gia
Đối với người bệnh có thực hiện ăn kiêng do bệnh lý nội khoa mãn tính có điểm hành vi tuân thủ đúng trước can thiệp GDSK là 20 điểm cao hơn so với 13,3 điểm ở nhóm không ăn kiêng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,001 Sau GDSK ở nhóm người bệnh có ăn kiêng điểm hành vi tuân thủ là 20,2 điểm vẫn cao hơn so với 15,8 điểm ở nhóm chưa từng ăn kiêng trước đây,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,003 Lý giải cho sự khác biệt này tương tự như mối liên quan về kiến thức dinh dưỡng Tuy nhiên như
đã đề cập ở phần mối liên quan về kiến thức, cần phải khai thác thêm những thông tin liên quan đến chế độ ăn kiêng của người bệnh đang thực hiện mới có thể phân tích và bàn luận thêm về vấn đề này Liên quan tới chế độ ăn uống hàng ngày, trong nhóm tự nấu ăn có điểm hành vi tuân thủ trước can thiệp GDSK là 17,8 điểm cao hơn so với 12,7 điểm ở nhóm được người khác chuẩn bị bữa ăn hằng ngày, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,0007 Sau can thiệp GDSK vẫn cho thấy sự liên quan có ý nghĩa thông kê giữa điểm hành vi tuân thủ với chế độ
ăn uống hằng ngày, p <0,001 Điểm hành vi ở nhóm tự nấu ăn là 22,9 cao hơn so với 19,7 điểm
ở nhóm không tự nấu ăn Sự khác biệt này có thể
lý giải tương tự như mối liên quan về kiến thức, trong nghiên cứu này những người bệnh tự nấu
ăn có điểm kiến thức cao hơn và tương tự họ cũng có điểm hành vi tuân thủ cao hơn có thể xuất phát từ việc những người bệnh này có sự quan tâm nhiều hơn khi chính họ là người chuẩn
bị bữa ăn, là người đưa ra các quyết định về việc chế biến thức ăn do đó họ thường phải tìm cách