Đào tạo quản lý chất lượng đóng vai trò quan trọng trong đào tạo và là một yếu tố góp phần cho sự thành công khi xây dựng, triển khai và duy trì Hệ thống quản lý chất lượng phòng xét nghiệm. Bài viết trình bày việc xác định mức độ hài lòng của người học đối với các kỹ thuật dạy học trong đào tạo quản lý chất lượng hiện nay.
Trang 1MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI HỌC ĐỐI VỚI CÁC KỸ THUẬT DẠY HỌC
TRONG ĐÀO TẠO QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HIỆN NAY
Đỗ Thị Hường 1 , Nguyễn Thúy Hà 1 , Diệp Thế Tài 2
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Đào tạo quản lý chất lượng đóng vai trò quan trọng trong đào tạo và là một yếu tố góp phần
cho sự thành công khi xây dựng, triển khai và duy trì Hệ thống quản lý chất lượng phòng xét nghiệm Nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học trong đào tạo Quản lý chất lượng đã được áp dụng và chưa thực sự có thống kê
rõ ràng về hiệu quả cũng như sự phù hợp của từng phương pháp, kỹ thuật đối với mỗi đối tượng người học Do
đó, khảo sát mức độ hài lòng của người học với mỗi kỹ thuật dạy học giúp giảng viên định hướng và chọn lựa cách tiếp cận phù hợp nhất, đồng thời tạo cơ hội cho người học hiểu rõ hơn bản chất vấn đề, nhằm đem lại hiệu quả mong muốn
Mục tiêu: Xác định mức độ hài lòng của người học đối với các kỹ thuật dạy học trong đào tạo Quản lý chất
lượng được áp dụng tại Việt Nam hiện nay
Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế cắt ngang mô tả Nghiên cứu được thực hiện từ tháng
07/2020 – tháng 04/2021 Dữ liệu thu thập theo hình thức trực tuyến thông qua bảng câu hỏi chọn lựa và tự điền cho nhóm nhân viên y tế đang công tác trong lĩnh vực xét nghiệm tại các phòng xét nghiệm y học, Việt Nam
Kết quả: Powerpoint là kỹ thuật dạy học được người học biết đến nhiều nhất hiện nay (32,5%), tuy nhiên,
kỹ thuật dạy học có tỉ lệ hài lòng cao nhất là Kịch, tình huống (30%), tiếp theo là Sơ đồ trí nhớ (28,9%), Powerpoint là 21,8% Kỹ thuật dạy học Trò chơi có tỉ lệ hài lòng là 10,5%, Bảng giấy màu là 5,3%, và Bảng giấy lật là 4% Nguyên nhân chủ yếu hài lòng đối với các kỹ thuật dạy học của người học là được tham gia đóng góp vào bài học và kỹ thuật dạy học phải có tính liên hệ thực tiễn cao, giúp người học hiểu rõ bản chất của Quản lý chất lượng Kỹ thuật dạy học tuy có giao diện đẹp, nhưng ít sự tương tác giữa học viên và giảng viên là nguyên nhân chính cho sự không hài lòng của người học
Kết luận: Nghiên cứu này là cơ sở cho thiết kế các bài học Quản lý chất lượng hiệu quả và phù hợp cho từng
nhóm đối tượng giúp cải thiện thái độ, hành vi của nhân viên xét nghiệm trong việc xây dựng và duy trì Hệ thống quản lý chất lượng tại cơ sở
Từ khóa: quản lý chất lượng, kỹ thuật dạy học powerpoint, kịch, tình huống, trò chơi, bảng giấy lật, bảng
giấy màu, sơ đồ trí nhớ
ABSTRACT
TRAINEE SATISFACTION WITH CURRENT QUALITY MANAGEMENT TRAINING TECHNIQUES
Do Thi Huong, Nguyen Thuy Ha, Diep The Tai
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 5 - 2021: 307 - 316
Backgrounds: Quality management training methods play an essential role in training and contributing
factors to developing, implementing, and maintaining a Laboratory Quality Management System Although many training methods have been applied, there are no sufficient statistics on each method's effectiveness and suitability for each of the trainees Therefore, surveying trainees' satisfaction with each training method helps
1 Trung tâm kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm y học – Trường Đại học Y Hà Nội
2 Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: CKI.KTYHXN Đỗ Thị Hường ĐT: 0975836660 Email: dohuong@hmu.edu.vn
Trang 2teachers orient and choose the most appropriate approach Meanwhile, creating opportunities for students to understand better the nature of the problem and get the desired effect
Objectives: The aim of the study is to determine the satisfaction level of trainees with each applied method in
Vietnam
Methods: Cross-sectional study The study carried out from July 2020 to April 2021 The data is collected
online through a questionnaire that was self-filled and selected for the medical staff working in the medical laboratories, VietNam
Results: Powerpoint was currently the most popular known-training method (32.5%); however, the highest
satisfaction rate was Roleplay, Scenario (30%), followed by the Mind mapping method (28.9%), the Powerpoint (21.8%), the Games (10.5%), the Color paper (5.3%), and the Flip Chart (4%) The main reason for satisfaction is that the trainee is able to contribute to the lessons, and these methods must be highly practical, helping learners understand the nature of quality management In addition, the method has a nice interface, but little interaction between the trainee and the trainer is the main cause of dissatisfaction
Conclusion: This study contributes to the design of effective and appropriate lesson plans of Quality
Management for each target group This helps improve their attitude and behavior in building and maintaining a Quality Management System at the laboratory
Keywords: quality management, power-point, scenario, role-play, game, flipchart, color paper, mind
mapping method
ĐẶT VẤN ĐỀ
Kết quả xét nghiệm ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong việc đưa ra quyết định chẩn
đoán, điều trị y khoa của bác sỹ lâm sàng và
các định hướng cho chăm sóc sức khỏe cộng
đồng, phòng chống dịch bệnh Do đó, các lỗi
xuất phát từ phòng xét nghiệm (PXN) ảnh
hưởng nghiêm trọng đến tính an toàn của
bệnh nhân, cộng đồng và ảnh hưởng đến uy
tín của phòng xét nghiệm Các lỗi của phòng
xét nghiệm xuất hiện tại các giai đoạn khác
nhau, trong đó, giai đoạn trước xét nghiệm
chiếm tỉ lệ 61,9% – 70%, tiếp theo giai đoạn sau
xét nghiệm chiếm 18,5% – 23,1% và giai đoạn
xét nghiệm chiếm 13,3% – 15% trong tổng số
lỗi xảy ra tại phòng xét nghiệm(1,2) Theo một
nghiên cứu tại Hoa Kỳ chỉ ra 6% - 12% lỗi của
phòng xét nghiệm đưa người bệnh đến nguy
cơ chăm sóc không phù hợp và có khả năng
mang đến những hệ quả không mong muốn
và từ 26% - 30% lỗi tác động tiêu cực đến các
khía cạnh khác của chăm sóc bệnh nhân(3)
Từ năm 1920, khái niệm sớm nhất về quá
trình quản lý chất lượng đã được Shewhart phát
triển dựa trên quá trình kiểm soát thống kê
Năm 2011, Tổ chức Y tế thế giới xuất bản sách về
Hệ thống quản lý chất lượng phòng xét nghiệm(4) Các tiêu chuẩn về chất lượng phòng xét nghiệm quốc tế như ISO 15189 và ISO 17025 cũng lần lượt ra đời và là nền tảng cơ bản, tác động tích cực đến chất lượng phòng xét nghiệm
và cải thiện sự an toàn cho bệnh nhân(5,6,7) Từ năm 2013 đến năm 2017, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến triển khai
Hệ thống quản lý chất lượng như: Thông tư số 01/2013/TT-BYT về Hướng dẫn thực hiện Quản
lý chất lượng xét nghiệm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh(8); Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện ban hành kèm theo Quyết định số 6858/QĐ-BYT(9); Tiêu chí đánh giá mức chất lượng phòng xét nghiệm y học(10)
Việc các tiêu chuẩn, quyết định, tiêu chí chất lượng quốc tế và quốc gia liên tục được ban hành và cập nhật cho thấy tầm quan trọng về chất lượng xét nghiệm ngày càng được quan tâm Tuy nhiên, các quy định, tiêu chuẩn, quyết định chỉ đưa ra các yêu cầu phòng xét nghiệm cần phải thực hiện tốt và đảm bảo chất lượng xét nghiệm; chưa mô tả, hướng dẫn cách thức tiến hành, thực hiện các yêu cầu như thế nào Để
Trang 3thực hiện, triển khai các yêu cầu như quy định,
tiêu chuẩn từ bên ngoài, phòng xét nghiệm cần
tiến hành tìm hiểu, chọn lựa quy định/tiêu chuẩn
mà PXN mong muốn áp dụng và triển khai vào
các hoạt động thường quy Đào tạo cho toàn bộ
nhân viên là một bước căn bản và then chốt trong việc thực hiện các hoạt động xét nghiệm thường quy đáp ứng các yêu cầu về chất lượng
(Hình 1)
Hình 1 Mối liên hệ giữa các tiêu chuẩn, quy định và các yêu cầu phòng xét nghiệm cần thực hiện
Một trong các yếu tố góp phần nâng cao
nhận thức, thái độ và thay đổi hành vi của nhân
viên xét nghiệm đối với quản lý chất lượng
chính là lựa chọn kỹ thuật dạy học phù hợp
Hiện nay, có nhiều kỹ thuật dạy học như
Powerpoint; Bảng giấy lật (flipchart); Bảng giấy
màu; Trò chơi; Kịch, tình huống; Sơ đồ trí nhớ
được áp dụng trong các khóa đào tạo về quản lý
chất lượng Tuy nhiên, không phải kỹ thuật nào
cũng thành công trong việc truyền tải hiệu quả
các nội dung chất lượng Đặc điểm của người
học, yêu cầu của môn quản lý chất lượng cần
trực quan sinh động nhưng không phải phương
pháp giảng dạy nào cũng hiệu quả Sự thành
công của một kỹ thuật dạy học, không chỉ là sự
mong muốn chủ quan của giảng viên, còn là sự
tương tác và chấp nhận của người học
Mục tiêu
Khảo sát mức độ hài lòng của người học đối
với các kỹ thuật dạy học trong đào tạo Quản lý chất lượng tại Việt Nam hiện nay
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Các nhân viên đang công tác tại các phòng xét nghiệm y học trong cả nước tham gia vào khóa đào tạo Quản lý chất lượng trên nền tảng trực tuyến do nhóm NCG tổ chức và thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 07/2020 – tháng 04/2021
Tiêu chuẩn chọn
Người học tham gia trả lời câu hỏi khảo sát
và đồng ý cho phép sử dụng thông tin khảo sát
để phân tích
Tiêu chuẩn loại trừ
Thông tin phản hồi của người học không đồng ý cho phép sử dụng thông tin khảo sát để phân tích
Trang 4Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Cỡ mẫu
Do chưa có nghiên cứu nào được thực hiện
trước đây về khảo sát sự hài lòng này, do đó,
chúng tôi giả thuyết rằng tỉ lệ hài lòng của người
học là 48%, độ nhạy của khảo sát là 97%, xác suất
sai lầm loại 1 là 5% Dựa theo công thức ước tính
1 tỉ lệ dưới đây, cỡ mẫu cần cho nghiên cứu là
468 mẫu
Công cụ
Bộ câu hỏi có 15 câu được thiết kế bằng công
cụ Microsoft forms gồm ba phần chính: Phần 1 -
Đặc điểm dân số khảo sát bao gồm: độ tuổi, giới
tính, đơn vị công tác, vị trí công tác (4 câu); Phần
2: Các kỹ thuật dạy học đào tạo được sử dụng
hiện nay theo dạng biết đến/nghe đến nhiều
nhất và (1 câu); Phần 3 – Lý do hài lòng/không
hài lòng với mỗi kỹ thuật (10 câu) Bộ câu hỏi
được thiết kế theo dạng chọn lựa các đáp án sẵn
có, liệt kê và cung cấp thêm thông tin khác ngoài
các đáp án Các kỹ thuật dạy học được khảo sát
trong nghiên cứu kèm hình ảnh minh họa giúp
người tham gia dễ hình dung và liên hệ với các
kỹ thuật đã từng hoặc đang được tham gia Toàn
bộ câu hỏi do Nhóm thiết kế dựa trên kinh
nghiệm giảng dạy môn quản lý chất lượng cho
các nhân viên đang công tác tại các phòng xét
nghiệm y học trên cả nước Nội dung câu hỏi
xoay quanh các nguyên nhân hạn chế và điểm
mạnh của từng kỹ thuật Các điểm mạnh và hạn
chế của các kỹ thuật dựa trên các nghiên cứu
trước đây (11 – 13) và kinh nghiệm của các giảng
viên tham gia nghiên cứu để thiết kế bộ câu hỏi
Phương pháp thực hiện
Người học tham gia khảo sát nhận được Bộ
câu hỏi để trả lời thông qua Email đăng ký
tham gia với chương trình Thời gian hoàn
thành trong vòng 01 tuần Nội dung phản hồi được lưu tự động vào tập dữ liệu excel trên Microsoft forms
Sau khi nhận được các đánh giá của người học, các thông tin được trích xuất ở dạng file excel, sau đó, được xử lý sơ bộ như mã hóa code các biến, loại bỏ các thông tin không cần trong phân tích như thời gian thực hiện khảo sát Mỗi trả lời của người tham gia đều được ghi nhận và tính là 1 điểm cho các câu trả lời Sau đó, các điểm được tính tổng và tiến hành phân tích Sau
đó, làm sạch dữ liệu, các dữ liệu được tiến hành phân tích bằng STATA để tính mức độ hài lòng đối với các biến số Mỗi phương pháp là một biến số
Phân tích và xử lý số liệu
Các dữ liệu được xuất ở dạng excel, sau đó, được chuyển vào phần mềm STATA 15.0 để tiến hành phân tích và vẽ các biểu đồ
Giá trị p < 0,05% được xem là có ý nghĩa thống kê Phép kiểm định Anova một chiều được dùng trong phân tích sự tương quan
KẾT QUẢ Các đặc tính của mẫu
Tổng số khảo sát là 468 đối tượng, trong đó,
nữ chiếm 72,4% so với 27,6% là nam Độ tuổi tham gia khảo sát nhiều nhất là 26 – 35 tuổi (53,2%), 36 – 45 tuổi chiếm 25,7%, tiếp theo là 20 – 25 tuổi chiếm 15,4% và trên 45 tuổi chiếm 5,8% Các đối tượng đến từ 3 khu vực của Việt Nam, trong đó, khu vực phía Nam nhiều nhất (48,5%), còn lại là khu vực miền Trung và phía Bắc tương ứng là 22,9% và 28,6% Các đối tượng khảo sát chủ yếu đến từ khoa hoặc phòng Xét nghiệm chung chiếm tỉ lệ lớn nhất 58,3% Tỉ lệ đối tượng tham gia khảo sát đang công tác tại khoa Hóa sinh là 14,7%, khoa Vi sinh là 12,4%, và khoa Huyết học là 7,7% Ngoài ra, hiện nay, một số đơn vị gộp khoa chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm làm một, do đó, tỉ lệ các đối tượng đang công tác tại các khoa này tham gia khảo sát là
6,8% (Bảng 1)
Trang 5Bảng 1 Liên quan giữa đặc điểm dân số khảo sát và tỉ lệ hài lòng các kỹ thuật dạy học
Tỉ lệ hài lòng các kỹ thuật dạy học (%) Bảng giấy
Kịch, tình huống Powerpoint Sơ đồ trí nhớ Trò chơi
Giới tính
Độ tuổi
Vùng miền
Khoa/phòng
Các kỹ thuật dạy học được nghe đến nhiều
nhất và hài lòng
Trong các kỹ thuật dạy học đang sử dụng,
kỹ thuật truyền tải bằng Powerpoint được các
nhân viên xét nghiệm biết đến nhiều nhất
(32,5%), sơ đồ trí nhớ và kịch, tình huống đều
chiếm tỉ lệ 16,1%, kỹ thuật bảng giấy màu chiếm
tỉ lệ 12,2%, bảng giấy lật (flipchart) chiếm tỉ lệ
11,7% và cuối cùng là kỹ thuật dạy học thông
qua Trò chơi chiếm tỉ lệ 11,3% (Hình 2a)
Mặc dù, Powerpoint là kỹ thuật dạy học
được biết nhiều nhất, nhưng tỉ lệ hài lòng của
người học với kỹ thuật này chỉ chiếm 21,8% Đa
số nam giới hài lòng với kỹ thuật này là 28,7% so
với 19,2% ở nữ (p=0,3) Nhân viên xét nghiệm
trong độ tuổi 26 – 35 và trên 45 tuổi hài lòng với
kỹ thuật Powerpoint nhiều hơn so với các độ
tuổi còn lại với tỉ lệ tương ứng lần lượt là 24,5%
và 25% (p=0,6) Kết quả khảo sát theo khu
vực/vùng miền cũng có tỉ lệ hài lòng thấp cho kỹ
thuật dạy học bằng Powerpoint so với các kỹ
thuật khác (Bảng 1)
Nhân viên xét nghiệm hài lòng với kỹ thuật
Sơ đồ trí nhớ và Kịch, tình huống theo tỉ lệ tương
ứng là 28,9% và 29,7% Kỹ thuật dạy học Kịch, tình huống có tỉ lệ hài lòng cao nhất tại khu vực miền Bắc (31,3%) so với 29,9% tại miền Trung và 28,6% tại khu vực miền Nam Sự khác biệt về hài lòng của người học đối với các kỹ thuật giữa các miền không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê (p=0,9) Hơn nữa, kỹ thuật này thu hút được sự hài lòng không quá chênh lệch tại các Khoa phòng công tác như khoa Huyết học có tỉ lệ thích
là 30,6%, phòng/khoa Xét nghiệm chung 29,3%, khoa Hóa sinh là 27,5%, khoa Vi sinh là 25,9%, nhân viên tại các khoa chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm có tỉ lệ hài lòng là 43,8% (p=0,03)
(Bảng 1)
Các kỹ thuật Trò chơi, Bảng giấy lật, Bảng giấy màu có tỉ lệ hài lòng không quá 20%, trong
đó, Bảng giấy màu và Bảng giấy lật có tỉ lệ hài
lòng tương ứng là 5,3% và 3,9% (Hình 2b)
Kỹ thuật Trò chơi thu hút sự quan tâm của những nhân viên có độ tuổi từ 20 – 25 và kỹ thuật này không phù hợp với các nhóm tuổi lớn hơn, bằng chứng là tỉ lệ hài lòng khá thấp trên nhóm nhân viên xét nghiệm có độ tuổi từ 36 – 45
(7,5%) và 3,7% ở nhóm tuổi trên 45 tuổi (Bảng 1)
Trang 6A B
Hình 2 Tỉ lệ nghe/biết đến và tỉ lệ hài lòng của các kỹ thuật dạy học
Lý do hài lòng và chưa hài lòng đối với các kỹ
thuật dạy học hiện nay
Các kỹ thuật dạy học thu hút được sự hài
lòng của người học chủ yếu do dễ nhớ, dễ hiểu;
thấy được mối liên quan giữa các ý; sinh động;
được tham gia đóng góp vào bài học; các khái
niệm then chốt dễ hiểu và liên hệ ngay bằng thị
giác Đa số các lý do trên đều có tỉ lệ đồng thuận trên 30%, những lý do thấy được sự tương quan giữa các ý và liên hệ ngay bằng thị giác chiếm tỉ
lệ 100%, ngay cả lý do được tham gia đóng góp vào bài học cũng chiếm tỉ lệ 30% Những chỗ không có dữ liệu, do người học không có ý kiến
(Bảng 2)
Bảng 2 Lý do hài lòng với các kỹ thuật dạy học hiện nay
Lý do hài lòng Powerpoint Sơ đồ trí nhớ Giấy màu Bảng giấy lật Kịch, tình huống Trò chơi
Tỉ lệ – % (N)
Các khái niệm then chốt được liên hệ
Bảng 3 Lý do chưa hài lòng với các kỹ thuật dạy học hiện nay
Lý do chưa hài lòng Powerpoint Sơ đồ trí nhớ Giấy màu Bảng giấy lật Kịch, tình huống Trò chơi
Tỉ lệ - % (N)
Không hiểu hết được thông tin do
Chỉ phù hợp với những học viên sôi nổi,
Trang 7Lý do chưa hài lòng Powerpoint Sơ đồ trí nhớ Giấy màu Bảng giấy lật Kịch, tình huống Trò chơi
Tỉ lệ - % (N)
Dễ sa đà vào chơi mà không bám sát
Không củng cố kiến thức, kỹ năng một
Khó tập trung, không ghi chép kịp nội
Sự thụ động; ít tương tác giữa học viên và
giảng viên; không trọng tâm; trình bày rờm rà
đều chiếm tỉ lệ đồng thuận 100% cho các lý do
chưa thành công của các kỹ thuật được sử dụng
Trong đó, Powerpoint được xem là kỹ thuật dạy
học ít thành công khi truyền tải các nội dung về
Quản lý chất lượng, các lý do khảo sát đều thu
được sự đồng thuận 100% Bên cạnh đó, kỹ thuật
dạy học bằng Trò chơi cũng được xem là tốn
thời gian, nhưng không củng cố được kiến thức,
dễ sa đà vào chơi với tỉ lệ chưa hài lòng 100%
(Bảng 3)
Liên quan giữa sự hài lòng của các kỹ thuật dạy
học và một số biến
Kết quả phân tích tương quan giữa sự hài
lòng của người học phân tầng theo đơn vị công
tác cho thấy các nhân viên thuộc nhóm xét
nghiệm trên thú y có tỉ lệ hài lòng với kỹ thuật
dạy học Kịch, tình huống đến 60%; khối phòng
Xét nghiệm Trường đại học có tỉ lệ hài lòng là
50%; và tỉ lệ 30% được ghi nhận tại các PXN
thuộc Bệnh viện, Trung tâm kiểm soát phòng
ngừa bệnh tật (CDC) và các đơn vị Trung tâm Y
tế (p=0,05) (Hình 3a)
Sự hài lòng đối với kỹ thuật dạy học bằng
Kịch, tình huống tăng theo thâm niên công tác
Tỉ lệ cao nhất ghi nhận trên nhóm có thâm niên
công tác từ 16 – 20 năm chiếm hơn 50% Ngược
lại, các nhóm người học có thời gian công tác
ngắn hay mới vào nghề (dưới 1 tháng) thích kỹ
thuật dạy học bằng Sơ đồ trí nhớ (60%), tuy
nhiên, mức độ hài lòng với kỹ thuật này giảm dần và chỉ chiếm khoảng 20% trên nhóm thâm niên công tác từ 16 – 20 năm Cũng trên nhóm có thâm niên công tác từ 16 – 20 năm, kỹ thuật truyền tải bằng Powerpoint cũng không được hài lòng cao, chỉ chiếm dưới 20% (p=0,0006)
(Hình 3b)
Kỹ thuật truyền tải bằng Bảng giấy lật, Bảng giấy màu và Trò chơi chỉ chiếm sự hài lòng của
người học dưới 20% (Hình 3)
Trên nhóm học viên chưa được đào tạo đầy
đủ về Quản lý chất lượng trước đây có tỉ lệ hài lòng với kỹ thuật dạy học bằng Sơ đồ trí nhớ hơn 30%, Powerpoint cũng chiếm gần 30% sự hài lòng, tương đương với Kịch, tình huống Trên nhóm đã được đào tạo về Quản lý chất lượng trong vòng 1 – 3 năm hay trên 3 năm đều cho thấy sự hài lòng kỹ thuật truyền tải bằng
Kịch, tình huống từ 35 – 40% (p=0,003) (Hình 4a)
Trên nhóm học viên là Quản lý (Trưởng/Phụ trách khoa/phòng xét nghiệm) kiêm Quản lý chất lượng có tỉ lệ hài lòng Kịch, tình huống đến 80% Trong khi, học viên giữ vị trí Quản lý PXN không kiêm Quản lý chất lượng chỉ hài lòng với
kỹ thuật này là 30% (p=0,1) (Hình 4b)
Kỹ thuật dạy học bằng Sơ đồ trí nhớ thu được sự hài lòng từ 45% – 50% trên nhóm học viên là Tổ trưởng/Nhóm trưởng chuyên môn hoặc Kỹ thuật viên trưởng kiêm Quản lý chất lượng Nhóm học viên là Bác sĩ có tỉ lệ hài lòng với kỹ thuật này cũng chiếm 40%
Trang 8Powerpoint không chiếm tỉ lệ hài lòng cao
trên các nhóm vị trí việc làm khảo sát, tỉ lệ hài
lòng 30% được ghi nhận trên nhóm Trưởng/Phụ
trách khoa/phòng xét nghiệm nhưng không
kiêm Quản lý chất lượng (p=0,13) (Hình 4b)
Hình 3 Tương quan giữa sự hài lòng với đơn vị công tác, thời gian công tác
Hình 4 Tương quan giữa sự hài lòng và thời gian được đào tạo quản lý chất lượng (QLCL), vị trí việc làm
(1) Trưởng/Phụ trách PXN, (2) QLCL, (3) KTV trưởng, (4) Tổ trưởng - Nhóm trưởng CM, (5) Trưởng/Phụ trách PXN kiêm QLCL, (6) KTV trưởng kiêm QLCL, (7) Tổ trưởng kiêm QLCL, (8) Bác sĩ, (9) KTV + Điều dưỡng, (10) Khác
BÀN LUẬN
Nội dung Quản lý chất lượng khá trừu
tượng, không như các môn học khác Do đó, nội
dung đào tạo càng cụ thể, thực tế sẽ giúp học
viên nắm bắt và vận dụng các kiến thức, liên hệ
ngay với công việc của mình, thấy rõ tính hữu
ích của việc xây dựng và duy trì hệ thống quản
lý chất lượng Mặc dù, Powerpoint là kỹ thuật
dạy học được sử dụng phổ biến và nhiều người
học biết nhưng không phải là kỹ thuật chiếm tỉ lệ
hài lòng cao Theo nghiên cứu của nhóm tác giả
Pratami D (2018) cho thấy Powerpoint không còn là cách thức hiệu quả trong giảng dạy thông qua hình ảnh,; kỹ thuật này cần phải kết hợp với các kỹ thuật dạy học khác; sự hiệu quả của Powerpoint quyết định bởi khả năng trình bày của giảng viên hay người thuyết trình(11) Ít tương tác giữa giảng viên và học viên0 Người nghe thụ động là hai trong số các lý do không hài lòng với kỹ thuật Powerpoint nhóm nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được Điều này cho thấy, nội dung Quản lý chất lượng cần được truyền tải
Trang 9hai chiều, tăng khả năng trao đổi hơn là truyền
đạt một chiều như được sử dụng hiện nay
Kỹ thuật dạy học bằng Kịch, tình huống
chiếm tỉ lệ hài lòng cao vì có sự tương tác và học
viên được tham gia đóng góp vào nội dung bài
học Đồng thời, kỹ thuật này có thể được xây
dựng trên các tình huống thực về quản lý chất
lượng tại cơ sở xét nghiệm, giúp người học dễ
liên hệ với công việc mình đang làm và thấy rõ
bản chất của vấn đề Kịch, tình huống chiếm
được tỉ lệ hài lòng cao trên nhóm những người
học đã từng được học qua và trên những người
đang làm công tác quản lý chất lượng, ngay cả
những người học có thâm niên công tác cũng hài
lòng với kỹ thuật này Điều này, phản ánh rõ nét
tính hữu dụng của kỹ thuật và cũng mô tả rõ
nhu cầu của người học Năm 2008, theo nghiên
cứu của Cannon-Bowers JA chỉ ra rằng, việc thiết
kế bài học theo kỹ thuật Kịch, tình huống không
đơn giản, nhưng lại mang lại hiệu quả cao trong
việc học, giúp đạt được mục tiêu học tập và có
nhiều lợi ích trong việc đào tạo cho lĩnh vực y
học(12) Đào tạo về quản lý chất lượng không chỉ
là lý thuyết, nhu cầu áp dụng lý thuyết, cách
triển khai và giải quyết các câu chuyện chất
lượng thực tế luôn chiếm nhiều sự quan tâm của
người học Tuy nhiên, kỹ thuật này đòi hỏi giảng
viên phải linh động, nhiều kinh nghiệm thực
tiễn, đây vừa là cơ hội cũng là thách thức với
giảng viên
Các kỹ thuật Trò chơi, Bảng giấy lật, Bảng
giấy màu có tính tiện dụng, tuy nhiên, tỉ lệ hài
lòng của người học không cao Mặc dù, đối với
Trò chơi hay Bảng giấy lật, Bảng giấy màu, học
viên vẫn tham gia đóng góp vào bài học, nhưng
dường như các kỹ thuật này chưa đáp ứng đúng
và đủ nhu cầu của học viên Theo kết quả nghiên
cứu, nguyên nhân do học viên khó ghi chép,
nắm bắt được nội dung bài học, dễ gây mất tập
trung Bảng giấy màu, Bảng giấy lật khiến giảng
viên tốn nhiều thời gian chuẩn bị hơn và cần xử
lý các bảng giấy sau đào tạo Năm 2007, nghiên
cứu của Caniza nhận định việc sử dụng Bảng
giấy lật cho hiệu quả trong việc đào tạo vệ sinh
tay cho nhân viên y tế tại bệnh viện ở Caniza
MA(13) Tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi cho thấy Bảng giấy lật chưa hiệu quả trong việc đào tạo quản lý chất lượng Kỹ thuật dạy học thông qua Trò chơi khá sinh động nhưng nếu giảng viên không kiểm soát tốt thời gian sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bài học và không sát nội dung cần truyền tải và dễ gây khó hiểu cho người học
Các khái niệm then chốt được liên hệ ngay bằng thị giác; dễ hiểu, dễ nhớ là lý do học viên hài lòng đối với kỹ thuật dạy học bằng Sơ đồ trí nhớ Nghiên cứu của Martin BO (2013) cho thấy
Sơ đồ trí nhớ hiệu quả hơn bài giảng truyền thống khi áp dụng dạy học cho sinh viên điều dưỡng về kiến thức kiểm tra tâm lý(14) Nghiên cứu này chỉ ra kỹ thuật Sơ đồ trí nhớ rất hiệu quả cho giảng dạy về kiến thức Tuy nhiên đối với quản lý chất lượng, học viên không chỉ được giảng dạy về lý thuyết mà việc thực hành các kiến thức được học là vô cùng quan trọng Do
đó, muốn áp dụng Sơ đồ trí nhớ vào đào tạo quản lý chất lượng cần kết hợp với các kỹ thuật khác
Tóm lại, việc chọn lựa kỹ thuật truyền tải cần đáp ứng các phong cách học tập và nhu cầu đa đạng của học viên (14) Việc chọn lựa phương pháp phù hợp sẽ giúp tăng hiệu quả đào tạo, giúp học viên nắm bắt nhanh và đầy đủ các nội dung bài học, ứng dụng ngay vào công việc hàng ngày
KẾT LUẬN
Phương pháp Kịch, tình huống có tỉ lệ hài lòng khá cao trên các nhóm người học được khảo sát bao gồm các nhóm đã được đào tạo về Quản lý chất lượng hoặc vị trí công việc có gắn với Quản lý chất lượng và thâm niên công tác Nhóm người học chưa qua đào tạo Quản lý chất lượng có tỉ lệ hài lòng cao với Powerpoint và Sơ
đồ trí nhớ Phương pháp Sơ đồ trí nhớ cũng có tỉ
lệ hài lòng cao trong các nhóm người học Ngược lại, phương pháp Bảng giấy lật, Bảng giấy màu và phương pháp Trò chơi có tỉ lệ hài
Trang 10lòng khá thấp Phương pháp Trò chơi chỉ có tỉ lệ
hài lòng tương đối trong nhóm người trẻ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Mrazek C, Lippi G, Keppel MH, Felder TK, Oberkofler H,
Haschke-Becher E, et al (2020) Errors within the total
laboratory testing process, from test selection to medical
decision-making - A review of causes, consequences,
surveillance and solutions Biochem Med, 30(2):020502
2 Fenta DA, Ali MM (2020) Factors Affecting Quality of
Laboratory Result During Ordering, Handling, and Testing of
the Patient's Specimen at Hawassa University College of
Medicine and Health Science Comprehensive Specialized
Hospital J Multidiscip Healthc, 13:809-21
3 Sisay A, Mindaye T, Tesfaye A, Abera E, Desale A (2015)
Assessing the outcome of Strengthening Laboratory
Management Towards Accreditation (SLMTA) on laboratory
quality management system in city government of Addis
Ababa, Ethiopia Pan Afr Med J, 20:314
4 WHO (2011) Laboratory quality management system:
handbook URL: www.who.int
5 Allen LC 2013 () Role of a quality management system in
improving patient safety - laboratory aspects Clin Biochem,
46(13-14):1187-93
6 Sciacovelli L, Aita A, Padoan A, Antonelli G, Plebani M (2017)
ISO 15189 accreditation and competence: a new opportunity
for laboratory medicine Journal of Laboratory and Precision
Medicine, 2:79
7 Okezue MA, Adeyeye MC, Byrn SJ, Abiola VO, Clase KL (2020) Impact of ISO/IEC 17025 laboratory accreditation in
sub-Saharan Africa: a case study BMC Health Serv Res,
20(1):1065
8 Bộ Y tế (2013) Hướng dẫn thực hiện Quản lý chất lượng xét nghiệm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Thông tư số 01/2013/TT-BYT ngày 11 tháng 01 năm 2013
9 Bộ Y tế (2016) Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện Quyết định số 6858/QĐ-BYT ngày 18 tháng 11 năm 2016
10 Bộ Y tế (2017) Tiêu chí đánh giá mức chất lượng phòng xét nghiệm y học Quyết định 2429/QĐ-BYT ngày 12 tháng 06 năm
2017
11 Pratami D, Amalia Nur Fajrillah A, Fabrianti Kusumasari T (2018) An Evaluation of PowerPoint Effectiveness as a
Learning Tool for Students International Journal of Engineering
& Technology, 7(2-29)
12 Cannon-Bowers JA (2008) Recent advances in scenario-based
training for medical education Curr Opin Anaesthesiol,
21(6):784-9
13 Caniza MA, Maron G, Moore EJ, Quintana Y, Liu T (2007) Effective hand hygiene education with the use of flipcharts in a
hospital in El Salvador J Hosp Infect, 65(1):58-64
14 Martin BO, Kolomitro K, Lam TCM (2013) Training Methods
Human Resource Development Review, 13(1):11-35
Ngày nhận bài báo: 15/07/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/09/2021 Ngày bài báo được đăng: 15/10/2021