Nhiễm ký sinh trùng đường ruột là một trong những nguyên nhân thường gặp ở bệnh nhân rối loạn tiêu hóa. Bài viết trình bày việc xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở bệnh nhân rối loạn tiêu hóa tại Bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh, tỉnh Đắk Lắk năm 2018.
Trang 1TỶ LỆ NHIỄM KÝ SINH TRÙNG ĐƯỜNG RUỘT
Ở BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TIÊU HÓA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THIỆN HẠNH, TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2018
Trịnh Ngọc Thảo Vy 1 , Phan Hoàng Thái Bảo 1 , Lâm Vĩnh Niên 2
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Nhiễm ký sinh trùng đường ruột là một trong những nguyên nhân thường gặp ở bệnh nhân
rối loạn tiêu hóa
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở bệnh nhân rối loạn tiêu hóa tại bệnh viên đa
khoa Thiện Hạnh, tỉnh Đắk Lắk
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 413 bệnh nhân đến khám tại
Khoa Khám bệnh và điều trị tại Khoa Nội có rối loạn tiêu hóa, được chỉ định làm xét nghiệm phân tại Khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh, tỉnh Đắk Lắk từ tháng 03/2018 đến tháng 09/2018
Kết quả: Trong tổng số 413 bệnh nhân có rối loạn tiêu hóa, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột là 35,59%
Trong đó, nhiễm thể bào nang amip đơn thuần và nhiễm thể bào nang amip + thể hoạt động chiếm tỷ lệ 33,66%, giun móc/mỏ 0,48%, giun lươn 0,48%, trùng roi T intestinalis 0,48%, G lamblia 0,24%, giun kim 0,24%
Kết luận: Tỷ lệ nhiễm đơn bào ở bệnh nhân rối loạn tiêu hóa, đặc biệt là E histolytica/dispar rất phổ biến ở
đối tượng trẻ em Do đó, cần khảo sát thêm ở cộng đồng để đánh giá toàn diện về bệnh ký sinh nói chung và bệnh
do nhiễm đơn bào ở trẻ em nói riêng
Từ khoá: ký sinh trùng đường ruột, rối loạn tiêu hóa
ABSTRACT
THE PREVALENCE OF INTESTINAL PARASITIC ON THE PATIENTS WITH DIGESTIVE DISODERS
IN THIEN HANH GENERAL HOSPITAL, DAK LAK PROVINCE IN 2018
Trinh Ngoc Thao Vy, Phan Hoang Thai Bao, Lam Vinh Nien
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 5 - 2021: 235 - 242
Background: Intestinal parasitic infection is one of the most common causes on patients with digestive
disorders
Objective: To determine the prevalence of intestinal parasitic on the patients with digestive disorders in
Thien Hanh general hospital, Dak Lak province
Method: A descriptive cross-sectional study on 413 patients who came to the Department of Examination,
treated at the Department of Internal Medicine with digestive disorders and were assigned to do stool tests at the Laboratory Department, Thien Hanh General Hospital, Dak Lak province from March 2018 to September 2018
Results: In a total of 413 patients with digestive disorders, the rate of intestinal parasite infection was
35.59% In which, forma cystica and forma cystical + forma magna account for 33.66% The rate of Ancylostoma duodenale/Necator americanus and Strongyloides stercoralis infection were the same with 2.4% The rate of T intestinalis, G lambilia and Enterobius vermicularis were 0.48%, 0,24% and 0,24% respectively.
1Bộ môn Xét nghiệm, Khoa Y Dược, Trường Đại học Tây Nguyên
2 Bộ môn Hoá sinh, Khoa Y, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2Conclusions: The rate of protozoan infections in patients with digestive disorders, especially E histolytica
/dispar, is very common among children Therefore, it is necessary to have more surveys in the community to comprehensively assess parasitic diseases in general and protozoan diseases in children in particular
Keywords: intestinal parasitic infection, digestive disorders
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh ký sinh trùng đường ruột (KSTĐR) là
bệnh phổ biến khắp thế giới và đặc biệt ở những
vùng có điều kiện khí hậu nóng ẩm, vệ sinh môi
trường kém, nhiều phong tục tập quán lạc hậu,
nền kinh tế nghèo nàn(1,2) Theo Quihui (2006),
nhiễm ký sinh trùng đường ruột trở thành một
gánh nặng của y tế toàn cầu và là nguyên nhân
gây ra bệnh lý lâm sàng ở 450 triệu người như
thiếu máu thiếu sắt, viêm ruột, rối loạn hấp thu,
gây bệnh ở nội tạng,… nhiều trong số đó là phụ
nữ độ tuổi sinh đẻ và trẻ em ở các nước đang
phát triển(3)
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 10% dân số thế
giới nhiễm amip và 10% số đó phát triển thành
bệnh Trong khi tỷ lệ nhiễm amip ở Anh là 3%
thì ở châu Á, tỷ lệ nhiễm là 14%(2)
Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm giun, sán theo một
số nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm đơn bào ở cộng đồng
chưa tới 3% Tuy nhiên, ở bệnh viện, đơn bào là
một trong những nguyên nhân chính gây rối
loạn tiêu hóa trên bệnh nhân tới khám Một số
báo cáo cho thấy đứng đầu là E histolytica với tỷ
lệ nhiễm 20,7%(2,4)
Đắk Lắk đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tỷ
lệ nhiễm ký sinh trùng ở cộng đồng nhưng
nghiên cứu trên đối tượng có triệu chứng rối
loạn tiêu hóa ở bệnh viện chưa nhiều, đặc biệt là
do đơn bào gây nên
Mục tiêu
Xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường
ruột ở bệnh nhân có rối loạn tiêu hóa đến khám
và điều trị tại bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh
năm 2018
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
413 bệnh nhân đến khám tại Khoa khám
bệnh và điều trị tại Khoa Nội có rối loạn tiêu hóa,
được chỉ định làm xét nghiệm phân tại khoa Xét nghiệm
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Bệnh nhân có rối loạn tiêu hóa
Được làm xét nghiệm tìm ký sinh trùng trong phân
Đồng ý tham gia nghiên cứu (ký tên vào phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu)
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh phẩm của bệnh nhân không đạt yêu cầu (bệnh phẩm lẫn đất cát, nước tiểu, hóa chất hoặc để quá 2 giờ sau khi lấy mới chuyển tới phòng xét nghiệm)
Vi phạm quy trình trong tiêu chuẩn từ chối mẫu của phòng xét nghiệm
Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Khoa Khám bệnh và khoa Nội của bệnh viện
Đa khoa Thiện Hạnh, tỉnh Đắk Lắk từ tháng 03/2018 đến tháng 09/2018
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Cỡ mẫu
Trong đó:
n: Cỡ mẫu p: Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Bình Phương có p=0,42(2), nên chúng tôi chọn p=0,42
α: mức ý nghĩa thống kê, chọn α=0,05
d: độ sai lệch cho phép với độ tin cậy 95%, d=0,05
2 2 /
1
Z : Giá trị Z thu được từ bảng Z ứng
Trang 3với giá trị α được chọn, với α=0,05 thì:
2
2
/
1
Z = 1,962 = 3,8416
Thay vào công thức, ta có cỡ mẫu là 374,3
người, lấy tròn là 375 bệnh nhân
Để đảm bảo đủ cỡ mẫu yêu cầu tránh việc
sai sót trong lấy, thu thập mẫu, mẫu không
đảm bảo chất lượng chúng tôi chọn thêm 10%,
vì vậy cỡ mẫu thực tế sẽ là 412,5 người, lấy
tròn là 413 người
Phương pháp nghiên cứu
Kỹ thuật xét nghiệm phân trực tiếp
Lấy một tấm lam kính sạch, khô Dùng viết
chì sáp chia lam kính ra làm 3 phần Ghi tên
bệnh nhân vào ô nhỏ ở đầu lam kính
Nhỏ lên lam kính 1 giọt NaCl 0,85% vào ô
giữa, 1 giọt Lugol ở ô cuối
Dùng que gỗ lấy một ít phân bằng đầu que
diêm, hòa tan phân vào giọt NaCl 0,85%
Lấy phân lần thứ hai rồi hòa tan phân vào
giọt Lugol
Bỏ que gỗ vào dung dịch sát trùng
Đậy lá kính lên 2 giọt phân
Khảo sát tiêu bản dưới kính hiển vi(1)
Kỹ thuật tập trung Formol - Ether
Dùng que gỗ lấy khoảng 5g phân cho vào
trong ống ly tâm
Cho 7 ml dung dịch formol 10% vào ống ly
tâm
Hòa tan phân và lọc phân qua lưới lọc vào
ống ly tâm khác hoặc cốc có mỏ
Ly tâm 2000 vòng/phút trong 1-2 phút Hút
bỏ phần nước nổi Có thể lặp lại nhiều lần cho đến khi phần nước nổi trong
Cho 10 ml dung dịch formol 10% và 3ml ether vào trong ống ly tâm
Đậy ống nghiệm bằng nút cao su, trộn đều bằng cách lắc mạnh trong vòng 10 giây
Mở nắp cao su, cho ống nghiệm vào máy ly tâm, quay 2000 vòng/phút trong 1 - 2 phút Lấy ống nghiệm ra khỏi máy ly tâm, chất dịch trong ống nghiệm được chia thành 4 lớp:
- Lớp trên cùng: Ether
- Lớp thứ 2: Một nút gồm các mảnh với chất béo dính vào thành ống
- Lớp thứ 3: Formol
- Lớp thứ 4: Cặn chứa KST
Dùng que gỗ tách nhẹ nhàng lớp chất béo ra khỏi thành ống bằng cách xoáy theo hình xoắn
Đổ bỏ 3 lớp dung dịch trên cùng bằng một động tác nhanh gọn, dốc ngược ống ly tâm Dùng pipette Pasteur lấy 1 giọt cặn nhỏ lên lam kính và khảo sát dưới kính hiển vi (có thể khảo sát cặn với dung dịch Lugol)(1)
Nhận định kết quả
Nhiễm: tìm thấy trứng và bào nang của KST đường ruột
Không nhiễm: không tìm thấy trứng và bào nang của KST đường ruột
Định nghĩa biến số
Bảng 1 Biến số nghiên cứu
Biến số nền Năm sinh Tròn tuổi theo năm dương lịch Định lượng Phỏng vấn Giới Nam/Nữ Nhị giá Phỏng vấn Nghề nghiệp Nông/Công nhân/Cán bộ viên chức/Đi học/Trẻ em/Khác Nghề tạo ra thu nhập chính Danh định Phỏng vấn Nơi ở Thành thị/Thị xã, thị trấn/Nông thôn Danh định Phỏng vấn Dân tộc Kinh/Ê Đê/Khác Danh định Phỏng vấn
Biến số rối loạn tiêu hóa Đau bụng Có đau một trong những điểm vùng bụng (Có/Không) Nhị giá Phỏng vấn Tiêu chảy Đi tiêu phân lỏng không tạo khuôn (Có/Không) Nhị giá Phỏng vấn Táo bón Đi tiêu lâu, phân khô cứng (Có/Không) Nhị giá Phỏng vấn
Trang 4Biến số Định nghĩa Phân loại Phương pháp
Khó chịu bụng Ục ịch, cảm giác khó chịu vùng bụng (Có/Không) Nhị giá Phỏng vấn Mót rặn Cảm giác chưa muốn đi tiêu hết mặc dù không thể đi tiêu có phân
(Có/Không) Nhị giá Phỏng vấn
Đi tiêu nhiều > 3 lần/ ngày (Có/Không) Nhị giá Phỏng vấn
Biến số tỷ lệ nhiễm Nhiễm giun đũa Tìm thấy trứng giun đũa trong phân (Có/Không) Nhị giá
Xét nghiệm phân
Nhiễm giun móc/mỏ Tìm thấy trứng giun móc trong phân (Có/Không) Nhị giá
Nhiễm giun tóc Tìm thấy trứng giun tóc trong phân (Có/Không) Nhị giá
Nhiễm giun kim Tìm thấy trứng giun kim trong phân (Có/Không) Nhị giá
Nhiễm giun lươn Tìm thấy trứng có ấu trùng hoặc ấu trùng giun lươn trong phân
(Có/Không) Nhị giá Nhiễm sán dải heo, bò Tìm thấy trứng hoặc đốt sán dải trong phân (Có/Không) Nhị giá
Nhiễm Amip Có thể bào nang, thể hoạt động Amip trong phân (Có/Không) Nhị giá
Nhiễm Giardia lamblia Có thể bào nang, thể hoạt động G lamblia trong phân (Có/Không) Nhị giá
Nhiễm T intestinalis Có thể bào nang, thể hoạt động T intestinalis trong phân (Có/Không) Nhị giá
Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Stata
13.1, dùng kiểm định chi bình phương để so
sánh sự khác biệt giữa các biến định tính Mức ý
nghĩa thống kê khi p <0,05; độ tin cậy 95%
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng
khoa học Trường Đại học Tây Nguyên, số
2764/QĐ- ĐHTN - ĐTSĐH
KẾT QUẢ
Đặc điểm dân số học
Bảng 2 Đặc điểm dân số học
Giới Nam 220 53,27
Nữ 193 46,73 Tuổi
1-7 278 67,31 8-19 15 3,63
>19 120 29,06
Nơi ở
Thành thị 121 29,30 Thị trấn, thị xã 31 7,51
Nông thôn 261 63,19
Dân tộc
Kinh 364 88,13
Ê đê 31 7,51 Khác 18 4,36
Nghề
nghiệp
Nông dân 63 15,25 Công nhân 4 0,97 CBVC 21 5,09
Đi học 34 8,23 Trẻ em 242 58,60 Khác 49 11,86
Trong 413 đối tượng tham gia nghiên cứu,
nhóm tuổi từ 1-7 chiếm tỷ lệ cao nhất 67,31%;
>19 chiếm 29,06% và từ 8-9 chiếm 3,63% Về giới tính, tỷ lệ nam giới và nữ giới tương đương nhau, không khác biệt đáng kể với 53,27% và 46,73% Dân tộc Kinh chiếm đa số với 88,13% Phần lớn đối tượng nghiên cứu là trẻ em (58,6%), tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với 63,19%; thành thị 29,30% và thấp nhất ở thị xã,
thị trấn với 7,51% (Bảng 2)
Đặc điểm lâm sàng
Bảng 3 Tính chất mẫu phân trên bệnh nhân có rối
loạn tiêu hóa
Tiêu chảy có phân lỏng 346 83,78 Không 67 16,22 Tổng 413 100
Trên bệnh nhân có rối loạn tiêu hóa thì triệu chứng tiêu chảy có phân lỏng chiếm đa số với
83,78% (Bảng 3)
Tỷ lệ nhiễm KSTĐR chung
Bảng 4 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR chung
Nhiễm KSTĐR 147 35,59 Không nhiễm 266 64,41 Tổng 413 100
Tỷ lệ nhiễm chung KSTĐR ở bệnh nhân có
rối loạn tiêu hóa là 35,59% (Bảng 4)
Tỷ lệ nhiễm từng loại KSRĐR
Nhiễm đơn bào amip chiếm tỷ lệ cao nhất với 33,66 %, trong đó thể bào nang amip + thể hoạt động chiếm tỷ lệ cao với 21,07%, tiếp theo là
Trang 5nhiễm bào nang amip đơn thuần là 12,59%,
nhiễm các loại giun và đơn bào khác đều chiếm
tỷ lệ thấp dưới 0,48% Không có bệnh nhân nào
nhiễm cùng một lúc 2 loại ký sinh trùng (Bảng 5)
Bảng 5 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR theo từng loại
(%)
Âm tính 266 64,41
Nhiễm giun
Trứng giun móc/mỏ 2 0,48
Ấu trùng giun lươn 2 0,48 Trứng/Ấu trùng giun kim 1 0,24
Nhiễm đơn
bào
Bào nang amip 52 12,59 Bào nang amip + thể hoạt động 87 21,07
G lamblia 1 0,24
T intestinalis 2 0,48 Tổng 413 100
Tỷ lệ nhiễm KSTĐR theo một số yếu tố liên quan
Bảng 6 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR theo một số yếu tố liên
quan
Giới Nam 220 71 32,27 0,132
Nữ 193 76 39,38
Dân tộc
Kinh 364 131 35,99
0,777
Ê Đê 31 11 35,48
Khác 18 5 27,78
Nhóm
tuổi
1-7 278 112 40,29
0,015 8-19 15 3 20,0
>19 120 32 26,67
Nơi ở
Thành thị 121 41 33,88
0,911 Thị trấn, thị xã 31 11 35,48
Nông thôn 260 94 36,15
Nghề
nghiệp
Nông dân 63 20 31,75
0,069
Công nhân 4 1 25,0
CBVC 21 2 9,52
Đi học 34 9 26,47
Trẻ em 242 97 40,08
Khác 49 18 36,73
Nhiễm KSTĐR ở nữ giới 39,38% cao hơn
nam giới 32,27% Tuy nhiên sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê với p >0,05
Nhiễm KSTĐR giữa hai nhóm dân tộc Kinh,
Ê Đê cho thấy tỷ lệ tương đương nhau là 35,99%
và 35,48%, cao hơn nhóm dân tộc khác với
27,78% Sự khác biệt giữa các nhóm không có ý
nghĩa thống kê với p >0,05
Trong các nhóm tuổi thì nhóm từ 1-7 tuổi có
tỷ lệ nhiễm cao nhất với 40,29%, nhóm tuổi >19
và 8-19 chiếm lần lượt 26,67% và 20,0%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05
Nhiễm KSTĐR giữa các khu vực thành thị, thị trấn, thị xã hay nông thôn là tương đương nhau, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p >0,05
Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở nhóm nghề nghiệp
có sự khác biệt, cao nhất ở nhóm trẻ em 40,08%, đây là nhóm trẻ nhỏ chưa đi nhà trẻ hay mẫu giáo, tiếp theo là nhóm nghề nghiệp khác với 36,73%, nông dân 31,75%, các nhóm nghề còn lại đều dưới 27% Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nhóm cũng không có ý nghĩa thống kê với p >0,05
Tỷ lệ nhiễm các loại KSTĐR theo nhóm tuổi
Bảng 7 Tỷ lệ nhiễm các loại KSTĐR theo nhóm tuổi
Đặc điểm
Nhóm 1-7 Nhóm 8-19 Nhóm >19
XN (+)
Tỷ lệ (%)
XN (+)
Tỷ lệ (%)
XN (+)
Tỷ lệ (%)
Trứng giun móc 0 0 0 0 2 6,3
Ấu trùng giun lươn 0 0 0 0 2 6,3 Trứng/Ấu trùng giun kim 0 0 0 0 1 3,1 Bào nang Amip 44 39,3 0 0 8 25,0 Bào nang Amip + HĐ 66 58,9 3 100 18 56,3
G lamblia 0 0 0 0 1 3,13
T intestinalis 2 1,8 0 0 0 0 Tổng 112 100 3 100 32 100
Ở nhóm tuổi từ 1-7 với 112 trường hợp dương tính có tới 98,21% nhiễm thể bào nang amip và thể bào nang + thể hoạt động, 1,79% là đơn bào khác Ở nhóm tuổi từ 8-9 có 3 trường hợp nhiễm bào nang amip + thể hoạt động Trong khi đó ở nhóm tuổi >19 chúng tôi nhận thấy mặt dù tỷ lệ nhiễm bào nang amip và thể bào nang + thể hoạt động vẫn cao 81,25% Tuy nhiên, vẫn có tỷ lệ nhiễm các loại giun như giun móc/mỏ, giun lươn, giun kim và đơn bào khác
(Bảng 7)
BÀN LUẬN
Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột chung
và từng loại
Ký sinh trùng đường ruột được tìm thấy ở
147 mẫu trong tổng số 413 mẫu chiếm tỷ lệ
35,59% Trong đó, thể bào nang E histolytica/dispar đơn thuần và thể bào nang E histolytica/dispar +
Trang 6thể hoạt động (33,66%) là đơn bào phổ biến nhất
được tìm thấy ở những mẫu phân lỏng trên
bệnh nhân có rối loạn tiêu hóa, tiếp đó là đơn
bào T intestinalis 0,48%, ấu trùng S stercoralis
0,48%, giun A duodenale/N americanus 0,48%,
giun E vermicularis 0,24%, G lamblia 0,24%
Kết quả tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường
ruột trên bệnh nhân rối loạn tiêu hóa của chúng
tôi tương đương nghiên cứu ở Limpopo, Nam
Phi là 34,2%(5), thấp hơn miền Nam Ethiopia là
45,5%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nhiễm ký sinh
trùng ở Ấn Độ 79,2% ở nông thôn, 56% ở thành
thị(6) Ở khu vực Đông Nam Á và một số vùng
miền tại nước ta, nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy tỷ lệ nhiễm cao hơn Tuy nhiên, sự khác
nhau về tỷ lệ nhiễm giữa các nước trong khu
vực, cũng như giữa các vùng miền cho thấy sự
khác biệt tương đối lớn(2,7,8) Lý giải vấn đề này,
ngoài yếu tố đối tượng nghiên cứu là nguyên
nhân chính thì vấn đề về địa lý, khí hậu, vệ sinh
môi trường, đời sống kinh tế từng vùng cũng
ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm
Tóm lại, sự phổ biến cao của các đơn bào
như E histolytica/dispar và một số đơn bào
khác ở bệnh nhân rối loạn tiêu hoá, đặc biệt là
trẻ em trong nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy vấn đề tiêu chảy ngoài nguyên nhân do
virus, vi khuẩn, thì vai trò gây bệnh tiêu hóa
của ký sinh trùng cũng là nguyên nhân quan
trọng cần được xem xét
Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột theo một
số yếu tố liên quan
Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở nữ
(39,38%) cao hơn nam (32,27%) Kết quả của
chúng tôi tương tự nghiên cứu của tác giả Lê
Trần Anh, Nguyễn Khắc Lực tại Bệnh viện 103,
tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa
thống kê với p > 0,05(9) Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của
Lương Văn Định và cộng sự cũng như một số
nghiên cứu khác trên cộng đồng khi cho thấy
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
hai giới(11) Tuy nhiên, một nghiên cứu trên cộng
đồng tại Thái Lan lại cho thấy tỷ lệ nhiễm ký
sinh trùng đường ruột ở nam cao hơn nữ(7) Vấn
đề này có thể do việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu và khu vực địa lý đã ảnh hưởng tới kết quả nói trên
Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở dân tộc Kinh là 131 người (35,99%), Ê Đê là 11 người (35,48%), dân tộc khác là 5 người (27,78%) Tỷ lệ nhiễm ở các nhóm dân tộc không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với p >0,05 Lý giải điều này, chúng tôi cho rằng ngoài vấn đề đối tượng nghiên cứu đa phần là trẻ em đến khám vì rối loạn tiêu hóa thì số lượng dân tộc Ê Đê và dân tộc khác trong nhóm nghiên cứu tương đối ít Vì vậy, để có thể so sánh chính xác cần có số lượng mẫu lớn hơn ở hai nhóm dân tộc này
Nhóm đối tượng nhiễm ký sinh trùng đường ruột từ 1-7 tuổi là 112 người (40,29%), nhóm 8-19 tuổi có 3 người (20%), nhóm >19 tuổi có 32 người (26,67%) Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở nhóm từ 1-7 tuổi cao hơn hai nhóm còn lại với p <0,05 Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Vũ Bình Phương
và cộng sự khi tỷ lệ nhiễm ở trẻ dưới 6 tuổi (14%) cao hơn so với các nhóm tuổi khác, nhóm 8-19 tuổi có tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột thấp nhất (1,9%)(2) Tuy nhiên, một
số nghiên cứu khác trên cộng đồng khi điều tra tỷ lệ nhiễm giun sán lại cho thấy nhiễm ký sinh trùng đường ruột tăng dần theo nhóm tuổi, tuổi càng lớn tỷ lệ nhiễm càng cao(10) Lý giải vấn đề này, có lẽ do đối tượng nghiên cứu chúng tôi lựa chọn là bệnh nhân có rối loạn tiêu hóa, đa số trong đó có triệu chứng tiêu chảy với mẫu phân lỏng Điều này phù hợp với Y văn thế giới, tiêu chảy có thể do nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau, bao gồm vi khuẩn, virus và ký sinh trùng gây ra Trong các loại ký sinh trùng thì đơn bào là nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy ở người(12) Mặt khác, các nghiên cứu trên cộng đồng với đối tượng nghiên cứu là người khỏe mạnh và chủ yếu là khảo sát tỷ lệ nhiễm giun sán, vì vậy có
sự khác biệt trên cũng là điều dễ hiểu
Trang 7Nhóm tuổi từ 8-19 là lứa tuổi đi học, điều
kiện tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ ít hơn và
thường được tẩy giun ở nhà trường Ở nhóm 1-7
tuổi và >19 tuổi, nhất là đối tượng nhỏ tuổi và
người cao tuổi thì ngoài vấn đề tiếp xúc với yếu
tố nguy cơ còn có khả năng hệ miễn dịch chưa
đầy đủ hoặc suy giảm dẫn đến tăng tỷ lệ nhiễm
ký sinh trùng đường ruột
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở khu vực
thành thị là 41 người (33,88%), khu vực thị trấn,
thị xã là 11 người (35,48%), nông thôn là 94
người (36,15%) Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng giữa
các khu vực cho thấy không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p >0,05) Kết quả của chúng tôi
có sự khác biệt với nghiên cứu của Nguyễn
Hồng Liên và cộng sự, tỷ lệ nhiễm đơn bào giữa
nhóm nội thành thấp hơn nhóm ngoại thành, sự
khác biệt là có ý nghĩa thống kê(4) Chúng tôi cho
rằng vấn đề lựa chọn đối tượng nghiên cứu khác
nhau dẫn đến có sự khác biệt
Về nghề nghiệp cũng cho thấy không có sự
khác biệt với tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường
ruột ở bệnh nhân (p >0,05), cao nhất ở nhóm trẻ
em với 40,08%, có thể thói quen của trẻ như
ngậm, mút tay, nghịch đất, cát với sự ô nhiễm
của môi trường sống là yếu tố ảnh hưởng đến tỷ
lệ nhiễm nói trên
Tỷ lệ nhiễm các loại KSTĐR theo nhóm tuổi
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ
nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở nhóm từ 1-7
tuổi cao hơn hai nhóm còn lại với (p <0,05) Kết
quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Vũ
Bình Phương khi thấy rằng tỷ lệ nhiễm ở trẻ
dưới 6 tuổi (14%) cao hơn so với các nhóm tuổi
khác, ở nhóm từ 8-19 tuổi tỷ lệ nhiễm ký sinh
trùng đường ruột thấp nhất 1,9%(2) Tuy nhiên,
các nghiên cứu khác trên cộng đồng khi điều tra
về tỷ lệ nhiễm giun sán cho thấy nhiễm ký sinh
trùng đường ruột tăng dần theo nhóm tuổi, tuổi
càng lớn tỷ lệ nhiễm càng cao(10,1111) Lý giải vấn
đề này, có lẽ do đối tượng chúng tôi ngiên cứu là
trên bệnh nhân có rối loạn tiêu hóa, đa số trong
đó có tiêu chảy, mẫu phân lỏng điều này cũng
phù hợp với y văn cho rằng tiêu chảy có thể do
nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau, bao gồm vi khuẩn, virus và ký sinh trùng gây ra Trong các loại ký sinh trùng thì đơn bào là nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy ở người(12,13) Mặt khác, các nghiên cứu trên cộng đồng với đối tượng nghiên cứu là người khỏe mạnh và chủ yếu là khảo sát tỷ lệ nhiễm giun sán, vì vậy có sự khác biệt trên cũng là điều dễ hiểu
Ở nhóm từ 8-19 tuổi là lứa tuổi đi học, điều kiện tiếp xúc với yếu tố nguy cơ ít hơn và thường được tẩy giun ở nhà trường Còn hai nhóm trên, nhất là đối tượng nhỏ tuổi và người cao tuổi thì ngoài vấn đề tiếp xúc với yếu tố nguy cơ còn có khả năng hệ miễn dịch chưa đầy
đủ hoặc suy giảm dẫn đến tăng tỷ lệ nhiễm
KẾT LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
tỷ lệ nhiễm đơn bào ở bệnh nhân rối loạn tiêu
hóa, đặc biệt là E histolytica/dispar rất phổ biến
ở đối tượng trẻ em Do đó, cần khảo sát thêm ở cộng đồng để đánh giá toàn diện về bệnh ký sinh nói chung và bệnh do nhiễm đơn bào ở trẻ em nói riêng
Cần có các nghiên cứu sâu hơn về lâm sàng,
mô hình bệnh tật để đánh giá tác động của các đơn bào này với sức khỏe, đặc biệt là trẻ em để
có chính sách y tế hợp lý
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Thị Xuân (2013) Ký sinh trùng thực hành (Dùng cho đào tạo cử nhân kỹ thuật xét nghiệm y học), tái bản lần thứ nhất,
pp.143-145 Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam
2 Vũ Thị Bình Phương, Hoàng Thị Út Trà, Nguyễn Thị Duyên (2012) Thực trạng nhiễm ký sinh trùng đường ruột trên bệnh nhân xét nghiệm tại khoa Vi sinh - Ký sinh trùng Bệnh viện
Đại học Y Thái Bình từ 2008 - 2010 Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 16(1):7-10
3 Quihui L, Valencia ME, Crompton DW, et al (2006) Role of the employment status and education of mothers in the prevalence
of intestinal parasitic infections in Mexican rural
schoolchildren BMC Public Health, 6:225
4 Nguyễn Hồng Liên, Nguyễn Thu, Dương Trần Thanh Hương (2013) Nhiễm đơn bào đường ruột ở trẻ em Hà Nội và một số
yếu tố liên quan Y Học Thực Hành, 11:34-37
5 Samie A, Guerrant RL, Barrett L, et al (2009) Prevalence of intestinal parasitic and bacterial pathogens in diarrhoeal and non-diarroeal human stools from Vhembe district, South
Africa J Health Popul Nutr, 27(6):739-745
6 Chandrasekhar MR, Nagesha CN (2003) Intestinal helminthic
infestation in children Indian J Pathol Microbiol, 46(3):492-494
Trang 87 Boonjaraspinyo S, Boonmars T, Kaewsamut B, et al (2013) A
cross-sectional study on intestinal parasitic infections in rural
communities, northeast Thailand Korean J Parasitol,
51(6):727-34
8 Kim MJ, Jung BK, Cho J, et al (2016) Prevalence of Intestinal
Protozoans among Schoolchildren in Suburban Areas near
Yangon, Myanmar Korean J Parasitol, 54(3):345-348
9 Lê Trần Anh, Nguyễn Khắc Lực (2013) Nhiễm giun sán động
vật sang người được chẩn đoán tại Bệnh viện 103 (2009-2012)
Y Dược Học Quân Sự, 4:38-43
10 Lương Văn Định, Nguyễn Võ Hinh, Trương Quang Ánh
(2007) Nghiên cứu tình hình nhiễm giun truyền qua đất và
đánh giá sự tái nhiễm sau can thiệp bằng Mebendazole 500 mg
ở trẻ em xã Hồng Vân, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
2005-2006 Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 11(2):24 - 30
11 Nguyễn Văn Sơn, Phạm Thị Chiến (2013) Tình hình nhiễm
giun truyền qua đất tỉnh Sơn La Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh,
17(1):139-144
12 Kotloff KL, Nataro JP, Blackwelder WC, et al (2013) Burden and aetiology of diarrhoeal disease in infants and young children in developing countries (the Global Enteric Multicenter Study, GEMS): a prospective, case-control study
Lancet, 382:209-222
13 Wegayehu T, Tsalla T, Seifu B, Teklu T (2013) Prevalence of intestinal parasitic infections among highland and lowland
dwellers in Gamo area, South Ethiopia BMC Public Health,
13(1):151