Bài viết khảo sát tỉ lệ nhiễm vi nấm ngoài da trên bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 và mô tả đặc điểm sang thương và một số yếu tố liên quan đến các chủng vi nấm ngoài da.
Trang 1TỈ LỆ NHIỄM CÁC CHỦNG VI NẤM NGOÀI DA TRÊN BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2021
Nguyễn Hồ Phương Liên 1 , Tăng Tuấn Hải 2 , Nguyễn Hoàng Chương 2
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát tỉ lệ nhiễm vi nấm ngoài da trên bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Da Liễu Thành
phố Hồ Chí Minh năm 2021 và mô tả đặc điểm sang thương và một số yếu tố liên quan đến các chủng vi nấm ngoài da
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, đối tượng là 56 mẫu bệnh phẩm da được lấy từ
những bệnh nhân có tổn thương da nghi ngờ do vi nấm ngoài da đến khám ngoại trú tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2021 có chỉ định soi da tìm vi nấm của bác sĩ lâm sàng Dựa vào kết quả soi tươi, những mẫu bệnh phẩm có sợi tơ nấm, bào tử đốt sẽ được cấy vào môi trường DTM, SDA để phân biệt và định danh Bảng câu hỏi phỏng vấn các yếu tố liên quan bệnh vi nấm ngoài da được tiến hành phỏng vấn dưới sự đồng ý của bệnh nhân Toàn bộ dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
Kết quả: Tỉ lệ nhiễm nấm da là 39,39%, trong đó tỉ lệ soi tươi trực tiếp là 39,39% dương tính, và tỉ lệ nuôi
cấy là 30,36% dương tính với vi nấm ngoài da Mức độ tương hợp giữa soi tươi trực tiếp bằng KOH 10% với nuôi cấy vi nấm cho hệ số Kappa lên đến 80,5% (p <0,05) Trong số các bệnh nhân được chẩn đoán bị nhiễm nấm
da (n=22), chúng tôi ghi nhận chiếm tỉ lệ cao nhất là Trichophyton rubrum (64,71%), kế đến là Trichophyton mentagrophytes (29,41%), và cuối cùng là Microsporum canis (5,88%) Đa số bệnh nhân nhiễm nấm da biểu hiện sang thương ở phần thân (31,82%) Các triệu chứng có tỉ lệ xuất hiện cao bao gồm ngứa (37,5%), hồng ban (35,7%), và tróc vảy da (37,5%) Mức độ ngứa trung bình của bệnh nhân nấm da là 5,77, với độ lệch chuẩn là 2,41.Việc sử dụng corticoid có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với nhiễm nấm da (p=0,048) Chưa ghi nhận mối liên quan giữa nhiễm nấm da với các yếu tố như tiếp xúc nước/hóa chất, tiếp xúc đất/vật nuôi, mang bao tay/găng/vớ, và mặc đồ kín (p >0,05)
Kết luận: Tỉ lệ nhiễm vi nấm ngoài da trên sang thương có nghi ngờ là 39,9% với 3 chủng phổ biến
Trichophyton rubrum chiếm tỉ lệ cao nhất 64,71%, kế đến là Trichophyton mentagrophytes 29,41%, và thấp nhất
là Microsporum canis 5,88% Trong nghiên cứu này đã chứng minh việc có sử dụng corticoid có mối liên quan đến nhiễm nấm da (p=0,048)
Từ khoá: tỷ lệ nhiễm vi nấm ngoài da, vi nấm ngoài da, bệnh vi nấm ngoài da
ABSTRACT
PREVALENCE OF DERMATOPHYTES STRAINS IN PATIENTS
AT HO CHI MINH CITY DERMATO-VENEREOLOGY HOSPITAL, 2021
Nguyen Ho Phuong Lien, Tang Tuan Hai, Nguyen Hoang Chuong
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 5 - 2021: 213 - 219
Objectives: To investigate the prevalence of dermatophytosis in outpatients at Ho Chi Minh City
Dermato-Venereology Hospital in 2021 and describe the characteristics of skin lesions, as well as related factors to different dermatophytes strains
Tác giả liên lạc: ThS Nguyễn Hồ Phương Liên ĐT:0903144575 Email: phuonglien20051977@gmail.com
Trang 2Methods: This is a descriptive, cross–sectional study with 56 skin samples obtained from patients with
suspicious skin lesions due to dermatophytes at Outpatient-Clinics of Dermato-Venereology Hospital in Ho Chi Minh City, from January to March 2021; those patients has been designated by clinicians for skin scraping to confirm the diagnosis The positive samples with fungal structures (segmented mycelium, and/or spores) were inoculated for differentiation and identification Questionnaires of related factors were used, along with the patient’s consent All data were processed and analyzed using SPSS 20.0 software
Results: The prevalence of dermatophytosis was 39.39%, in which the positive microscopic examination was
39.39%, and the positive culture rate for dermatophytes was 30.36% Compatibility level between direct microscopy by 10% KOH and cultures shows Kappa coefficient up to 80.5% (p-value <0.05) Among patients diagnosed with dermatophytes infections (n=22), we recorded that the highest proportion of causative fungi is Trichophyton rubrum (64.71%), followed by Trichophyton mentagrophytes (29, 41%), and finally Microsporum canis (5.88%) Most patients with dermatophytes infection presented lesions on the trunk (31.82%) Highly prevalent symptoms included pruritus (37.5%), erythema (35.7%), and desquamation (37.5%) The average rate
of pruritus in patients with fungal skin infections was 5.77 points, with a standard deviation of 2.41 The use of corticosteroids has shown statistical significance with dermatophytes infections (p=0.048) No association was found between dermatophytes infections and factors such as water/chemical contact, soil/livestock contact, wearing gloves/socks, and occlusive clothing (p >0.05)
Conclusion: The prevalence of dermatophytosis is 39.9% with three common strains Trichophyton rubrum
accounts for the highest proportion of 64.71%, followed by Trichophyton mentagrophytes with 29.41%, and the lowest proportion is Microsporum canis with 5.88% In the study, it was demonstrated that corticosteroid use was associated with dermatophytes infections (p = 0.048)
Keywords: prevalence of dermatophytes infections, dermatophytes, dermatophytosis
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh vi nấm ngoài da (dermatophytosis) là
một trong những tình trạng nhiễm trùng da phổ
biến và thường gặp Các vi nấm ngoài da là tác
nhân có liên quan chặt chẽ do có khả năng xâm
lấn các mô sừng hóa như da, lông-tóc, móng
Các vi nấm sợi tơ này thuộc 3 chi, thường gây
bệnh nấm ngoài da ở người: Trichophyton sp,
Epidermophyton sp, và Microsporum sp Các
thể bệnh do vi nấm ngoài da sẽ ảnh hưởng lên
da và phần phụ của da Nấm da biểu hiện sang
thương tròn hoặc đa cung, gờ nhô cao kèm theo
ngứa, có xu hướng ly tâm(1)
Các khu vực khí hậu nóng ẩm, trong đó có
Việt Nam, có nhiều điều kiện rất thuận lợi cho
các bệnh lý nhiễm vi nấm phát triển Một số
nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nhiễm vi nấm ngoài da
ở nước ta khoảng 6,3 – 10%(2,3,4) Bệnh nấm ngoài
da gây ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc
sống, tâm lý và chi phí cho người bệnh cũng như
nặng nề như các bệnh lý khác, nhưng sự thiếu quan tâm của bệnh nhân, cũng như điều kiện theo dõi điều trị bệnh chưa chặt chẽ, dẫn tới hiệu quả điều trị vẫn chưa cao
Từ đó, nghiên cứu này được thực hiện với mục đích: “Khảo sát tỉ lệ nhiễm vi nấm ngoài da trên bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh thời điểm hiện tại như thế nào? Mô tả đặc điểm sang thương và một số yếu tố liên quan với các chủng vi nấm ngoài da”
Mục tiêu
Mô tả đặc điểm sang thương tại da và một số yếu tố liên quan với các chủng vi nấm ngoài da Xác định tỉ lệ nhiễm vi nấm ngoài da và tỉ lệ các chủng vi nấm ngoài da trên bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân có tổn thương da nghi do vi
Trang 3Khám bệnh bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ
Chí Minh từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2021
Tiêu chí chọn vào
Bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm nấm da
trên lâm sàng và có chỉ định xét nghiệm soi da
trực tiếp tìm nấm và bệnh nhân đồng ý tham gia
Tiêu chí loại ra
Bệnh nhân tái khám bệnh lý nhiễm nấm và
hoặc có sử dụng thuốc bôi trong vòng 2 tuần
hoặc uống thuốc kháng nấm trong vòng 4 tuần
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Từ 1/1/2021 – 30/4/2021 tại Phòng xét nghiệm
Vi-Ký sinh bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí
Minh và Bộ môn Xét Nghiệm – Đại học Y Dược
Thành phố Hồ Chí Minh
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Cỡ mẫu
Có 56 mẫu bệnh phẩm da được lấy từ
1/1/2021 đến 1/3/2021
Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện
Các bước tiến hành nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân đến khám ngoại trú vì nghi
ngờ nhiễm vi nấm ngoài da và có chỉ định soi
tươi trực tiếp tìm vi nấm ngoài da với KOH
10-20% ở các vị trí sang thương ở da
Trong khi thời gian xử lý bệnh phẩm và
nhận kết quả, nghiên cứu viên, dưới sự đồng ý
của bệnh nhân (sau khi đã được tư vấn về bản
đồng thuận tham gia nghiên cứu) sẽ tiến hành
phỏng vấn bệnh nhân Bảng câu hỏi sẽ được
nghiên cứu viên đọc và bệnh nhân tự lựa chọn
câu trả lời thích hợp; các câu hỏi sẽ liên quan đến
thông tin cơ bản, các yếu tố dịch tễ có liên quan,
và triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân
Dựa vào kết quả soi tươi, những mẫu bệnh
phẩm có sợi tơ nấm, bào tử đốt sẽ được thực
hiện nuôi cấy trên môi trường thạch DTM,
SDA và quan sát vào các thời điểm 3, 7, 14, 21,
28 ngày
Nấm mọc sẽ tiếp tục cấy trên kính bằng môi trường PDA để định danh vi nấm
Các biến số chính
Tuổi: tuổi bệnh nhân cho đến thời điểm nghiên cứu
Giới tính (nam/nữ): giới tính sinh học của bệnh nhân
Nơi cư trú: trong thành phố hoặc ngoài Thành phố Hồ Chí Minh
Các thể nấm da: bao gồm nấm da đầu/tóc, nấm mặt, nấm thân, nấm da trơn khác, nấm bẹn, nấm bàn tay, nấm bàn chân
Đặc điểm lâm sàng: bao gồm ngứa (có/không), mụn nước (có/không), hồng ban (có/không), tróc vảy da (có/không)
Sử dụng thuốc corticosteroides bôi ngoài da trong thời gian gần (có/không)
Mức độ ngứa: thang đo định tính trên thang
từ 0 đến 10
Xử lý số liệu
Bằng phần mềm SPSS 20.0
Biến số định tính được trình bày dưới dạng tần số (phần trăm) Biến định lượng không có phân phối chuẩn được trình bày dưới dạng trung vị (khoảng tứ phân vị)
Phép kiểm chính xác Fisher (khi có bất kì vọng trị nào <5) và phép kiểm Chi bình phương (khi không có bất kì vọng trị nào <5) dùng để kiểm định mối liên quan giữa hai biến số định tính Phép kiểm t độc lập được dùng để kiểm định mối liên quan giữa biến định tính và biến định lượng (biến định lượng có phân phối chuẩn) Chỉ số p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, số 847/HĐĐĐ-ĐHYD ngày 09/11/2020
Trang 4KẾT QUẢ
Bảng 1 Tương quan giữa kĩ thuật soi tươi và kĩ
thuật nuôi cấy
Biến số
Soi tươi
Kappa P Dương tính
n (%)
Âm tính
n (%)
Nuôi
cấy
Dương tính (17) 17 (100) 0 (0)
0,805 <0,001
Âm tính (39) 5 (12,8) 34 (87,2)
Nhiễm nấm da được xác định khi có kết quả
soi tươi trực tiếp bệnh phẩm (vảy da, tóc, móng…)
với KOH dương tính và/hoặc kết quả nuôi cấy tìm
vi nấm dương tính Trong nghiên cứu của chúng
tôi, có tất cả 22/56 bệnh nhân thoả tiêu chuẩn chẩn
đoán nhiễm nấm da, chiếm tỉ lệ 39,29% Kỹ thuật
soi tươi trực tiếp và kĩ thuật nuôi cấy có độ tương
hợp 80,5% (p <0,001) (Bảng 1)
Một số đặc điểm dân số
Biểu hiện bệnh xuất hiện chủ yếu ở lứa tuổi
trưởng thành (từ 17 đến 45 tuổi) Nam gặp nhiều
hơn nữ Về nơi cư trú, nhóm bệnh nhân trong
thành phố chiếm tỉ lệ cao hơn so với nhóm bệnh
nhân ngoài thành phố (Bảng 2)
Sang thương nấm da phân bố chủ yếu ở
vùng thân mình (31,82%), kế đến là các khu vực
khác (cẳng tay/cẳng chân, cổ) chiếm 27,27%; chúng tôi không ghi nhận trường hợp nấm mặt
nào (Hình 1)
Bảng 2 Đặc điểm dân số (n = 56)
Biến số Tần số (%)
Nhóm tuổi
Trưởng thành 39 (69,6) Lớn tuổi 12 (21,4)
Giới tính
Cư trú Trong TP HCM 33 (58,9) Ngoài TP HCM 23 (41,1)
Nghề nghiệp Không đi làm 3 (5,4)
Buôn bán tự do 5 (8,9)
Thu nhập Dưới 3,5 triệu/tháng 16 (28,6)
Từ 3,5 đến 7 triệu/tháng 14 (25) Trên 7 triệu/tháng 26 (46,4)
Hình 1 Phân bố các thể nấm da (n=22)
Triệu chứng ngứa là triệu chứng cơ năng
gặp nhiều nhất trong nhiễm nấm da, với 21/22
bệnh nhân được phỏng vấn Hồng ban và tróc vảy da cũng xuất hiện nhiều, và thấp nhất là
Trang 5mụn nước (Bảng 3)
Bảng 3 Đặc điểm lâm sàng (n = 56)
Biến số Chẩn đoán nấm da – n (%)
Dương tính Âm tính
Ngứa
Có (51) 21 (37,5) 30 (53,6)
Không (5) 1 (1,8) 4 (7,1)
Mụn nước
Có (26) 12 (21,4) 14 (25)
Không (30) 10 (17,9) 20 (35,7)
Hồng ban
Có (49) 20 (35,7) 29 (51,8)
Không (7) 2 (3,6) 5 (8,9)
Tróc vảy da
Có (51) 21 (37,5) 30 (53,6)
Không (5) 1 (1,8) 4 (7,1)
Mối liên quan
Bảng 4 Mối liên quan nhiễm nấm da với các yếu tố
Biến số
Soi tươi
p Dương
tính n (%)
Âm tính
n (%)
Nhóm tuổi
0,686**
Trẻ em (5) 1 (20) 4 (80)
Trưởng thành (39) 17 (43,6) 22 (56,4)
Lớn tuổi (12) 4 (33,3) 8 (66,7)
Giới tính
0,888*
Nam (35) 14 (40) 21 (60)
Nữ (21) 8 (38,1) 13 (61,9)
Người thân nhiễm
0,713**
Không có (47) 19 (40,4) 28 (59,6)
Người thân trực hệ (7) 3 (42,9) 4 (57,1)
Người thân không trực
hệ (2) 0 (0) 2 (100)
Tiếp xúc nước
1**
Có (45) 4 (36,4) 7 (63,6)
Không (11) 18 (10) 27 (60)
Mang bao tay, găng, vớ
0,491**
Có (10) 5 (50) 5 (50)
Không (46) 17 (37) 29 (63)
Mặc đồ kín
1**
Có (2) 1 (50) 1 (50)
Không (54) 21 (38,9) 33 (61,1)
Tiếp xúc vật nuôi
0,221*
Có (20) 10 (50) 10 (50)
Không (36) 12 (33,3) 24 (66,7)
Số lượng yếu tố liên quan
0,328*
Không có (22) 6 (27,3) 16 (72,7)
Một yếu tố (25) 12 (48) 13 (52)
Hai yếu tố (9) 4 (44,4) 5 (55,6)
Tiền sử nhiễm 0,289*
Biến số
Soi tươi
p Dương
tính n (%)
Âm tính
n (%)
Có (20) 6 (30) 14 (70) Không (36) 16 (44,4) 20 (55,6)
Corticosteroid bôi
0,048*
Có (17) 10 (58,8) 7 (41,2) Không (39) 12 (30,8) 27 (69,2)
* Kiểm định Chi bình phương
** Kiểm định chính xác Fisher’s exact test
Nhiễm nấm da có liên quan tới việc sử dụng thuốc corticosteroid bôi (p=0,048) Các yếu tố khác chưa ghi nhận được mối liên quan với
nhiễm nấm da (p >0,05) (Bảng 4)
Mức độ ngứa
Bảng 5 Mối liên quan giữa mức độ ngứa với nhiễm
nấm da và việc sử dụng corticosteroid bôi
Biến số Mức độ ngứa (TB ± ĐLC) p
Nhiễm nấm da Dương tính (22) 5,77 ± 2,41 0,015*
Âm tính (33) 4,15 ± 2,18 Corticosteroid
bôi
Có (17) 5,06 ± 2,28
0,586* Không (38) 4,68 ± 2,46
* Test t hai mẫu độc lập
Mức độ ngứa trung bình của nhóm bệnh nhân được chẩn đoán xác định nhiễm nấm da (5,77 ± 2,41) cao hơn so với nhóm bệnh nhân được xác định âm tính (4,15 ± 2,18) với mức ý nghĩa thống kê (p=0,015) Đồng thời, chúng tôi không ghi nhận sự khác biệt về mức độ ngứa trung bình giữa hai nhóm bệnh nhân có dùng và không dùng thuốc bôi corticosteroid (p >0,05)
(Bảng 5)
BÀN LUẬN
Tỉ lệ nhiễm nấm da chúng tôi ghi nhận được trong nghiên cứu này là 39,29% So sánh với một
số nghiên cứu khác về nấm da, như là: Nguyễn Thái Dũng (2017) ghi nhận tỉ lệ 42,4%(5), Nguyễn Đức Thắng (2017) ghi nhận tỉ lệ nhiễm là 17,9%(6) Kết quả của chúng tôi khá tương đồng với tác giả Nguyễn Thái Dũng, do nơi lấy mẫu là trung tâm bệnh da liễu, với lượng bệnh nhân có biểu hiện da nhiều hơn so với tác giả Nguyễn Đức Thắng Kĩ thuật soi tươi bệnh phẩm với KOH có tỉ lệ dương tính cao hơn so với kĩ thuật
Trang 6nuôi cấy, và điều này cũng được ghi nhận trong
các nghiên cứu khác(5,6) Trong số các loài vi nấm
mà chúng tôi định danh được, Trichophyton
rubrum chiếm tỉ lệ cao nhất 64,71%; kết quả này
tương tự với một số nghiên cứu khác trên bệnh
phẩm da(4-6) Vi nấm Trichophyton mentagrophytes
đứng vị trí thứ hai (29,41%), và Microsporum
canis chỉ chiếm 5,88% (trường hợp bệnh nhân
nấm da đầu) Một số nghiên cứu trên thế giới
cũng ghi nhận tỉ lệ các loài nấm gây bệnh tương
tự(7,8)
Biểu hiện nghi ngờ nấm da xuất hiện trong
độ tuổi 17 đến 45 nhiều nhất, tuy nhiên, chưa
thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các
phân nhóm tuổi nhiễm nấm da; điều này có thể
giải thích nhờ (1): cỡ mẫu trong nghiên cứu của
chúng tôi tương đối ít và (2): một số bệnh lý như
viêm da cơ địa, vảy nến… với biểu hiện sang
thương gần giống nấm da, cũng xuất hiện không
ít trên nhóm bệnh nhân trưởng thành Nam giới
chiếm tỉ lệ cao so với nữ giới, do nam giới
thường có các yếu tố góp phần tăng khả năng
nhiễm nấm như tăng mồ hôi, lao động… và điều
này được ghi nhận trong đa số các nghiên cứu
về nấm da(4-6,9) Loại hình nghề nghiệp của bệnh
nhân phân bố khá rộng rãi, trong đó, nhóm nghề
nghiệp khác chiếm tỉ lệ cao, nhóm nghề nghiệp
này bao gồm nhiều ngành nghề phối hợp nhiều
nhóm phân loại, tuy nhiên, nghiên cứu của
chúng tôi chưa tìm thấy yếu tố đặc hiệu của
phân nhóm này Nhìn chung, mức thu nhập của
bệnh nhân ở mức khá, đa phần trên 7
triệu/tháng (46,4%)
Nhiễm nấm da thường là do sự tiếp xúc của
da với bào tử nấm gây bệnh; các bào tử nấm này
có thể được phát tán từ một thành viên bị nhiễm
bệnh cùng chung sống(Error! Reference source not found.)
Tiếp xúc nước nhiều sẽ tạo điều kiện cho vi nấm
xâm nhập khi lớp sừng bị suy yếu, và việc mang
bao tay/găng/vớ quá nhiều hoặc mạc quần áo ủ
kín sẽ hình thành môi trường ẩm phù hợp cho
sự phát triển của vi nấm Sự tiếp xúc với vật nuôi
sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm các vi nấm ưa thú(1)
vẫn chưa ghi nhận mối liên quan giữa nhiễm nấm da với các yếu tố này, và một trong những
lý do khả thi là hạn chế về cỡ mẫu Xét về số lượng các yếu tố nguy cơ, có thể thấy đa số bệnh nhân có một yếu tố (10,7%), kế đến là các bệnh nhân không tìm thấy yếu tố nguy cơ nào (10,7%); nguyên nhân có thể nằm ở sai sót nhớ lại của bệnh nhân khi được phỏng vấn Sang thương nấm da xuất hiện chủ yếu ở vùng thân mình, do khu vực này khá rộng, và thường được che chắn kỹ lưỡng; các nghiên cứu về nấm da đều ghi nhận tỉ lệ thể nấm thân đứng đầu(4-6) Mức độ ngứa trung bình của nhóm bệnh nhân nhiễm nấm da cao hơn so với nhóm bệnh nhân không nhiễm nấm da Bệnh nhân nấm da
có triệu chứng ngứa là triệu chứng thường gặp,
do phản ứng viêm của cơ thể với vi nấm, thông qua trung gian tế bào Th17, sản sinh ra các cytokine gây nên cảm giác ngứa; các nghiên cứu khác cũng cho thấy, ngứa là triệu chứng có tỉ lệ xuất hiện nhiều nhất(5,9) Đặc điểm ngứa của bệnh nhân qua phỏng vấn là không liên tục, thường chỉ xảy ra khi tiết mồ hôi, hoặc thời tiết nóng Các triệu chứng hồng ban và tróc vảy xuất hiện cũng do phản ứng viêm, và thường ở những trường hợp nhiễm sớm Mụn nước xuất hiện ít hơn, do bệnh nhân có thể sử dụng thuốc bôi corticosteroid trước đó để giảm viêm
Chúng tôi ghi nhận 17,9% bệnh nhân nấm da
có sử dụng các loại thuốc corticosteroid bôi Y văn đã ghi nhận trường hợp nhiễm nấm da do
sử dụng corticosteroid bôi kéo dài(Error! Reference source
cho thấy, thuốc bôi corticosteroid là một yếu tố nguy cơ nhiễm nấm da(10) Trong nghiên cứu này, chúng tôi không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ ngứa giữa hai nhóm bệnh nhân có sử dụng corticoid bôi và không sử dụng corticoid bôi (p >0,05), thậm chí, mức độ ngứa của nhóm bệnh nhân sử dụng corticoid có phần cao hơn so với bệnh nhân không sử dụng corticoid bôi Các thuốc bôi chứa corticoid rất phổ biến tại các tiệm thuốc, và gần như là “thuốc
Trang 7các tác nhân nhiễm khuẩn, bao gồm cả vi nấm,
việc sử dụng corticoid chỉ làm trầm trọng thêm
tình trạng nhiễm khuẩn, do khả năng ức chế
hoạt động miễn dịch của cơ thể
KẾT LUẬN
Nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ nhiễm nấm da là
39,29%, chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong các
bệnh nhân khám da liễu, trong đó, thể nấm thân
thường gặp nhất Ba chủng vi nấm thường gặp
là Trichophyton rubrum, Trichophyton
mentagrophytes, và Microsporum canis Chẩn đoán
bằng kĩ thuật soi tươi trực tiếp với KOH 10%
được ưa chuộng hơn do độ nhạy cao, cũng như
thời gian cho kết quả ngắn Việc sử dụng thuốc
corticosteroid là một yếu tố nguy cơ nhiễm nấm
da được ghi nhận, từ đó cho thấy mối nguy khi
bệnh nhân sử dụng các loại thuốc này tràn lan
mà không có chỉ định của bác sĩ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Kang S, Amagai M, Bruckner Anna L, et al (2019) "Superficial
Fungal Infection” In: Lauren N Craddock và Stefan M
Schieke (eds) Fitzpatrick’s Dermatology, 9th edition, 2:2925-2987
McGraw-Hill Education
2 Nguyễn Hoàng Việt Khanh, Nguyễn Tất Thắng (2010) "Tỉ lê
hiện mắc của bệnh da và các yếu tố liên quan ở công nhân
Công ty gỗ Hố Nai” Y Học Thành phố Hồ Chí Minh, 14(1):406
3 Hoàng Thị Minh Yên, Nguyễn Tất Thắng (2013) "Tỷ lệ bệnh
da và các yếu tố liên quan ở công nhân Công ty Dịch vụ Công
ích Quận 6 và Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh” Y Học Thành
phố Hồ Chí Minh, 17(1):380
4 Nguyễn Hoàng Ân, Bùi Thị Hồng Nhụy, Nguyễn Thị Bình (2019) "Đặc điểm một số loài nấm sợi gây bệnh nấm da ở bệnh nhân đến khám, điều trị tại bệnh viện Phong – Da Liễu Trung
Ương Quy Hòa 2013-2015” Y Học Dự Phòng, 29(6):143
5 Nguyễn Thái Dũng (2017) Nghiên cứu một số đặc điểm và kết quả điều trị nấm da ở bệnh nhân đến khám và điều trị tại
Trung tâm chống Phong - Da liễu Nghệ An 2015 – 2016 Luận
Án Tiến Sĩ Y Học, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng
Trung Ương
6 Nguyễn Đức Thắng (2017) Tỷ lệ nhiễm, thành phần loài nấm
da và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đến khám tại Viện
Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TP Hồ Chí Minh Luận Văn
Thạc Sĩ Y Học, Trường Đại học Tây Nguyên
7 Won-Jeong Kim, Tae-Wook Kim, Je-Ho Mun, Margaret Song, Hoon-Soo Kim, Hyun-Chang Ko et al (2013) "Tinea incognito
in Korea and its risk factors: nine-year multicenter survey”
Journal of Korean Medical Science, 28(1):145-151
8 Sena LB, Oliveira DC, Paula CD, Costa MC, Franceschi LE,
Costa IM (2015) "Trichophyton rubrum dermatophytosis in a
patient under chronic use of systemic corticoids: an exuberant
presentation” An Bras Dermatol, 90(4):598-599
9 Hà Mạnh Tuấn, Vũ Quang Huy, Trần Phủ Mạnh Siêu, Nguyễn Quang Minh Mẫn (2019) "Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, dịch tễ trên bệnh nhân nhiễm nấm da tại Bệnh
viện Da liễu TP HCM” Y Học Thành phố Hồ Chí Minh,
23(3):194 - 199
10 Vũ Hồng Thái, Châu Văn Trở, Huỳnh Trọng Sang, Nguyễn Phan Bảo Ngọc (2011) "Khảo sát tác dụng phụ tại chỗ của corticoids thoa trên bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da
Liễu thành phố Hồ Chí Minh từ 08/2009 đến 08/2010” Y Học
Thành phố Hồ Chí Minh, 15(2):123 - 128
Ngày nhận bài báo: 15/07/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/09/2021 Ngày bài báo được đăng: 15/10/2021