Bài viết Đặc điểm vùng đầu mũi trên bệnh nhân đã mổ khe hở môi một bên trình bày khảo sát kích thước sụn cánh mũi bên dưới và một số đặc điểm hình thái vùng đầu mũi trên bệnh nhân đã mổ khe hở môi một bên.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM VÙNG ĐẦU MŨI TRÊN BỆNH NHÂN ĐÃ MỔ KHE HỞ MÔI MỘT BÊN
Nguyễn Đình Chương 1 , Nguyễn Thị Kiều Thơ 1 , Trần Minh Trường 1,2 , Trần Thiết Sơn 3
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát kích thước sụn cánh mũi bên dưới (SCMBD) và một số đặc điểm hình thái vùng đầu
mũi trên bệnh nhân đã mổ khe hở môi một bên
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 36 bệnh nhân từ 14 tuổi đã mổ khe hở
môi một bên tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định Mức chênh lệch về độ dài - độ nhô điểm đỉnh mũi 2 bên được đánh giá trên hình ảnh ba chiều trước mổ SCMBD 2 bên được đo kích thước trong mổ
Kết quả: Độ tuổi trung bình: 22,9 tuổi, Tỉ lệ KHM bên trái: KHM bên phải: 1/8; tỉ lệ khe hở môi và hàm ếch:
61,1% Chiều dài trụ trong SCMBD bên lành: 15,08mm, bên bệnh: 13,98mm (p=0,001) Chiều dài của trụ ngoài bên lành: 16,47mm, bên bệnh: 17,4 mm (p=0,017) Không có sự khác biệt có ý nghĩa về tổng chiều dài của SCMBD giữa bên lành và bên bệnh (p=0,181) Chênh lệch khoảng cách từ gốc mũi đến điểm đỉnh mũi và khoảng cách từ điểm gốc mũi môi đến điểm đỉnh mũi lần lượt là: 3,04 mm và 4,31 mm
Kết luận: Sự chênh lệch vị trí điểm đỉnh mũi của SCMBD hai bên theo trục trước- sau và trục trên- dưới
dù toàn bộ chiều dài SCMBD không khác biệt, là một trong những biến dạng bất cân xứng đầu mũi Kết quả này
sẽ giúp phẫu thuật viên thiết kế khung nâng đỡ đầu mũi và phối hợp với các phương pháp chuyển vị SCMBD theo kích thước phù hợp để đạt đầu mũi cân xứng hai bên
Từ khoá: biến dạng mũi do khe hở môi một bên, sụn cánh mũi bên dưới, bất cân xứng đầu mũi
ABSTRACT
NASAL ASYMMETRY OF OPERATED PATIENTS WITH UNILATERAL CLEFT LIP
Nguyen Dinh Chuong, Nguyen Thi Kieu Tho, Tran Minh Truong, Tran Thiet Son
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 3 - 2021: 171 - 176
Objectives: To explore lower lateral cartilages and nasal asymmetry differences in operated patients with
unilateral cleft lip with or without palate (UCL)
Methods: A cross-sectional study on 36 individuals at least 14 years old with unilateral cleft lip nasal
deformity at Gia Dinh’s People Hospital Three dimensional facial scans were recorded for each participant to identify nasal asymmetry differences The dimension of the lower lateral cartilages on both sides were measured intraoperatively
Results: The mean age was 22.9 The ratio of left: right manifestions for UCL was 8:1 The common type of
cleft was unilateral cleft lip and palate (61.1%) The length of the medial crura on the non-cleft and cleft sides were 15.08 mm, 13.98 mm, respectively (p=0.001), The length of the lateral crura on the non-cleft and cleft sides were 16.47mm, 14.4 mm, respectively (p=0.017) There were no significant differences between the cleft and non-cleft sides in total length of the lower lateral cartilage The difference in the the length and the height of the tip defining points on both sides was 3.04 mm, 4.31 mm, respectively
Conclusions: The displacement of the involved nasal cartilages in the dorsoventral plane and the craniocaudal
plan, rather than cartilage hypoplasia, is the major factor in nasal deformity The results help surgeons design the nasal support frame and coordinate with the LLC repositioning manipulatation to archive nasal symetry
Tác giả liên lạc: ThS.BS Nguyễn Đình Chương ĐT: 0903638316 Email: chuongdinhnguyen@gmail.com
Trang 2Keywords: unilateral cleft lip nasal deformity, lower lateral cartilage, nasal tip asymetry
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khe hở môi- hàm ếch (KHM-HE) là một
trong những khiếm khuyết thường gặp nhất
trong các dị tật bẩm sinh ở vùng vùng mặt Khe
hở môi đặc trưng bởi khe hở ở 1 hoặc 2 bên môi
dẫn đến sự mất liên tục của môi trên Sau khi
chỉnh sửa KHM hoàn chỉnh, bệnh nhân sẽ còn
tồn tại biến dạng mũi Biến dạng điển hình của
dị tật mũi môi là sự bất xứng về cấu trúc ba
chiều của đỉnh mũi và cánh mũi Biến dạng mũi
một bên thường nổi bật và rất khó điều chỉnh(1)
Với mong muốn xác định đặc điểm hình thái
mũi bằng cách khảo sát sự bất đối xứng của đầu
mũi bệnh nhân sau chỉnh hình khe hở môi một
bên, làm cơ sở cho việc lựa chọn phương pháp
tạo hình mũi thích hợp nhằm mang lại hiệu quả
về mặt thẩm mỹ và chức năng, chúng tôi thực
hiện đề tài nghiên cứu này
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân (BN) từ 14 tuổi trở lên, đã chỉnh
hình khe hở môi một bên hoàn chỉnh, đồng ý
thực hiện phẫu thuật chỉnh hình mũi tại bệnh
viện Nhân dân Gia Định và đồng ý tham gia
nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có chấn thương gây biến dạng
mũi mặt; đã từng phẫu thuật chỉnh hình mũi
trước đó; có dấu hiệu nhiễm trùng viêm tấy
vùng mũi; có bệnh lý rối loạn đông máu hoặc
bệnh mãn tính chưa được kiểm soát ổn định
chống chỉ định thực hiện phẫu thuật chỉnh hình
mũi; không đồng ý tham gia nghiên cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 10/2018 đến tháng 3/2021, tại Bệnh
viện Nhân dân Gia Định
Phương pháp ngiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt ca
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện,
tất cả các trường hợp đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu đều được đưa vào nghiên cứu
Các biến số nghiên cứu
Biến định tính
Tuổi, phân loại KHM-HE, vị trí KHM
Biến định lượng
Chiều dài điểm định hình đầu mũi bên lành
và bên bệnh; độ nhô điểm định hình đầu mũi bên lành và bên bệnh
Chiều dài và chiều rộng của trụ ngoài , trụ trong sụn cánh mũi bên dưới
Tiến hành nghiên cứu
Sụn cánh mũi bên dưới (SCMBD) được chia
thành 3 phần: trụ trong, vùng gian trụ và trụ ngoài Trụ trong cong ra ngoài ở vùng gian trụ tạo góc giữa 2 vòm mũi Tại vị trí này, đĩnh nhô nhọn lên đó là điễm đĩnh mûi Trong nghiên cứu này, để xác định đặc điểm biến dạng hình thái của SCMBD, chúng tôi đã thực hiện:
Bước 1: Đo kích thước hình thái mũi trước phẫu thuật (Hình 1)
Bệnh nhân được quét hình ảnh khuôn mặt
ba chiều bằng hệ thống Planmeca 3D Promax ProFace Nhận diện điểm định hình đầu mũi bên lành và bệnh bằng phần mềm dựng hình ba chiều Romexis
Đo chiều dài điểm định hình đầu mũi bên lành và bên bệnh, độ nhô điểm định hình đầu mũi bên lành và bên bệnh Tính khoảng chênh của điểm định hình đầu mũi theo trục dài (khoảng cách từ gốc mũi đến điểm định hình đầu mũi) và độ nhô (khoảng cách từ chân tiểu trụ- góc mũi môi đến điểm định hình đầu mũi) trên phần mềm dựng hình ba chiều Romexis
Bước 2: Đánh giá hình thái SBMBD trong phẫu thuật
Mô tả trụ ngoài, trụ trong, sụn cánh mũi bên dưới; đo đạc chiều dài, chiều rộng cũa trụ trong, trụ ngoài:
Rạch da theo đường vẽ chữ V ngư ợc ỡ tiễu trụ ngay vị trí hẹp nhất của tiểu trụ và dọc theo đường bờ viền mép trên cũa hai lô̂ mûi, bóc tách
Trang 3dần đến bờ trước của trụ trong và trụ ngoài của
sụn cánh mũi bên dưới đễ bộc lộ hoàn toàn sụn
cánh mũi bên dưới hai bên
Tiến hành đo chiều dài và chiều rộng của trụ
trong và trụ ngoài SCMBD: Chiều rộng được đo
tại vùng rộng nhất của mỗi trụ và vuông góc với
trục dọc của mỗi trụ - Chiều dài được tính từ điểm đỉnh mũi đến đầu tận của mỗi trụ Sử dụng thước trượt (Mitutoyo, Japan) để đo Mỗi kích thước được đo ba lần bởi cùng một phẫu thuật viên
Điểm N: Điểm chính giữa thấp nhất phía trước gốc mũi Điểm Prn: Điểm nằm giữa và cao nhất vùng đầu mũi
Điểm Sn: Điểm trên đường giữa chân tiểu trụ, nơi gặp nhau của mũi và môi trên
Chiều dài mũi từ gốc đến mũi: Khoảng cách giữa N và Prn Độ nhô mũi: Khoảng cách Sn và Prn
Chiều dài điểm đỉnh mũi: Khoảng cách từ N đến Td Độ nhô điểm đỉnh mũi: Khoảng cách từ Sn đến Td
Hình 1: Đo kích thước hình thái mũi trước phẫu thuật Phương pháp xử lý số liệu
Thông tin thu thập được mã hoá và xử lý
trên phần mềm SPSS 20.0
Các biến liên tục được xử lý Tính tỹ lệ phần
trăm; chỉ số trung bình; kiễm định sự khác biệt
giư̂a hai giá trị Sữ dụng T-test độc lập và T-test
bắt cặp, so sánh giá trị trung bình cũa 2 nhóm
Sự khác biệt có ý nghîa thống kê với p <0,05
Y đức
Nghiên cứu đã được sự chấp thuận của Hội
đồng đạo đức bệnh viện Nhân Dân Gia Định, số:
92-2018/CN-HĐĐĐ ngày 19/10/2018
KẾT QUẢ
Trong thời gian từ tháng 10/2018- 03/2021
chúng tôi đã thu thập được 36 trường hợp (TH)
đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu
Đặc tính mẫu
Tuổi: Độ tuổi trung bình là 22,9 tuổi (nhỏ
nhất:14 tuổi; lớn nhất: 41 tuổi)
Giới: 44,4% nam, 55,6% nữ
Tỉ lệ bên khe hở môi: bên trái: bên phải=8:1 Khe hở môi kèm hở hàm ếch 61,1%; khe hở môi kèm khe hở xương ổ răng: 27,8%%, khe hở môi đơn thuần: 11,1%
Tương quan kích thước SCMBD
Bảng 1: Kích thước SCMBD bên lành (đơn vị: mm)
Kích thước Trung bình Độ lệch chuẩn
Tổng chiều dài sụn cánh mũi 31,55 3,09
Bảng 2: Kích thước SCMBD bên bệnh (đơn vị: mm)
Kích thước Trung bình Độ lệch chuẩn
Tổng chiều dài sụn cánh mũi 31,31 2,99
Trang 4Bảng 3: Tương quan kích thước SCMBD giữa bên
lành và bên bệnh (đơn vị: mm)
Kích thước Trung
bình
Độ lệch chuẩn P
Chiều dài trụ trong 1,09 1,89 0,001
Chiều dài trụ ngoài -0,86 2,05 0,017
Chiều rộng trụ trong -0,09 0,63 0,361
Chiều rộng trụ ngoài -0,58 1,72 0,050
Tổng chiều dài sụn cánh mũi 0,23 1,03 0,181
Chiều dài trụ trong của SCMBD bên KHM
ngắn hơn bên lành, có ý nghĩa thống kê (p <0,05)
Chiều dài trụ ngoài của SCMBD bên KHM
dài hơn bên lành, có ý nghĩa thống kê (p <0,05)
Chiều rộng trụ trong của SCMBD bên KHM
lớn hơn so với bên lành, không có ý nghĩa thống
kê (p=0,361)
Chiều rộng trụ ngoài của SCMBD bên KHM
lớn hơn so với bên lành, không có ý nghĩa thống
kê (p=0,05)
Tổng chiều dài SCMBD bên lành dài hơn so
với bên KHM Sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (p=0,181)
Khoảng chênh điểm định hình mũi 2 bên
Bảng 4: Khoảng chênh điểm định hình mũi 2 bên
(đơn vị: mm)
Khoảng Ít nhất Nhiều nhất Trung
bình
Độ lệch chuẩn
Chênh độ nhô điểm định
hình mũi 2 bên 1,50 5,00 4,31 1,59
Chênh theo trục dài điểm
định hình mũi 2 bên 1,00 6,00 3,04 1,64
Khoảng chênh độ nhô điểm định hình mũi 2
bên được khảo sát bằng phương pháp dựng
hình 3D là 4,31 mm
Khoảng chênh theo trục dài điểm định hình
mũi 2 bên được khảo sát bằng phương pháp
dựng hình 3D là 3,04 mm
BÀN LUẬN
Đặc tính mẫu
Độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong
nghiên cứu của chúng tôi là 22,9 tuổi (nhỏ nhất
là 14 tuổi và lớn nhất là 41 tuổi), không có sự
khác biệt về sự phân bố giới tính, đa số bệnh
nhân có khe hở môi ở bên trái (88,9%), tỷ lệ
bệnh nhân có khe hở môi kèm với hở hàm ếch
(61,1%) cao hơn so với bệnh nhân có khe hở môi đơn thuần (11,1%) Kết quả của chúng tôi
có nhiều điểm tương đồng với ghi nhận của các tác giả khác trong và ngoài nước(2,3,4) Đa số các chuyên gia đều cho rằng tật hở hàm ếch đi kèm làm cho sự biến dạng của cấu trúc mũi trước và sau phẫu thuật chỉnh hình khe hở môi trở nên phức tạp hơn(5)
Tương quan kích thước sụn cánh mũi bên dưới
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, chiều dài trụ trong SCMBD bên KHM thấp hơn bên lành và trụ ngoài của SCMBD bên KHM dài hơn bên lành (khác biệt có ý nghĩa thống kê) Tuy nhiên, không có sự chênh lệch đáng kể về tổng chiều dài của sụn cánh mũi giữa bên lành
và bên bệnh (p=0,181) Ngoài ra, không có sự khác biệt về chiều rộng SCMBD hai bên
Các nghiên cứu thực hiện trên bệnh nhân bị
dị tật khe hở môi ngay sau khi sanh cũng ghi nhận không có sự khác biệt về kích thước sụn cánh mũi hai bên cũng như không có bằng chứng của thiểu sản sụn cánh mũi bên KHM(5,6,7,8) Kết quả hơi khác với những nghiên cứu thực hiện trên thai
Tác giả Avery nghiên cứu trên 5 bào thai bị KHM vòm miệng một bên và ghi nhận: (1) sự khác nhau bao mũi (nasal capsule) của bên KHM so với bên lành, (2) rối loạn trung mô của nụ mũi (nasal processes) và gây rối loạn sự tạo thành phần sợi cơ của môi cũng như tế bào sinh sụn Ông thấy có sự phát triển chậm của sụn bên phía KHM và thiếu sụn ở phần trước cánh ngoài của SCMBD Patten dựa vào nghiên cứu của Avery và cho rằng thiểu sản trung mô làm giảm khả năng tạo sụn Riêng Byrd ghi nhận có sự thiểu sản sụn cánh mũi và
di lệch vị trí sụn cánh mũi bên dưới khi mổ mở những trẻ chết non bị KHM Tuy nhiên khi Li
AQ nghiên cứu mũi trên 6 trẻ sơ sinh bị dị tật KHM trên, và mô tả kích thước và trọng lượng của SCMBD, ông nhận thấy vị trí của sụn cũng như khoảng cách giữa các sụn bình thường và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trọng lượng và kích thước giữa hai bên(9) Ông
Trang 5kết luận rằng sụn cánh mũi hai bên bị di lệch
chứ không phải bị thiểu sản sụn
Boo-Chai và Tange nghiên cứu sụn cánh mũi
trên 5 bệnh nhân bị dị tật KHM và ghi nhận rằng
sụn cánh mũi có kích thước và hình dạng bình
thường, chỉ bị di lệch dù tác giả không mô tả chi
tiết phương pháp đo Park BY sử dụng thước
kẹp (sliding caliper) và đo trực tiếp trên trụ
ngoài SCMBD và ghi nhận có chiều dày và chiều
rộng phần giữa của trụ ngoài rộng và dày hơn so
với bên lành (có ý nghĩa thống kê), nhưng không
mô tả chiều dài của hai bên(10)
Kim YS đã nghiên cứu trên 35 bệnh nhân
biến dạng mũi và ghi nhận chiều rộng của sụn
cánh mũi ở bên KHM lớn hơn bên lành, nhưng
chiều dày và chiều dài của sụn cánh mũi không
khác nhau có ý nghĩa thống kê, nên ông cho rằng
trụ ngoài của sụn cánh mũi bên KHM không bị
thiểu sản Ngoài ra ông cũng ghi nhận vùng gian
trụ (nằm giữa trụ trong và trụ ngoài SCMBD) là
cấu trúc định vị quan trọng để đo kích thước trụ
trong Theo kết quả đo kích thước trụ trong, ông
nhận thấy chiều dày đoạn gần trụ trong tăng sản
nhẹ ở bên KHM Ngược lại với các nghiên cứu
cho rằng có sự thiểu sản sụn cánh mũi, ông cho
rằng sự tăng sản là do phản ứng bù trù do lực
căng liên tục của lớp lót tiền đình mũi bên KHM
vào vùng gian trụ của đỉnh mũi Tuy nhiên
chiều dày đoạn giữa, đoạn xa của trụ trong và
chiều dài của trụ trong không khác nhau giữa
hai bên Do vậy, ông kết luận rằng trụ trong của
bên KHM không bị thiểu sản so với bên lành(6)
Các tác giả khác khi thực hiện đo kích thước,
trọng lượng, đếm tổng số lượng nguyên bào
sụn, tế bào sụn, collagen cũng ghi nhận không có
sự khác biệt ở sụn SCMBD hai bên(7,10)
Một số tác giả lại cho rằng trụ trong SCMBD
bên KHM dài hơn và trụ ngoài thì ngắn hơn Do
đó Saleh MA(7) cho rằng vị trí định vị của vòm
khác nhau vì trong dị tật KHM 1 bên thì góc
giữa trụ trong và trụ ngoài bị tù nên khó đánh
dấu và khó phân biệt được điểm định vị đó để
đo chính xác được trụ ngoài và trụ trong
Khoảng chênh điểm định hình mũi 2 bên
Về cấu trúc 3 chiều của SCMBD, khi khảo sát bằng phần mềm dựng hình chuyên dụng trước phẫu thuật và đo đạc trực tiếp trong lúc mổ, chúng tôi đã ghi nhận có sự chênh lệch về độ nhô và độ dài điểm định hình mũi 2 bên Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự ghi nhận của một số nghiên cứu khác(11,12)
Đa số các nghiên cứu cũng ghi nhận không
có sự khác biệt về kích thước sụn cánh mũi hai bên mà chỉ có sự biến dạng về hình thái trên cấu trúc ba chiều của SCMBD, từ đó gây ra biến dạng đầu mũi hai bên(5) Những nghiên cứu trên phôi thai, trẻ chết non bị dị tật khe hở môi cho thấy sự di lệch vị trí sụn có liên quan đến bao sụn và khi bóc tách sụn ra khỏi mô mềm thì thấy cánh mũi hai bên tương đồng (Antherton, McCom)
Các biến dạng giải phẫu mũi liên quan dị tật KHM một bên thường liên quan đến cơ vòng miệng hai bên không hợp nhất, bất thường khung nâng đỡ và mô mềm bên dưới (bao gồm
lỗ mũi và gai mũi trước, vẹo và khuyết xương hàm trên) Biến dạng mũi thứ phát sau mổ KHM một bên là tổng hợp các biến dạng ở tháp mũi, sụn cánh mũi, vách ngăn mũi, tiểu trụ, đỉnh mũi(5,8)
Stenstrom và Oberg nghiên cứu mũi trên những thi hài và cho rằng biến dạng mũi trong
dị tật KHM là do lực căng của hai bên cơ vòng miệng lên tiểu trụ và chân cánh mũi không đều, tương tự Huffman và Lierle
Sự di lệch các sụn cánh mũi trong mặt phẳng trán làm tiểu trụ ngắn lại và đầu mũi dẹt bên KHM
Sự di lệch của SCMBD làm cho đầu mũi bên KHM dài hơn so với bên lành Bình thường thì phần đầu SCMBD nằm chồng lên bờ dưới của SCMBT Trong dị tật KHM một bên thì hai sụn này tách rời ra Do vậy, khoảng cách giữa gốc mũi và bờ cánh mũi bên KHM dài hơn so với bên lành(13)
Chiều cao tiểu trụ lại phụ thuộc vào chiều dài và vị trí của trụ trong Chiều dài trụ trong hai
Trang 6bên tương đối như nhau nên khi trụ trong bên
KHM nằm thấp hơn sẽ làm tiểu trụ bên KHM
ngắn hơn Đỉnh mũi còn bị lệch ra ngoài càng
tạo nên tiểu trụ ngắn Điểm đỉnh mũi chủ yếu là
do vòm của SCMBD tạo nên, do đó khi vị trí của
vòm nằm thấp hơn sẽ làm cho đỉnh mũi bị thiếu
độ nhô(9)
Kim YS(6) cũng ghi nhận không có sự khác
biệt về hình thái trụ trong SCMBD giữa bệnh
nhân KHM 1 bên đơn giản hay KHM 1 bên toàn
bộ và nếu được chỉnh hình KHM vào đúng thời
điểm thích hợp sẽ không khác nhau về hình thái
sụn cánh mũi Ngoài ra ông cũng ghi nhận tất cả
17 bệnh nhân có sự di lệch trụ trong SCMBD
xuống dưới bên KHM hơn so với bên lành cho
dù KHM 1 bên là dạng đơn giản, một phần hay
toàn bộ Do đó, trong hơn 10 năm ông đã chỉnh
hình dị tật mũi môi này bằng cách trượt trụ
trong kèm với lớp lót tiền tình mũi lên đỉnh mũi
để tạo sự cân xứng hai bên đỉnh mũi và tăng độ
nhô đỉnh mũi
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy tổng
chiều dài SCMBD 2 bên không khác biệt có ý
nghĩa thống kê, chiều dài trụ trong SCMBD bên
KHM thấp hơn bên lành và trụ ngoài của
SCMBD bên KHM dài hơn bên lành (khác biệt
có ý nghĩa thống kê) Sự chênh lệch vị trí điểm
đỉnh mũi của SCMBD hai bên theo trục trước-
sau và trục trên - dưới dù tổng kích thước
SCMBD không thay đổi, là một trong những
biến dạng bất cân xứng đầu mũi
Nghiên cứu của chúng tôi không chỉ bổ sung
số liệu nhân trắc Giải phẫu học mà còn cung cấp
những thông tin quan trọng giúp các phẫu thuật
viên lựa chọn phương pháp tạo hình mũi phù
hợp với đặc điểm của bệnh nhân có KHM Việt
Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Sykes J, Senders C (1995) Surgical treatment of the unilateral
cleft nasal deformity at the time of lip repair Facial Plast Surg
Clin North Am, 3:69-77
2 Rokni AM, Kearney AM, Brandt KE, et al (2020) Clinical Practice Patterns and Evidence-Based Medicine in Secondary Cleft Rhinoplasty: A 14-Year Review of Maintenance of Certification Tracer Data From the American Board of Plastic
Surgery Cleft Palate-Craniofacial Journal, 1055665620977367
3 Lê Hoàng Vĩnh, Đỗ Quang Hùng, Trần Thị Bích Liên (2014) Đánh giá kết quả điều trị của phương pháp tạo hình mũi bằng sụn tự thân trên bệnh nhân đã phẫu thuật khe hở môi một bên
tại bệnh viện Chợ Rẫy Luận Văn Thạc Sĩ Y Học, Đại học Y Dược
TP Hồ Chí Minh
4 Trương Mạnh Dũng, Nguyễn Thanh Hoà (2007) Thực trạng trẻ
sơ sinh mắc dị tật khe hở môi – vòm miệng tại Cần Thơ 2001 –
2005 Y Học Thực Hành, 11:68-70
5 Fisher MD, Fisher DM, Marcus JR (2014) Correction of the cleft
nasal deformity: from infancy to maturity Clinics in Plastic
Surgery, 41:283-299
6 Kim YS, Cho HW, Park BYY, et al (2008) A comparative study
of the medial crura of alar cartilages in unilateral secondary cleft
nasal deformity: The validity of medial crus elevation Annals of
Plastic Surgery, 61:404-409
7 Saleh MA, Elshahat A, Emara M, et al (2011) Objective tools to analyze the lower lateral cartilage in unilateral cleft lip nasal
deformities Journal of Craniofacial Surgery, 22:1435-1439
8 Allori AC, Mulliken JB (2017) Evidence-based medicine:
secondary correction of cleft lip nasal deformity Plastic and
Reconstructive Surgery, 140:166e-176e
9 Li AQ, Sun YG, Wang GH, et al (2002) Anatomy of the nasal
cartilages of the unilateral complete cleft lip nose Plastic and
Reconstructive Surgery, 109:1835-1838
10 Park BY, Lew DH, Lee YH (1998) A comparative study of the lateral crus of alar cartilages in unilateral cleft lip nasal
deformity Plastic and Reconstructive Surgery, 101:915-920
11 Bugaighis I, Mattick CR, Tiddeman B, et al (2014) 3D
asymmetry of operated children with oral clefts Orthodontics &
Craniofacial Research, 17:27-37
12 Wong KWF, Keeling A, Achal K, et al (2019) Using three-dimensional average facial meshes to determine nasolabial soft
tissue deformity in adult UCLP patients Surgeon, 17:19-27
13 Agarwal R, Chandra R (2012) Alar web in cleft lip nose
deformity: Study in adult unilateral clefts Journal of Craniofacial
Surgery, 23:1349-1354
Ngày nhận bài báo: 04/04/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2021 Ngày bài báo được đăng: 25/05/2021