1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Nêu tính thống nhất giữa hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật:nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển?Nêu ví dụ minh họa?”

15 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nêu tính thống nhất giữa hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển? Nêu ví dụ minh họa
Trường học Trường Đại học Phenikaa
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 107,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN ⸎⸎⸎⸎⸎ BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN Đề bài “Nêu tính thống nhất giữa hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển?Nêu ví dụ minh họa?” Mã đề 13 Sinh viên LỘC THU HIỀN Lớp K14 DƯỢC1 Mã SV 20010463 HÀ NỘI, THÁNG 82021 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG PHẦN 1 NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1 Phép biện chứng duy vật 4 1 1 Khái niệm phép biện chứ.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

⸎⸎⸎⸎⸎

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

Đề bài: “Nêu tính thống nhất giữa hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật:nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển?Nêu ví dụ minh họa?”

Mã đề: 13

Sinh viên : LỘC THU HIỀN

Lớp :K14-DƯỢC1

Mã SV :20010463

HÀ NỘI, THÁNG 8/2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.………3

NỘI DUNG PHẦN 1:NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT: 1.Phép biện chứng duy vật ……….4

1.1.Khái niệm phép biện chứng duy vật……… 4

1.2.Đặc trưng và vai trò của phép biện chứng duy vật……….5

2.Nguyên lý về mỗi liên hệ phổ biến………6

2.1.Khái niệm mối liên hệ……….6

2.2.Tính chất của mối liên hệ……… 7

2.3.Ý nghĩa phương pháp luận……… 8

PHẦN 2:NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1.Khái niệm phát triển………9

2.Tính chất của sự phát triển……… 9

3.Ý nghĩa phương pháp luận………10

PHẦN3: VÍ DỤ MINH HỌA 11

KẾT LUẬN 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

A.MỞ ĐẦU

Phép biện chứng là một khoa học triết học,là một trong những phương pháp chung nhất giúp con người nhận thức về sự vật,hiện tượng hay nhận thức về thế giới xét trên nhiều phương diện thì phép biện chứng là một hiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học lịch sử phép biện chứng đã được hình thành và phát triển lâu đời có thể nói từ thời cổ đại khi mà triết học ra đời, đỉnh cao của nó là phép biện chứng duy vật hay biện chứng Macxit

Phép biện chứng duy vật Mácxit là sự kế thừa những giá trị thức tinh hoa của nhân loại từ xưa cho đến thời điểm nó ra đời, dựa trên truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ phép biện chứng Macxit đã vạch ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan,nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của hệ nhiên, của xã hội loài người và của tư duy công lao to lớn và vĩ đại của Mac và Ph.Ăngghen là đã xây dựng cho loài người một phương pháp nhận thức thế giới khoa học,nó là chìa khóa

để giúp con người nhận thức và chinh phục thế giới.Nắm vững và vận dụng đúng đắn những nguyên lý,những quy luật cũng như phương pháp luận của phép biện chứng duy vật là nhân tố cơ bản để hình thành một thế giới quan khoa học

Việc học tập nghiên cứu sự hình thành và phát triển của phép biện chứng trong lịch sử là một nhu cầu hết sức cần thiết Nó không những cho phép ta nắm vững nội dung những nguyên lý,những quy luật,những cặp phạm trù phản ánh quá trình con người nhận thức về thế giới, phản ánh nguồn gốc của

sự vận động cách thức cũng như khuynh hướng của sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan của phép biện chứng duy vật mà còn giúp ta thấu suốt những nguyên tắc, phương pháp luận từ các nguyên lý, các học thuyết đó Đồng thời qua đó cũng giúp chúng ta nắm được bức tranh hoàn cảnh, hiểu được nguồn gốc ra đời, sự hình thành và phát triển của quá trình đấu tranh gay gắt với những tư tưởng của phép siêu hình cũng như phép biện chứng duy tâm để khẳng định vị trí to lớn của nó trong nhận thức và cải tạo thế giới của con người

Hiện nay nước ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước việc nghiên cứu phép biện chứng một

Trang 4

cách tường tận, có hệ thống nhất là nắm vững bản chất của phép biện chứng duy vật Macxit càng là một nhu cầu bức thiết để đổi mới tư duy Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng là biện chứng chủ quan phản ánh biện chứng khách quan của thực tiễn cách mạng Việt Nam Nó đang là định hướng tư tưởng và là công cụ tư duy nhạy bén để đưa cách mạng nước ta tiến lên giành thắng lợi trên con đường công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước theo định hướng

CNXH

Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và

nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất Vì thế Ph.Ăngghen

đã định nghĩa: “ Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những

quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên,của xã hội loài người và của tư duy”.

Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật là hai nguyên lý cơ bản và đóng vai trò xương sống trong phép duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin khi xem xét, kiến giải sự vật,hiện tượng Chính điều này đã thôi thúc

tôi đến với đề tài: “Tìm hiểu về tính thống nhất giữa hai nguyên lý cơ bản của của phép biện chứng duy vật:nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển”.

B.NỘI DUNG PHẦN I: NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT.

1.Phép biện chứng duy vật

Triết học được coi là khoa học của mọi khoa học Trong triết học, tư tưởng quan điểm của triết học Mác-Lênin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong khoa học và đời sống hiện nay Những tri thức của triết học đang là công cụ tư duy sắc bén và hiệu quả để con người nhận thức và cải tạo thế giới Một trong những nội dung triết học đó chính là phép biện chứng duy vật

1.1.Khái niệm phép biện chứng duy vật

Trang 5

Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen đã cho

rằng: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật

phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên,của xã hội loài người

và của tư duy” Chúng được chia thành 2 loại: Biện chứng khách quan và Biện chứng chủ quan

-Biện chứng khách quan là đặc tính vốn có của thế giới (gồm tự nhiên

và xã hội) Chúng vận động theo những quy luật khách quan mà không phụ thuộc vào ý thức

-Biện chứng chủ quan là đặc tính của tư duy con người Các khái niệm, phán đoán, tư tưởng trong đầu óc của con người, có liên hệ với nhau theo những quy luật nhất định

Biện chứng chủ quan là phản ánh của biện chứng khách quan Tuy nhiên, không phải bất cứ tư duy của các cá nhân nào cũng phản ánh đúng biện chứng khách quan Đôi khi còn xuyên tạc, sai lệch biện chứng khách quan Vì thế biện chứng duy vật là lý luận, là khoa học để nghiên cứu cả biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan nhằm đảm bảo tư duy của con người phản ánh đúng biện chứng khách quan

1.2.Đặc trưng và vai trò của phép biện chứng duy vật

* Đặc điểm của phép biện chứng duy vật bao gồm:

-Thứ nhất, phép biện chứng duy vật được xác lập trên cơ sở thế giới quan duy vật và sự khái quát các thành tựu khoa học

-Thứ hai, có sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật biện chứng và

phương pháp luận biện chứng duy vật, do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới

* Với những đặc trưng cơ bản trên, phép biện chứng giữ vai trò là một nội dung đặc biện quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của các hoạt động sáng tạo trong các hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn

2.Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

2.1.Khái niệm mối liên hệ

Trang 6

-Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ: sự quy

định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới

Ví dụ, giữa cung và cầu(hàng hóa,dịch vụ) trên thị trường luôn luôn diễn

ra quá trình:cung và cầu quy định lẫn nhau;cung và cầu tác động, ảnh hưởng lẫn nhau,chuyển hóa lẫn nhau,từ đó tạo nên quá trình vận động,phát triển không ngừng của cả cung và cầu.Đó chính là những nội dung cơ bản khi phân tích về mối quan hệ biện chứng giữa cung và cầu

-Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: Nguyên lý này khái quát những tính chất chung của các mối liên hệ; nghiên cứu khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất của các sự vật,hiện tượng trong tự nhiên,xã hội và tư duy; đó là các mối liên hệ:cái chung và cái riêng, tất nhiên và ngẫu nhiên, bản chất và hiện tượng,nguyên nhân và kết quả, nội dung và hình thức, khả năng và hiện thực -Khái niệm về mối liên hệ phổ biến được sử dụng với hai hàm nghĩa: +Dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ(ví dụ như khẳng định mối liên hệ là cái vốn có của tất thảy mội sự vật hiện tượng trong thế giới, không loại trừ một sự vật hiện tượng nào,lĩnh vực nào)

+Đồng thời,khái niệm này cũng dùng để chỉ những mối liên hệ tồn tại(được thể hiện) ở nhiều sự vật,hiện tượng của thế giới(tức là dùng để phân biệt với khái niệm các mối liên hệ đặc thù chỉ biểu hiện ở một hay một số sự vật các sự vật,hiện tượng,hay lĩnh vực nhất định)

Ví dụ,mối liên hệ giữa cung và cầu là mối liên hệ phổ biến, tức cũng là mối liên hệ chung, nhưng mối liên hệ đó được thể hiện cụ thể khác nhau,có tính chất đặc thù tùy theo từng loại thị trường hàng hóa, tùy theo từng thời điểm thực hiện,…Khi nghiên cứu cụ thể từng loại thị trường hàng hóa, không thể nghiên cứu những tính chất riêng có(đặc thù) đó.Nhưng dù khác nhau bao nhiêu thì chúng vẫn tuân theo những nguyên tắc chung của mối liên hệ cung cầu

2.2.Tính chất của mối liên hệ

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ có ba tính

chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.

a)Thứ nhất, tính khách quan của các mối liên hệ.

Trang 7

-Theo quan điểm biện chứng của duy vật,các mối liên hệ của các sự vật,hiện tượng của thế giới là có tính khách quan.Theo quan điểm đó,sự quy định lẫn nhau,tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự

vật,hiện tượng(hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó,tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn mình

- Ví dụ, mối liên hệ rằng buộc và tương tác (theo lực hút-đẩy) giữa các vật thể; mối liên hệ trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường (đồng hóa-dị hóa); mối liên hệ rằng buộc và ảnh hưởng lẫn nhau giữa cung và cầu hàng hóa trên thị trường; mối liên hệ tất yếu giữa các khái niệm trong quá trình tư duy của con người,…đều là những mối liên hệ khách quan, tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người

b)Thứ hai, tính phổ biến của các mối liên hệ.

-Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật,hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật hiện tượng hay qúa trình khác.Đồng thời cũng không có bất cứ sự vật hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên

hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống ,hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau

-Ví dụ mỗi cơ thể sống là một hệ thống cấu trúc tạo nên khả năng yuwj trao đổi chất với môi trường, nhờ đó mà nó tồn tại, phát triển; đồng thời bản thân môi trường sống cũng là một hệ thống được tạo thành từ nhiều yếu tố lớp,phân hệ trực tiếp và gián tiếp,…

c) Thứ ba, tính đa dạng,phong phú của mối liên hệ

- Tính đa dạng phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: mỗi

sự vật,hiện tượng đều có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, cơ bản và không cơ bản,…) chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại,phát triển của sự vật đó; đồng thời mỗi mối liên hệ đó lại có những biểu hiện phong phú khác nhau trong những điều kiện

cụ thể khác nhau,…

2.3.Ý nghĩa phương pháp luận

-Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại,chuyển hóa,quy định lẫn nhau

giữa các sự vật,hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang

Trang 8

tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người

phải tôn trọng quan điểm toàn diện,phải tránh cách xem xét phiến diện.

+Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp.Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật

+Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên, và lưu ý đến sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân

+ Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện,khi tác động vào

sự vật,chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó

mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật

khác.Đồng thời,chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp,các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.Để thực hiện mục tiêu “dân giàu,nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ,văn minh”, một

mặt,chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác,phải biết tranh thủ thời cơ,vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hóa kinh tế đưa lại

-Vì các mối liên hệ có tính đa dạng,phong phú -sự vật,hiện tượng khác nhau,không gian,thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên

hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan

điểm lịch sử-cụ thể

+ Quan điểm-lịch sử cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật

và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện,hoàn cảnh lịch sử-cụ thể,môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra,tồn tại,phát triển.Thực tế cho thấy

rằng,một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này,nhưng

sẽ không là luận điểm khoa học trong điều kiện khác.Vì vậy để xác định đúng đường lối,chủ trương của từng giai đoạn cách mạng,của từng thời kì xây dựng đất nước,bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn và từng thời kỳ

Trang 9

đó và trong khi thực hiện đường lối,chủ trương,Đảng ta cũng bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến hoàn cảnh cụ thể

PHẦNII: NGUYÊN LÍ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÉP BIỆN

CHỨNG DUY VẬT

1.Khái niệm phát triển

-Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật,hiện tượng tồn tại trong hiện thực,quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật

-Ví dụ, quá trình biến đổi của các giống loài từ bậc thấp lên bậc cao;quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thức tổ chức xã hội loài người: từ hình thức tổ chức xã hội thị tộc,bộ lạc khi còn sơ khai thời nguyên thủy lên các hình thức tổ chức xã hội cao hơn là hình thức tổ chức bộ tộc,dân tộc,…;quá trình thay thế lẫn nhau của các thế hệ kỹ thuật theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn,…

2.Tính chất của sự phát triển

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển cũng có 3

tính chất cơ bản:Tính khách quan,tính phổ biến và tính đa dạng,phong phú.

a)Tính khách quan của sự phát triển

- Mọi quá trình phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy đều là những quá trình diễn ra theo tính tất yếu quy luật của nó:những quá trình biến đổi dần về lượng tất yếu dẫn đến những quá trình biến đổi về chất,quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong bản thân sự vật,hiện tượng,…

-Ví dụ, quá trình phát sinh một giống loài mới hoàn toàn diễn ra một cách khách quan theo quy luật tiến hóa của giới tự nhiên.Con người muốn sáng tạo một giống loài mới thì cũng phải nhận thức và làm theo quy luật đó

b)Tính phổ biến của sự phát triển

- Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở chỗ:phát triển không phải

là đặc tính riêng có của một lĩnh vực nào đó của thế giới,mà trái lại nó là khuynh hướng vận động được thể hiện ở tất cả các lĩnh vực tự nhiên,xã hội và

tư duy.Tính phổ biến của sự phát triển còn biểu hiện ở chỗ:mỗi sự vật,hiện tượng đều có thể bao hàm trong nó khả năng của sự phát triển,phát sinh từ

Trang 10

chính sự vận động của nó và chịu sự chi phối của nhiều khuynh hướng phát triển khác

- Ví dụ,trong giới tự nhiên:đó là sự phát triển từ thế giới vật chất vô cơ đến hữu cơ;từ vật chất chưa có khả năng cho sự sống đến sự phát sinh cơ thể sống và tiến hóa dần lên các cơ thể có cơ cấu sự sống phức tạp hơn- sự tiến hóa của các giống loài làm phát sinh các giống loài thực vật và động vật mới đến mức có thể làm phát sinh loài người với các hình thức tổ chức xã hội từ đơn giản đến trình độ tổ chức cao hơn; cùng với quá trình đó cũng là quá trình không ngừng phát triển nhận thức của con người từ thấp đến cao;…

c)Tính đa dang,phong phú của sự phát triển

-Tính đa dạng,phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: các lĩnh vực khác nhau,sự vật khác nhau, điều kiện khác nhau,…thì cũng có sự khác nhau ít hay nhiều về tính chất,con đường,mô thức,phương thức,… của sự phát triển

-Ví dụ,không thể đồng nhất tính chất,phương thức phát triển của giới tự nhiên với sự phát triển của xã hội loài người Sự phát triển của giới tự nhiên thuần túy tuân theo tính tựu phát, còn sự phát triển của xã hội loài người lại có thể diễn ra một cách tự giác do có sự tham gia của nhân tố ý thức

3.Ý nghĩa phương pháp luận

- Nguyên lý về sự phát triển cho thấy hoạt động nhận thức và hoạt động

thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm phát triển.

-Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức,khi giải quyết một vấn đề nào đó con người phải đặt chúng ở trạng thái động,nằm trong khuynh hướng chung là phát triển

-Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật,mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng,phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi.Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật

-Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn.Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến

Ngày đăng: 14/07/2022, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w