Thí nghiệm được bố trí theo kiểu vuông latinh gồm có 4 dê, 4 khẩu phần ăn là A LC: chỉ cho ăn lá chuối; B LC–RUK: LC có bổ sung thêm RUK là hỗn hợp Rỉ mật+Urê+Khoáng, với lượng là 2g/kg
Trang 1221
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH LƯỢNG ĂN VÀO, TỈ LỆ TIÊU HÓA,
CÂN BẰNG NI-TƠ VÀ NÂNG CAO GIÁ TRỊ SỬ DỤNG LÁ CHUỐI
LÀM THỨC ĂN CHO DÊ Nguyễn Hữu Văn
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
Tóm tắt Thí nghiệm được bố trí theo kiểu vuông latinh gồm có 4 dê, 4 khẩu phần ăn là A
(LC): chỉ cho ăn lá chuối; B (LC–RUK): LC có bổ sung thêm RUK (là hỗn hợp Rỉ mật+Urê+Khoáng, với lượng là 2g/kg khối lượng cơ thể); C (LC–SLK): LC có bổ sung thêm sắn lát khô (với lượng bằng 1% khối lượng cơ thể tính theo vật chất khô ); D (LC– RUK–SLK): LC có bổ sung thêm RUK (với lượng là 2g/kg khối lượng cơ thể) và sắn lát khô (với lượng bằng 1% khối lượng cơ thể tính theo chất khô) Khi dê được cho ăn khẩu phần hoàn toàn lá chuối thì chúng thu nhận được một lượng khoảng 2,62% tính theo DM so với khối lượng cơ thể Nhưng khi được bổ sung thêm hỗn hợp RUK hoặc sắn lát khô, hoặc
cả RUK và sắn lát khô thì lượng ăn vào tăng lên, tương ứng là 2,98; 2,83; và 2,87% tính theo DM so với khối lượng cơ thể Tỉ lệ tiêu hóa DM, OM, và CP ở dê khi cho ăn khẩu phần hoàn toàn lá chuối lần lượt là 62,0; 64,6; và 59,1% Tỉ lệ tiêu hóa các thành phần dinh dưỡng này được nâng cao khi dê được bổ sung thêm hỗn hợp RUK hoặc sắn lát khô, hoặc
cả RUK và sắn lát khô Ở dê chỉ được cho ăn lá chuối thì lượng N thải ra theo phân chiếm tỉ
lệ 40,8%, thải ra qua nước tiểu chiếm tỉ lệ 40,6%, và còn lại cho tích lũy chiếm tỉ lệ 18,5%
so với lượng thu nhận Khi được bổ sung thêm hỗn hợp RUK hoặc sắn lát khô, hoặc cả RUK và sắn lát khô thì tỉ lệ N thải ra theo phân và nước tiểu có xu hướng giảm, ngược lại tỉ
lệ N tích lũy tăng đáng kể (p<0,05)
Từ khóa: cân bằng ni-tơ, dê, lá chuối, tỉ lệ tiêu hóa
I Đặt vấn đề
Nghề nuôi dê đang được nhiều địa phương trong cả nước quan tâm phát triển nhằm góp phần nâng cao thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo nhờ ưu thế của loài vật nuôi này là vốn đầu tư ban đầu thấp, dễ nuôi, sinh sản nhanh, ít bệnh tật (Cục Chăn nuôi, 2006)
Dê ăn theo lối vặt, khả năng lựa chọn thức ăn rất tinh tế, nhưng cũng là loài vật rất phàm ăn, ăn được hầu hết các loại cây trồng và cây cỏ tự nhiên nên chúng có thể phá phách hoa màu, ăn trụi cây cối nếu quản lý chăn thả không tốt Tập quán chăn nuôi dê ở nước ta chủ yếu theo hình thức chăn thả quảng canh, đòi hỏi phải có diện tích bãi chăn
Trang 2thả rộng Thế nhưng trong những năm gần đây diện tích đồng bãi chăn thả ngày càng bị thu hẹp do chủ trương giao đất khoán rừng, mở rộng diện tích canh tác Để khắc phục những khó khăn đó thì đòi hỏi cần phải có sự chuyển đổi từ hình thức chăn thả truyền thống sang bán chăn thả hoặc nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng, lúc đó dê được cho ăn các nguồn cây lá tự nhiên thu cắt, cây cỏ trồng, và phụ phẩm nông nghiệp
Chuối là một loại cây ăn quả được trồng phổ biến ở khắp các vùng miền nước ta Sau khi thu hoạch quả thì thân và lá chuối vẫn còn tươi, đặc biệt là lá, một bộ phận có giá trị dinh dưỡng tương đối cao (Viện chăn nuôi, 2001) có thể tận dụng để làm thức ăn xanh cho gia súc nhai lại Tuy nhiên, hầu như chưa có nghiên cứu nào đã công bố ở nước ta về việc sử dụng lá chuối làm thức ăn cho dê nên người chăn nuôi chưa quan tâm
sử dụng do họ chưa hiểu hết giá trị của loại thức ăn này
Vì vậy, nghiên cứu này nhằm xác định lượng ăn vào, tỉ lệ tiêu hóa, cân bằng
ni-tơ và nâng cao giá trị sử dụng lá chuối khi làm thức ăn cho dê
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Bốn (4 dê đực) trong độ tuổi khoảng 10–12 tháng tuổi, khối lượng bình quân 13,0±1,15 kg (Trung bình±Độ lệch chuẩn) được chọn đưa vào thí nghiệm Dê được nuôi
cá thể trong cũi tiêu hóa có máng ăn, máng uống riêng biệt Dê được nuôi thích nghi 2 tuần trước khi bắt đầu thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí theo kiểu vuông latinh gồm
có 4 dê, 4 khẩu phần ăn, tiến hành qua 4 giai đoạn Mỗi giai đoạn gồm có 12 ngày, trong đó: 7 ngày đầu cho gia súc làm quen với khẩu phần ăn mới và tiếp theo là 5 ngày thu mẫu
Lá cây chuối tiêu (Musa acuminata) được lấy từ cây chuối sau thu hoạch, rọc
lấy phần lá còn phần cọng bỏ đi Sắn lát khô được thái lát dày khoảng 5mm, phơi khô, bảo quản trong bì nilon Hỗn hợp rỉ mật, urê và khoáng (RUK) được phối trộn đều theo công thức sau: 2,7kg rỉ mật + 1,3kg nước + 3,3kg cám gạo + 1,3kg urê + 0,3kg Diammonium phosphate + 0,5kg muối ăn + 0,5kg vôi + 0,1kg lưu huỳnh Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm này được trình bày ở bảng 1
Bảng 1 Thành phần hóa học của các loại thức ăn dùng trong thí nghiệm
Loại thức ăn
Chỉ tiêu
Lá chuối sau thu hoạch Sắn lát khô
Hỗn hợp rỉ mật, urê và khoáng
Trang 3NDF (% DM) 55,8 7,95 13,55
Bốn khẩu phần ăn được thí nghiệm như sau: A (LC): chỉ cho ăn lá chuối; B (LC– RUK): LC có bổ sung thêm RUK (với lượng là 2g/kg khối lượng cơ thể dê); C (LC– SLK): LC có bổ sung thêm sắn lát khô (với lượng bằng 1% khối lượng cơ thể dê tính theo vật chất khô ); D (LC–RUK–SLK): LC có bổ sung thêm RUK (với lượng là 2g/kg khối lượng cơ thể dê) và sắn lát khô (với lượng bằng 1% khối lượng cơ thể dê tính theo vật chất khô)
Lượng sắn lát khô và hỗn hợp RUK bổ sung được chia làm 2 bữa: sáng lúc 7 giờ
15 phút và chiều lúc 13 giờ 30 phút Lá chuối được cho ăn thỏa măn, nước uống được cung cấp đầy đủ trong suốt thời gian thí nghiệm Hỗn hợp RUK được bôi lên lá chuối và cho ăn hết đầu mỗi bữa ăn
Mẫu các loại thức ăn, mẫu phân và mẫu nước tiểu được lấy trong giai đoạn thu mẫu (liên tục 5 ngày) để phân tích thành phần hóa học Vật chất khô (DM), vật chất hữu
cơ (OM), nitơ tổng số, mỡ thô (EE), và khoáng tổng số (Ash) được phân tích theo AOAC (1990) Xơ không hòa tan trong chất tẩy trung tính (NDF) được xác định theo Van Soest và cộng sự (1991) Năng lượng tổng số (GE) được xác định bằng Bomb Calorimeter (Bomb Calorimeter 6300, Đức)
Số liệu được xử lý theo mô hình phân tích thống kê GLM dùng cho thiết kế thí nghiệm theo kiểu ô vuông la tinh với độ tin cậy P<0,05 bằng phần mềm Minitab Version
14.0
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Lượng ăn vào thực tế các loại khẩu phần
Bảng 2 Lượng ăn vào thực tế các loại khẩu phần
Thành phần
Khẩu phần
Tổng lượng
Trang 4(kg DM/con/ngày)
Tỉ lệ DM ăn vào so với P
cơ thể dê (%) 2,62 2,98 2,93 2,87 0,205
Kết quả theo dõi lượng ăn vào của dê đối với các loại khẩu phần được trình bày
ở bảng 2 Khi dê chỉ được ăn lá chuối thì lượng ăn vào bình quân là 1329 g/ngày, qui đổi ra vật chất khô là 393 g/ngày, tương đương với 2,62% so với khối lượng cơ thể tính theo chất khô Mức ăn vào này là trung bình so với công bố của các tác giả khác Devendra và McLeroy (1982) cho biết các giống dê thịt ở vùng nhiệt đới thường thu nhận thức ăn với lượng hiếm khi vượt quá 3% so với khối lượng cơ thể tính theo chất khô Ví dụ dê Jumnapari (Ấn độ) ăn vào mức 3,1%, nhưng dê Katjang (Malaysia) ăn vào với lượng từ 2,2 - 2,8% tùy theo chất lượng cỏ, so với khối lượng cơ thể
Khi được bổ sung thêm hỗn hợp rỉ mật, urê và khoáng (RUK) với lượng 2g/kg thể trọng thì tổng lượng ăn vào bình quân của dê tăng thêm 9,8% (từ 1329 g/ngày lên
1459 g/ngày), qui đổi ra vật chất khô là 447 g/ngày Điều này chứng tỏ hỗn hợp RUK,
có chứa các loại carbohydrates dễ lên men, urê và khoáng bổ sung, tuy với lượng nhỏ nhưng đã có tác dụng làm tăng tính ngon miệng và khả năng thu nhận lá chuối của dê Nhờ đó mà lượng thu nhận bình quân so với thể trọng dê tăng từ 2,62% lên 2,98% tính theo chất khô
Khi được bổ sung thêm sắn lát khô hoặc hỗn hợp RUK + sắn lát khô thì lượng thu nhận lá chuối giảm đi, kéo theo tổng lượng ăn vào giảm nhưng do hỗn hợp RUK và sắn lát khô đều có hàm lượng chất khô cao nên tổng thu nhận chất khô/con/ngày cũng như tỉ lệ phần trăm thu nhận so với khối lượng cơ thể tính theo chất khô vẫn cao hơn so với khi dê chỉ được cho ăn lá chuối và tương đương với khi dê được cho ăn lá chuối có
bổ sung hỗn hợp RUK
Tuy tỉ lệ vật chất khô thu nhận so với khối lượng cơ thể khi dê được ăn khẩu phần B, C, và D cao hơn so với khẩu phần A nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê Tỉ lệ thu nhận vật chất khô so với thể trọng dê khi cho ăn khầu phần A, B, C,
và D lần lượt là 2,62; 2,98; 2,93; và 2,87% Như vậy, sự thu nhận vật chất khô của dê đối với các khẩu phần ăn này là bình thường so với công bố của các tác giả khác như đã trình bày ở phần trên
3.2 Tỉ lệ tiêu hóa các thành phần dinh dưỡng có trong khẩu phần
Kết quả thí nghiệm theo dõi, phân tích và tính toán tỉ lệ tiêu hóa biểu kiến của dê đối với một số thành phần dinh dưỡng có trong các khẩu phần ăn được trình bày ở bảng
3
Trang 5Chúng tôi chưa tìm thấy công bố nghiên cứu tương tự về tỉ lệ tiêu hóa lá chuối ở
dê, nhưng ở bò thì theo Ffoulkes và Preston (1977) cho biết tỉ lệ tiêu hóa DM của lá chuối ở bò là 65,2% Nguyễn Xuân Bả (2006) công bố kết quả một loạt các thí nghiệm
tiêu hóa in vivo trên dê và cừu khi cho ăn lá dâu và lá dâm bụt có tỉ lệ tiêu hóa DM dao
động từ 58,0 - 76,2%, tỉ lệ tiêu hóa OM dao động từ 63,1 - 80,3%, và tỉ lệ tiêu hóa CP dao động từ 79,9 - 84,4%
Bảng 3 Tỉ lệ tiêu hóa DM, OM, và CP có trong khẩu phần ăn (%)
Thành phần
Khẩu phần
(Giá trị bình quân trên cùng một hàng có số mũ khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống
kê với P<0,05)
Kết quả thí nghiệm của chúng tôi ở dê chỉ được cho ăn lá chuối có tỉ lệ tiêu hóa
DM, OM và CP lần lượt là 62,0; 64,6; và 59,1% Khi dê được bổ sung thêm hỗn hợp RUK thì tỉ lệ tiêu hóa DM được cải thiện (63,6%) và đạt cao nhất khi được bổ sung thêm sắn lát khô (71,7%) Trong khi đó việc bổ sung thêm cả RUK và sắn lát khô không làm thay đổi đáng kể tỉ lệ tiêu hóa DM so với chỉ bổ sung sắn lát khô (69,3% so với 71,7%) Tỉ lệ tiêu hóa OM cũng có xu hướng thay đổi tương tự tỉ lệ tiêu hóa DM
Tỉ lệ tiêu hóa CP đã được cải thiện đáng kể (64,5% so với 59,1%) khi dê được cho ăn khẩu phần B có bổ sung thêm RUK chứng tỏ hiệu quả của việc sử dụng rỉ mật, urê và khoáng bổ sung để nâng cao khả năng lên men của hệ vi sinh vật dạ cỏ Tuy nhiên, ở khẩu phần C có bổ sung thêm sắn lát khô, mức tăng tỉ lệ tiêu hóa không đáng
kể so với khẩu phần B và D Theo chúng tôi, nguyên nhân có thể là do hàm lượng CP có trong sắn lát khô thấp và khó tiêu hóa, mặt khác lượng CP thu nhận khi dê được ăn khẩu phần C cũng ít (bảng 4)
Kết quả xử lý thống kê không cho thấy sự sai khác có ý nghĩa (P>0,05), tuy nhiên các kết quả trên cũng bước đầu phản ánh được xu hướng cải thiện về tỉ lệ tiêu hóa một số thành phần dinh dưỡng khi dê được cho ăn lá chuối có bổ sung thêm hỗn hợp RUK, hoặc sắn lát khô, hoặc bổ sung đồng thời cả hỗn hợp RUK và sắn lát khô
3.3 Cân bằng nitơ ở dê được cho ăn các khẩu phần thí nghiệm
Số liệu bảng 4 cho thấy kết quả tính toán cân bằng N ở dê khi được cho ăn các khẩu phần A, B, C, D
Trang 6Bảng 4 Cân bằng N ở dê khi được cho ăn các loại khẩu phần
N thải ra nước tiểu (mg/ngày) 2838ab 3422a 2100ab 1611b 229
(Giá trị bình quân trên cùng một hàng có số mũ khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống
kê với P<0,05)
Ở dê chỉ được cho ăn lá chuối (khẩu phần A), lượng N thu nhận bình quân là
7040 mg/ngày, lượng thải ra theo phân là 2890 mg/ngày (chiếm tỉ lệ 40,8% so với lượng thu nhận), lượng thải ra qua nước tiểu là 2838 mg/ngày (chiếm tỉ lệ 40,6% so với lượng thu nhận), lượng còn lại cho tích lũy là 1312 mg/ngày (chiếm tỉ lệ 18,5% so với lượng thu nhận) Kết quả này cho thấy nếu dê chỉ được ăn lá chuối vẫn có thể duy trì được tăng trọng
Từ kết quả phân tích ở bảng 4 thấy: Có sự tăng lên có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
về lượng N thu nhận khi dê được cho ăn khẩu phần B, có bổ sung hỗn hợp RUK một mặt là nhờ lượng lá chuối ăn vào tăng thêm, mặt khác là trong hỗn hợp RUK có hàm lượng N cao Tuy nhiên lượng thu nhận N khi cho ăn khẩu phần C và D có xu hướng giảm do sắn lát khô bổ sung có hàm lượng N thấp
Mặc dù không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P>0,05) nhưng tỉ lệ N thải ra theo phân có xu hướng giảm ở các khẩu phần có bổ sung thêm hỗn hợp RUK hoặc sắn lát khô, hoặc bổ sung đồng thời cả hỗn hợp RUK và sắn lát khô Tương tự tỉ lệ N thải ra theo nước tiểu có xu hướng giảm dần theo thứ tự khi dê được ăn khẩu phần A, B, C, và thấp nhất là khầu phần D
Từ những thay đổi kể trên dẫn đến N tích lũy ở dê tăng lên có ý nghĩa thống kê (P<0,05) theo thứ tự khi dê được cho ăn khẩu phần A, B, C, D
Từ kết quả thu được cho thấy lá chuối sau khi thu hoạch là nguồn thức ăn có giá trị có thể làm thức ăn cho dê Khi cho dê ăn khẩu phần chỉ có lá chuối lượng thu nhận vật chất khô vẫn đảm bảo ở mức bình thường, tỉ lệ tiêu hóa DM, OM, CP cũng nằm
Trang 7trong giới hạn trung bình của các loại thức ăn thô xơ và có cân bằng dương về N Hiệu quả sử dụng các thành phần dinh dưỡng và cân bằng N có xu hướng được cải thiện khi
dê được cho ăn lá chuối có bổ sung thêm hỗn hợp RUK, hoặc sắn lát khô, hoặc bổ sung
cả RUK và sắn lát khô
4 Kết luận
Lá chuối sử dụng trong thí nghiệm của chúng tôi có hàm lượng DM, OM, CP,
EE, NDF, Ash và GE tương ứng là 25,6%, 91,4%, 11,2%, 5,7%, 55,8%, 8,7%, và 4385 Kcal/kgDM
Khi dê được cho ăn khẩu phần hoàn toàn lá chuối thì chúng thu nhận được một lượng khoảng 2,62% tính theo DM so với khối lượng cơ thể Khi được bổ sung thêm hỗn hợp RUK hoặc sắn lát khô, hoặc cả RUK và sắn lát khô thì lượng ăn vào tăng lên, tương ứng là 2,98; 2,83; và 2,87% tính theo DM so với khối lượng cơ thể
Tỉ lệ tiêu hóa DM, OM, và CP ở dê khi cho ăn khẩu phần hoàn toàn lá chuối lần lượt là 62,0; 64,6; và 59,1% Tỉ lệ tiêu hóa các thành phần dinh dưỡng này cũng được nâng cao khi dê được bổ sung thêm hỗn hợp RUK hoặc sắn lát khô, hoặc cả RUK và sắn lát khô
Ở dê chỉ được cho ăn lá chuối thì lượng N thải ra theo phân chiếm tỉ lệ 40,8%, thải ra qua nước tiểu chiếm tỉ lệ 40,6%, và còn lại cho tích lũy chiếm tỉ lệ 18,5% so với lượng thu nhận Khi được bổ sung thêm hỗn hợp RUK hoặc sắn lát khô, hoặc cả RUK
và sắn lát khô thì tỉ lệ N thải ra theo phân và nước tiểu có xu hướng giảm, ngược lại tỉ lệ
N tích lũy tăng đáng kể
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] AOAC (Association of Official Analytical Chemists), Official methods of Analysis,
15th edn, Vol 1, Washington, DC., USA, 1990
[2] Cục Chăn nuôi, Tóm tắt đề án phát triển chăn nuôi dê, cừu giai đoạn 2007 – 2020, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hà Nội, 2006
[3] Devendra, C and G.B.McLeroy, Goat and Sheep Production in the Tropics,
Intermediate Tropical Agriculture Series, Longman, London and New York, 1982
[4] Ffoulkes, D and T R Preston, The banana plant as cattle feed: digestibility and
voluntary intake of different proportions of leaf and pseudostem, Trop Anim Prod
Vol.3, (1977), 2
[5] Nguyễn Xuân Bả, Đánh giá khả năng sử dụng cây dâu tằm (Morus alba), cây dâm bụt
(Hibiscus Rosa Sinensis L.) làm thức ăn cho gia súc nhai lại ở miền Trung, Việt Nam,
Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp, Đại học Huế, 2006
Trang 8[6] Van Soest, P J., J B Robertson and B A Lewis, Methods for dietary fiber, neutral
detergent fiber, and nonstarch polysaccharides in relation to animal nutrition, J Dairy
Sci Vol.74, (1991), 3583-3597
[7] Viện chăn nuôi quốc gia, Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc gia cầm
Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2001
STUDY ON THE DETERMINATION OF FEED INTAKE, DIGESTIBILITY, NITROGEN BALANCE AND THE IMPROVEMENT OF UTILISATION
VALUE OF BANANA LEAVES AS FEEDS FOR GOAT
Nguyen Huu Van
College of Agriculture and Forestry, Hue University
Abstract The experiment was a 4x4 latin square design with 4 rations named A (LC):
banana leaves; B (LC-RUK): LC supplemented with RUK (a mixture of molasses, urea, and minerals, 2g/kg body weight); C (LC-SLK): LC supplemented with dry chopped cassava (1% body weight in DM); and D (LC-RUK-SLK): LC supplemented with RUK (2g/kg body weight) and dry chopped cassava (1% body weight in DM) When goats were only fed with banana leaves, their feed intake was 2,62% of body weight in DM But when they were supplemented with RUK or dry chopped cassava or both RUK and dry chopped cassava, their feed intake increased respectively by 2,98; 2,83; 2,87% of body weight in
DM Digestibility of DM, OM, and CP in goats fed with only banana leaves was 62,0; 64,6;
và 59,1% The digestibility of those DM, OM, and CP increased when the goats were supplemented with RUK or dry chopped cassava or both RUK and dry chopped cassava In the goats only fed with banana leaves, the nitrogen excreted in feace was 40,8%, in urine was 40,6% The retention was only 18,5% in comparision with the nitrogen intake When they were supplemented with RUK or dry chopped cassava or both RUK and dry chopped cassava, the nitrogen excreted in feace and in urine tended to decrease while the nitrogen retention significantly increased (p<0,05)
Keywords: nitrogen balance, goat, banana leaves, digestibility