BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐỀ BÀI Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc Xác lập quan hệ pháp luật Thực hiện pháp luật Truy cứu trách nhiệm pháp lý Giáo dục pháp luật MỤC LỤC Danh mục từ viết tắt A ĐẶT VẤN ĐỀ 1 B PHẦN NỘI DUNG 1 CHƯƠNG I CÁC KHÁI NIỆM 1 1 Văn bản quy phạm pháp luật 1 2 Quan hệ pháp luật 2 3 Thực hiện pháp luật 3 4 Truy cứu trách nhiệm pháp lí 3 5 Giáo dục pháp luật 3 CHƯƠNG II.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC
VÀ PHÁP LUẬT ĐỀ
BÀI : Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc:
- Xác lập quan hệ pháp luật
- Thực hiện pháp luật
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý
- Giáo dục pháp luật
Trang 2MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt
A ĐẶT VẤN ĐỀ 1
B PHẦN NỘI DUNG 1
CHƯƠNG I CÁC KHÁI NIỆM 1
1 Văn bản quy phạm pháp luật 1
2 Quan hệ pháp luật 2
3 Thực hiện pháp luật 3
4 Truy cứu trách nhiệm pháp lí 3
5 Giáo dục pháp luật 3
CHƯƠNG II Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC: XÁC LẬP QUAN HỆ PHÁP LUẬT; THỰC HIỆN PHÁP LUẬT; TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ; GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 4
1 Đối với việc xác lập quan hệ pháp luật: 4
2 Đối với việc thực hiện pháp luật 5
3 Đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lí 8
4 Đối với giáo dục pháp luật 9
Trang 3CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC XÂY DỰNG
VÀ BAN HÀNH VBQPPL ĐỂ TĂNG HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG XÁC LẬP QUAN HỆ PHÁP LÍ, THỰC HIỆN PHÁP LUẬT, TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÍ VÀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRÊN THỰC TẾ 9
C PHẦN KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.
QPPL : Quy phạm pháp luật
VBQPP
L
: Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 4A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong khoa học pháp lí, văn bản quy phạm pháp luật là nơi chứa đựng các quy phạm pháp luật với ý nghĩa là những quy tắc xử sự chung và được nhà nước đảm bảo thực hiện Từ khi xuất hiện cho đến nay, văn bản quy phạm pháp luật đã trở thành một loại nguồn quan trọng bậc nhất và là trình độ phát triển cao nhất của hình thức pháp luật Có thể khẳng định như vậy một phần là do ý nghĩa to lớn của
nó trong hệ thống pháp luật nói chung và trong các hoạt động từ lúc xác lập quan
hệ pháp lí giữa các bên chủ thể; đến khi thực hiện pháp luật; truy cứu trách nhiệm pháp lí và cuối cùng là giáo dục pháp luật nói riêng Đồng thời VBQPPL cũng là yếu tố quyết định tới hiệu quả của việc thực hiện các hoạt động này trên thực tế Nghiên cứu ý nghĩa đó sẽ giúp ta thấy được tầm quan trọng của các văn bản quy phạm pháp luật, từ đó đề xuất ra những phương hướng, giải pháp trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để nâng cao việc thực hiện các hoạt động đã nêu
B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I CÁC KHÁI NIỆM
1 Văn bản quy phạm pháp luật
Dưới góc độ lí luận, từ xưa đến nay định nghĩa VBQPPL đã được tiếp cận dưới nhiều khía cạnh khác nhau Đã từng có quan điểm cho rằng, VBQPPL là hình thức thể hiện của quyết định hay quy phạm pháp luật1, hay VBQPPL là hình thức thể hiện của các quyết định pháp luật2 , tuy nhiên định nghĩa chính xác và đầy đủ nhất
có lẽ là: “văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do các chủ thể có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự chung để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội” 3 Các quan điểm lí luận nêu trên chính là cơ sở để các nhà lập pháp thể hiện thành các quy định của định của pháp luật, như trong điều 2, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Việt Nam đã quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức,
11/1988.
2 Trường đại học tổng hợp Hà Nội, Giáo trình lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 1993
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
2020, tr 289-290.
Trang 5trình tự, thủ tục quy định trong Luật này” VBQQPL vừa là nguồn, vừa là hình thức pháp luật quan trọng bậc nhất, và là nơi chứa đựng phổ biến của QPPL VBQQPL có các đặc điểm như sau : do chủ thể có thẩm quyền ban hành; chứa đựng qui tắc xử sự chung; được thực hiện nhiều lần; và có tên gọi, nội dung, hình thức, thủ tục ban hành do pháp luật qui định
Ví dụ: Hiến pháp; các bộ luật như bộ luật dân sự, bộ luật hình sự ; các luật như
luật hôn nhân gia đình, luật đất đai đều là các VBQPPL
2 Quan hệ pháp luật
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, bản chất con người được định nghĩa là “tổng hòa các quan hệ xã hội” 4 Quan hệ pháp luật chính là một dạng quan hệ xã hội - quan hệ giữa người với người trong cuộc sống, bên cạnh những điểm tương đồng nó còn có nhiều đặc trưng khác biệt với các loại quan hệ xã hội khác Có nhiều cách định
nghĩa về quan hệ pháp luật, ví dụ như “quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội, xuất hiện trên cơ sở sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật
và các sự kiện pháp lý tương ứng, trong đó các bên tham gia có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, được nhà nước đảm bảo và bảo vệ” 5 , hay “ quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội đặc biệt nảy sinh do sự tác động hữu cơ giữa quy phạm pháp luật và sự kiện pháp lý” 6 Nhưng theo ý kiến của tôi, quan điểm chính xác nhưng đơn giản nhất đó là : “quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh trong đó các bên tham gia quan hệ pháp luật có các quyền và nghĩa vụ pháp lí được nhà nước bảo đảm thực hiện”7 Mỗi ngày, chúng ta đều tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật như quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ-con cái, quan hệ giữa khách hàng với bên cung cấp dịch vụ, giữa học sinh, sinh viên với trường học của mình
Các đặc điểm của quan hệ pháp luật đó là: quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội có ý chí, thể hiện ý chí của nhà nước và các chủ thể tham gia; và các bên tham gia quan
hệ pháp luật có quyền và nghĩa vụ pháp lí được nhà nước đảm bảo thực hiện
3 Thực hiện pháp luật.
4 C.Mác, Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr 492.
5 X X, Alexêp, Lý luận chung về pháp luật, tập 2, Nxb Pháp lý, Matxcơva, 1982, tr 85 ( bản tiếng Nga).
6 Trần Ngọc Đường (chủ biên), “Lí luận nhà nước và pháp luật”, Nxb Chính trị quốc gia, H 1998, tr 327.
7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Sđd, tr 383.
Trang 6Dưới góc độ khoa học pháp lí, “thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp,
có mục đích của các chủ thể được hình thành trong quá trình thực hiện hóa các quy định của pháp luật”8 Nói cách khác, thực hiện pháp luật là hành vi xác định của con người, phù hợp với các quy định của pháp luật, làm cho pháp luật trở thành hiện thực trong đời sống Các hình thức thực hiện pháp luật bao gồm: tuân
thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Ví dụ:
không vượt đèn đỏ; nộp thuế đúng hạn, nộp đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền
4 Truy cứu trách nhiệm pháp lí.
Định nghĩa truy cứu trách nhiệm pháp lí được hiểu như sau : “là hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành nhằm cá biệt hóa bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật” 9 Truy cứu trách nhiệm pháp lí là hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước; là việc các biệt hóa bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật;
là hoạt động có trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ do pháp luật quy định; và là hoạt
động đòi hỏi phải sáng tạo Ví dụ: Tòa án ra quyết định áp dụng hình phạt tù đối
với ông Trần Văn A vì hành vi giết người Khi đó ông A đang bị truy cứu trách nhiệm pháp lí.
5 Giáo dục pháp luật.
Có quan điểm cho rằng, “Giáo dục pháp luật là hoạt động có tổ chức của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lí, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành”10 Tuy nhiên, các hiểu giáo dục pháp luật chính xác nhưng đơn giản hơn đó là : “ Giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người trình độ pháp lí nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử xự theo yêu cầu của pháp luật”11 Ví
8 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Sđd, tr 401.
9 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Sđd, tr 432.
10 Đinh Xuân Thảo (1996), “Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy
nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, tr 11.
11 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Sđd, tr 462.
Trang 7dụ: Chính Phủ đăng tải thông tin pháp luật lên trang thông tin điện tử Chính Phủ;
Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật
CHƯƠNG II Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC: XÁC LẬP QUAN HỆ PHÁP LUẬT; THỰC HIỆN PHÁP LUẬT; TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ; GIÁO DỤC PHÁP LUẬT.
1 Đối với việc xác lập quan hệ pháp luật:
Một là, VBQPPL chứa đựng cơ sở pháp lí cho việc xác lập quan hệ pháp luật Cơ
sở pháp lí làm phát sinh, tồn tại và thay đổi quan hệ pháp luật là các QPPL, và VBQPPL chính là nơi chứa đựng chủ yếu, quan trọng nhất của các QPPL Trước hết, chủ thể của quan hệ pháp luật phải là cá nhân, tổ chức đáp ứng được các điều
kiện do pháp luật quy định được nêu trong VBQPPL Ví dụ: Người bầu cử phải
đáp ứng được độ tuổi theo Điều 27 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (2013) quy định; và không nằm trong trường hợp được nêu trong khoản 1 điều 30 Luật Bầu cử Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân Đồng thời, VBQPPL là cơ sở để
xác định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật Cơ cấu của QPPL trong VBQPPL gồm 3 bộ phận : giả định, quy định và chế tài Chủ thể của quan hệ pháp luật sẽ nằm trong bộ phận giả định, vì nó trả lời cho câu hỏi : Ai (tổ chức, cá nhân nào), trong những tình huống nào (khi nào); còn bộ phận quy định và bộ phận chế tài sẽ quy định nội dung, khách thể của quan hệ pháp luật, bởi nó xác lập quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ
pháp luật đó VD: Khoản 1 điều 72 Luật Hôn nhân và gia định Việt Nam 2014 quy
định : “Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập ” Phần giả định của QPPL này:“ cha mẹ” là chủ thể trong quan hệ pháp luật, còn phần quy định:” có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập” là nội dung của quan hệ pháp luật đó, xác lập quyền và nghĩa vụ của chủ thể.
Ngoài ra, còn một căn cứ pháp lí khác cho việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quan hệ pháp luật, đó chính là sự kiện pháp lí - “là sự kiện thực tế mà khi chúng xảy ra được pháp luật gắn với việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật”12 Và sự kiện pháp lí đã được quy định trong bộ phận giả định của
12 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Sđd, tr 398.
Trang 8QPPL trong VBQPPL Dựa vào bộ phận giả định, ta sẽ xác định sự kiện nào là sự kiện pháp lý để từ đó xác định được quan hệ pháp luật nào đã được phát sinh, thay đổi, chấm dứt; đồng thời cũng xác định được được thời điểm xảy ra để căn cứ vào
đó xác định quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên
Hai là, VBQPPL thể hiện ý chí của nhà nước trong việc xác lập quyền và nghĩa
vụ pháp lí trong quan hệ pháp luật giữa các bên chủ thể Bộ phận quy định của
QPPL trong VBQPPL sẽ thể hiện ý chí của nhà nước đối với các tổ chức hay cá nhân khi xảy ra tình huống cụ thể, qua việc quy định rõ quyền mà các chủ thể được hưởng hoặc các nghĩa vụ pháp lí mà họ phải thực hiện, đó đều là những cách xử sự phù hợp với ý chí nhà nước và bắt buộc phải tuân theo
VBQPPL được thể hiện thành từng điều, khoản, trong đó xác định rõ đối tượng, phạm vi điều chỉnh, cách xử sự cho chủ thể và hậu quả mà họ phải gánh chịu nếu làm trái điều đó.Vì thế, so với các nguồn luật khác như tập quán pháp, tiền lệ pháp ,thì VBQPPL có ý nghĩa quan trọng nhất đối với việc xác lập quan hệ pháp luật Nếu không có VBQPPL, việc xác lập quan hệ pháp luật sẽ trở lên vô cùng khó khăn, thiếu đồng bộ
2 Đối với việc thực hiện pháp luật
Một là, VBQPPL chứa đựng cơ sở pháp lí cho việc thực hiện pháp luật Mọi
hành vi thực hiện pháp luật trên thực tế đều phải dựa trên cơ sở các QPPL: làm những việc pháp luật bắt buộc phải làm, không làm những việc pháp luật cấm; làm những việc pháp luật cho phép; đồng thời pháp luật cũng quy định thẩm quyền với chủ thể áp dụng pháp luật Qua đó sẽ thể hiện ý chí của nhà nước qua những yêu cầu, đòi hỏi hoặc cho phép của nhà nước đối với hành vi ứng xử của các chủ thể
trong xã hội Ví dụ: theo khoản 1 điều 21 luật Phòng chống tác tại rượu bia 2019:
“ Người điều khiển phương tiện giao thông không uống rượu, bia trước và trong khi tham gia giao thông”; vì vậy trong cuộc sống hàng ngày nếu muốn thực hiện pháp luật thì phải không được uống rượu bia trước và trong khi tham gia giao thông
Hai là, VBQPPL giúp xác định hình thức thực hiện pháp luật Một trong những
tiêu chí cơ bản để xác định hình thức thực hiện pháp luật là căn cứ vào cách thức thực hiện đối với các loại QPPL trong VBQPPL
Trang 9- Đối với quy phạm ngăn cấm: Khi pháp luật quy định cấm làm một điều gì đó, các chủ thể pháp lí kiềm chế để không tiến hành hoạt động này dù có cơ hội Cách thức
đó tương ứng với hình thức thực hiện pháp luật là tuân thủ pháp luật Ví dụ: theo
khoản 1, điều 6 Luật đầu tư 2020 thì “pháp luật cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ” Khi người dân không thực hiện hành vi kinh doanh dịch vụ đòi nợ đó thì họ đang tuân thủ pháp luật.
- Đối với quy phạm bắt buộc: Chủ thể pháp luật khi ở trong điều kiện mà pháp luật quy định các hoạt động bắt buộc phải làm thì họ phải tiến hành những nghĩa vụ đó, không được viện cớ từ chối Cách thức đó tương ứng với hình thức thực hiện pháp
luật là thi hành pháp luật Ví dụ: Điều 47 Hiến pháp 2013 nước CHXHCNVN ghi
nhận “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định“ Khi người dân đi nộp thuế thì họ đang thi hành pháp luật.
- Đối với quy phạm cho phép: Các chủ thể pháp luật được thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật, căn cứ vào mong muốn và điều kiện của họ
Cách thức đó tương ứng với hình thức thực hiện pháp luật là sử dụng pháp luật Ví
dụ: theo khoản I, điều 12 luật khiếu nại 2011, người khiếu nại có quyền rút khiếu
nại Người khiếu nại có thể rút hay không rút khiếu nại tùy theo mong muốn và điều kiện của bản thân Khi đó họ đang sử dụng pháp luật.
- Khi các chủ thể có thẩm quyền muốn cá biệt hóa QPPL thành quyền, nghĩa vụ hay trách nhiệm pháp lí cụ thể, cho cá nhân, tổ chức cụ thể, trong trường hợp cụ thể; cách thức đó sẽ tương ứng với hình thức thực hiện pháp luật là áp dụng pháp
luật Nếu có nhiều nguồn luật đều chứa đựng quy phạm pháp luật có thể áp dụng
thì VBQPPL thường được ưu tiên, sau đó mới đến các nguồn khác Khi lựa chọn QPPL để áp dụng thì QPPL đó phải đang có hiệu lực ở thời điểm xảy ra vụ việc; nếu có những QPPL chồng chéo, trùng lặp thì phải dựa vào giá trị pháp lí hay hiệu
lực theo thời gian của VBQPPL để lựa chọn cho chính xác Ví dụ: Nếu về cùng
một vấn đề nhưng có sự mâu thuẫn giữa bộ luật và Hiến pháp thì phải chọn Hiến pháp.
Ba là, VBQPPL ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực hiện pháp luật trên thực
tế Trước hết, VBQPPL là một trong những yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện
Trang 10pháp luật được diễn ra Bộ phận chế tài trong QPPL của VBQPPL là nơi quy định những hậu quả mà chủ thể phải gánh chịu khi không tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật trong điều kiện, hoàn cảnh được nêu trong phần giả định; qua đó răn đe
để các chủ thể thực hiện pháp luật nghiêm chỉnh Sau đó, VBQPPL sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực hiện pháp luật đó trên thực tế Nếu hệ thống VBQPPL đảm bảo được tiến bộ, dân chủ, được hệ thống hóa thường xuyên; kỹ thuật xây dựng VBQPPL tốt, các quy định rõ ràng, cụ thể, công khai minh bạch và phù hợp với nhu cầu, lợi ích của người dân thì hoạt động thực hiện pháp luật của người dân
sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn, pháp luật sẽ dễ đi vào đời sống bởi người dân dễ tiếp cận, nắm bắt và tự giác thực hiện; đồng thời hoạt động áp dụng pháp luật của chủ thể có thẩm quyền cũng sẽ thống nhất và hiệu quả hơn, tránh việc xảy ra sai sót, nhầm lẫn Ngược lại, nếu hệ thống VBQPPL thiếu toàn diện, thiếu tính hệ thống; tình khả thi thấp, nhiều quy định chưa rõ ràng, chưa phù hợp sẽ làm giảm hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật, gây ra sự nhầm lẫn hoặc người dân không tự giác thực hiện pháp luật; khó khăn trong việc tiếp cận và thực hiện đúng, đủ nội dung của các quy định Đồng thời, tình trạng ban hành VBQPPL chỉ dừng lại ở những quy định mang tính chung nhất, chưa đạt đến một sự điều chỉnh cụ thể (luật khung) dẫn tới việc phải ban hành thêm số lượng lớn các VBQPPL có giá trị pháp
lí thấp hơn chỉ để quy định chi tiết, hướng dẫn cụ thể, dẫn đến tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất, gây khó khăn và có thể dẫn tới sai sót trong cho hoạt động
áp dụng pháp luật nói riêng và thực hiện pháp luật nói chung
So với tập quán pháp, tiền lệ pháp, VBQPPL là hình thức pháp luật thành văn nên nhìn chung dễ hiểu, có tính chặt chẽ, khoa học, chính xác; dễ được áp dụng thống nhất trên phạm vi rộng; khả năng phù hợp với thực tiễn cao hơn; vì thế nó sẽ giúp việc nhận thức và thực hiện pháp luật được thống nhất, chính xác, hiệu quả hơn Nếu không có VBQPPL, việc thực hiện pháp luật trên thực tế sẽ vô cùng khó khăn, hiệu quả thấp; thiếu đồng bộ và thiếu chính xác
Việc thực hiện pháp luật trên thực tế đồng thời cũng là cơ sở để hoàn thiện hệ thống VBQPPL: thông qua nhìn nhận quá trình pháp luật đi vào thực tế để thấy