Định nghĩa Loại hình học LHHLoại hình học NN phát triển->địa hạt phát triển nhất của của ngôn ngữ 1.Xuất hiện nhiều ngôn ngữ trên dưới 5,000 NN 2.Ứng dụng của NN trong đời sống: dịch,
Trang 3Chương 1 Khái lược về loại hình học và về các loại hình ngôn ngữ
1 Khái lược về loại hình học (LHH)
Trang 4Chương 1 Khái lược về loại hình học và về các loại hình ngôn ngữ (tt)
2 Khái lược về các loại hình ngôn ngữ (LHNN)
- lí do phân loại hình ngôn ngữ
- định nghĩa loại hình ngôn ngữ: các định nghĩa
khác nhau
-> giải quyết những vấn đề sau
- Được chấp nhận nhất -> bốn loại hình:
1/Khuất chiết (hòa kết, NN hình thức, NC hữu
cơ): tổng hợp&phân tích; 2/Chắp dính; 3/Đơn lập; 4/Lập khuôn
4
Trang 5Định nghĩa Loại hình học (LHH)
Loại hình học NN phát triển->địa hạt phát triển nhất của của ngôn ngữ
1.Xuất hiện nhiều ngôn ngữ (trên dưới 5,000 NN)
2.Ứng dụng của NN trong đời sống: dịch, giảng-dạy ngoại ngữ, trừ khử hiện tượng mù mờ, đạt độ chính xác
3.NNH đại cương phát hiện quy luật cơ bản, quá trình sâu xa vận hành của NN
->rất nhiều c/trình, hết sức đa dạng, đề cập đến hàng loạt vấn đề của LHH, vì chúng ta chịu sự tác động sâu sắc của cả ba nguyên nhân “tư liệu mới”, “ứng
Trang 6Định nghĩa LHH của
Ольга Сергеевна Ахманова
• là một ngành nghiên cứu các nguyên tắc,
và các phương pháp phân loại ngôn ngữ thành các tiểu loại khác nhau
• là một ngành khảo sát các phạm trù đại
cương nhất dùng để làm cơ sở cho việc quy ngôn ngữ loài người thành các loại có đặc điểm riêng, bất luận nguồn gốc của
chúng như thế nào
Trang 7O.C A XM aновa
• 1 LHH là một ngành trong ngôn ngữ học
chuyên nghiên cứu các nguyên tắc, và các phương pháp phân loại ngôn ngữ thành các tiểu loại khác nhau
• 2 LHH là một ngành chuyên khảo sát các
phạm trù đại cương nhất dùng để làm cơ sở cho việc quy ngôn ngữ loài người thành các loại có đặc điểm riêng, bất luận nguồn gốc của chúng như thế nào
Trang 8Định nghĩa LHH của
И.A.Бодуән де Куртенә
• (1845-1929)
• đích chính cần hướng đến không phải là
nhằm phân loại các ngôn ngữ, mà là
nhằm đối chiếu so sánh các đặc điểm
khác nhau của các ngôn ngữ
• Ý kiến này về sau được trường phái Pra-
ha chấp nhận và góp phần bổ sung
Trang 9И.A.Бодуән де Куртенә
• cho rằng cái đích chính cần hướng đến
không phải là nhằm phân loại các ngôn
ngữ, mà là nhằm đối chiếu so sánh các
đặc điểm khác nhau của các ngôn ngữ
Trang 10Hiện nay, Loại hình học:
• phát hiện những đặc trưng trong mỗi ngôn ngữ, sắp xếp những đặc trưng đó trong mối quan hệ tôn ty với nhau và tổng kết thành quy luật cấu
trúc ngôn ngữ;
• đối chiếu các ngôn ngữ với nhau và hệ thống
hóa, tổng kết về các đặc trưng cơ bản nhất trong các ngôn ngữ
• LHH là một ngành KH thiên về lý luận , không
nhằm giải đáp những yêu cầu thực tiễn một
cách trực tiếp Tuy nhiên, các thành tựu, các kết luận của ngành loại hình học lại rất có thể đem
ứng dụng vào thực tiễn
Trang 11Loại hình học:
• là một ngành khoa học thiên về lý luận,
không nhằm giải đáp những yêu cầu thực
tiễn một cách trực tiếp
• Tuy nhiên, các thành tựu, các kết luận
của ngành loại hình học lại rất có thể
đem ứng dụng vào thực tiễn
Trang 12Ích lợi của nghiên cứu Loại hình học
• Trong giảng dạy - học tập ngoại ngữ: so sánh, đối chiếu các hiện tượng trong
ngoại ngữ và trong tiếng mẹ đẻ, -> tìm
những chỗ giống, khác nhau giữa hai bên, tìm cách chuyển đổi dễ dàng nhất từ loại hình này sang loại hình kia
• Làm từ điển và việc xây dựng các hệ
thống chữ viết mới
• Liên quan đến Ngôn ngữ học so sánh lịch
sử
Trang 13Các nhà ngôn ngữ đại diện nghiên cứu
Trang 16Sự tác động lẫn nhau giữa LHH và các
ta phải bỏ trống vì thiếu cứ liệu đề tái lập
• sáng tỏ các mối q/hệ nẩy ra do có tiếp xúc
Trang 17Sự khác nhau trong n/c LHH
(đối tượng, PPNC)
• khác nhau trong việc sử dụng văn bản;
• Phạm vi các ngôn ngữ đem ra nghiên cứu;
• so sánh toàn bộ cấu trúc của NN hay chỉ ở
SS một cấp độ, một hiện tượng riêng rẽ;
• hai hướng hướng định hình và hướng định
dung ;
• Phương pháp NC khác nhau
Trang 18Định hình và định dung
• các nhà LHH cho rằng sự khác nhau giữa các NN rõ nhất là ở mặt HT diễn đạt -> tập trung xác định loại hình căn cứ vào các đặc trưng HTH -> hướng định hình Nhưng gần đây quay trở lại vấn đề quan hệ
giữa NN và tư duy đã được nêu lên từ thế kỷ XVII - XVIII Họ cố gắng phân biệt những điểm chung cho
NN nhân loại, gắn liền với vấn đề tư duy chung của loài người, với những điểm có nét đặc thù chỉ thấy
riêng ở một NN hay một LHNN nào đấy Họ quay trở lại những phạm trù nội dung, -> loại hình học định
dung Nhưng họ khác các nhà nghiên cứu ở các thế
kỷ trước là đang hết sức cố gắng để tìm ra những PP phân tích nội dung theo tinh thần của NNH hiện đại 18
Trang 19Điểm chính trong nét hiện đại nghiên cứu LHH
• Các nhà LHH TK XIX: cho rằng có NN
cao, NN thấp->kỳ thị NN, còn các nhà
NNH TK XX thì không cho là vậy
• Các nhà LHH hiện đại coi trọng lý luận
• Các nhà LHH đều cho NN là 1 vấn đề
phức tạp
Trang 202 Khái lược về các loại hình ngôn ngữ
(LHNN)
• so sánh một số ví dụ sau đây, rút ra từ
một số ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ khác nhau, nằm phân bổ ở trong những địa bàn khác nhau trên thế giới, ví dụ:
I tiếng Nga
II tiếng Thổ Nhĩ Kỳ
III tiếng Xu-a-khi-li
IV tiếng Chu-kốt
V tiếng Việt, tiếng Hán 20
Trang 21Tiếng Nga
• PYK/Á (tay) PÝK/И (những bàn tay)
• PYK/É (cho tay, cách 3) PYK/ÁM (cho những bàn tay, cách 3)
• PYK/ÓЙ (Bằng tay, cách 5) PYK/ÁMИ (Bằng những bàn tay, cách 5)
Trang 22Tiếng Thổ
a) col (tay)
col/go (cho tay)
col/um/go (cho tay của
tôi)
col/dor (những bàn tay) col/dor/go (cho những bàn tay) col/dor/um/go (cho những bàn tay của tôi)
b) attư (người kỵ sĩ)
ekê (người mẹ) bala (đứa con)
- attư/lar/ga (cho những kỵ sĩ)
- ekê/lar/ga (cho những người mẹ)
- bala/lar/ga (cho những đứa con)
c) ev (phòng)
ev/i (phòng của tôi) ev/den (từ phòng xa) ev/in/den (từ phòng tôi
ra)
- ev/ler (những cái phòng)
- ev/ler/i (những cái phòng của tôi)
- ev/ler/den (từ những cái phòng ra)
- ev/ler/in/den (từ những cái phòng của
Trang 23Tiếng Xu-a-khi-li
• Watasipokuja = nếu họ sẽ không đến
• wa = ngôi 3, số nhiều (= họ)
Trang 24Tiếng Chu Kot
ga - poijgư - ma = với cái lao
ga j- tor - pojgư - ma = với cái lao mới
ga - tan - tor - pojgư - ma = với cái lao mới, tốt
24
Trang 25• Ngã đích đồng học môn đô học đắc hảo
(những người bạn học của tôi đều học
giỏi)
Trang 26Định nghĩa loại hình ngôn ngữ (LHNN)
LHNN là một cái mẫu trừu tượng, ứng với cái mẫu đó có thể có một nhóm nhiều NN
cụ thể Nhóm NN tức là tổng hợp những
NN cụ thể có thực Còn loại hình NN chỉ là cái tổng hợp trừu tượng bao gồm tất cả
những nét chung đã được rút ra từ nhóm
đó
Trang 27LHNN là một cái mẫu trừu tượng
The vast majority of the languages of the
world fall into one of three groups:
• SOV (Japanese, Tamil, Turkish etc.)
• SVO (Fula, Chinese, English etc.)
• VSO (Arabic, Tongan, Welsh etc.)
S (subject), O (object), V (verb)
Trang 28xây dựng nên được cả những loại hình
mà chưa có nhóm NN nào có?
- Những loại hình nào là loại hình có thể có? Những loại hình nào là loại hình không thể có?
- Và trong những loại hình có thể có lại đi
sâu hơn, đặt và giải quyết vấn đề vì sao
chúng có thể có?
Trang 29Cách hiểu loại hình học ngôn ngữ
2 cách hiểu , được nhiều người chấp nhận nhất là
sự phân loại các ngôn ngữ trên thế giới thành
Trang 302 cách hiểu về loại hình
• Cách hiểu thứ nhất - đôi khi còn được gọi
là loại hình chung, loại hình tổng quát;
• còn loại hình – hiểu theo cách hiểu thứ hai
- thì đôi khi lại được gọi là loại hình riêng, loại hình cụ thể Chỉ có thể xác định được loại hình tổng quát sau khi đã khảo sát,
xác định được loại hình riêng, loại hình cụ thể
30
Trang 31Loại hình khuất chiết
NN khuất chiết = NN hòa kết, NN hình thức, NN hữu cơ) có đặc điểm: quan hệ NP được diễn đạt ngay ở trong bản thân từ nhờ từ
có biến hình ở trong câu nói Trong từ - một trong những đơn vị
cơ bản nhất của ngôn ngữ loại hình này - có sự đối lập rõ rệt
giữa căn tố và phụ tố; căn tố, phụ tố (và nói chung là tất cả mọi hình vị trong từ) kết hợp chặt chẽ với nhau, hòa làm một khối;
giữa phụ tố và các ý nghĩa mà chúng diễn đạt không có sự tương ứng đơn giản kiểu một đối một (một phụ tố - một ý nghĩa) NN
thuộc loại hình khuất chiết có thể chia nhỏ thành:
a) NN tổng hợp, là NN có đầy đủ tất cả các ĐĐ vừa nêu ở trên; b) và NN phân tích, là NN trong đó hiện tượng biến hình của từ
có phần đã giảm bớt đi, và thay vào đó, người ta dùng hư từ,
dùng trật tự từ, dùng ngữ điệu để diễn đạt quan hệ ngữ pháp
Trang 32Loại hình chắp dính
- Đặc điểm: quan hệ NP diễn đạt ở bên trong từ, trong từ cũng có sự đối lập rõ rệt giữa căn tố và phụ tố; nhưng căn tố ít biến đổi và có thể tách ra dùng độc lập thành từ; còn phụ tố thì kết hợp một cách cơ giới với căn tố, mỗi phụ tố thường chuyên diễn đạt một ý nghĩa nhất định
- LH khuất chiết và LH chắp dính là hai LH đã được xác định từ lâu, ngay từ khi hướng LHH mới bắt đầu được hình thành Từ trước đến
nay ai ai cũng đều nhất trí rằng các ngôPhạn, tiếng Hy lạp cổ, tiếng
La tinh, các tiếng Xla-vơ, các tiếng Giéc-manh, các tiếng Rô-mann
ngữ Ấn Âu (như tiếng) và các ngôn ngữ Xê-mi-tích (như tiếng Do thái
cổ, tiếng Ả rập) đều thuộc loại hình khuất chiết Hầu hết các tiếng trên đây đều thuộc kiểu NN tổng hợp Thuộc kiểu phân tích, thường người
ta chỉ dẫn tiếng Anh hiện đại làm ví dụ Riêng một đôi nhà nghiên cứu thì cũng xếp luôn cả tiếng Pháp vào kiểu phân tích, ở trong nội bộ LH khuất chiết
- Còn đối với LH chắp dính thì người ta thường nhất trí cho rằng ví dụ
điển hình nhất là các ngôn ngữ Thổ nhĩ kỳ, các ngôn ngữ U-ran -
An-tai, và một số NN châu Phi kiểu như ngôn ngữ Băng-tu 32
Trang 33Loại hình đơn lập
Là NN không có hình thái, NN không biến hình, NN đơn âm hay
NN phân tiết Ở LH này quan hệ NP chỉ được diễn đạt bằng trật
tự trước sau của từ và / hoặc bằng các hư từ Ở LH này từ
không có hiện tượng biến hình.Trong một số NN thuộc LH này, đơn vị cơ bản là hình tiết: đây là một đơn vị có nghĩa, có vỏ ngữ
âm thường trùng với âm tiết, có khả năng vừa dùng như từ vừa dùng như hình vị Ở LH này người ta thường hay nói đến vấn đề khó xác định ranh giới từ, vấn đề khó phân biệt yếu tố hư với
yếu tố thực cũng như vấn đề mặt cấu tạo từ ít phát triển
NN thuộc LH đơn lập có thể chia nhỏ thành:
a) Những NN vừa không có biến hình từ vừa không có cấu tạo
từ, tức là những NN chỉ có căn tố (Hán cổ);
b) và những NN không có biến hình từ nhưng cố cấu tạo từ; đây
là những NN có thân từ - (Anh-đô-nê-xi-a)
Trang 34Loại hình lập khuôn/NN hỗn nhập
• Đặc điểm của LH này là như sau: bên cạnh những đơn vị là
từ lại còn có thể có những đơn vị nửa là từ nửa là câu Loại đơn vị “nửa từ nửa câu” này thường được xây dựng trên cơ
sở một dạng động từ trong đó bao gồm cả bổ ngữ, trạng ngữ
và đôi khi cả chủ ngữ LH lập khuôn gần gũi với loại hình
chắp dính ở nguyên tắc chắp nối hình vị với hình vị; mặt khác
nó lại gần gũi với LH khuất chiết ở điểm có xảy ra hiện tượng biến đổi vỏ ngữ âm của hình vị khi hình vị kết hợp với nhau
• Thông thường người ta cho rằng LH lập khuôn là loại hình các ngôn ngữ người da đó ở châu Mỹ, loại hình của một số
ngôn ngữ ở Cáp-ca-dơ và loại hình của các ngôn ngữ
Chu-cốt, Cam-chát Nhưng nhận định này thường lại hay bị chính
các nhà chuyên nghiên cứu các ngôn ngữ này phản bác
34