Nhiệt độ thấp là hiện tượng rất nguy hại đối với cây trồng, trong đó sự sinh trưởng, phát triển, hình thành năng suất và hiệu quả kinh tế của các cây dài ngày phụ thuộc rất nhiều vào sự
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trần Thị Tâm
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN BỐ NHIỆT ĐỘ THẤP PHỤC VỤ QUY HOẠCH TRỒNG CÂY CAO SU Ở TỈNH LAI CHÂU
BẰNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ GIS
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trần Thị Tâm
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN BỐ NHIỆT ĐỘ THẤP PHỤC VỤ QUY HOẠCH TRỒNG CÂY CAO SU Ở TỈNH LAI CHÂU
BẰNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ GIS
Chuyên ngành: Bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý
Mã số: 60 44 76
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DƯƠNG VĂN KHẢM
Hà Nội - 2012
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
tinh TERRA và AQUA (Moderate Resolution Imaging Spectroradiometer)
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của luận văn 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4
7 Bố cục luận văn 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CÂY CAO SU VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CAO SU Ở LAI CHÂU 7
1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Lai Châu 7
1.1.1 Đặc điểm địa lý 7
1.1.2 Đặc điểm khí hậu 10
1.1.2.1 Diễn biến khí hậu các mùa 10
1.1.2.2 Diễn biến các yếu tố khí hậu 12
1.2 Đặc điểm sinh thái cây cao su 17
1.3 Tình hình phát triển cây cao su ở tỉnh Lai Châu 20
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU VỀ NHIỆT ĐỘ THẤP VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẶC TRƯNG NHIỆT ĐỘ THẤP CÓ HẠI CHO CÂY CAO SU Ở TỈNH LAI CHÂU 23 2.1 Tổng quan nghiên cứu nhiệt độ thấp có hại cho cây trồng 23
Trang 52.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 23
2.1.2 Những nghiên cứu trong nước 28
2.2 Đặc trưng nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su 29
2.2.1 Ngưỡng nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su 29
2.2.2 Khả năng xuất hiện nhiệt độ thấp theo các ngưỡng 31
2.2.3 Ngày bắt đầu và kết thúc các cấp nhiệt độ thấp theo các đai độ cao 35
2.3 Đánh giá mức độ khắc nghiệt của nhiệt độ thấp đối với cây cao su 38
CHƯƠNG 3 NỘI SUY DỮ LIỆU KHÔNG GIAN BẰNG THÔNG TIN VIỄN THÁM VÀ GIS PHỤC VỤ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN BỐ NHIỆT ĐỘ THẤP KHU VỰC NGHIÊN CỨU 40
3.1 Cơ sở dữ liệu nội suy 40
3.2 Tính toán nhiệt độ lớp phủ bề mặt từ ảnh MODIS và NOAA 41
3.2.1 Sơ đồ tính toán 41
3.2.2 Các thuật toán LST tại các điểm không mây 42
3.2.3 Phương pháp tính toán LST tại các điểm có mây 44
3.2.4 Kết quả tính toán giá trị LST 45
3.2.5 So sánh kết quả LST với giá trị thực đo 46
3.3 Tính toán nhiệt độ không khí tối thấp từ giá trị LST 49
3.3.1 Phương pháp tính toán 49
3.3.2 Kết quả tính toán nhiệt độ tối thấp 51
3.3.3 So sánh kết quả tính toán với thực đo 52
CHƯƠNG 4 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ CHUYÊN ĐỀ NHIỆT ĐỘ THẤP TỈNH LAI CHÂU 55
4.1 Cơ sở trắc địa 55
Trang 64.2 Kích thước và bố cục bản đồ 56
4.3 Quy trình thành lập bản đồ chuyên đề 57
4.4 Kết quả xây dựng tập bản đồ chuyên đề nhiệt độ thấp tỉnh Lai Châu 58
Các bản đồ về đặc trưng nhiệt độ thấp ở Lai Châu 58
4.5 Đề xuất vùng an toàn nhiệt độ thấp phục vụ quy hoạch phát triển sản xuất cao su ở Lai Châu 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 7MỤC LỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Lai Châu 7
Hình 2.1 Bản đồ phân vùng sức chịu đựng của cây trồng ở điều kiện nhiệt độ thấp vùng Bắc Mỹ 26
Hình 2.2 Bản đồ phân vùng sức chịu đựng của cây trồng ở điều kiện nhiệt độ thấp ở Australia 26
Hình 2.3 Hình ảnh minh họa tác hại của nhiệt độ thấp đối với cây cao su 30
Hình 3.1 Sơ đồ tính toán LST 42
Hình 3.2 Mối quan hệ giữa LST và độ cao địa hình khu vực Lai Châu 44
Hình 3.3 Bản đồ LST đêm 3 tháng 1 năm 2004 45
Hình 3.4 Nhiệt độ bề mặt lớp phủ LST theo ảnh MODIS và NOAA 45
(đêm 9/2/2010) 45
Hình 3.5 Đồ thị quan hệ giữa số liệu thực đo 46
và LST theo ảnh viễn thám 46
Hình 3.6 Mối quan hệ giữa Tmin và LST tỉnh Lai Châu 51
Hình 3.7 Bản đồ LST và Tmin trong một số đêm khu vực tỉnh Lai Châu 52
Hình 4.1 Sơ đồ khối thành lập bản đồ chuyên đề 58
Hình 4.2 Bản đồ phân bố thời gian xuất hiện nhiệt độ thấp dưới 100C có hại cho cây cao su tỉnh Lai Châu 60
Hình 4.3 Bản đồ ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su tỉnh Lai Châu 62
Hình 4.4 Bản đồ phân bố mức độ ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đối với cao su 64
Trang 8MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Một số đặc trưng khí hậu của tỉnh Lai Châu 17
Bảng 1.2 Phân kỳ đầu tư trồng mới 21
Bảng 2.1 Mức độ tổn thương do giá lạnh của rau và hoa quả ở Mỹ 24
Bảng 2.2 Nhiệt độ lạnh tối đa đối với cây ăn quả và cây rau ở Mỹ 24
Bảng 2.3 Nhiệt độ không khí (°C) theo hướng nhiệt độ bầu ướt Tw = 0 °C 25
theo các mức nhiệt độ điểm sương và độ cao 25
Bảng 2.4 Ngưỡng nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su 31
Bảng 2.5 Số ngày trung bình nhiều năm của các ngưỡng nhiệt độ theo các đai độ cao khác nhau 34
Bảng 2.6 Tần suất xuất hiện nhiệt độ tối thấp năm theo các ngưỡng nhiệt độ ở các đai độ cao 35
Bảng 2.7 Suất bảo đảm ngày bắt đầu và kết thúc của các ngưỡng nhiệt độ theo các đai độ cao 37
Bảng 2.8 Các đợt rét hại đối với cây cao su theo các đai độ cao 38
Bảng 2.9 Phân ngưỡng mức độ khắc nghiệt của nhiệt độ thấp đối với cây cao su 39 Bảng 3.1 Hệ số ai đối với thuật toán LST1 43
Bảng 3.2 Chênh lệch LST thực đo và tính toán 47
Bảng 3.3 Các đặc trưng thống kê trung bình nhiều năm về nhiệt độ tính toán và thực đo trong vùng nghiên cứu (tháng 1, 2, 3) 53
Bảng 3.4 Các đặc trưng thống kê trung bình nhiều năm giá trị nhiệt độ tính toán và thực đo trong vùng nghiên cứu (tháng 11,12) 54
Bảng 4.1 Diện tích đất tự nhiên có khả năng bị ảnh hưởng của nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su ở đai cao dưới 600m tỉnh Lai Châu 66
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn:
Lai Châu là một tỉnh miền núi phía Bắc được đánh giá là có nhiều lợi thế để phát triển cây công nghiệp dài ngày nhất là cây cao su, nhưng điều kiện thời tiết cực đoan nơi đây là một thách thức không nhỏ đối với sự sinh trưởng và phát triển của loại cây này Nhiệt độ thấp là hiện tượng rất nguy hại đối với cây trồng, trong đó sự sinh trưởng, phát triển, hình thành năng suất và hiệu quả kinh tế của các cây dài ngày phụ thuộc rất nhiều vào sự tác động của nhiệt độ thấp Tác hại nghiêm trọng của các đợt nhiệt độ thấp đối với các mô hình trồng các cây công nghiệp dài ngày, đặc biệt là cao su ở vùng Tây Bắc nói chung và Lai Châu nói riêng trong những năm gần đây đã góp phần minh chứng vai trò và ảnh hưởng của nó
Cao su khá “khó tính” trong việc lựa chọn đất, điều kiện khí hậu để có năng suất
và chất lượng mủ tốt, cây phải được trồng ở những nơi có độ dốc dưới 30 độ, tầng đất canh tác dày hơn 1m, độ cao không quá 700m so với mực nước biển, điều kiện khí tượng khí hậu thuận lợi Nhiệt độ thấp vào mùa đông là yếu tố khống chế quan trọng nhất, ảnh hưởng đến sống còn của vườn cây trồng mới và kiến thiết cơ bản, ảnh hưởng bất lợi đến sinh trưởng và sản lượng Vào mùa đông có nơi đến 70-80% diện tích cao su bị hại do lạnh Nhìn vào những yếu tố này đã thấy việc tìm đất cho cao su ở Lai Châu không hề đơn giản
Với mục tiêu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp - nông thôn và miền núi, cao su di nhập lên vùng Tây Bắc trong sự hy vọng của người dân cũng như lãnh đạo các cấp Thời gian đầu, cây phát triển tương đối tốt và ổn định, nhưng sau đó gặp phải sự khắc nghiệt của thời tiết Tây Bắc Nhiệt độ thấp đã làm cho một bộ phận diện tích cây cao su bị chết Sau nhiều năm liền mất trắng, từ sự háo hức ban đầu, người dân chán nản và bỏ mặc cao su
Nhận thấy sự thiệt hại to lớn đối với sản xuất cao su chủ yếu do điều kiện thời tiết – khí hậu mà đặc biệt là nhiệt độ thấp gây ra, một số tỉnh vùng Tây Bắc đã quan tâm đầu tư nghiên cứu, điều tra khảo sát tình hình nhiệt độ thấp nhằm có những biện
Trang 10pháp phòng tránh và quy hoạch thích hợp Những nghiên cứu đã góp phần không nhỏ trong việc phục vụ sản xuất và phát triển các cây trồng nói chung và cây công nghiệp nói riêng trong đó có cao su Song trước đây các nghiên cứu được tiến hành trong điều kiện số liệu và kỹ thuật tính toán còn nhiều hạn chế, việc nghiên cứu đánh giá chủ yếu chỉ tập trung khai thác số liệu của các trạm, trại và cơ quan nghiên cứu của ngành nông nghiệp, các trạm khí tượng thủy văn (KTTV), khí tượng nông nghiệp (KTNN), mà chưa có nghiên cứu nào có điều kiện được thu nhận dữ liễu và tính toán từ các công nghệ và mô hình tiên tiến như: hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám (RS), hệ thống định vị toàn cầu (GPS) vì vậy kết quả thu được còn hạn chế
Ngày nay kỹ thuật viễn thám đã chụp được bề mặt trái đất với độ phân giải rất cao cả về không gian, thời gian và phổ Với ưu thế của mình viễn thám có thể xác định được kịp thời và chi tiết diễn biến từng điểm cụ thể của bề mặt trái đất Trong nhiều trường hợp số liệu viễn thám là loại thông tin duy nhất được dùng để phân tích, bổ sung, cung cấp mảng số liệu thiếu hụt, nhất là ở các vùng khó tiếp cận Viễn thám (RS) kết hợp với hệ thống thông tin địa lý (GIS) và hệ thống định vị toàn cầu (GPS) có thể xây dựng được những bản đồ hiện trạng với độ chính xác cao đi cùng với nhiều thông tin hữu ích khác mà bản đồ thông thường không thể có Vì vậy, việc sử dụng các thông tin viễn thám và công nghệ GIS, GPS kết hợp với các quan trắc thu được từ bề mặt sẽ đáp ứng một cách khách quan các thông tin cần thiết như thời gian, phạm vi, mức độ và vị trí của các yếu tố khí tượng thủy văn (KTTV), khí tượng nông nghiệp (KTNN) đáp ứng kịp thời và đa dạng các số liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu đánh giá và dự báo KTTV, KTNN mà đặc biệt là phục vụ cho công tác giám sát và cảnh báo tác hại của thiên tai trong đó có nhiệt độ thấp để có các biện pháp quy hoạch, phòng tránh kịp thời
Trước những ưu thế rõ rệt của viễn thám, công nghệ GIS và nhu cầu cấp bách trong việc quy hoạch phát triển cây cao su bền vững, phòng tránh những tác hại của hiện tượng thời tiết cực đoan đặc biệt là nhiệt độ thấp có hại gây ra, vì vậy việc lựa
chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng bản đồ phân bố nhiệt độ thấp phục vụ quy
Trang 11hoạch trồng cây cao su ở tỉnh Lai Châu bằng công nghệ viễn thám và GIS” là hết
sức cấp thiết
Các nội dung nghiên cứu của đề tài được xây dựng trên hệ thống tổng hợp, mà nền tảng là công nghệ viễn thám và GIS cả phần cứng và phần mềm Đây là một sản phẩm khoa học công nghệ hiện đại, thể hiện rõ nét ứng dụng công nghệ tiên tiến kết hợp kiến thức chuyên môn đa ngành vào công tác quản lý, giám sát thiên tai mà trước mắt là nhiệt độ thấp phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và phát triển cao su nói riêng ở Lai Châu, vì vậy đề tài có tính khoa học và tính thực tiễn cao
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá được nguy cơ và mức độ tác hại của nhiệt độ thấp đối với cây
cao su ở Lai Châu
- Xây dựng được các bản đồ chuyên đề về nhiệt độ thấp tác động đến cây
cao su bằng công nghệ viễn thám và GIS
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Điều tra, khảo sát và thu thập dữ liệu có liên quan phục vụ công tác
nghiên cứu
- Nghiên cứu, đánh giá điều kiện hình thành và mức độ ảnh hưởng của
nhiệt độ thấp đến cây cao su
- Xây dựng các bản đồ chuyên đề nhiệt độ thấp bằng công nghệ viễn thám
và GIS tỉnh Lai Châu, tỷ lệ 1/50.000
- Đề xuất vùng an toàn nhiệt độ thấp phục vụ quy hoạch phát triển sản xuất cao su tỉnh Lai Châu
4 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Tỉnh Lai Châu
- Phạm vi khoa học: Nghiên cứu về điều kiện nhiệt độ thấp đối với sức chịu đựng của cây cao su ở Lai Châu
Trang 125 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Các bản đồ chuyên đề về nhiệt độ thấp được xây dựng trên
nền tảng công nghệ viễn thám và GIS là một bước tiến mới về ứng dụng kỹ thuật cao đối với công tác phát triển khoa học công nghệ ở trong nước, từng bước tiếp cận với công nghệ hiện đại ở trên thế giới Cung cấp cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, giám sát, dự báo, và khai thác hợp lý tài nguyên khí hậu, thuỷ văn, khí hậu nông nghiệp trong sự phát triển chung của nền kinh tế
Ý nghĩa thực tiễn: Tăng cường số liệu phục vụ công tác điều tra cơ bản nhằm
quản lý và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên cho từng vùng cụ thể trong sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là phát triển kinh tế vùng núi và những vùng khó khăn
Đưa ra các giải pháp phục vụ việc quy hoạch phát triển cây cao su hợp lý, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, nâng cao hiệu quả kinh tế
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
*) Quan điểm nghiên cứu:
- Quan điểm hệ thống: Đối tượng nghiên cứu (cao su) sẽ được coi là một chỉnh
thể tự nhiên, các hiện tượng chịu ảnh hưởng của một tập hợp các yếu tố tự nhiên
- Quan điểm tổng hợp: Là nền tảng để quản lý thống nhất các hợp phần tự
nhiên
- Quan điểm tiếp cận ứng dụng công nghệ hiện đại: Công nghệ hiện đại đang
phát triển nhanh và mạnh, đặc biệt là công nghệ viễn thám, GIS và các ứng dụng của nó trong phát triển của các chuyên ngành
- Quan điểm kế thừa các tài liệu đã có: Tài liệu đã có bao gồm các cơ sở dữ liệu
vùng nghiên cứu, cơ sở dữ liệu GIS phục vụ phân vùng Các kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án đã được tiến hành trước đây Cách tiếp cận này cho phép tận dụng nhiều số liệu tốt đã có, giảm chi phí điều tra khảo sát bổ sung
và giúp cho so sánh tài liệu lịch sử để đánh giá hiện tại
Trang 13- Quan điểm mô hình hoá các hiện tượng vật lý của các đối tượng để đưa vào
các mô hình tự động hoá tính toán
*) Phương pháp nghiên cứu:
- Các phương pháp xử lý ảnh viễn thám
- Phương pháp bản đồ
- Phương pháp thống kê áp dụng trong khí tượng - khí hậu, khí hậu nông
nghiệp
- Phương pháp điều tra khảo sát
- Các phương pháp nghiên cứu đánh giá điều kiện tài nguyên khí tượng thủy văn bằng các thông tin viễn thám đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới
- Công nghệ GIS trong việc chuyển đổi lưới toạ độ, thành lập cơ sở dữ liệu,
Chương 1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, đặc điểm sinh thái cây cao su
và tình hình phát triển cao su ở Lai Châu
Chương 2 Nghiên cứu về nhiệt độ thấp và đánh giá đặc trưng nhiệt độ thấp
có hại cho cao su ở tỉnh Lai Châu
Chương 3 Nội suy dữ liệu không gian bằng thông tin viễn thám và GIS
phục vụ xây dựng bản đồ phân bố nhiệt độ thấp khu vực nghiên cứu
Chương 4 Xây dựng các bản đồ chuyên đề nhiệt độ thấp tỉnh Lai Châu
Kết luận và kiến nghị
Trang 14Tài liệu tham khảo
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CÂY CAO SU VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CAO SU Ở
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Lai Châu Lai Châu là vùng núi trung bình và núi cao của khu Tây Bắc Núi cao tập
Trang 16trung ở phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh, ở đây là phần cuối cùng cao nguyên Vân Quý (Trung Quốc) Nhìn chung các dãy núi cao có hướng Tây Bắc – Đông Nam, phần phía bắc một số đỉnh cao từ 2000 – 2500m; dãy Hoàng Liên Sơn án ngữ ở Đông – Bắc, có nhiều đỉnh cao 2500 – 3000m, trong đó bao gồm đỉnh Fanxifăng cao nhất cả nước Mặt khác, về cấu trúc địa hình còn mang một số đặc điểm chung là: núi thấp dần và đổ dồn xuống các sông và suối lớn, núi non xen kẽ với các thung lũng sông, khe suối và các bồn địa Lọt vào giữa các dãy núi có rất nhiều dải trũng rộng, tạo thành những cánh đồng hẹp kéo dài, trong đó vùng núi tương đối bằng phẳng của Bình Lư nối liền với cánh đồng rộng Than Uyên ở phía đông Một cách khái quát có thể chia địa hình tỉnh Lai Châu ra 4 kiểu địa hình:
- Địa hình vùng núi có độ cao từ 500 - 1000m, đại diện là khu vực huyện Tam Đường
- Địa hình vùng núi cao từ 1000 - 1500m vùng này có độ chia cắt rất mạnh, địa hình hiểm trở; độ dốc trên 300
rất khó khăn cho việc bố trí sản xuất, lòng suối dốc có nhiều hang động, đại diện loại địa hình này là huyện Phong Thổ
- Địa hình vùng núi cao từ 1800 - 3000m, phân bố chủ yếu trên dãy núi biên giới Việt - Trung của huyện Mường Tè Độ dốc địa hình lớn hơn 300 và thảm thực vật rừng còn khá, do núi non hiểm trở nên dân cư sống ở vùng này rất thưa thớt
- Kiểu địa hình đồi núi thấp và thung lũng: Xen kẽ những dãy núi cao là những thung lũng sâu, hẹp hình chữ V và một số thung lũng có địa hình tương đối bằng phẳng như Mường So, Tam Đường, Than Uyên
Tỉnh có tới 58% diện tích với cao độ trên 800m; trên 20% diện tích cao độ từ 600-800m; 20% diện tích ở độ cao 300-600m Cao độ dưới 300m chỉ chiếm khoảng 2% diện tích toàn tỉnh Trong đó trên 90% diện tích có độ dốc trên 250
Trang 17đất của vùng, phân bố tại khu vực núi thấp và trung bình, địa hình đồi tru ng bình dọc theo các con suối, độ PH = 4 - 4,5 thích hợp trồng cây dài ngày, cây ăn quả + Đất mùn đỏ vàng trên đá sét (HS): Diện tích 503.925 ha, chiếm 57,2% tổng diện tích đất, đất có đá lộ đầu, đá lẫn ở nơi tầng mỏng, PH = 6 - 6,5 thích hợp với trồng khoanh nuôi bảo vệ rừng
+ Đất mùn vàng nhạt trên đá cát (Hq): Diện tích 212.655 ha, chiếm 24,1% diện tích đất Đất có phản ứng chua PH = 3,92 ở tầng đất mặt và có sự thay đổi giữa các tầng Hàm lượng chất hữu cơ trung bình và giảm nhanh theo độ sâu, tỷ lệ NPK không cân đối, lân tổng số nghèo, đạm tổng số trung bình, kali tổng số giàu Đất thích hợp với trồng cây lâu năm
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 9.065,123 km2, chủ yếu là các loại đất
đỏ và vàng nhạt phát triển trên đá, cát, đá sét và đá vôi, có kết cấu khá chặt chẽ Đất nông nghiệp đã sử dụng khoảng 64.299,9 ha chiếm 7,09% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó đất ruộng lúa, màu là 13.781,44 ha, đất nương rẫy 32.225,91 ha, đất trồng cây hàng năm khác 7.898,56 ha, đất trồng cây lâu năm (chủ yếu là chè) 3.066,88 ha, đất vườn tạp 1.093 ha, đất đồng cỏ chăn nuôi 5.978 ha, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 409 ha Đất lâm nghiệp đang có rừng 283.667 ha, độ che phủ đạt 31,3%, hầu hết là rừng phòng hộ, trong đó rừng tự nhiên là 274.651 ha, rừng trồng 9.015,94 ha Đất chuyên dùng có khoảng 4.489,61 ha, trong đó đất giao thông 2.982,52 ha, đất xây dựng 377,26 ha, đất ở 1.918,443 ha Đất trống đồi núi trọc có khả năng sử dụng còn rất lớn khoảng 525.862 ha (chiếm 58% diện tích tự nhiên), trong
đó đất bằng chưa sử dụng là 1.743,69 ha và đất đồi núi chưa sử dụng là rất lớn, khoảng 524.118,87 ha
Tỉnh Lai Châu có nhiều sông suối Sông có nhiều thác ghềnh, dòng chảy lưu
lượng lớn nên tiềm năng thuỷ điện rất lớn Sông Đà bắt nguồn từ Vân Nam – Trung Quốc Dòng chính sông Đà chảy vào nước ta tại xã Ka Long huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu Phần sông Đà nằm trong lãnh thổ nước ta dài 570km, diện tích lưu vực 26600km2 Sông Nậm Na (F=6860km2) – một nhánh của sông Đà cũng từ Trung
Trang 18Quốc chảy vào nước ta tại Nậm Cúm huyện Phong Thổ - Lai Châu Một số sông nhánh khác của sông Đà là Nậm Pô (F=2280km2), Nậm Mức (F=2930km2), Nậm
Mu (F=3400km2), Nậm Bú (F=1410km2), Nậm Sập (F=1110km2), Suối Sập (F=402km2), Suối Tác (F=524km2)
Hàng năm, mùa lũ trên các sông suối thường bắt đầu vào tháng 5 (ở các sông suối nhánh của sông Đà) còn trên sông chính bắt đầu vào tháng 6 Mùa lũ thường kéo dài từ tháng 5, 6 đến tháng 10 với tổng lượng dòng chảy chiếm tới 75 - 80% tổng lượng dòng chảy năm Mùa kiệt kéo dài tới 7 tháng (từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 5 năm sau) nhưng tổng lượng dòng chảy chỉ chiếm 15 - 20% dòng chảy năm Tháng kiệt nhất thường xảy ra vào tháng 3 và tháng 4
Tỉnh Lai Châu có một số loại khoáng sản giá trị cao như vàng, kim loại màu, đất hiếm…, song chưa được đầu tư thăm dò, đánh giá đầy đủ Đất hiếm gồm các loại quặng barít, florit ở Nậm Xe (Phong Thổ) với trữ lượng trên 20 triệu tấn Các điểm quặng kim loại màu như đồng, chì, kẽm ở khu vực Sin Cai, Bản Lang, Tam Đường với trữ lượng khoảng 6.000 – 8.000 tấn Đá lợp có ở ba điểm dọc theo bờ sông Đà, sông Nậm Na Vàng ở khu vực Chinh Sáng (Tam Đường), Bản Bo (Mường Tè), Noong Hẻo, Pu Sam Cáp (Sìn Hồ) Tỉnh còn có một số điểm suối khoáng nóng chất lượng nước khá tốt ở Vàng Bó, Than Uyên
1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu Lai Châu là khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh và ít mưa, có sương muối Mùa hè nóng, mưa nhiều Nửa cuối mùa đông là thời kì khô nóng chuyển tiếp sang mùa hè Khí hậu Lai Châu được phân hoá thành 2 tiểu vùng
có khí hậu rõ rệt là vùng thấp như Bình Lư, Tam Đường, Than Uyên và vùng cao nguyên như Sìn Hồ, Phong Thổ
1.1.2.1 Diễn biến khí hậu các mùa
Mùa đông: Lai Châu về mùa đông cũng chịu ảnh hưởng của khối không khí
cực đới lục địa ít nhiều bị biến tính qua lục địa hoặc qua biển và khối không khí
Trang 19nhiệt đới Thái Bình Dương Lai Châu không chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa cực đới, cho nên mùa đông lạnh và khô hơn so với vùng phía Đông Bắc Thời tiết khô hanh cuối mùa khô nhiều nơi (độ ẩm giảm xuống dưới 15% ở Sìn Hồ, Lai Châu) Ban ngày trời nắng nhưng ban đêm lạnh giá, do mặt đất bức xạ mất nhiệt Dao động nhiệt độ ngày đêm khá lớn nhiều khi tới 14-150
C Sự lạnh đi mạnh mẽ của mặt đất tạo điều kiện thuận lợi để hình thành sương mù bức xạ, đôi khi cả sương muối và băng giá, nhất là ở vùng núi cao Các giá trị tối thấp tuyệt đối của nhiệt độ đều xuất hiện trong loại hình thời tiết này
Ở vùng núi thấp: Mùa lạnh bắt đầu trung tuần tháng 11, kết thúc thượng tuần tháng 3 hoặc hạ tuần tháng 2; Vùng núi vừa có độ cao khoảng trên dưới 1000m mùa lạnh bắt đầu từ trung tuần tháng 10, kết thúc vào mùa hạ tuần tháng 3; Ở độ cao từ 1500m trở lên quanh năm lạnh và mát
Mùa xuân : Là thời kỳ chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hạ, không khí cực
đới lục địa biến tính còn ảnh hưởng tới Lai Châu nhưng với tần suất rất thấp và cường độ yếu, không có khả năng gây những đợt rét mạnh Không khí nhiệt đới biển đã hoạt động khá mạnh mẽ Sự kết hợp của hai khối không khí nói trên là nguyên nhân quan trọng nhất của các trận mưa dông, mưa đá và gió mạnh xảy ra
vào thời kỳ cuối mùa xuân đầu mùa hạ Về mùa xuân, ngoài một số ngày ấm áp dễ chịu, thời tiết thường nắng nóng, gây ra hạn ở nhiều nơi
Mùa hạ : Về mùa hè, các khối không khí chủ yếu ảnh hưởng đến Lai Châu
là không khí nhiệt đới vịnh Bengan (luồng gió tây của gió mùa mùa hạ) và không khí nhiệt đới biển Thái Bình Dương (luồng phía nam của gió mùa mùa hè)
Đầu mùa, không khí nhiệt đới vịnh Bengan thường mang lại thời tiết nóng oi, kèm theo dông nhiệt Luồng gió mùa mùa hạ phía tây, mang lại không khí vịnh Bengan, vốn phát sinh trong khu vực biển nhiệt đới xích đạo của bắc Ấn Độ Dương Trước khi đến Tây Bắc, không khí nhiệt đới vịnh Bengan phải vượt qua một vùng lục địa có địa hình núi cao ở Miến Điện, đông bắc Thái Lan và bắc Lào, mất đi một phần lượng ẩm do mưa ở những vùng này Mặt khác, do hiệu ứng “fơn” khó vượt
Trang 20qua dãy núi bắc Lào, sang đến Tây Bắc khối không khí này trở thành nóng và khô hơn, gió mạnh lên Thời tiết nóng khô do không khí từ phía tây mang lại (trước đây được gọi là gió Lào) rất thịnh hành ở Tây Bắc Tần số của thời tiết gió tây khô nóng
ở Lai Châu tương đối lớn, chiếm 12- 20 ngày trong năm Vì vậy, trong trường hợp
có những điều kiện hình thành dông nhiệt lực thuận lợi, không khí Bengan vẫn có thể gây ra mưa rào hoặc mưa dông kèm theo gió rất mạnh ( >30 m/s )
Không khí nhiệt đới biển Thái Bình Dương (khối không khí xích đạo) là khối không khí chủ yếu ảnh hưởng đến tỉnh Lai Châu trong mùa hè và quyết định tỷ trọng của lượng mưa năm Không khí xích đạo tràn đến các tỉnh khu vực phía Tây Bắc, trong đó bao gồm Lai Châu thì ẩm và mát hơn so với không khí nhiệt đới vịnh Bengan Suốt cả mùa hè không khí nhiệt đới biển Thái Bình Dương thường mang lại thời tiết nóng, ẩm, mưa nhiều, nhất là khi có bão, hội tụ nhiệt đới Trong trường hợp đó, thời tiết thường xấu, mưa tầm tã kéo dài Vì vậy, không khí xích đạo là nguồn cung cấp ẩm chủ yếu, góp phần quan trọng vào việc hình thành mùa mưa ở Tây Bắc trong đó có tỉnh Lai Châu
Vào đầu và cuối mùa hạ thường đưa lại thời tiết tốt, nắng đẹp, quang mây Khi có điều kiện động lực thuận lợi không khí nhiệt đới Thái Bình Dương có thể gây mưa lớn và dông Không khí cực đới biến tính, với tần suất tương đối thấp, thường làm suy yếu các đợt gió tây khô nóng hoặc tăng cường các nhiễu động thời tiết (hội tụ, bão) cuối mùa hạ Về cơ bản, mùa hạ là mùa mưa
Mùa thu: Là mùa chuyển tiếp từ mùa hè sang mùa đông Lúc này, các hệ thống
mùa hè đang suy yếu, các hệ thống mùa đông bắt đầu phát huy ảnh hưởng Nói chung thời tiết mát mẻ dễ chịu, ban ngày quang mây, trời nắng, ban đêm thường xuất hiện sương mù bức xạ, ở vùng núi cao trên 1000m bắt đầu lạnh
1.1.2.2 Diễn biến các yếu tố khí hậu
a) Chế độ nhiệt
Nhiệt độ không khí trung bình năm ở Lai Châu vào khoảng 16-23oC Hầu hết vùng núi thấp và vừa dưới 700m đều có nhiệt độ trung bình năm trên 21oC, lên cao
Trang 21trên 1500m đều dưới 16oC, các đỉnh núi cao trên 2500m đặc trưng này chỉ còn dưới
11oC
Tương ứng với nhiệt độ trung bình năm như trên là tổng nhiệt độ Đại bộ phận của Lai Châu có tổng nhiệt độ trung bình năm 3500 - 8500oC phân bố như sau: vùng núi thấp và vừa dưới 700m đều có tổng nhiệt độ trung bình năm trên 7500-
8500oC, lên cao 1500m trị số giảm xuống dưới 6000oC, các đỉnh núi cao trên 2500m tổng nhiệt độ trung bình năm dưới 4000oC
Mùa đông, nền nhiệt độ ở Tây bắc nói chung cũng như Lai Châu nói riêng ít lạnh hơn khu Đông Bắc và cả vùng Việt Bắc (cũ); nhưng nhiều nơi ở vùng núi vừa trở lên đều có khả năng xuất hiện sương muối và nhiệt độ xuống dưới 0oC Cuối mùa đông là thời kỳ hanh khô
Về mùa đông, nền nhiệt độ hạ thấp Vào tháng 1, tháng lạnh nhất của mùa đông Nhiệt độ trung bình tháng này xuống dưới 10oC, thị xã Lai Châu 17,2oC
Cả 3 tháng giữa mùa đông (12 - 2) trừ Mường Tè và Lai Châu (tháng 3) ra, nhiệt độ trung bình tháng đều dưới 18oC Đáng chú ý là trong mùa này các địa điêm nằm sâu trong vùng trũng khuất như thị xã Lai Châu, Phong Thổ, đều ấm hơn các vùng khác
Đặc trưng nhiệt độ thấp nhất trung bình tháng 1 và tháng 12 đều dưới 14oC, vùng núi cao trên 1000m không vượt quá 10o
C, riêng Sìn Hồ có độ cao xấp xỉ 1500m, nhiệt độ thấp nhất trung bình kéo dài trong 4 tháng mùa đông (11 - 2) đều dưới 10o
C
Về mùa hè, nền nhiệt độ khá cao Vào tháng 6 (có nơi tháng 7) tháng trung tâm của mùa nóng, nhiệt độ trung bình đều trên 26oC (nhưng chưa đến 27o
C) ở các vành đai dưới 400m Các vùng cao trên 1000m nhiệt độ trung bình tháng 7 đạt dưới
22oC, ở độ cao trên 1500m chỉ còn dưới 20oC Ở độ cao dưới 500m, cả 6 tháng mùa
hè (5 - 10), nhiệt độ trung bình tháng đều trên 22oC Lên đến độ cao 1500m như Sìn
Hồ, chỉ có 5 tháng trong mùa hè (5 - 9) trung bình tháng trên 18oC
Trang 22Trị số nhiệt độ cao nhất tuyệt đối nhìn chung khá lớn Vùng núi thấp dưới 400m đều đạt trên 40o
C, thị xã Lai Châu 42,5oC, vùng núi vừa 400 - 1000m có nhiệt
độ cao nhất tuyệt đối từ 34 đến 40oC; độ cao 1000 - 1500m đạt 31 - 34o
C; các vùng núi cao trên 1500m nhiệt độ cao nhất tuyệt đối sẽ nhỏ hơn 31oC
Đáng chú ý là nhiều nơi trị số cao nhất của nhiệt độ thường xảy ra vào tháng
5, cũng không ít nơi xuất hiện sớm hơn, tập trung các vùng núi cao như Pha Đin, Sìn Hồ vào tháng 4
Về nhiệt độ cao nhất tuyệt đối, sự khác biệt giữa các địa điểm có độ cao khác nhau tương đối rõ rệt Nói chung, càng lên cao nhiệt độ cao nhất tuyệt đối càng giảm
Số ngày mưa ở Lai Châu cũng khá nhiều, nhiều nơi có số ngày mưa trung bình năm trên 160 ngày như: Bình Lư: 160 ngày, Phong Thổ: 168 ngày, Tam Đường 176 ngày và Sìn Hồ 178 ngày
Các nơi khác có số ngày mưa ít hơn, nhưng trung bình trong năm cũng có tới
130 – 150 ngày như: Lai Châu với 143 ngày
Ở hầu hết các nơi trong tỉnh, lượng mưa 5 tháng mùa đông (11- 3) đều dưới 100mm, trong đó các tháng chính đông (12, 1, 2) không vượt quá 50mm Trái lại, lượng mưa các tháng mùa hè đều trên 100mm, trong đó 3 tháng giữa mùa hè (6, 7, 8) đều trên 300mm, đó cũng chính là thời kỳ mưa lớn nhất trong năm
Trang 23Tháng có mưa cực đại phổ biến là tháng 7, cá biệt có nơi vào tháng 6 hoặc tháng 8 Đầu mùa mưa thường hay có mưa đá Mưa nhiều, tập trung vào giữa các tháng 6, 7, 8 (âm lịch), chiếm 80% lượng mưa cả năm Do lượng mưa khá tập trung nên thường gây lũ lụt, xói mòn đất, ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống
Độ ẩm tương đối trung bình năm phổ biến là 82- 85%, không sai khác nhau nhiều giữa các vùng trong tỉnh Nhưng diễn biến mùa lại khác nhau lớn
Mùa hè, độ ẩm tương đối lớn hơn các tháng mùa đông Trong 4 tháng vào thời kỳ mùa hè (6, 7, 8, 9) giá trị trung bình tháng hầu hết từ 85% trở lên, cao nhất xuất hiện tháng 7 hoặc tháng 8 (87- 91%) Độ ẩm tương đối tháng nhỏ nhất là tháng
3 Thời kỳ hàm lượng ẩm nhỏ nhất trong năm là 3 tháng 2, 3, và tháng 4 Đó cũng là điểm khác biệt của độ ẩm tương đối so với phía đông bắc bộ Các tháng trong thời
kỳ này đều có độ ẩm không vượt quá 80% Cho nên, đối với Tây bắc nói chung cũng như Lai Châu nói riêng, trước khi mùa hè đến là một thời kỳ khá khô, nhiều nơi có độ ẩm thấp nhất tuyệt đối dưới 12%, và phân bố như : Sìn Hồ 4% (tháng 1), Bình Lư 9% (xuất hiện tháng 3), Lai Châu 11% (xuất hiện tháng 3) và Tam Đường 10% (xuất hiện tháng 2)
Đối với cực trị này đều tập trung xuất hiện vào tháng 3 là tháng khô nhất trong năm, ngoài ra tháng 2 và tháng 1 cũng có khả năng xảy ra, nhưng ít, trong các tháng mùa hè, độ ẩm thấp nhất tuyệt đối trong tháng, nhiều nơi đều dưới 45%
c) Chế độ nắng-gió
Số giờ nắng trung bình năm ở đây phổ biến đạt từ 1800-2000 giờ/năm, chênh lệch giữa các vùng không đáng kể Có thể khẳng định, Lai Châu là tỉnh có số giờ nắng nhiều nhất của miền khí hậu phía Bắc (từ đèo Hải Vân ra Bắc) Điều này còn biểu hiện ở tất cả các tháng trong năm, mọi nơi đều có số giờ nắng trung bình trên
100 giờ/tháng
Trên biến trình năm của đặc trưng này, chênh lệch giữa các tháng về số giờ nắng không lớn lắm, song cũng phân biệt giữa hai thời kỳ khác nhau: thời kỳ ít nắng xuất hiện vào 3 tháng giữa mùa hè (6, 7, 8), trung bình mỗi tháng 100 – 150 giờ,
Trang 24trong đó tháng 6 hoặc tháng 7 nắng ít nhất trong năm Nắng nhiều rơi vào thời kỳ cuối mùa đông đầu mùa hè (3, 4, 5), nhiều nắng nhất là tháng 4, hầu khắp các nơi đều đạt trên 200 giờ nắng
Nằm sâu trong lục địa nên tốc độ gió trung bình ở Lai Châu không lớn Tốc
độ gió trung bình tháng 0.5-2.6 m/s Mức độ che khuất của địa hình ở Lai Châu không những ảnh hưởng đến sự phân bố hướng gió, mà còn làm suy giảm tốc độ gió trung bình do có nhiều thời gian lặng gió Có thể phân biệt ở các vùng núi vừa và cao từ 700m trở lên, tốc độ gió trung bình năm trên 1m/s; dưới 700m nhỏ hơn 1m/s; Khu vực Mường Tè có tốc độ gió nhỏ nhất trung bình tháng nhỏ nhất từ 0.4- 0.6 m/s; Pha Đin có tốc độ gió trung bình năm lớn nhất, đạt gần 3m/s; vượt xa các nơi khác như Tam Đường và cả trạm có độ cao hơn là Sìn Hồ
d) Các hiện tượng thời tiết khác
Hiện tượng sương mù ở tỉnh Lai Châu xuất hiện không nhiều, ít hơn so với 2 tỉnh Điện Biên và Sơn La Số ngày có sương mù hàng năm trung bình từ 37- 46 ngày, đặc biệt ở Mường Tè số ngày có sương mù đạt khá lớn (≈ 91 ngày), ở Tam Đường sương mù xuất hiện ít nhất (tính trung bình cả năm khoảng 18 ngày)
Là một trong 3 tỉnh vùng núi Tây Bắc, dông ở đây cũng khá nhiều, tính chung cho cả tỉnh hàng năm có tới 57 ngày dông, theo số liệu quan trắc ở trạm Lai Châu có dông nhiều nhất với hơn 70 ngày/năm và ở Tam Đường dông ít nhất khoảng 46 ngày/năm Dông, tố kèm gió mạnh thường gây ra thiệt hại đáng kể đối với sinh trưởng và phát triển cây cao su
Tỉnh Lai Châu có số ngày mưa đá nhiều nhất trong vùng Tây Bắc Mưa đá xuất hiện chủ yếu vào tháng 3 và tháng 4, trung bình hàng năm có từ 1.3 - 2.2 ngày xảy ra hiện tương này Hiện tượng sương muối ở những vùng thung lũng và núi cao xảy ra ở mức trung bình, xuất hiện trên phạm vi hẹp Số ngày có sương muối trung bình ở các địa phương dao động từ 1.3 - 2.1 ngày/năm, sương muối xuất hiện nhiều nhất ở Sìn Hồ với 11.9 ngày/năm
Trang 25Bảng 1.1 Một số đặc trưng khí hậu của tỉnh Lai Châu
Địa điểm
Độ cao (m)
Nhiệt độ không khí
( 0 C)
Lượng mưa (mm)
Số giờ nắng (giờ)
Độ ẩm không khí (%)
1.2 Đặc điểm sinh thái cây cao su [13]
Cây cao su có tên khoa học là Hevea brasiliensis, thuộc họ thầu dầu Euphorbiacea Cao su là cây đa tác dụng, trồng cây cao su cho hiệu quả kinh tế cao, ngoài khai thác mủ, thân cây còn là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, đồng thời có thể giúp cải thiện khí hậu, giữ ẩm cho đất, phát triển chăn nuôi dưới tán rừng, vv
Mủ cây cao su có giá trị kinh tế cao, 1 ha khai thác mủ bình quân đạt 1,5 tấn/ha/năm, có nơi có thể đạt 1,8-2,0 tấn/ha/năm; sản phẩm mủ xuất khẩu có thể đạt tới 36 triệu đồng/tấn Cây cao su có chu kỳ kinh doanh khoảng trên 20 năm, gỗ sử dụng trong công nghiệp chế biến, giá hiện tại đang xuất khẩu bình quân đạt 1.200 USD/m3 gỗ thành khí
Hạt cao su dùng làm giống, làm nguyên liệu tẩy rửa, thức ăn gia súc, hoá chất sơn và các loại phụ kiện khác Cành lá dùng làm củi đun, lá cao su dùng làm phân bón khi phân huỷ
Trang 26Giá trị về môi trường, sinh thái: cây cao su trồng tập trung có khả năng giữ
và tạo được nguồn nước, có độ che phủ lớn, chống xói mòn và có giá trị cảnh quan sinh thái du lịch
Đặc điểm sinh thái của cây cao su:
Đất đai: Cây cao su có thể sống trên hầu hết các loại đất khác nhau ở vùng nhiệt đới ẩm, thích hợp với các vùng đất có bình độ tương đối thấp: dưới 200m Càng lên cao thì nhiệt độ càng thấp và ảnh hưởng của gió càng mạnh không thuận lợi cho cây cao su Bình độ lý tưởng được khuyến cáo để trồng cao su là: vùng xích đạo, trong đó có Việt Nam, có thể trồng cao su ở độ cao đến 500–600m
Độ dốc: Cây cao su thường được trồng trên nền đất có độ dốc nhỏ hơn 8% Với độ dốc 8 - 30% thì vẫn trồng được nhưng chú ý đến các biện pháp chống xói mòn Độ dốc liên quan đến độ phì nhiêu của đất Đất càng dốc thì xói mòn càng mạnh, khiến các chất dinh dưỡng trong đất, nhất là trong lớp đất mặt mất đi nhanh chóng Khi trồng cao su trên đất dốc cần phải thiết lập các hệ thống bảo vệ đất, chống xói mòn rất tốn kém như đê, mương, đường đồng mức… Hơn nữa, các diện tích cao su trồng trên đất dốc sẽ gặp nhiều khó khăn trong công tác trồng mới, chăm sóc, thu mủ và vận chuyển mủ về nhà máy chế biến
Độ sâu tầng đất: độ sâu lý tưởng cho trồng cây cao su là 2m, tuy nhiên trong thực tế nếu độ sâu tầng đất là 0,8 - 2m thì vẫn có thể trồng được, độ pH trong đất thích hợp cho cây cao su là 4,5- 5,5, giới hạn pH đất có thể trồng cây cao su là 3,5 - 7,0 Đất trồng cao su phải có cấp hạt sét ở lớp đất mặt (0 - 30cm) tổi thiểu là 20%, ở lớp đất sâu hơn (>30cm) tối thiểu là 25% Đất nơi có mùa khô kéo dài, thì thành phần sét phải đạt 30 - 40% Ở các vùng khí hậu khô, đất có tỉ lệ sét từ 20 - 25% (đất cát pha sét) được xem là giới hạn cho cây cao su Đất có thành phần hạt thô chiếm trên 50% trong 0,8m lớp đất mặt là ít thích hợp cho việc trồng cao su Các thành phần hạt thô sẽ gây trở ngại cho sự phát triển của rễ cao su và ảnh hưởng bất lợi đến khả năng dự trữ nước của đất
Nhiệt độ: Cây cao su là cây trồng nhiệt đới điển hình nên sinh trưởng bình thường trong khoảng nhiệt độ 22-300
C và khoảng nhiệt độ tối thích là 22-280C
Trang 27(nhiệt độ 250C là nhiệt độ mà năng suất cây có thể đạt mức tối đa) Ở nhiệt độ này, môi trường sẽ mát dịu vào buổi sáng sớm (1giờ – 5giờ), giúp cây sản xuất mủ cao nhất Các vùng đất trồng cao su hiện nay trên thế giới phần lớn ở vùng khí hậu nhiệt đới, có nhiệt độ trung bình 20-280
C
Nhiệt độ thấp hơn 180C, sẽ ảnh hưởng đến sức nảy mầm của hạt, tốc độ sinh trưởng của cây chậm lại Nếu nhiệt độ thấp hơn 100
C, hạt mất sức nảy mầm hoàn toàn, đối với cây ngoài vườn thì bị rối loạn hoạt động trao đổi chất và chết nếu nhiệt
độ này kéo dài Nhiệt độ thấp hơn 50
C, cây sẽ bị nứt vỏ, chảy mủ hàng loạt, đỉnh sinh trưởng bị khô và cây chết Nếu nhiệt độ lớn hơn 300
C, sẽ gây ra hiện tượng mủ chảy dai trong khai thác, làm giảm năng suất mủ Nhiệt độ mà cao hơn 400C, gây ra hiện tượng khô vỏ ở gốc cây và dẫn đến cây chết
Lượng mưa và ẩm độ: Cây cao su thường được trồng trong những vùng có lượng mưa 1800- 2500mm/năm, số ngày mưa thích hợp là 100 – 150 ngày/năm Ẩm
độ không khí bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su là trên 75%, đồng thời ẩm độ không khí cũng thể hiện tương quan tỷ lệ thuận với dòng chảy mủ khi khai thác Bên cạnh lượng mưa thì sự phân bố mưa và tính chất cơn mưa cũng rất quan trọng Việc khai thác mủ tập trung vào buổi sáng, vì thế số ngày mưa vào buổi sáng càng nhiều thì năng suất càng giảm
Khả năng chịu hạn: Cây cao su có khả năng chịu hạn cao hơn một số cây công nghiệp khác như: tiêu, cà phê… Tuy nhiên, cây cao su trồng mới từ 6 tháng trở xuống không thể chịu hạn tốt do bộ rễ chưa được phát triển đầy đủ, cao su trong vườn ươm thì không thể chịu hạn quá 1 tháng Nhưng cao su trồng mới trên 6 tháng
có thể chịu hạn trên 4 – 5 tháng
Khả năng chịu úng: Cây cao su cũng thể hiện một sức chịu đựng tốt Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng giống, đối với cây đang trong giai đoạn cạo mủ, nếu bị ngập sâu khoảng 30 - 40 ngày, thì 75% số cây trên vườn sẽ chết, số còn lại tăng trưởng chậm, cây khô và bong vỏ nên không cạo mủ được nữa
Trang 281.3 Tình hình phát triển cây cao su ở tỉnh Lai Châu [1]
a) Định hướng quy hoạch
Cây cao su đang được tỉnh Lai Châu coi là loại cây chiến lược, đột phá mạnh
mẽ nhằm làm chuyển hướng phát triển kinh tế nông thôn, nhất là những vùng bị ảnh hưởng của các công trình thủy điện (chủ yếu tại huyện Sìn Hồ)
Cây cao su được quy hoạch phát triển trên địa bàn huyện Sìn Hồ, Phong Thổ
và Mường Tè Định hướng đến 2020, toàn tỉnh có trên 20.000 ha cao su tập trung Trong đó:
+ Giai đoạn 2008 - 2010 đã trồng 6.000 ha
+ Giai đoạn 2011 - 2015 có 16.000 ha
+ Giai đoạn 2016 - 2020 có 20.000 ha
- Địa bàn quy hoạch trồng:
+ Vùng I: Bao gồm 8 xã thuộc vùng thấp của huyện Sìn Hồ: Ma Quai, Nậm Tăm, Nậm Cha, Noong Hẻo, Căn Co, Nậm Mạ, Nậm Cuổi, Nậm Hăn với quy mô diện tích trên 15.000 ha
+ Vùng II: Bao gồm 4 xã thuộc lưu vực sông Nậm Na của huyện Sìn Hồ: Lê Lợi, Chăn Nưa, Pa Tần, Nậm Ban với quy mô diện tích trên 2.000 ha
+ Vùng III: Bao gồm 8 xã lưu vực sông Nậm Na của huyện Phong Thổ: Thị trấn Phong Thổ, xã Mường So, Nậm Xe, Khổng Lào, Hoang Thèn, Ma Ly Pho, Bản Lang, Huổi Luông với quy mô diện tích trên 2.000 ha
+ Vùng IV: Bao gồm 3 xã dọc theo sông Đà gồm các xã Mường Mô, Nậm Hàng, Kan Hồ của huyện Mường Tè với quy mô diện tích trên 2.000 ha
- Phân kỳ đầu tư trồng mới:
Trang 29Bảng 1.2 Phân kỳ đầu tư trồng mới
III
b) Phát triển cây cao su từ trước đến nay
Lai Châu là một tỉnh đi đầu trong việc phát triển cây cao su trên diện rộng trong thời gian vừa qua tại vùng miền núi phía Bắc Trên địa bàn tỉnh tại huyện Phong Thổ và Than Uyên đã có diện tích cây cao su được trồng từ năm 1993 Hai vườn cây này đã được Viện Khoa Học Kiến Thiết Nông Lâm Nghiệp (KHKT NLN) miền núi phía Bắc đánh giá sơ bộ về khả năng sinh trưởng và cho mủ Kết quả cho thấy cây cao su tại Phong Thổ sinh trưởng tốt hơn ở Than Uyên trong điều kiện bỏ hoang dại Cây cao su có khả năng cho mủ trên 1 tấn/ha/năm
* Năm 2006: Thực hiện kế hoạch trồng cây cao su trên địa bàn huyện Phong Thổ của UBND tỉnh Lai Châu, kết quả tổ chức triển khai năm 2006 trồng được 132,2 ha
Trang 30* Năm 2007: Sau khi có kế hoạch của UBND Tỉnh, nghị quyết của HĐND huyện,
UBND huyện đã giao cho phòng kinh tế làm chủ đầu tư Ngày 11 tháng 4 năm
2007, UBND Huyện đã mở hội nghị giao kế hoạch trồng cây cao su cho 7 xã, 1 thị trấn Kết quả tổ chức triển khai năm 2007 trồng được 475,190 ha
* Giai đoạn từ năm 2008 đến nay:
Năm 2008, Lai Châu chuyển sang hướng trồng cao su theo hướng đại điền
do Công ty cổ phần cao su Lai Châu là chủ đầu tư Ngày 18 tháng 6 năm 2008, Công ty cổ phần cao su Lai Châu thuộc tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam được thành lập với vốn điều lệ 200 tỷ đồng Kế hoạch trồng cao su năm 2008 của công ty là 1.000 ha Diện tích tập trung ở vùng thấp huyện Sìn Hồ Kết thúc năm
2008, công ty cổ phần cao su Lai Châu trồng được 912 ha
Năm 2009, kế hoạch trồng cao su trên địa bàn tỉnh là 2.500 ha (huyện Sìn Hồ 2.290 ha, huyện Phong Thổ 210 ha) Diện tích cao su trồng được năm 2009 là 2.211
ha Trong đó huyện Sìn Hồ đạt 2001 ha, huyện Phong Thổ là 210 ha
Năm 2010 tỉnh có kế hoạch trồng 2.211 ha cao su Ngày 26 tháng 5 năm
2010 đã ra mắt công ty cổ phần cao su Lai Châu 2, trong đó công ty cổ phần Cao su
số 2 Lai Châu được giao trồng 1.000 ha trên địa bàn các xã Chăn Nưa (Sìn Hồ), Nậm Hàng (Mường Tè)
Năm 2011 trồng mới được 298,5 ha, nâng tổng diện tích trồng từ năm 2006
đến 2011 là 6.531,4 ha
Trang 31CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU VỀ NHIỆT ĐỘ THẤP VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẶC TRƯNG NHIỆT ĐỘ THẤP CÓ HẠI CHO CÂY CAO SU Ở TỈNH
LAI CHÂU
2.1 Tổng quan nghiên cứu nhiệt độ thấp có hại cho cây trồng
2.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Nhiệt độ thấp vào mùa đông là yếu tố khống chế quan trọng nhất, ảnh hưởng đến sống còn của vườn cây trồng mới và kiến thiết cơ bản, ảnh hưởng bất lợi đến sinh trưởng và sản lượng Thiệt hại do lạnh ở cây cao su chưa phân cành > cây đã phân cành > cây khai thác Tại vùng Xishuangbanna (Vân Nam, Trung Quốc) vào mùa đông năm 1973/1974 có đến 67,5% diện tích cao su bị hại do lạnh
và sương muối ở các cấp độ hại khác nhau với nhiệt độ tối thấp 1,9-3,70
C; mùa đông năm 1999/2000 với nhiệt độ tối thấp 1,90C nhưng tỷ lệ diện tích cao su bị hại
là 36,2% với cấp độ hại nhẹ hơn do nhiều diện tích đã được trồng với giống chịu lạnh
Ở trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về giá lạnh, sương muối, sương giá của các nước như Nga, Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Cụ thể ở Mỹ: Các tác giả đã đưa ra mức độ tổn thương do giá lạnh của các loại rau và hoa quả (bảng 2.1)
Trang 32Bảng 2.1 Mức độ tổn thương do giá lạnh của rau và hoa quả ở Mỹ
Nhóm cây dễ bị tổn thương Nhóm chịu ảnh hưởng mức
1 Cây ăn quả (mơ, bơ, chuối,
chanh vàng, đào, mận, các loại
quả quả mọng trừ việt quấtviệt
quất)
1 Cây ăn quả (táo tây, nho, cam, lê, bưởi chùm)
1.Cây ăn quả: chà là
2 Cây rau (măng tây, dưa
chuột, cà dái dê, ớt, cà chua,
khoai tây, các cây họ đậu, các
cây họ bí)
2 Cây rau (lơ xanh, cà rốt, súp lơ, cần tây, hành tây, mùi tây, việt quất, đậu Hà lan, củ cải làm salat, rau bina, bí đỏ
2 Cây rau (cây cải, bắp cải, su hào, củ cải vàng, cây diếp củ, củ cải đường
Năm 1957, Whiteman, tác giả người Mỹ đã xác định ngưỡng nhiệt độ lạnh tối đa đối với các cây ăn quả và cây rau ở Mỹ (bảng 2.2)
Bảng 2.2 Nhiệt độ lạnh tối đa đối với cây ăn quả và cây rau ở Mỹ
C)
1 Các cây ăn quả lâu năm (anh đào, táo tây và táo ta, mơ, na,
lê, đào, cam, chanh, quýt, mận, lựu, vú sữa, trứng gà, chuối,
khế, nho, na, chà là, dừa, nho, táo dại, dâu tây, cây trứng gà (lê
ki na), xoài; sung, ô liu)
(-1.0) đến (-3.0)
2 Cây rau, hoa (măng tây, các cây rau họ đậu, củ cải đường
cụm, cải bắp, củ cải đường ngọn, cà rốt, súp lơ, cần tây, rau
diếp, ớt, cải xoăn, dưa chuột, tỏi tây, thì là, xu hào, các cây họ
bí, dưa, hành, đu đủ, tiêu, dứa, chuối lá, khoai tây sớm, đậu Hà
Lan)
(-1.5) đến (-3.0)
Trang 334 Cây dược liệu (Atisô, lá thơm, đại hoàng, mộc qua…) (-1.5) đến (-3.0)
Nguồn: Whiteman, 1957, báo cáo của trường đại học California (Hoa Kỳ)
Bảng 2.3 Nhiệt độ không khí (°C) theo hướng nhiệt độ bầu ướt Tw = 0 °C
theo các mức nhiệt độ điểm sương và độ cao
Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới được tiến hành, sử dụng công nghệ GIS và
dữ liệu viễn thám để theo dõi trạng thái sinh trưởng phát triển của cây trồng, đánh giá tác hại của thiên tai trong đó có nhiệt độ thấp Các nhà nghiên cứu đã trình bày kết quả theo các hướng, bao gồm: phân tích dữ liệu viễn thám là hàm của các thông
số sinh lý của cây trồng và thay đổi theo thời gian của chúng, giải thích các quan sát bằng các mô hình lý thuyết, xác định các thuật toán phân loại, phát triển hoặc ứng dụng các phương pháp phân loại, xác định các thông số sinh lý của cây trồng và kết hợp với các mô hình tăng trưởng để giám sát trạng thái sinh trưởng, phát triển, hình
Trang 34thành năng suất và giám sát các yếu tố khí tượng bất lợi như: nhiệt độ thấp, sương muối, sương giá, hạn hán đến sinh trưởng phát triển của cây trồng bởi các modul phần mềm, sau đó tích hợp trong GIS để xây dựng các bản đồ chuyên đề
Dưới đây là một số hình ảnh về bản đồ nhiệt độ thấp của các nước đã xây dựng
Hình 2.1 Bản đồ phân vùng sức chịu đựng của cây trồng ở điều kiện nhiệt độ thấp
Trang 35đã mang lại những hiệu quả rất rõ rệt đối với nền kinh tế xã hội Đối với nông nghiệp nó mang lại hiệu quả kinh tế ở những điểm sau:
- Nâng cao độ chính xác khi thành lập các bản đồ Ứng dụng viễn thám và GIS có thể nâng cao hiệu quả từ 140-190% so với các công nghệ khác Thông tin viễn thám
và GIS rất phong phú thậm chí nó còn cung cấp các thông tin dưới dạng lập thể (không gian), vì vậy cho phép xác định chính xác và chi tiết đối tượng nghiên cứu
- Tiết kiệm được thời gian, việc ứng dụng viễn thám và GIS trong nghiệp vụ có thể tiết kiệm được thời gian từ 4 – 10 lần so với công nghệ truyền thống hiện nay
- Tiết kiệm được kinh phí từ 70-80% so với các phương pháp hiện nay
- Ở Mỹ dùng viễn thám và GIS để dự báo năng suất tiểu mạch làm lợi 0,4 tỷ USD/ năm, phòng chống tác hại của thiên tai và sâu bệnh làm lợi 750 triệu USD
- Tại Trung Quốc dùng viễn thám và GIS để dự báo năng suất tiểu mạch làm lợi 2
tỷ Nhân dân tệ/ năm… Dùng số liệu viễn thám trong việc điều tra sử dụng đất chi phí là 0.04 tệ/Km2 Trong khi đó, phương pháp truyền thống chi phí là 1 tệ/Km2
Ở Châu Á, ngoài việc ứng dụng viễn thám để xem xét các quá trình tự nhiên xảy ra trên bề mặt trái đất có liên quan đến nông nghiệp, còn áp dụng viễn thám và GIS trong các nghiên cứu:
- Quan hệ giữa phổ của bước sóng cận hồng ngoại IR với thực vật;
- Chỉ số chuẩn hoá thực vật (NDVI) và nhiệt độ ban ngày, trong đó có nghiên cứu mối quan hệ giữa NDVI với nhiệt độ bề mặt đất để xác định mức độ khắc nghiệt của thời tiết đối với cây trồng, như: nắng nóng, rét hại, rét đậm, sương giá, sương muối
- Ấn Độ đã sử dụng viễn thám trong đánh giá diện tích cây trồng;
- Nhật Bản ứng dụng công nghệ viễn thám để xây dựng bản đồ cây trồng, bản
đồ năng suất và dự báo năng suất cây trồng
- Trung Quốc đã rất thành công trong việc sử dụng viễn thám và GIS để đánh giá năng suất, sản lượng và trạng thái phát triển của các cây trồng, và giám sát hạn hán, lũ lụt, sương giá, sương muối
- Thái Lan sử dụng số liệu viễn thám để giám sát mùa màng, đánh giá trạng
Trang 36thái sinh trưởng, phát triển của cây trồng và giám sát thiên tai
- Các nước trong khu vực gió mùa đã áp dụng viễn thám để phân loại lớp phủ thực vật và mùa sinh trưởng
- Những ứng dụng viễn thám trong đánh giá điều kiện sinh trưởng và sự hình thành năng suất cây trồng đã được nghiên cứu thử nghiệm ở Ấn Độ, Nhật Bản Các nước này đã dùng số liệu viễn thám trong mô hình Xích macốp để
dự báo năng suất cây trồng
- Áp dụng chỉ số thực vật để giám sát hạn hán ở Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ cho kết quả chính xác 90- 95% so với thực tế;
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa NDVI với các tham số khí hậu ở vùng ôn đới khô hạn
- Dự báo mùa sinh trưởng, biến đổi khí hậu thông qua chỉ số NDVI
- Đánh giá thực trạng rừng qua số liệu viễn thám
2.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về nhiệt độ thấp như : (1) Đánh giá nhiệt độ thấp có hại đối với cây trồng ở Việt Nam và chiến lược ứng phó (Nguyễn Văn Viết, năm 2011); (2) Tài nguyên khí hậu nông nghiệp Việt Nam (Nguyễn Văn Viết, năm 2009); (3) Nghiên cứu đặc điểm diễn biến của hiện tượng rét hại khu vực Tây Bắc và khả năng dự báo (Dương Văn Khảm, năm 2011); (4) Điều tra khoanh vùng sương muối gây hại cây cà phê tỉnh Sơn La (Lại Văn Chuyển, Vương Hải, Nguyễn Trọng Hiệu, năm 1999), (5) Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam (Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, năm 2004 và còn nhiều các công trình nghiên cứu khác
Những nghiên cứu trên đã góp phần không nhỏ trong việc phục vụ sản xuất
và phát triển các cây trồng nói chung và cây công nghiệp nói riêng Song trước đây các nghiên cứu được tiến hành trong điều kiện số liệu và kỹ thuật tính toán còn nhiều hạn chế, việc nghiên cứu đánh giá chủ yếu chỉ tập trung khai thác số liệu của các trạm, trại và cơ quan nghiên cứu của ngành nông nghiệp, các trạm khí tượng
Trang 37thuỷ văn, khí tượng nông nghiệp, mà chưa có nghiên cứu nào có điều kiện xây dựng bản đồ phân bố nhiệt độ thấp, đặc biệt mức độ và quy mô tác hại của nhiệt độ thấp đối với cây trồng chi tiết đến các huyện Hơn nữa trong các nghiên cứu trước đây chưa có các số liệu được thu nhận và tính toán từ các công nghệ và mô hình tiên tiến như: hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám (RS), hệ thống định vị toàn cầu (GPS) vì vậy kết quả thu được mang tính cục bộ, rất khó áp dụng trên diện rộng
2.2 Đặc trưng nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su
Để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất cao su tỉnh Lai Châu, trên cơ sở các ngưỡng nhiệt độ thấp có hại đối với loại cây này (bảng 2.4), tác giả tiến hành đánh giá các đặc trưng nhiệt độ thấp trên chuỗi số liệu được xem xét, bao gồm các đặc trưng:
- Khả năng xuất hiện nhiệt độ thấp theo các ngưỡng
- Ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ các ngưỡng theo các suất bảo đảm
2.2.1 Ngưỡng nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su
Các quá trình sinh lý diễn ra trong cơ thể thực vật (quá trình quang hợp, vận chuyển chất dinh dưỡng ) chỉ có thể diễn ra ở một ngưỡng nhiệt độ nhất định Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất của cây trồng Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều có ảnh hưởng xấu đến cây trồng, khi nhiệt độ đạt đến ngưỡng giới hạn so với sức chịu đựng của cây trồng thì cây trồng ngừng hẳn sinh trưởng và phát dục, khi nhiệt độ tiếp tục giảm xuống hoặc tiếp tục tăng lên cao vượt qua ngưỡng giới hạn đó thì thực vật sẽ chết từng bộ phận hoặc chết hoàn toàn [1]
Trang 38Hình 2.3 Hình ảnh minh họa tác hại của nhiệt độ thấp đối với cây cao su
Với tầm quan trọng của nhiệt độ như đã nêu ở trên, thì việc quy hoạch các vùng trồng cây trồng nói chung và cây lâu năm như cao su nói riêng rất cần phải xem xét đến yếu tố nhiệt độ, đặc biệt là nhiệt độ thấp vượt ngưỡng giới hạn của cây trồng Việc nghiên cứu, xem xét nhiệt độ thấp ở một địa điểm nào đó, có phù hợp với nhiệt độ tới hạn mà mỗi loại cây trồng chịu đựng được sẽ là cơ sở để đánh giá mức độ thuận lợi hay bất lợi về nhiệt độ khi gieo trồng tại địa điểm đó
Để đánh giá được ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đối với cây trồng, trước tiên phải biết được yêu cầu của cây trồng đối với nhiệt độ và giới hạn của chúng Vì vậy,
để đánh giá khả năng chịu lạnh của cây cao su ở tỉnh Lai Châu cần xác định ngưỡng nhiệt độ giới hạn cho loại cây trồng này
Trang 39Ở chương 1 đã trình bày về đặc điểm sinh thái của cây cao su, trong đó có đánh giá về điều kiện nhiệt độ và nhiệt độ thấp có hại cho loại cây trồng này Cây cao su hiện nay đang được gieo trồng ở Lai Châu cơ bản đều là các giống có khả năng chịu lạnh như: GT 1, PB 260, RIM 600, RIW 1, RIW 3, RIC 121, LH 83/85,
LH 83/29, YITC 77-4, HL 90/952, IAN 873, RIM 712, tuy nhiên các giống này cũng chỉ có khả năng chịu lạnh đến 100
C Từ những đặc điểm sinh thái của cây cao
su và thực tiễn các giống đang được trồng ở tỉnh Lai Châu, tác giả đưa ra bản tổng hợp các ngưỡng nhiệt độ thấp có hại cho loại cây trồng này (bảng 2.4)
Bảng 2.4 Ngưỡng nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su Ngưỡng nhiệt độ thấp
T ≤ 100C
Ngưỡng nhiệt độ làm hạt cao su mất sức nảy mầm hoàn toàn, đối với cây cao su ngoài vườn thì bị rối loạn hoạt động trao đổi chất và chết nếu nhiệt độ này kéo dài
T ≤ 50C Ngưỡng nhiệt độ cây cao su sẽ bị nứt vỏ, chảy mủ hàng
loạt, đỉnh sinh trưởng bị khô và cây chết
2.2.2 Khả năng xuất hiện nhiệt độ thấp theo các ngưỡng
Từ chuỗi số liệu quan trắc, kết quả tính toán các đặc trưng của các cấp nhiệt
độ có hại cho cây cao su được thể hiện trên bảng 2.5 - 2.6 Từ các bảng này nhận thấy:
- Ở đai độ cao dưới 300m: Với ngưỡng nhiệt độ dưới 50C xảy ra trong các tháng chính đông (tháng XII, tháng I), tần suất xuất hiện năm là 18% Để đánh giá mức độ khắc nghiệt của nhiệt độ thấp theo chỉ tiêu tổng số lần xuất hiện trong năm, thì trung bình 1 năm chỉ có 0.6 ngày xảy ra, như vậy mức độ khắc nghiệt của nhiệt
độ thấp dưới 50
C ở đai cao này là không đáng kể Nhiệt độ dưới 100C xảy ra ở tất cả các tháng trong mùa đông, trung bình 1 năm có 8.86 ngày, tập trung nhiều vào tháng XII (3.67 ngày) và tháng I (2.22 ngày), các tháng khác chỉ từ 0.31 ngày đến 1.1 ngày, tần suất xuất hiện nhiệt độ tối thấp năm dưới 100C là 85%, tuy khả năng
Trang 40xuất hiện cao, nhưng số ngày xảy ra không nhiều và không liên tục vì vậy cũng không ảnh hưởng lớn đến cây trồng
- Ở đai độ cao từ 300 - 600m: đã bắt đầu xuất hiện nhiệt độ dưới 20C tuy nhiên tần suất xuất hiện năm là rất thấp (8%) Nhiệt độ tối thấp dưới 50C có thể xảy
ra bất cứ lúc nào trong mùa đông, trung bình hàng năm có 1.62 ngày nhiệt độ xuống dưới 50C Ở ngưỡng nhiệt độ dưới 100C không chỉ xuất hiện ở trong các tháng mùa đông mà còn xuất hiện ở tháng chuyển tiếp (tháng IV), trung bình hàng năm có 15.41 ngày trong đó tháng XII có 6.98 ngày và tháng I là 4.15 ngày, tần suất xuất hiện nhiệt độ tối thấp năm dưới 100C là 94%, tuy năm nào hầu như cũng xảy ra, nhưng số ngày xảy ra không nhiều và không tập trung vì vậy cũng không ảnh hưởng lớn đến cao su
- Ở độ cao 600 - 800m: đã bắt đầu xuất hiện nhiệt độ dưới 00C nhưng với tần suất thấp (5%), trung bình hàng năm chỉ có 0.09 ngày Ở ngưỡng nhiệt độ dưới 20C, tần suất năm là 15%, trung bình năm chỉ có 0.34 ngày Nhiệt độ tối thấp dưới 50C
có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong mùa đông, với tần suất năm là 52%, trung bình năm có 2.16 ngày Ở độ cao này, năm nào cũng có ít nhất một ngày xuất hiện nhiệt
độ tối thấp dưới 100
C, thời gian xuất hiện kéo dài cả sang tháng IV và tháng X, trung bình hàng năm có 28.16 ngày, trong đó tháng XII là 9.65 ngày và tháng I là 9.79 ngày
- Ở độ cao 800 - 1000m: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là -0.40C, xảy ra vào tháng XII/1982 tại Tam Đường Trung bình 1 năm có 0.08 ngày có nhiệt độ dưới
00C, với tần suất năm là 6% Ở ngưỡng nhiệt độ dưới 20C, tần suất năm là 15%, trung bình năm chỉ có 0.45 ngày, Nhiệt độ tối thấp dưới 50
C có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong mùa đông, hàng năm có 5.41 ngày, với tần suất xuất hiện là 73% Ở
độ cao này năm nào cũng có ngày xuất hiện nhiệt độ tối thấp dưới 100
C, thời gian xuất hiện kéo dài cả sang tháng IV, và tháng X, trung bình hàng năm có 45.2 ngày trong đó tháng XII có 14.28 ngày và tháng I là 14.25 ngày
- Ở độ cao 1000 - 1500m: trung bình 1 năm có 0.03 ngày có nhiệt độ dưới
00C Ở ngưỡng nhiệt độ dưới 20C, tần suất xuất hiện năm là 45%, trung bình năm có