1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình

87 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Đề Xuất Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Phục Vụ Phát Triển Chế Biến Thủy Sản Bền Vững Tại Tỉnh Thái Bình
Tác giả Nguyễn Thị Thu
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Môi trường & Phát triển bền vững
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, công tác quản lý đối với các cơ sở sơ chế, chế biến thủy sản còn gặp nhiều khó khăn; vấn đề ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí đã ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng d

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Môi trường &Phát triển bền vững

Mã số: Thí điểm

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi

Hà Nội, 2017

Trang 3

Học viên xin chân thành cảm ơn các thầy cô và toàn thể các cán bộ của Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN đã tạo điều kiện tốt nhất cho học viên tiếp thu kiến thức và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.

Học viên xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của tập thể cán bộ Chi cục Thủy sản Thái Bình, cùng cán bộ phòng Tài nguyên Môi trường huyện Tiền Hải, huyện Thái Thụy, cùng cư dân các xã ven biển khu vực nghiên cứu đã nhiệt tình giúp đỡ học viên trong quá trình khảo sát và thu thập tài liệu

Lời cuối cùng, học viên xin được cảm ơn sự động viên của bạn bè và sự ủng

hộ nhiệt tình của gia đình trong suốt quá trình học tập, rèn luyện

Trân trọng cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Thị Thu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Cấu trúc của luận văn 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Khái niệm về phát triển bền vững 3

1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững quốc gia 3

1.1.2 Khái niệm về phát triển thủy sản bền vững 4

1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong phát triển thủy sản 5

1.2 Khái quát về phát triển CBTS bền vững 6

1.3 Tổng quan về phát triển chế biến thủy sản bền vững trên thế giới và Việt Nam 8

1.3 1 Trên thế giới 8

1.3.2 Tại Việt Nam 9

1.4 Tổng quan các vấn đề môi trường trong chế biến thủy sản Việt Nam 11

1.4.1 Phế liệu và chất thải rắn 11

1.4.2 Chất thải lỏng 12

1.4.3 Khí thải và mùi trong CBTS 12

1.4.4 Môi chất lạnh trong CBTS đông lạnh 13

1.4.5 Môi trường tại các cơ sở CBTS quy mô nhỏ 14

1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đếm phát triển thủy sản bền vững tỉnh Thái Bình 16

1.5.1 Điều kiện tự nhiên 16

1.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 20

1.5.3 Đánh giá tiềm năng về phát triển thủy sản tỉnh Thái Bình 23

1.6 Hiện trạng môi trường sinh thái và dịch bệnh ảnh hưởng đến phát triển ngành thủy sản Thái Bình 29

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

Trang 5

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu 33

2.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp 33

2.2.2 Phương pháp tham vấn cộng đồng và các bên liên quan 33

2.2.3 Phương pháp phân tích thống kê, mô tả 34

2.2.4 Phương pháp phân tích SWOT 34

2.2.5 Phương pháp điều tra, phúc tra bổ sung 34

2.2.6 Phương pháp xử lý dữ liệu 34

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Thực trạng hoạt động phát triển chế biến thủy sản tại tỉnh Thái Bình 35

3.1.1 Tình hình phát triển CBTS ở Thái Bình 35

3.1.2 Giá trị kim ngạch xuất khẩu 42

3.1.3 Nguồn nhân lực 43

3.1.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ chế biến thủy sản 45

3.1.5 An toàn vệ sinh thực phẩm trong chế biến thủy sản 46

3.1.6 Đánh giá chung về chế biến và thương mại thủy sản 47

3.1.7 Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 48

3.1.8 Định hướng phát triển CBTS bền vững của tỉnh Thái Bình đến năm 2020 49

3.2 Phân tích hoạt động chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh Thái Bình 50

3.2.1 Phân tích tính bền vững trên trụ cột kinh tế 50

3.2.2 Phân tích tính bền vững về trụ cột xã hội 51

3.2.3 Phân tích tính bền vững về trụ cột môi trường 52

3.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển bền vững CBTS 53

3.3.1 Kết quả phân tích SWOT 53

3.3.2 Thuận lợi 54

3.3.3 Khó khăn 54

Trang 6

3.3.4 Nguyên nhân phát triển chưa bền vững trong phát triển ngành thủy sản tỉnh

Thái Bình 55

3.4 Kết quả điều tra thực trạng môi trường tại các cơ sở CBTS và làng nghề tỉnh Thái Bình 55

3.4.1 Phế liệu và chất thải rắn 55

3.4.2 Nước thải 56

3.4.3 Khí thải 59

3.4.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý môi trường 59

3.5 Một số giải pháp bảo vệ môi trường 60

3.5.1 Giải pháp về quy hoạch 60

3.5.2 Giải pháp về khoa học - công nghệ và đào tạo 60

3.5.3 Giải pháp về giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường 60

3.5.4 Một số giải pháp bảo vệ môi trường tại các cơ sở CBTS 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤC LỤC 68

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Hiện trạng dân số tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 – 2015 21

Bảng 2: Hiện trạng lao động tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 – 2015 22

Bảng 3 Nguồn nguyên liệu cho CBTS giai đoạn 2010-2015 35

Bảng 4: Các cơ sở sơ chế, chế biến thủy sản tư nhân và các doanh nghiệp chế biến năm 2016 38

Bảng 5: Các mặt hàng CBTS xuất khẩu và tiêu thụ nội địa tỉnh Thái Bình 39

giai đoạn 2010-2015 39

Bảng 6: Giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh giai đoạn 2010 – 2015 42

Bảng 7: Lao động trong các doanh nghiệp CBTS năm 2015 43

Bảng 8: Lao động CBTS của tỉnh giai đoạn 2010-2015 44

Bảng 9 Hệ thống chợ, siêu thị, TT thương mại của tỉnh Thái Bình năm 2015 45

Bảng 10 Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 48

Bảng 11: Kết quả phân tích SWOT trong CBTS ảnh hưởng đến môi trường 53

Bảng 11: Hiện trạng chất thải rắn hàng năm của cơ sở CBTS 56

Bảng 12: Kết quả điều tra phỏng vấn về hiện trạng môi trường của làng nghề CBTS 57

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Mô hình phát triển bền vững hình quả trứng 3 Hình 2: Sơ đồ PTBV của hoạt động chế biến thủy sản 7 Hình 3: Cấu trúc hoạt động của ngành CBTS 7 Hình 4: Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nước thải CBTS đến môi trường sống

trong khu vực 58

Trang 9

GTGT Giá trị gia tăng

KNXK Kim ngạch xuất khẩu

CTR Chất thải rắn

BNN&PTNT Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn

TCTS Tổng cục thủy sản

TTBQ Tăng trưởng bình quân

CBTSXK Chế biến thủy sản xuất khẩu

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Tỉnh Thái Bình có 108 cơ sở chế biến thủy sản tư nhân và 8 doanh nghiệp chế biến thủy sản, tập trung chủ yếu ở hai huyện ven biển Tiền Hải và Thái Thụy Chế biến xuất khẩu thủy sản là lĩnh vực xuất khẩu đứng thứ 3 của tỉnh với giá trị kim ngạch xuất khẩu (KNXK) đạt 10,7 triệu USD năm 2015, sau KNXK ngành dệt may

và KNXK gạo của tỉnh Tăng trưởng bình quân của lĩnh vực này đạt 20,8%/năm giai đoạn 2010-2015, giải quyết công ăn việc làm cho gần 3.000 người lao động tại địa phương Chế biến thuỷ sản đang từng bước gia tăng cả về số lượng và quy mô sản xuất, góp phần thúc đẩy nuôi trồng và khai thác thuỷ sản phát triển, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động khu vực nông thôn ven biển Tuy nhiên, công tác quản lý đối với các cơ sở sơ chế, chế biến thủy sản còn gặp nhiều khó khăn; vấn đề

ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí đã ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng dân cư ven biển; các sản phẩm sơ chế, chế biến nhìn chung chưa đảm bảo an toàn thực phẩm (ATTP) theo quy định, trong khi công nghệ sơ chế, chế biến thủy sản, điều kiện xử lý nước thải, chất thải rắn và khí thải của các cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất

Nhìn chung, lĩnh vực chế biến thủy sản phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế nguồn lợi thủy sản ở địa phương Cơ cấu sản phẩm chế biến chưa đa dạng, tỷ lệ sản phẩm giá trị gia tăng chưa cao Công nghệ xử lý các chất thải, phế thải nhà máy còn thô sơ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển chế biến thủy sản bền vững

Để khắc phục những tồn tại trên cần thiết phải „Nghiên cứu đề xuất giải

pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh Thái Bình’ Lựa chọn đề tài nghiên cứu này, học viên hy vọng trả lời một phần câu

hỏi nói trên và góp phần nhỏ bé của mình vào việc định hình phát triển chế biến thủy sản bền vững, bảo đảm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng hiệu quả kinh tế và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động Có nghĩa là, tận dụng nguồn phế thải chế biến thủy sản tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu phế thải, chất thải, bảo vệ môi trường

Trang 11

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng môi trường tại các cơ sở sở chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình;

- Đề xuất được giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường trong các cơ sở chế biến thủy sản, góp phần phát triển chế biến thủy sản bền vững

3 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

- Chương 2 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về phát triển bền vững

1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững quốc gia

Phát triển bền vững được xem như một chiến lược phát triển, quản lý tất cả tài sản, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, cũng như các tài sản tài chính và vật chất để tăng dài hạn sự giàu có và hạnh phúc [15] Năm 1987, nhà kinh tế Ed Barbier đưa ra một mô hình phát triển bền vững và nó trở thành cơ sở cho hầu hết các khái niệm về sau Ông cho rằng phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột: phát triển xã hội, kinh tế và môi trường [15 ]

Trong khi tìm cách giải quyết vấn đề xung đột giữa môi trường và mục tiêu phát triển, Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) đã xây dựng một định nghĩa rằng phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu của hiện tại

mà không làm ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ [15] Đến nay có rất nhiều khái niệm về phát triển bền vững nhưng đây là khái niệm thường xuyên được trích dẫn nhất và dường như đầy

đủ hơn so với những khái niệm khác

Ở một cái nhìn khác, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN, 1997) khi bày tỏ quan điểm về phát triển bền vững đã đưa ra mô hình phát triển bền vững hình quả trứng Đây là mô hình minh họa cho mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái giống như lòng đỏ một quả trứng gà Ngụ ý của mô hình này là con người trong hệ sinh thái, con người và hệ sinh thái phụ thuộc lẫn nhau Cũng giống như một quả trứng là tốt chỉ khi cả hai màu trắng và lòng đỏ đều tốt IUCN khẳng định, một xã hội tốt và bền vững chỉ khi cả hai con người và hệ sinh thái đều phát triển tốt

Hình 1 Mô hình phát triển bền vững hình quả trứng [15]

Trang 13

Năm 2000, Viện Wuppertal của Đức khi nghiên cứu về phát triển bền vững

đã nhận định: Phát triển bền vững được cấu thành bởi bốn trụ cột là kinh tế, môi trường, xã hội và thể chế chính sách [14] Theo quan điểm này, phát triển bền vững đòi hỏi phải tích hợp các mục tiêu khác nhau từ 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Thể chế được xem như một đỉnh định danh không có chức năng như 3 đỉnh còn lại Cũng chính điều này, khi mô hình này đưa ra đã bị chỉ trích, họ cho rằng đỉnh thể chế không đóng vai trò như 3 đỉnh còn lại nhưng vẫn được thể hiện tương

tự nên dễ gây nhầm lẫn trong mô tả và phân tích [15]

Tuy có những tranh cãi về khái niệm phát triển bền vững nhưng khi thực hiện về cơ bản, tất cả đều đồng ý ba nhiệm vụ sau đây cho bất kỳ một quốc gia nào (Center for Environment Education, 2007): (i) Thúc đẩy hơn nữa phát triển kinh tế, trong khi vẫn đảm bảo tính bền vững sinh thái, bằng cách không vượt quá năng lực tải của Trái đất, và (iii) Mang lại công bằng xã hội, bằng cách tạo ra cân bằng phân phối tốt hơn các cơ hội để sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.1.2 Khái niệm về phát triển thủy sản bền vững

Phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững là quá trình phát triển đồng

bộ, hợp lý, hài hoà giữa các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng và chế biến, dịch vụ thủy hải sản; có sự tăng trưởng kinh tế (TTKT) ngày càng cao và ổn định gắn liền với việc phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, tạo việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao trình độ dân trí, văn minh của nhân dân; ổn định xã hội, an ninh, quốc phòng; bảo vệ nguồn lợi thủy hải sản; phòng chống thiên tai; cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường của địa phương, khu vực có hoạt động sản xuất kinh doanh thủy sản

- Phát triển bền vững về kinh tế

Bền vững về kinh tế: bảo đảm phát triển kinh tế nhanh và duy trì tốc độ trong một thời gian dài Ngành thủy sản được coi là phát triển bền vững phải đạt được các yêu cầu sau đây: có tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định; GDP/đầu người của ngành cao và thường xuyên tăng lên; có cơ cấu GDP hợp lý, các phân ngành, thành

tố của GDP phải ổn định và phát triển để làm cho tổng GDP của ngành ổn định và

Trang 14

tăng lên; tránh được sự suy thoái và đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng

nợ nần cho thế hệ mai sau

- Phát triển bền vững về xã hội

Xã hội bền vững là một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội, chính trị ổn định và quốc phòng an ninh được đảm bảo Đời sống vật chất, tinh thần của dân cư tham gia hoạt động thủy sản ngày càng nâng cao

- Bền vững về môi trường và tài nguyên thiên nhiên

Bền vững về môi trường cần đảm bảo các chỉ tiêu, chức năng cơ bản là: + Bền vững về môi trường tự nhiên phải đảm bảo số lượng và chất lượng trong sạch về nguồn nước về lý hóa và sinh học, cảnh quan…Quá trình khai thác và

sử dụng không được phép làm giảm số lượng và chất lượng của các yếu tố đó dưới giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế

+ Bền vững về môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động học tập của con người,…) không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại

- Bền vững về tài nguyên thiên nhiên cần đảm bảo:

+ Đối với các loại tài nguyên tái tạo được, chỉ khai thác và sử dụng trong giới hạn những tài nguyên đó được khôi phục lại về số lượng và chất lượng do thiên nhiên tạo ra hoặc bằng phương pháp thay thế nhân tạo

+ Các loại tài nguyên không tái tạo được, chỉ khai thác, sử dụng ít hơn, bằng số lượng và chất lượng do thiên nhiên tạo ra hoặc bằng phương pháp nhân tạo thay thế

1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong phát triển thủy sản

1.1.3.1 Về kinh tế

a) Các chỉ tiêu chung

+ Tốc độ tăng trưởng GDP thủy sản,

+ Đóng ghóp của ngành thủy sản vào tăng trưởng kinh tế: tỷ lệ GDP thủy sản/GDP (%)

Trang 15

+ Các vấn đề về đầu tư cho thủy sản: Tỷ lệ đầu tư cho thủy sản/GDP (%); cơ cấu các nguồn vốn đầu tư phát triển thủy sản; hiệu suất sử dụng vốn (ICOR): Hệ số ICOR phản ánh để GDP tăng lên 1 đồng thì tiêu tốn bao nhiêu đồng vốn đầu tư

b) Các chỉ tiêu cụ thể từng lĩnh vực

- Lĩnh vực khai thác Các chỉ số về năng lực đánh bắt: số lượng tàu, công suất tàu, loại và số lượng ngư cụ dùng để khai thác, sản lượng đánh bắt, năng suất đánh bắt trên mỗi đơn vị khai thác, thành phần đánh bắt, số loài khai thác, ngư trường, cơ cấu nghề khai thác, hình thức tổ chức khai thác thủy sản…

- Lĩnh vực nuôi trồng Các chỉ tiêu sử dụng diện tích đất đai, năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản, các phương thức và mô hình nuôi trồng thủy sản

- Lĩnh vực chế biến, tiêu thụ, dịch vụ hậu cần nghề cá

Các vấn đề về công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, năng lực công nghệ của các cơ sở chế biến, hiện trạng dịch vụ hậu cần nghề cá (cảng biển, chợ thủy sản, nghề dịch vụ phụ trợ…)

Về sinh thái – môi trường

Các chỉ số môi trường sinh thái như: tình hình trữ lượng nguồn lợi, rạn san

hô, rừng ngập mặn, tình hình môi trường và đa dạng sinh học…

Tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thủy hải sản

Tình hình dịch bệnh thủy sản

1.2 Khái quát về phát triển chế biến thủy sản bền vững

Chế biến thủy sản là một ngành sản xuất [17], phát triển bền vững (PTBV) của một ngành sản xuất nói chung được xem xét ở nguồn tài nguyên thiên nhiên sử dụng cho sản xuất, ý tưởng về thiết kế sản phẩm và xử lý chất thải từ các hoạt động

Trang 16

sản xuất Ở mỗi công đoạn này phải đảm bảo PTBV ở ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường

PTBV cho một chu trình sản xuất khép kín của một ngành sản xuất rất cần được xem xét ở nhiều công đoạn Ở mỗi công đoạn trong quá trình sản xuất cũng cần được xem xét trên các trụ cột của sự PTBV nói trên Hình 1 dưới đây giới thiệu sơ

đồ PTBV trong chế biến thủy sản

Hình 2: Sơ đồ PTBV của hoạt động chế biến thủy sản

Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp (DN) ngành kinh tế thông thường được phân thành ba khâu: hoạt động đầu vào, sản xuất và đầu ra Cả ba khâu hoạt động của DN trong ngành có liên quan mật thiết với các chủ thể tham gia ngành đó, từ đó hình thành các đặc trưng hoạt động của ngành Chuỗi hoạt động của ngành CBTS cũng tương tự hoạt động của một ngành kinh tế thông thường, do đó cũng xem xét trên ba công đoạn đầu vào, sản xuất và đầu ra Cấu trúc của ngành CBTS được tổng kết như sau (Hình 2):

Hình 3: Cấu trúc hoạt động của ngành CBTS

Trang 17

Với đặc trưng cấu trúc hoạt động của ngành CBTS, khung phân tích PTBV ngành CBTS được hình thành biểu hiện trên sự tương tác giữa trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường và thể chế giữ vai trò điều tiết

Tính bền vững của mỗi trụ cột được xem xét trên ba công đoạn hoạt động là: đầu vào - sản xuất - đầu ra (Hình 3)

Hình 4: Tính bền vững của hoạt động Chế biến thủy sản

1.3 Tổng quan chế biến thủy sản bền vững trên thế giới và Việt Nam

mà ủy ban đưa ra là: “Sự phát triển có thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không

ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai…”Nguồn gốc của “bền vững” cũng được mô hình hóa qua một mô hình đơn

giản “tam giác PTBV”, trong đó ba khía cạnh hay ba trụ cột được dựa trên các khía

cạnh cơ bản của xã hội loài người, nhưng không được đưa vào “ Chất lượng cuộc sống con người”, bao gồm môi trường (bảo tồn), kinh tế (tăng trưởng) và xã hội (vốn sở hữu)

Trang 18

Mức tiêu thụ thủy sản đã tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng dân số trong 5 thập kỷ qua, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 3,2% trong giai đoạn 1961 - 2013, tăng gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng dân số Tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người toàn cầu đạt mức 9,9 kg năm 1960 lên 14,4 kg năm 1990 và 19,7 kg năm 2013, và ước tính sơ bộ năm 2014 và 2015 tiếp tục tăng trưởng vượt mức 20 kg Ngoài việc tăng sản lượng, các yếu tố khác góp phần làm tiêu thụ tăng bao gồm giảm chi phí, cải thiện các kênh phân phối và nhu cầu tăng do dân số tăng, thu nhập tăng và quá trình đô thị hóa Thương mại quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa sự lựa chọn cho người tiêu dùng [27]

Đối mặt với một trong những thách thức lớn nhất của thế giới là làm thế nào

để cung cấp đủ lương thực cho hơn 9 tỷ người vào năm 2050 trong bối cảnh biến đổi khí hậu, những điểm không chắc chắn về tài chính - kinh tế, và cạnh tranh ngày càng tăng đối với tài nguyên thiên nhiên Trước đó cộng đồng quốc tế đã đưa ra cam kết chưa từng có trong tháng 9/2015 khi các nước thành viên Liên Hợp Quốc thông qua Chương trình Nghị sự về Phát triển bền vững đến năm 2030 Chương trình này cũng đặt ra mục tiêu phát triển ngành thủy sản theo hướng an ninh lương thực và dinh dưỡng, cùng với việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường

1.3.2 Tại Việt Nam

Ngành thủy sản Việt Nam có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đóng góp cho GDP cả nước khoảng 4% Trong cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp thủy sản chiếm khoảng 20-22% tỷ trọng Việt Nam đứng vào danh sách 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, năm 2012 giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt

6,1 tỷ USD, năm 2016 đạt hơn 7 tỷ USD [1,2,4]

Số lượng các cơ sở chế biến thủy sản không ngừng tăng cả về số lượng và quy mô sản xuất Năm 1990, cả nước có 102 cơ sở chế biến thủy sản (CBTS), năm

2011 toàn quốc có 570 cơ sở chế biến thủy sản với quy mô công nghiệp và hàng nghìn cơ sở chế biến gia công nhỏ lẻ, thủ công gia đình Đến năm 2016, cả nước có

760 doanh nghiệp CBTS [1,2,4]

Trang 19

Với sự phát triển mạnh mẽ về số lượng và quy mô sản xuất thì việc ảnh hưởng, tác động xấu đến môi trường sống người dân xung quanh các cơ sở CBTS là điều không thể tránh khỏi Sản xuất càng phát triển thì áp lực về vấn đề ô nhiễm môi trường (ONMT) ngày càng cao, nguy cơ suy giảm nguồn lợi thủy sản càng lớn Trước tình hình đó, nhà nước đã ban hành các chính sách quản lý, hỗ trợ khuyến khích phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững, gắn với bảo vệ môi trường

- Ngành thủy sản cơ bản được công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiếp tục phát triển toàn diện theo hướng bền vững, thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn, có cơ cấu và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có thương hiệu uy tín, có khả năng cạnh tranh cao và hội nhập vững chắc vào kinh tế thế giới Đồng thời từng bước nâng cao trình độ dân trí, đời sống vật chất và tinh thần của ngư dân, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và quốc phòng, an ninh vùng biển, đảo của Tổ quốc [ 5 ]

- Ngành thủy sản sẽ công nghiệp hóa vào năm 2020, hiện đại hóa vào năm

2030 và tiếp tục phát triển toàn diện, hiệu quả bền vững, trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, có cơ cấu và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, hội nhập vững chắc vào nền kinh tế quốc tế, từng bước nâng cao thu nhập và mức sống của nông, ngư dân; đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn lợi thủy sản và góp phần bảo vệ quốc phòng, an ninh trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc Định hướng phát triển ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững lại được nhấn mạnh trong Quyết định số 1445/QĐ-TTg năm 2013 của Thủ tướng chính phủ về “Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”

- Theo Đề án tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng

và phát triển bền vững (theo QĐ số 2760/QĐ-BNN-TCTS tháng 11/2013 của Bộ nông nghiệp &PTNT) đã định hướng phát triển ngành chính là: “Phát triển thủy sản bền vững cả về kinh tế, xã hội, môi trường Xây dựng ngành thủy sản theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường”

- Tập trung nâng cao GTGT các mặt hàng chế biến thủy sản gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Áp dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi

Trang 20

mới công nghệ chế biến theo hướng hiện đại, giảm tổn thất sau thu hoạch (cả số lượng và chất lượng), nâng cao giá trị, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của ngành hàng thông qua việc tổ chức lại sản xuất, chuyển dịch nhanh cơ cấu sản phẩm chế biến theo hướng nâng cao tỷ trọng sản phẩm GTGT, nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm (ATTP), hạ giá thành sản phẩm để đến năm 2020 GTGT ngành hàng thủy sản tăng 20% so với hiện nay, tổn thất sau thu hoạch giảm 50% so với hiện nay [1], [2].

1.4 Tổng quan các vấn đề môi trường trong chế biến thủy sản Việt Nam

1.4.1 Phế liệu và chất thải rắn

Phế liệu và chất thải rắn (CTR) trong chế biến thủy sản bao gồm: đầu xương,

da, vây, vẩy, vỏ giáp xác/nhuyễn thể hai mảnh vỏ, Trừ vỏ (nhuyễn thể hai mảnh

vỏ, hàu, ốc giáp xác), còn lại là dễ lên men thối rữa, phân hủy rất nhanh dưới điều kiện thời tiết nóng ẩm (nhiệt độ thường vào khoảng 27oC và độ ẩm khoảng 80%) Việc phân hủy các chất thải này tuy không gây độc nhưng cũng tạo ra sự thay đổi lớn cho chất lượng môi trường sống của những người lao động tại các cơ sở CBTS cũng như dân cư sống ở vùng lân cận

Theo số liệu điều tra của Viện nghiên cứu hải sản [24], chất thải trong các loại hình chế biến là khác nhau: CBTS đông lạnh 0,7-8 tấn phế thải & CTR/tấn thành phẩm; hàng khô từ 0,5-8; bột cá 0-0,2; nước mắm 0,2-0,28; đồ hộp 1,7 tấn/tấn thành phẩm Lượng phế liệu và CTR trong CBTS đông lạnh, đồ hộp, hàng khô nhiều hơn so với chế biến bột cá

Lượng phế liệu trong các cơ sở chế biến thủy sản phụ thuộc vào loại hình chế biến, quy trình công nghệ (sơ chế hay chế biến sản phẩm GTGT) Phế liệu nếu bảo quản, sử dụng không đúng cách gây hại cho môi trường Tuy nhiên, hiện nay phế liệu trong các cơ sở CBTS cũng được chú trọng thu gom, tận dụng để sản xuất các sản phẩm phụ như: bột cá, dầu cá, chitin, chitosan, Do vậy, vấn đề phế liệu trong công nghiệp CBTS hiện nay không còn là vấn đề lớn đối với môi trường, trái lại nó còn là nguồn thu đáng kể cho các cơ sở CBTS

Trang 21

1.4.2 Chất thải lỏng

Lượng chất thải lỏng trong CBTS được coi là vấn đề nghiêm trọng nhất hiện nay CBTS đông lạnh, đồ hộp thường tạo ra lượng nước thải lớn hơn so với chế biến hàng khô, nước mắm Mức độ gây ô nhiễm môi trường của nước thải từ các nhà máy chế biến tùy thuộc vào loại mặt hàng và quy mô công suất sản xuất

Nước thải trong chế biến thủy sản đông lạnh dao động từ 20-30 m3 nước thải/tấn thành phẩm; hàng khô 6-25 m3; bột cá 6,9 m3 nước thải; đồ hộp 30-50 m3

nước thải/tấn thành phẩm CBTS đông lạnh, đồ hộp, hàng khô thường tạo ra lượng nước thải lớn hơn so với chế biến bột cá

Trong công nghiệp CBTS phải sử dụng một lượng lớn các chất tẩy rửa và khử trùng trong vệ sinh nhà xưởng, dụng cụ, thiết bị chế biến Theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu hải sản [24], các nhà máy CBTS trong cả nước sử dụng tới 1.682 tấn clorin; 58,7 tấn P3 Oxonia; 3.464 tấn xà phòng và 268 tấn các loại hóa chất khác

Nước thải CBTS gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không được

xử lý Nhưng do phần lớn các xí nghiệp được xây dựng trước khi Luật Bảo vệ môi trường ra đời, điều kiện tài chính hạn hẹp, trong khi công nghệ và thiết bị xử lý lại đắt tiền Mặt khác, do công tác tư vấn, quản lý môi trường chưa làm tốt, chưa nghiêm Mặt khác, do chi phí xử lý nước thải lớn và chi phí này lại không mang lại lợi nhuận trực tiếp, nên còn nhiều cơ sở CBTS chưa thực sự tuân thủ các quy định

về xử lý nước thải, gây ô nhiễm môi trường cục bộ khi thiếu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan chức năng

1.4.3 Khí thải và mùi trong CBTS

Khí thải và mùi trong các xí nghiệp CBTS xuất phát từ các nguồn sau:

- Mùi hôi tanh đặc trưng của nguyên liệu, bán thành phẩm, phế phẩm từ khu vực sản xuất

- Mùi của các hoá chất sử dụng trong sản xuất, trong quá trình vệ sinh, khử trùng

- Mùi của môi chất lạnh có thể bị rò rỉ ra từ hệ thống lạnh

- Khí thải từ máy phát điện dự phòng

Trang 22

Hiện nay, lượng khí thải trong các xí nghiệp CBTS ĐL thường không đáng

kể và nằm trong giới hạn cho phép Thành phần của chúng bao gồm: SO2, CO2,

NO2, NH3, H2S, Chỉ riêng chế biến bột cá thải mùi hôi ở công đoạn nấu và sấy, cần có hệ thống khử mùi triệt để cho cơ sở này

Mùi hôi tanh là mùi đặc trưng dễ thấy của các xí nghiệp CBTS nói chung và đông lạnh nói riêng Đó là sự tổng hợp của nhiều loại mùi khác nhau như: mùi của nguyên liệu thuỷ sản hoặc mùi được sinh ra trong quá trình phân huỷ kỵ khí hoặc hiếu khí của các hợp chất hữu cơ có trong bán thành phẩm và phế thải, hoặc lẫn trong nước thải Thành phần của khí thải gây mùi hôi tanh chủ yếu là mùi của sản phẩm phân hủy của các hợp chất hữu cơ Mùi hôi tanh thường tập trung nhiều ở khu vực có xử lý thuỷ sản, đặc biệt các khu vực chứa đựng phế thải, các dụng cụ chế biến không được làm sạch và khử trùng theo quy định, hệ thống cống rãnh thoát nước và xử lý nước thải, hệ thống thu gom chất thải rắn

1.4.4 Môi chất lạnh trong CBTS đông lạnh

Đối với bất kỳ xí nghiệp CBTS nào thì nhu cầu về lạnh là tất yếu trong toàn

bộ quá trình sản xuất Để đáp ứng cho nhu cầu này, môi chất lạnh được sử dụng trong các thiết bị cấp đông, kho lạnh đông, kho làm mát, máy làm nước đá, máy điều hoà

Các môi chất lạnh hiện đang được sử dụng phổ biến trong ngành là: Amoniac (R717), Freon 22 (R22) và một lượng rất ít Freon 502 (R502)

- Môi chất lạnh R717 (công thức hoá học NH3): là chất khí không màu, có mùi rất hắc, dễ hoà tan trong nước, có phản ứng kiềm mạnh, độc hại đối với cơ thể con người, gây kích thích niêm mạc mắt, dạ dày, gây co thắt cơ quan hô hấp, làm bỏng da, gây cháy nổ trong không khí, Tuy vậy, R717 là môi chất lạnh rẻ tiền, dễ kiếm, dễ vận chuyển và bảo quản, hệ số dẫn nhiệt và trao đổi nhiệt lớn nên thuận lợi cho việc thiết kế, chế tạo các thiết bị ngưng tụ và bay hơi, Do không gây tác hại với môi trường nên R717 được xem là môi chất thân thiện với môi trường, được sử dụng để thay thế các freon trong tương lai

- Các môi chất R22, R502: là chất khí không màu, có mùi thơm rất nhẹ, không hoà tan trong nước nên gây nguy cơ tắc ẩm, không độc hại đối với cơ thể sống,

Trang 23

nhưng khi nồng độ lên quá cao gây ra ngạt thở do thiếu dưỡng khí, đắt nhưng dễ kiếm, bảo quản và vận chuyển dễ dàng,

Môi chất R22 gây phá huỷ tầng ozon ở mức độ thấp và gây hiệu ứng lồng kính làm nóng địa cầu Vì vậy, chúng có thể được lựa chọn làm môi chất lạnh quá

độ đến năm 2020 Còn môi chất R502 gây phá huỷ tầng ozon ở mức độ mạnh và gây hiệu ứng lồng kính cao, vào năm 2008 môi chất này bị cấm sử dụng hoàn toàn

Nhìn chung, công nghiệp CBTS trong cả nước đã có nhiều cố gắng trong việc tuân thủ các quy định của Luật Môi trường Một số áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, nước sử dụng trong chế biến, thực hiện thu gom CTR, xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải để đáp ứng tiêu chuẩn môi trường theo quy định Các nhà máy CBTS nằm trong các khu dân cư, khu đô thị đều

đã được thực hiện di dời ra các khu công nghiệp, khu vực được quy hoạch để không gây ô nhiễm môi trường do mùi hôi tanh từ các chất thải của nhà máy gây ra

Đã có 75% doanh nghiệp trong tổng số các doanh nghiệp điều tra đã xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trường, trong đó có đưa ra kế hoạch, biện pháp nhằm cải thiện môi trường và chịu sự quản lý, hướng dẫn của cơ quan quản lý môi trường địa phương Hầu hết các cơ sở đã có biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Một số ít doanh nghiệp đã có phòng thí nghiệm phân tích môi trường Nhiều doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, 100% vốn nước ngoài và một

số doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thực hiện tốt quy định về môi trường,

1.4.5 Môi trường tại các cơ sở CBTS quy mô nhỏ

Vấn đề môi trường đang còn là tồn tại cần giải quyết tại các làng cá ven biển, nơi có nhiều hộ chế biến do vợ, con trong gia đình các ngư dân chủ trì tiến hành thu gom, sơ chế hoặc chế biến các sản phẩm thủy sản truyền thống như hàng khô, nước mắm và các loại mắm, nằm xen kẽ trong khu dân cư đều gây ra ô nhiễm mùi hoặc nước thải, mặc dù không phải thuộc diện gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hơn thế nữa, nhiều vùng ven biển nơi có các làng cá nay lại trở thành các điểm được quy hoạch cho phát triển du lịch, giải quyết vấn đề môi trường cho các làng cá đang là một thách thức cho chính quyền địa phương và các ban ngành ở địa phương

Trang 24

Làng nghề CBTS cũng gây ô nhiễm môi trường rất lớn, tùy thuộc loại hình chế biến, quy mô sản xuất mà mức độ ô nhiễm môi trường do các hoạt động CBTS của các hộ có khác nhau Ô nhiễm môi trường ở các làng nghề nặng nhất chủ yếu là các cơ sở chế biến hàng khô, chế biến sứa, chế biến đông lạnh quy mô nhỏ Mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào quy mô sản xuất của cơ sở Ô nhiễm của các cơ sở này do các loại chất thải rắn, lỏng và khí (mùi tanh của thủy sản bị phân hủy, mùi do quá trình gia nhiệt sản phẩm, khói lò than/củi, ) sinh ra trong quá trình chế biến của cơ sở

Khác với các cơ sở chế biến quy mô công nghiệp, điều kiện đất đai, nhà xưởng và vốn đầu tư của của các cơ sở chế biến quy mô nhỏ thường rất hạn chế Nhiều hộ gia đình tiến hành chế biến ngay tại khuôn viên nhà ở Có những hộ có đất xây dựng cơ sở chế biến riêng, nhưng do nhận thức về bảo vệ môi trường chưa đầy

đủ và hạn chế về vốn đầu tư và thiếu tư vấn về công nghệ xử lý chất thải nên hầu hết các cơ sở CBTS quy mô nhỏ chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường tại cơ sở Hiện tại 100% các làng nghề CBTS trên cả nước chưa có hệ thống

xử lý nước thải, và nước thải của các cơ sở này vẫn được trực tiếp xả xuống kênh, mương, sông ngòi hoặc vùng biển liền kề Nhiều cơ sở nằm trên vùng cát ven biển còn để nước thải sản xuất chảy và ngấm vào trong cát có thể gây ô nhiễm nước ngầm Rác thải sinh hoạt và rác thải sản xuất ở nhiều địa phương vẫn chưa tổ chức thu gom xử lý triệt để

Một vài tỉnh đã có quy hoạch cho các cụm công nghiệp-làng nghề để di dời

và tạo lập các cụm sản xuất công nghiệp tập trung, ở đó hệ thống xử lý nước thải tập trung được xây dựng và vận hành Tuy nhiên, nhiều dự án có quy hoạch nhưng chưa

có vốn để triển khai Một số dự án đã đầu tư nhưng chưa thu hút được các hộ CBTS nhỏ lẻ tham gia, do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là do tập quán, thói quen sản xuất nhỏ lẻ làm ngay tại gia đình của các hộ này, thêm vào đó các chính sách của nhà nước để hỗ trợ di dời cơ sở chưa thật hấp dẫn

Kết quả khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2015 cho thấy, hiện có tới 46% làng nghề môi trường bị ô nhiễm nặng (đối với không khí, nước, đất hoặc cả 3 dạng); ô nhiễm vừa và nhẹ đều chiếm 27% Chính vì vậy, việc bảo vệ môi trường, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi

Trang 25

trường làng nghề hiện nay là rất cấp thiết Bên cạnh sự phát triển nhanh về kinh tế, nguy cơ ô nhiễm môi trường từ các làng nghề cũng đang ở mức báo động, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người dân và của cộng đồng Tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề đã kéo dài nhiều năm, tích tụ lâu ngày nên mức độ ô nhiễm ở nhiều nơi rất nghiêm trọng, gây tác hại và ảnh hưởng xấu mà vẫn chưa có biện pháp

km và từ Bắc xuống Nam dài 49 km

Nằm trong khu tam giác kinh tế đồng bằng Bắc Bộ (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), Thái Bình có lợi thế về địa lý như cách Hà Nội khoảng 110 km, Hải Phòng 70 km; tuyến đường quốc lộ 10 đi qua, đây là tuyến đường huyết mạch giao thông giữa các tỉnh đồng bằng ven biển Bắc Bộ Ngoài ra còn tuyến quốc lộ 37B là tuyến đường bộ nối ba tỉnh Thái Bình, Nam Định và Hà Nam có chiều dài toàn tuyến là 139 km

Tỉnh được chia ra làm 8 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố (7 huyện và

1 thành phố trực thuộc tỉnh) bao gồm: thành phố Thái Bình (trung tâm kinh tế và chính trị của tỉnh), huyện Kiến Xương, huyện Vũ Thư, huyện Đông Hưng, huyện Quỳnh Phụ, Huyện Hưng Hà, huyện Tiền Hải và huyện Thái Thụy Trong đó có hai huyện tiếp giáp biển là Tiền Hải và Thái Thụy

b) Địa hình

Địa hình khu vực Thái Bình thuộc loại địa hình đồng bằng thấp, độ cao tuyệt đối từ 0,5 - 3m Địa hình bị chia cắt mạnh mẽ bởi hệ thống sông và cửa sông trong

Trang 26

vùng Mật độ chia cắt > 2km/km2, ở vùng cửa sông tới 3,5 km/km2 Do nhiều cửa sông như vậy nên nước mặn có thể xâm nhập vào một vùng khá rộng nếu như không bị một hệ thống đê biển và đê sông ngăn chắn Đây là một điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ trong chủ trương chuyển đổi

cơ cấu cây trồng vật nuôi của Chính phủ và nhu cầu của người dân

Địa hình đồng bằng chủ yếu có 3 kiểu: đồng bằng tích tụ cao ở Kiến Xương, Hưng Hà, Đông Hưng; Vũ Thư: đất thấp, phần lớn có độ cao dưới 1m, xen kẽ với các dải cồn cao 1-2m; đồng bằng tích tụ thấp ở Quỳnh Phụ tích tụ phù sa mới, thấp, phát triển ở những nơi ít được bồi đắp phù sa do bản thân sông chảy qua ít phù sa Đồng bằng duyên hải ở Tiền Hải, Thái Thụy là vùng châu thổ rõ rệt Đất mặn chiếm phần lớn diện tích, sau đến đất cát trên các dải cồn và cuối cùng là đất phèn Đất được sử dụng làm ruộng hai vụ, ven biển có đồng cói và rừng ngập mặn Các bãi cát và cồn cát ven biển chủ yếu phân bố ở rìa phía đông, đông nam và đông bắc Các cồn cát cửa sông là cồn Đen, cồn Vành, cồn Thủ

Địa hình đáy biển nông ven bờ phần lớn là đồng bằng tích tụ delta ngầm, địa hình hầu như bằng phẳng độ dốc không quá 30, độ dốc cao chủ yếu ở cửa Ba Lạt, địa hình phức tạp hóa bởi hệ thống luồng lạch và các bãi tích tụ ngầm cửa sông rất thích hợp đối với động vật nuôi thủy sản nhất là các đối tượng ngao, tôm, cua và các đối tượng khác

c) Điều kiện khí hậu

* Chế độ nhiệt

Nhiệt độ không khí:

Đặc điểm khí hậu Thái Bình mang đặc tính của vùng có địa hình thấp và bằng phẳng nên nền nhiệt tương đối cao, thuộc chế độ nhiệt nóng Nhiệt độ không khí trung bình năm là 24,6ºC, tương ứng với tổng nhiệt năm khoảng 8.100 ÷ 8.600ºC Vùng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc, chế độ nhiệt ở đây phân hóa ra làm hai mùa nóng - lạnh rất rõ rệt

Nhiệt độ nước ven biển:

Sự chênh lệch nhiệt độ nước giữa mùa đông và mùa hè rất rõ rệt Nhiệt độ nước về mùa đông có xu thế tăng dần từ trong sông ra ngoài khơi (từ 18 - 21ºC)

Trang 27

Gradient nhiệt độ đạt 0,1ºC theo xu thế nhiệt độ giảm dần (trong mùa đông) khi tiến sâu vào sông và đạt 18ºC tại ngưỡng cửa sông, ở nhiệt độ này đã ảnh hưởng đến sự hoạt động bắt mồi, cũng như khả năng sinh trưởng của động vật nuôi là hạn chế, thậm chí có đối tượng ngưng hẳn việc bắt mồi như: tôm càng xanh, cá chim trắng Riêng đối với cá rô phi và tôm càng xanh ở nhiệt độ này, thậm chí bị chết Mùa hè, nhiệt độ nước dao động từ 27- 29ºC thay đổi theo xu thế giảm dần từ trong sông ra, nhiệt độ này lại rất thích hợp cho hầu hết các đối tượng nuôi thủy sản

Nhiệt độ nước trong các ao đầm:

Nhiệt độ nước trong các ao đầm nuôi vùng ven biển Thái Bình trung bình năm giao động trong khoảng 25,2 - 26,7ºC Sự phân bố nhiệt nước trong các ao đầm nuôi trung bình của các tháng trong năm là có sự khác biệt nhau giữa các mùa Đối với mùa hè (từ tháng 4 - 10) nhiệt độ nước trung bình giao động trong khoảng 25 - 33ºC và sự giao động nhiệt giữa ngày và đêm không nhiều, do đó rất thích hợp cho tất cả các đối tượng nuôi thủy sản như tôm sú, cua, cá, rong câu, cũng như ngao,…

Đối với mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau), nhiệt độ nước giao động trong khoảng 17 - 21ºC là thấp so với các đối tượng nuôi thủy sản, do vậy không nên thả nuôi trong thời gian này Riêng hai tháng chuyển tiếp giữa hai mùa với nhau có sự giao thoa nhiệt độ, nhiệt độ trong tháng 3 là chế độ nhiệt chuyển tiếp

từ mùa đông sang mùa hè và trong tháng 11 là chế độ nhiệt từ mùa hè sang mùa đông, thường gây sốc nhiệt, và tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển với các đối tượng nuôi

* Lượng mưa, độ ẩm và lượng bốc hơi

Chế độ mưa (trung bình 149,7 mm) thuộc loại trung bình trên toàn quốc và được phân hóa ra hai mùa khác nhau Mùa mưa khu vực Thái Bình trùng với mùa hoạt động của gió mùa mùa hè và thịnh hành là gió Đông Nam Số ngày mưa năm ở đây dao động trong khoảng 117 - 153 ngày và phân bố tương đối đều trong năm, chỉ

có 3 tháng 11, 12 và 1 có dưới 10 ngày mưa/tháng do ảnh hưởng của kiểu thời tiết khô hanh rất đặc trưng của miền Bắc nước ta Hầu hết các tháng còn lại trong năm đều có số ngày mưa dao động trong khoảng 10 - 20 ngày/tháng, trong đó tháng 8 hoặc 9 có nhiều ngày mưa nhất trong năm, đạt khoảng 14 - 20 ngày

Trang 28

Vào mùa mưa, lượng mưa đạt trung bình trong khoảng 124,2mm/tháng, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 (mưa lớn tập trung tháng 9 - 10), chiếm 84 - 92% tổng lượng mưa toàn năm Thời gian này thường trùng với hiện tượng bão lụt, kết hợp với lượng mưa lũ từ thượng nguồn đổ về qua hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, ảnh hưởng rất lớn đến nuôi trồng thủy sản như: làm ngọt hóa các đầm nuôi, tăng độ đục trong ao, giảm giá trị pH, giảm lượng ô xy hòa tan, kéo theo nhiều chất bẩn có chứa mầm bệnh,…

Mùa khô lượng mưa chỉ đạt 15,8 - 43,4 mm, tập trung vào các tháng còn lại

trong năm (tháng 11 – tháng 4 năm sau), kết hợp với lượng nước ở thượng nguồn bị chặn lại do giữ nước trên các đập chứa phục vụ thủy lợi; làm cho lưu lượng nước đổ xuống thượng nguồn bị giảm mạnh Dẫn đến sự xâm thực của nước lợ từ ngoài biển vào sâu trong đất liền qua các hệ thống sông (từ 10 - 20 km ), độ xâm thực này đối với các sông là khác nhau: đối với sông Hóa độ muối vào sâu hơn rất nhiều so với sông Trà Lý, sông Lân, do đó có thể bố trí nuôi tôm rảo trải dài theo sông Hóa vào đến huyện Quỳnh Phụ và các sông Trà Lý Riêng sông Hồng khả năng xâm thực nước mặn vào trong nội đồng vùng huyện Kiến Xương là tương đối lớn, do vậy có thể bố trí nuôi tôm rảo nội đồng tại các xã ven sông Hồng phía Đông Nam huyện Kiến Xương (Hồng Tiến và Bình Định)

* Bão và gió

Độ ẩm không khí:

Trung bình năm khoảng 85,2% và không có sự thay đổi độ ẩm nhiều qua các tháng trong năm Vào mùa mưa, lượng mưa lớn, nhưng nhiệt độ, số giờ nắng cao dẫn đến khả năng bốc hơi mạnh, độ ẩm tương đối ổn định Đây là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển các đối tượng nuôi thủy sản

Mùa gió Đông Bắc kéo dài từ tháng 10 đến tháng 1; trong các tháng 12 và 1

là gió mùa lục địa, đem lại thời tiết lạnh và khô Trên biển, gió hướng Đông Bắc chiếm ưu thế tuyệt đối, với tần suất khoảng 70% Ở bờ biển, tùy theo hình thái địa hình mà hướng gió thịnh hành có thể là Đông Bắc hoặc Bắc Tần suất tổng cộng của các hướng có thành phần Bắc chiếm khoảng 50 ÷ 60%, thấp hơn so với ở vùng biển khơi Trong thời kỳ này gió hướng Đông cũng thường xuất hiện với tần suất 20 ÷

Trang 29

30% Từ tháng 2 đến tháng 4 là thời kỳ suy thoái của các luồng gió từ phương Bắc, đồng thời gió Đông phát triển mạnh và trở nên thống trị Ở vùng Thái Bình, gió Đông đã trở nên thịnh hành từ tháng 2 tần suất gió Đông trong các tháng 2, 3, 4 lên đến 50 ÷ 60%; hướng gió Bắc vẫn còn chiếm tỷ lệ khoảng 15 ÷ 25%

d) Đặc điểm thủy văn, hải văn

Nước biển xâm nhập vào các cửa sông khá sâu vào đất liền, 22 km đối với sông Hồng và 20 km đối với sông Trà Lý với nồng độ muối 5 - 10 ‰ Độ cao thủy triều và sự nhiễm mặn hạ lưu các cửa sông là điều kiện thuận lợi để chuyển đổi một

số diện tích cho phép sang NTTS, nhất là các huyện ven biển Tiền Hải, Thái Thụy

và huyện Kiến Xương

Đặc điểm hải văn vùng ven biển Thái Bình tương đối phức tạp đối với NTTS, nhất là khu vực ngoài đê biển quốc gia và những vùng có rừng ngập mặn chắn sóng thưa và thấp Tuy vậy, phần lớn hai huyện ven biển được bao bọc bởi rừng ngập mặn với nhiều đối tượng khác nhau, mặt khác chạy dọc ven biển có 4 cồn cát được bồi lắng hàng năm và trên các bãi bồi này đang diễn ra các diễn thế sinh thái tự nhiên rất mạnh, kết hợp với việc trồng rừng ngập mặn đã tạo ra cho Thái Bình một tấm thảm bảo vệ vùng kinh tế của tỉnh, nhất là các hoạt động nuôi trồng thủy sản

Những tấm thảm thủy thực vật vùng ven biển là cỗ máy sinh học có chức năng điều hòa khí hậu và đặc biệt là chúng có thể làm sạch môi trường nước/đất trước và sau hoạt động NTTS, cũng như bẫy mùn bã hữu cơ từ thượng nguồn đổ về

đã tạo nên một vùng hàng năm được bồi đắp Tuy vậy, sau một khoảng thời gian, vùng bãi bồi này diễn ra các hoạt động ôxy hóa khử yếm khí, tạo ra các hợp chất độc và chất dinh dưỡng tương đối cao Do vậy, không nên bố trí ngay các hoạt động nuôi trồng, mà nên khai thác và bảo vệ nguồn lợi, sau một thời gian nhất định, khi các bãi đã dâng cao, nước mặn ít ảnh hưởng cho sự tồn tại của rừng ngập mặn, sau

đó mới phát triển nuôi trồng

1.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

a) Dân số và cơ cấu dân số

Theo Cục thống kê tỉnh Thái Bình, năm 2015 toàn tỉnh có 1,789 triệu người, tăng 0,18% so với năm 2011, bình quân tăng trưởng 0,01%/năm Trong đó, dân số

Trang 30

nam chiếm 48,3%, nữ chiếm 51,7%, nông thôn chiếm 89,6%, thành thị chiếm 10,4%[7]

Dân số nam có xu hướng tăng nhanh hơn dân số nữ (bình quân năm

2010-2015 dân số nam tăng cao gấp 3,5 lần so với tốc độ tăng trưởng của dân số nữ) Dân

số tỉnh Thái Bình có xu hướng chuyển dịch từ nông thôn ra thành thị, điều này thể hiện rõ ở tốc độ tăng trưởng dân số ở hai khu vực này: khu vực nông thôn giảm 0,05%/năm, trong khi đó khu vực thành thị tăng 0,01%/năm (bình quân giai đoạn 2010-2015 dân số nông thôn giảm gấp 5 lần so với tốc độ tăng trưởng của dân số thành thị) Điều này cho thấy kinh tế của tỉnh đang phát triển mạnh và có sức hút dân số rất lớn từ nông thôn ra thành thị Tuy nhiên điều này tiềm ẩn rủi ro rất lớn về nguồn nhân lực phục vụ phát triển khu vực nông, lâm và thủy sản, đặc biệt là lao động trong lĩnh vực khai thác thủy sản

Bảng 1: Hiện trạng dân số tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 – 2015

Trang 31

xuống còn 62% năm 2015 Lao động hầu hết khối ngành công nghiệp và dịch vụ đều có mức tăng lớn (từ 34,7% năm 2011 lên 38% năm 2015) Điều này có nghĩa là lao động trên thực tế đang dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ,…Lao động của Thái Bình có trình độ văn hóa khá cao, tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học trở lên là trên 96%, tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn ở thành thị khoảng 38,92%, nông thôn là 18,61% Người lao động nói chung có tính cần cù, nhận thức tốt

Nhìn chung, lực lượng lao động đáp ứng được nhu cầu về lao động đề phát triền kinh tế xã hội của tỉnh Do yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, để nền kinh tế phát triển mạnh và bền vững, tỉnh cần có chương trình, chiến lược cụ thể

để chuyển dịch cơ cấu lao động và đào tạo lại lao động trong tỉnh

Bảng 2: Hiện trạng lao động tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 – 2015

Trang 32

2015 Riêng thủy sản chiếm 9,14% tổng GRDP toàn tỉnh và 27,05% tổng GRDP toàn ngành nông nghiệp năm 2015 Với cơ cấu kinh tế như trên, Thái Bình vẫn là một tỉnh thuần nông và vẫn phải phụ thuộc rất lớn vào nguồn ngân sách nhà nước điều này sẽ hạn chế rất lớn đến khả năng cân đối nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế của tỉnh hiện tại cũng như trong thời gian tới

Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010-2015 đạt 6,58%/năm Trong đó toàn ngành nông nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 6,41% đóng góp 2,68 điểm phần % vào tăng trưởng chung nền kinh tế toàn tỉnh giai đoạn 2011-2015; Công nghiệp-dịch

vụ tăng trưởng 5,19% đóng góp 0,45 điểm phần % vào tăng trưởng chung nền kinh

tế tỉnh giai đoạn 2011- 2015; Dịch vụ tăng trưởng 8,52%/năm đóng góp 2,84 điểm

% vào tăng trưởng chung nền kinh tế tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011-2015; Thuế nhập khẩu tăng trưởng 16,47%/năm đóng góp 0,62 điểm % vào tăng trưởng chung nền kinh tế tỉnh giai đoạn 2011-2015 Riêng ngành thủy sản tăng trưởng 8,1%/năm đóng góp 0,79% vào tăng trưởng kinh tế toàn ngành nông nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế tỉnh nói chung giai đoạn 2011-2015

Nhìn chung, chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh giai đoạn 2011-2015 còn thiếu bền vững chủ yếu phụ thuộc vào vốn chiếm 76,74%, đóng góp của yếu tố lao động chiếm 4,39%, riêng yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp TFP (trình độ quản lý,

áp dụng khoa học kỹ thuật, ) vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp 18,86% Đây là hạn chế không riêng của tỉnh mà chung cho các tỉnh/thành phố khác trên cả nước cũng như nền kinh tế chung của Việt Nam

1.5.3 Đánh giá tiềm năng về phát triển thủy sản tỉnh Thái Bình

1.5.3.1 Tiềm năng về diện tích mặt nước

Thái Bình có 3 loại thủy vực khác nhau: nước ngọt, nước lợ và nước mặn; Trong đó thủy vực nước mặn chiếm khoảng 17 km2 Thủy vực nước ngọt và nước

lợ chứa đựng nguồn tài nguyên thủy sinh đa dạng về loài và phong phú về đối tượng Kết hợp với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển NTTS của tỉnh

Tiềm năng phát triển nuôi nước ngọt: Tổng diện tích có khả năng nuôi thủy

sản là 9.256ha, diện mới đưa vào nuôi trên 8.200 ha Ngoài ra, còn có trên 3.000ha vùng lúa ruộng trũng cấy 1 vụ năng suất thấp có thể chuyển sang nuôi thủy sản

Trang 33

Tiềm năng phát triển NTTS nước mặn, lợ

Vùng ven biển Thái Bình được giới hạn từ cửa Thái Bình đến cửa Ba Lạt Chiều dài bờ biển khoảng 54 km, có tiềm năng về diện tích đất và mặt nước mặn, lợ NTTS lớn Nhìn chung, địa hình bãi triều ven biển huyện Thái Thụy tương đối bằng phẳng, hướng dốc Tây Bắc – Đông Nam với độ dốc khoảng 0,5/1km Vùng bãi triều huyện Tiền Hải khá phức tạp, có nhiều luồng lạch Tuy nhiên, phía bên ngoài có các cồn cát, tạo nên bức tường chắn sóng là điều kiện thuận lợi để nuôi ngao

Vùng nước lợ: Chủ yếu ở các khu vực cửa sông Hồng, sông Thái Bình và

sông Trà Lý có các nguồn phù du sinh vật, các loại tảo thực vật, thủy sinh phong phú làm thức ăn tự nhiên cho NTTS Vùng này có khoảng 20.705 ha, trong đó Tiền

Hải 9.949ha, Thái Thụy 10.756 ha (Nguồn: Báo cáo Quy hoạch giống thủy sản tỉnh

Thái Bình giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020)

Diện tích có khả năng phát triển NTTS nước lợ là 5.453 ha Bên cạnh đó còn

có các cồn cát ven biển như Cồn Vành, Cồn Thủ, Cồn Đen và vùng đất ngập mặn rất thích hợp trồng cây sú vẹt, bần Hiện tại có gần 5.000 ha rừng vừa giữ đất, chắn sóng, vừa tạo môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên du lịch ven biển

1.5.3.2 Tiềm năng về nguồn lợi thủy sinh vật

Các loài thuộc chi Nitzchia và Chaetoceros phân bố nhiều trên cửa sông Thái Bình, loài Thalassiothrix phát triển xa dần từ cửa Lân đến cửa Thái Bình

Vào mùa tháng 5 và tháng 6 mật độ thực vật nổi dao động từ 19.000 đến 1.709.000 TB/m3 với giá trị trung bình 368.000 TB/m3 và tập trung cao ở cửa Bắc sông Hồng, Bắc cửa Trà Lý và cửa Thái Bình với độ sâu tầng nước khoảng 10 - 20m và đạt lớn nhất là 106TB/m3

Trang 34

Động vật nổi: ở các cửa sông Thái Bình, Trà Lý từ tháng 10 đến tháng 5 mật

độ động vật nổi dao động trong khoảng 104 105 con/m3, đến mùa lũ khoảng 102 -

103 con/m3

Động vật đáy: động vật đáy ở các đầm nuôi và bãi triều Thái Bình có khoảng

49 đại diện thuộc Polychaeta 13 loài, chiếm 26,5%; Gastropoda 3 loài chiếm 6,1%,

Bivalvia 12 loài chiếm 24,5%; Decapoda 20 loài chiếm 40,1% còn lại là Amphipoda

1 đại điện chiếm 2,0%

c) Khu hệ cá

Khu hệ cá ven biển Thái Bình có nhiều loài và thành phần nhưng sinh lượng thấp vì thế trữ lượng và sản lượng đánh bắt thấp, ít có giá trị khai thác trong đánh bắt công nghiệp quy mô lớn

Tổng trữ lượng hải sản vùng ven biển Thái Bình khoảng 26.000 tấn Trong

đó, trữ lượng cá 24.000-25.000 tấn, tôm 600-1.000 tấn, mực 700-800 tấn Khả năng khai thác tối đa cho phép 12.000-13.000 tấn (Vũ Trung Tạng, 1995)

Khu hệ cá tự nhiên ven biển Thái Bình: Có 152 loài có xương sống và 4

loài cá sụn thuộc 51 họ của 13 bộ cá Cá sống rải rác phân tán, chưa thấy có bãi cá nào xuất hiện với mật độ cao Các loài có giá trị kinh tế của vùng biển Thái Bình là:

cá trích (kể cả cá mòi), cá dưa, một ít cá thu, một ít cá đáy đặc sản như cá thủ, cá hồng, Cá nước lợ có 40 loài có khả năng thích nghi với sự biến động lớn về độ mặn Hầu hết là cá nước lợ có giá trị kinh tế cao như: cá thủ, cá vược, cá đối mắt đỏ,

cá đối vằn, cá bớp (nước lợ) và các loài thuộc họ cá bống Các đối tượng giáp xác như: tôm rảo, tôm sú, tôm thẻ, tôm nương, cua xanh Các đối tượng rong biển như: rong câu chỉ vàng Các đối tượng nhuyễn thể như: ngao, vọp, ngán, hầu,

Khu hệ cá tự nhiên nội đồng Thái Bình: Các đối tượng cá có trong tự

nhiên của vùng nước ngọt Thái Bình chủ yếu là các loài cá như: cá mè ranh, rô phi thuần, cá rô đồng, cá quả, cá chép, cá trôi, cá trắm cỏ, cá diếc và một số loài tôm tự nhiên khác

Khu hệ cá nuôi vùng ven biển Thái Bình: Chủ yếu là các loài cá có trong

tự nhiên như cá bống, cá vược, cá rô phi, cá bớp; các loài giáp xác như: tôm sú, tôm

Trang 35

rảo, tôm thẻ, tôm nương, cua; các loài nhuyễn thể như: ngao, vọp,… các loài cỏ biển như rong câu chỉ vàng

Khu hệ cá nuôi nước ngọt Thái Bình: Mè hoa, mè trắng, trôi, trắm cỏ, trắm

đen, chép thuần, chép ba máu, rô phi thuần, rô phi đơn tính, cá quả, cá chim trắng; các đối tượng giáp xác như: tôm càng xanh, tôm rảo

Vùng Đông Bắc cửa Diêm Điền tôm vàng và tôm bộp chiếm tỷ lệ 50 - 60 %, tôm sắt 15 - 20 % còn lại là tôm he, chúng tập trung ở các bãi nông 3 - 5m từ tháng

10 đến tháng 01 âm lịch năm sau Khu vực Đông Bắc Trà Lý tôm chiếm sản lượng khai thác cao tại nơi nước sâu 3 - 7 m, trong các tháng 12 đến tháng 2 âm lịch với các loài chính là tôm vàng và tôm bộp (Vũ Trung Tạng, 1995)

Ở các ao đầm xã Thái Đô huyện Thái Thuỵ có họ cá chép (Cyprinidae), cá ngạnh (Bagridae) có 5 loài đều là cá nước ngọt điển hình, song cũng gặp nhiều ở các cửa sông, nơi có độ muối thấp với vài loài thuộc giống Hemiculler, Rasbora,

(Vũ Trung Tạng, 1995)

Nhìn chung hải sản vùng ven biển Thái Bình không nhiều, rất ít giống loài có giá trị kinh tế nên chỉ thích hợp với các hoạt động đánh bắt nhỏ, khai thác tự nhiên, khó có tiềm năng cho hoạt động khai thác có tính công nghiệp nên chỉ tạo ra địa bàn hạn hẹp cho một số ngư dân làm nghề khai thác tự nhiên ở ven bờ (độ sâu  20 m nước cho các loại tàu  150 CV)

Việc hình thành các cảng và đội tàu cá lớn ở 5 cửa sông lớn là nơi xuất phát cho các tàu đánh cá và các tàu vận tải từ Thái Bình đi các tỉnh và nước ngoài; cùng với quá trình xây dựng hệ thống đường giao thông trên bộ, hàng hoá của tỉnh có thể tập kết để từ các cửa sông của Thái Bình đi các tỉnh, ra nước ngoài và các tỉnh vùng thượng lưu bằng đường thuỷ

1.5.3.3 Tiềm năng về nguồn giống thủy sản

a) Giống thủy sản nước ngọt

Hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và các phân lưu của nó đã tạo thuận lợi cho việc xây dựng và vận hành sản xuất giống thuỷ sản nước ngọt trong nhiều thập

kỷ qua Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có nguồn nước nóng nên nhiệt độ tương đối ấm (trên 70-800C) thích hợp cho lưu giữ các loài thủy sản chịu rét kém (tôm càng canh,

Trang 36

cá rô phi, cá Chim trắng qua đông) tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất con giống nhân tạo, chủ động được mùa vụ sản xuất Đây là những lợi thế rất lớn để đẩy mạnh đầu tư các trại sản xuất giống thuỷ sản

Tiềm năng ương một số giống loài thủy sản:

Hoạt động ương nuôi đối với các đối tượng giống thuỷ sản nước ngọt truyền thống trên địa bàn tỉnh Thái Bình được phát triển nhiều năm nay Diện tích dùng cho ương dưỡng các giống không nhiều như NTTS và thời gian ương ngắn Bên cạnh đó, tỉnh có hệ thống sông lớn với chất lượng, số lượng nước ngọt đủ đáp ứng cho ương dưỡng với quy mô lớn Do đó, Thái Bình được xem là địa phương có rất nhiều lợi thể để khoanh vùng ương dưỡng các giống loài thủy sản

b) Giống thủy sản mặn, lợ

Tỉnh có vùng bãi triều rộng thoải, dài và có diện tích rừng ngập mặn lớn với

hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc trưng đã tạo lên vùng có nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên phong phú và đa dạng, tạo lợi thế lớn cho phát triển và sản xuất giống hải sản trên địa bàn tỉnh

Bên cạnh đó, việc chuyển đổi, cải tạo, nâng cấp ao nuôi tôm sú khu vực ngoài

đê Quốc gia để ương Ngao giống ngay tại địa phương cũng là điều kiện thuận lợi

c) Khả năng khoanh vùng bảo tồn các giống loài thủy sản

Thái Bình được xem là một trong 2 tỉnh thuộc hạ lưu đồng bằng sông Hồng có tiềm năng lớn cho xây dựng các khu bảo tồn tự nhiên, khu bảo vệ nguồn lợi hải sản Trên địa bàn tỉnh còn có khả năng xây dựng một số khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước như vùng Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải, Thái Thượng, Thái Đô

Ngoài ra, phía ngoài Cồn Thủ thuộc xã Nam Thịnh, Đông Minh huyện Tiền Hải có nguồn lợi Ngao giống tự nhiên lớn và có đủ điều kiện thuận lợi để bảo tồn ngao bản địa (ngao dầu)

1.5.4 Đánh giá chung Điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội tác động đến phát triển thủy sản của tỉnh

a) Thuận lợi

Nằm ở phía Nam vùng đồng bằng sông Hồng, trong vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, gần kề với các tỉnh

Trang 37

trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Thái Bình có vị trí thuận lợi để phát triển hoạt động thương mại trên các phương diện, trực tiếp hoặc gián tiếp cung ứng hàng hoá cho thị trường Trung Quốc và các nước khác; thu hút các nguồn hàng từ bên ngoài để cung ứng cho thị trường trong nước Tạo điều kiện thuận lợi cho Thái Bình phát triển và mở rộng giao lưu kinh tế trong mọi lĩnh vực với các tỉnh trong cả nước

và quốc tế

Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên cùng với những thành tựu phát triển kinh

tế - xã hội của Thái Bình trong giai đoạn vừa qua là những cơ sở quan trọng trong phát triển thị trường của tỉnh với qui mô ngày càng lớn hơn của cả cung và cầu hàng hoá, qua đó tạo ra môi trường thuận lợi để các hoạt động thương mại phát triển nhanh hơn với qui mô và phạm vi lớn hơn

Sự phát triển về cơ sở hạ tầng thời gian qua giúp Thái Bình ngày càng gắn kết chặt chẽ hơn trong không gian thị trường cả nước Đây cũng chính là yếu tố thuận lợi cho quá trình phát triển thị trường và các hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh

Nguồn nhân lực và chất lượng giáo dục của nguồn nhân lực tỉnh Thái Bình đang và sẽ là lợi thế chủ yếu đối với sự nghiệp phát triển kinh tế nói chung và các hoạt động thương mại nói riêng của Thái Bình Dân số trong độ tuổi lao động của Thái Bình đang có xu hướng tăng nhanh, tạo nên lực lượng lao động trẻ tương đối dồi dào và có trình độ giáo dục khá tốt

Với 54km bờ biển kéo dài từ cửa sông Thái Bình cho tới cửa Ba Lạt của sông Hồng thuộc địa giới hai huyện Tiền Hải và Thái Thụy, Thái Bình có nhiều lợi thế và tiềm năng trong phát triển ngành thủy sản nói riêng và kinh tế xã hội nói chung

Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp - thủy sản tuy cao song chưa bền vững do

Trang 38

chịu tác động nhiều của các yếu tố khách quan, tăng trưởng trong NTTS cao song vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra, chưa khai thác tốt lợi thế, tiềm năng; diễn biến bất thường của thời tiết cũng như dịch bệnh nhất là các bệnh lạ còn tiềm ẩn và tái phát gây thiệt hại cho sản xuất, làm giảm tốc độ tăng trưởng chung

Sản xuất hàng hóa đã được hình thành nhưng còn ở trình độ thấp, hiệu quả sản xuất, chất lượng nông sản chưa có tính cạnh tranh cao trên thị trường, kết quả dồn đổi ruộng đất chưa tốt, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp chưa được quy hoạch và đầu tư xây dựng đúng tầm của sản xuất hàng hóa đã cản trở tới quá trình cơ khí hóa trong nông nghiệp

Cơ sở hạ tầng, kỹ thuật tuy đã được quan tâm đầu tư cải thiện, nhưng thiếu đồng bộ, chưa đủ đáp ứng cho một nền sản xuất hàng hóa và phát triển dịch vụ trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và chưa đủ sức hấp dẫn với các nhà đầu tư trong nước cũng như ngoài nước

Dân số đông, mật độ dân số cao (đứng đầu so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và đứng thứ 9 cả nước), khó khăn trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng, mức gia tăng dân số hàng năm là sức ép đối với vấn đề giải quyết việc làm

Nằm gần hai trung tâm kinh tế lớn phát triển năng động và mạnh mẽ hơn là thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng là một lợi thế xong cũng là một thách thức lớn với Thái Bình về kêu gọi vốn đầu tư, tìm kiếm thị trường nội địa cũng như quốc tế

Đời sống nhân dân tuy được cải thiện nhưng còn một bộ phận dân cư có thu nhập thấp, đời sống còn gặp nhiều thấp

1.6 Hiện trạng môi trường sinh thái và dịch bệnh ảnh hưởng đến phát triển ngành thủy sản Thái Bình

1.6.1 Hiện trạng môi trường nước biển và tác động đến NTTS

Môi trường nước biển Thái Bình đã có biểu hiện ô nhiễm dầu và nguy cơ ô nhiễm Pb, Zn Ô nhiễm dầu xảy ra từ những khu vực gần bờ như ở Nam Phú, Nam Thịnh, Thái Đô, cửa Diêm Điền trong khoảng độ sâu 0-2m nước đến những khu vực

xa bờ với độ sâu từ 14 - 20m nước Nguyên nhân ô nhiễm dầu, chủ yếu là do hoạt

Trang 39

động tàu thuyền và bến bãi gây ra

Mặt khác, các tàu thuyền đánh bắt thủy sản vận chuyển vào trong cảng cũng góp phần làm ô nhiễm dầu Nước thải của các tàu thuyền, nhà máy, phân xưởng có thể chứa nhiều chất hữu cơ và kim loại nặng gây ô nhiễm môi trường

1.6.2 Hiện trạng môi trường nước tại các sông lớn

Nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh bao gồm nước mặt trong các sông lớn, hệ thống sông nội đồng và hệ thống ao hồ Các sông lớn trên địa bàn tỉnh, có nguồn nước mặt chủ yếu do sông Hồng cấp trực tiếp và cấp vào 2 nhánh sông lớn (nhánh 1

là sông Luộc - sông Hóa, nhánh 2 là sông Trà Lý) chảy qua địa phận tỉnh Thái Bình

đổ ra biển Đông ở 3 cửa sông lớn bao là cửa Thái Bình (cuối của nhánh 1), cửa Trà

Lý (cuối của nhánh 2) và cửa Ba Lạt (cuối sông Hồng)

Hệ thống sông nội đồng: Có mạng lưới khá dày đặc, với mật độ 2,54 km/km2 Hệ thống sông nội đồng lấy nguồn nước mặt trực tiếp từ các sông Hồng, Luộc, Hoá và Trà Lý, đồng thời tiêu thoát ra biển ở 2 cửa là cửa sông Diêm Điền và cửa sông Lân

Hệ thống ao hồ: Hệ thống ao hồ nằm phần lớn trong các khu dân cư phân bổ rải khắp địa bàn toàn tỉnh chứa một phần nguồn nước mặt của tỉnh

Qua báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường tỉnh giai đoạn 2011-2015, kết quả phân tích mẫu nước trên các sông Hồng, Trà Lý, Hóa vào 2 mùa (mùa khô và mùa mưa) cho thấy, diễn biến chất lượng nước trên các sông lớn theo các thông số của QCVN, cụ thể:

Diễn biến chất lượng nước sông Hồng:

Các thông số pH, DO, NO2-, NO3-, NH4+, PO43-,Cr6+, Fe, Cu, As, Pb, Cd, Hg, chất hoạt động bề mặt, chlordane, coliform tại các thời điểm được quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08:2015/BTNMT - cột B1 Chất lượng nước sông Hồng bị ô nhiễm bởi hàm lượng các chất hữu cơ (COD, BOD5)

Chất lượng nước mặt sông Luộc và sông Hóa:

Các thông số pH, DO, NO3-, PO43-, Cr6+, As, Pb, Cd, Hg, chất hoạt động bề mặt, chlordane tại thời điểm được quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08:2015/BTNMT - cột B1

Trang 40

Thông số TSS, BOD5, NO2-, NH4+, Fe, Cu, coliform vượt có những thời điểm vượt nhẹ tại cả 3 vị trí

Hàm lượng tổng dầu mỡ tại hầu hết các vị trí đều vượt quy chuẩn cho phép, đối với nước sông Hóa hàm lượng dầu mỡ vượt nhẹ so với quy chuẩn còn sông Luộc tại 02 vị trí vượt nhiều lần so với quy chuẩn, điển hình tại cầu Triều Dương (sông Luộc) và phân lưu sông Luộc – sông Hóa tại xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ

Riêng đối với hàm lượng Cl- của sông Hóa tại xã Thụy Trường vượt nhiều lần so với quy chuẩn, cụ thể tất các các thời điểm đều vượt khoảng 7 lần so với quy chuẩn cho phép

Chất lượng nước mặt sông Luộc và sông Hóa bị ô nhiễm bởi hàm lượng COD, BOD5 vào cả hai mùa

Chất lượng nước mặt sông Trà Lý:

+ Các thông số pH, DO, NO3-, Cr6+, As, Pb, Cd, Hg, chất hoạt động bề mặt tại thời điểm được quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08:2015/BTNMT - cột B1

+ Đối với các thông số NO2-; NH4+; PO43-, có một số thời điểm tại một số vị trí vượt nhẹ so với quy chuẩn cho phép

+ Thông số TSS vượt nhẹ vào mùa mưa (tháng 8) với hàm lượng 34mg/l vượt so với quy chuẩn (tại điểm đầu chảy vào Thái Bình) Vào mùa khô hàm lượng nằm trong giới hạn cho phép

+ Hàm lượng tổng dầu, mỡ tại tất cả các vị trí đều vượt quy chuẩn cho phép + Thông số Cl- có 02 thời điểm của vị trí sông Trà Lý tại cầu Trà Lý vào tháng 5 có hàm lượng 804,1mg/l vượt quy chuẩn cho phép 02 lần và vào tháng 11 với hàm lượng 422,6 vượt nhẹ so với quy chuẩn, còn lại tất cả các vị trí tại các thời điểm khác đều nằm trong quy chuẩn cho phép

+ Thông số Coliform có 05 thời điểm các vị trí vượt quy chuẩn cho phép; điển hình là 02 vị trí có thời điểm vượt cao vào tháng 3 là nước mặt sông Trà Lý tại công trình thu nước của công ty TNHH MTV cấp nước Thái Bình có số lượng Coliform là 9,2 x103 vượt quy chuẩn cho phép và nước sông Trà Lý tại cống Dục Dương có số lượng Coliform là 8,5x103

Ngày đăng: 13/07/2022, 17:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ NN&PTNT (2014), Quyết định số 1167/QĐ-BNN-TCTS ngày 28/5/2014 ban hành Chương trình hành động thực hiện Đề án "Tái cơ cấu ngành Thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”, Lưu tại Thư viện Bộ Nông nghiệp &PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cơ cấu ngành Thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Năm: 2014
3. Bộ NN&PTNT (2009), Thông tư số 14/2009/TT-BNN ngày 12/3/2009 về “Hướng dẫn quản lý môi trường trong chế biến thủy sản”, Lưu tại Thư viện Bộ Nông nghiệp &PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quản lý môi trường trong chế biến thủy sản
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Năm: 2009
13. Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2016), Báo cáo “Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Lưu tại Thư viện Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản
Năm: 2016
15. Nguyễn Văn Hiếu (2014), “Phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản tỉnh Bến Tre”, Luận văn Tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản tỉnh Bến Tre
Tác giả: Nguyễn Văn Hiếu
Năm: 2014
18. Lâm Văn Mẫn (2006), “Phát triển bền vững ngành thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015”, Luận văn Tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố HCM, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững ngành thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015
Tác giả: Lâm Văn Mẫn
Năm: 2006
21. Trần Thị Dung và nhóm tác giả (2011), Báo cáo “Quy hoạch phát triển chế biến thủy sản toàn quốc đến năm 2020”, Lưu tại Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển chế biến thủy sản toàn quốc đến năm 2020
Tác giả: Trần Thị Dung và nhóm tác giả
Năm: 2011
22. Nguyễn Xuân Thi (2008), Báo cáo “Đánh giá trình độ công nghệ chế biến thủy sản”, Lưu tại Viện nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trình độ công nghệ chế biến thủy sản
Tác giả: Nguyễn Xuân Thi
Năm: 2008
24. Trần Thị Thơm (2011), “Phát triển bền vững ngành thủy sản thành phố Đà Nẵng đến năm 2020”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững ngành thủy sản thành phố Đà Nẵng đến năm 2020
Tác giả: Trần Thị Thơm
Năm: 2011
1. Bộ NN&PTNT (2014), Quyết định số 1003/QĐ-BNN-CB ngày 13/5/2014, phê duyệt Đề án Nâng cao giá trị gia tăng hàng nông lâm thủy sản trong chế biến và giảm tổn thất sau thu hoạch, Lưu tại Thư viện Bộ Nông nghiệp&PTNT Khác
4. Bộ tài nguyên Môi trường (2015), QCVN 11-MT:2015/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và nước thải chế biến thủy sản Khác
5. Chính phủ (2010), Quyết định số 1690/QĐ-TTg ngày 16/9/2010, Phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, Lưu tại Thư viện Bộ Nông nghiệp &PTNT Khác
6. Chính phủ (2012), Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Khác
7. Cục thống kê Thái Bình (2016), Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình 2016, Lưu tại Thư viện Viện Kinh tế &Quy hoạch thủy sản Khác
8. Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản ( 2012), Phương pháp luận nghiên cứu xây dựng Quy hoạch phát triển thủy sản, Nhà xuất bản Nông nghiệp Khác
9. Sở NN&PTNT Thái Bình (2015), Báo cáo tổng kết ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn các năm 2009-2015. Lưu tại Thư viện Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Khác
10. Sở NN&PTNT Thái Bình (2015), Các báo cáo liên quan đến ngành thủy sản của tỉnh giai đoạn 2009-2011, Lưu tại Thư viện Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Khác
11. UBND tỉnh Thái Bình (2015), Báo cáo Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Lưu tại.Thư viện Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Khác
12. VASEP (2016), Báo cáo xuất khẩu thủy sản năm 2016. Lưu tại Thư viện Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Khác
14. Lê Thạc Cán (2001), Phát triển bền vững, Lưu tại Viện môi trường và PTBV, Hà Nội, tr.19 Khác
16. Nguyễn Chu Hồi (2005), Chương trình nghị sự 21 Phát triển bền vững ngành Thủy sản. Lưu tại Thư viện Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mô hình phát triển bền vững hình quả trứng [15] - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Hình 1. Mô hình phát triển bền vững hình quả trứng [15] (Trang 12)
Hình 2: Sơ đồ PTBV của hoạt động chế biến thủy sản - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Hình 2 Sơ đồ PTBV của hoạt động chế biến thủy sản (Trang 16)
Hình 4: Tính bền vững của hoạt động Chế biến thủy sản - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Hình 4 Tính bền vững của hoạt động Chế biến thủy sản (Trang 17)
Bảng 1:  Hiện trạng dân số tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 – 2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 1 Hiện trạng dân số tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 – 2015 (Trang 30)
Bảng 2: Hiện trạng lao động tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 –  2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 2 Hiện trạng lao động tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 – 2015 (Trang 31)
Bảng 3. Nguồn nguyên liệu cho CBTS giai đoạn 2010-2015  TT  Danh mục - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 3. Nguồn nguyên liệu cho CBTS giai đoạn 2010-2015 TT Danh mục (Trang 44)
Bảng 4: Các cơ sở sơ chế, chế biến thủy sản tư nhân và các doanh nghiệp chế biến - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 4 Các cơ sở sơ chế, chế biến thủy sản tư nhân và các doanh nghiệp chế biến (Trang 47)
Bảng 5: Các mặt hàng CBTS xuất khẩu và tiêu thụ nội địa tỉnh Thái Bình - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 5 Các mặt hàng CBTS xuất khẩu và tiêu thụ nội địa tỉnh Thái Bình (Trang 48)
Bảng 7: Lao động trong các doanh nghiệp CBTS năm 2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 7 Lao động trong các doanh nghiệp CBTS năm 2015 (Trang 52)
Bảng 8:  Lao động CBTS của tỉnh giai đoạn 2010-2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 8 Lao động CBTS của tỉnh giai đoạn 2010-2015 (Trang 53)
Bảng 9: Hệ thống chợ, siêu thị, Trung tâm thương mại của tỉnh Thái Bình - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 9 Hệ thống chợ, siêu thị, Trung tâm thương mại của tỉnh Thái Bình (Trang 54)
Bảng 10 . Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình đến năm - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 10 Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình đến năm (Trang 57)
Bảng 11: Hiện trạng chất thải rắn hàng năm của cơ sở CBTS  Loại hình - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 11 Hiện trạng chất thải rắn hàng năm của cơ sở CBTS Loại hình (Trang 65)
Bảng 12: Kết quả điều tra phỏng vấn về hiện trạng môi trường của làng nghề CBTS - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Bảng 12 Kết quả điều tra phỏng vấn về hiện trạng môi trường của làng nghề CBTS (Trang 66)
Hình 4: Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nước thải CBTS đến môi trường - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển chế biến thủy sản bền vững tại tỉnh thái bình
Hình 4 Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nước thải CBTS đến môi trường (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w