ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ======= ĐOÀN THỊ HẢI YẾN NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC KỸ THUẬT LÀM GIÀU KẾT HỢP VỚI PHƯƠNG PHÁP ĐIỆN DI MAO QUẢN SỬ DỤNG DETECTOR
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
=======
ĐOÀN THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC KỸ THUẬT LÀM GIÀU KẾT
HỢP VỚI PHƯƠNG PHÁP ĐIỆN DI MAO QUẢN SỬ DỤNG
DETECTOR ĐO ĐỘ DẪN KHÔNG TIẾP XÚC ĐỂ XÁC
ĐỊNH CÁC DẠNG ASEN VÔ CƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
=======
ĐOÀN THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC KỸ THUẬT LÀM GIÀU KẾT
HỢP VỚI PHƯƠNG PHÁP ĐIỆN DI MAO QUẢN SỬ DỤNG
DETECTOR ĐO ĐỘ DẪN KHÔNG TIẾP XÚC ĐỂ XÁC
ĐỊNH CÁC DẠNG ASEN VÔ CƠ
Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã số: 60440118
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ ÁNH HƯỜNG
Trang 3HÀ NỘI - 2015
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Ánh Hường
đã giao đề tài, đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài và viết luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn GS Peter C Hauser, TS Mai Thanh Đức và
ThS Bùi Duy Anh đã thiết kế lắp đặt và hỗ trợ các trang thiết bị cũng như tư vấn
kỹ thuật trong quá trình thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo giảng dạy tại khoa Hoá, đặc biệt
là các thầy cô trong bộ môn Hoá Phân tích, đã cho tôi những kiến thức quý giá trong
quá trình học tập và thực hiện đề tài này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các anh chị, bạn bè, các sinh viên của bộ môn hoá
phân tích đã giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn trong suốt quá trình tôi học tập và thực
hiện đề tài này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn động viên, chia
sẻ mọi khó khăn cùng tôi
Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 2015
Học viên
Đoàn Thị Hải Yến
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1 Asen và ô nhiễm Asen trong nước ngầm 3
1.1.1 Khái quát chung về Asen 3
1.1.2 Độc tính và cơ chế gây độc của Asen 4
1.1.3 Một số quy định nồng độ giới hạn Asen trong nước uống và nước ngầm……… 7
1.1.4 Vấn đề ô nhiễm Asen trong nước ngầm trên thế giới và Việt Nam 8
1.2 Các phương pháp phân tích Asen 10
1.2.1 Phương pháp trắc quang- Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV- VIS với thuốc thử bạc dietydithiocacbamat (AgDDC) trong cloroform- Xác định Asen tổng 10
1.2.2 Phương pháp ICP- MS ( Inductively coupled plasma- Mass spectrometry) 11
1.2.3 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử không ngọn lửa (GF- AAS) 11
1.2.4 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử- Kỹ thuật hydrua hóa HG- AAS (hydride generation- atomic absorption spectrometry) 12
1.2.5 Phương pháp điện hóa xác định hàm lượng Asen 13
1.2.6 Phương pháp điện di mao quản xác định hàm lượng Asen 13
1.3 Phương pháp điện di mao quản 14
1.4 Một số kỹ thuật làm giàu trực tiếp trên cột trong phương pháp điện di mao quản 20
1.4.1 Kỹ thuật khuếch đại điện trường 21
1.4.2 Kỹ thuật bơm mẫu lượng lớn 21
1.4.3 Kỹ thuật làm giàu mẫu bằng pH (pH- Mediated stacking) 22
1.4.4 Kỹ thuật làm giàu đẳng điện 23
1.4.5 Kỹ thuật làm giàu sử dụng sự khác biệt về pH giữa hai vùng mẫu (Dynamic pH junction) 24
CHƯƠNG II: THỰC NGHIỆM 27
2.1 Đối tượng, mục tiêu và nội dung nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 27
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Thiết bị, dụng cụ 27
2.2.2 Hóa chất 28
2.2.3 Chuẩn bị các dung dịch chuẩn và hóa chất thí nghiệm 29
Comment [TA1]: Xem lại đánh sỗ trang phần
này, đánh theo la mã hoặc bỏ số trang ở phần này đi, để trang 1 là mở đầu
Trang 62.2.4 Quy trình xử lý mao quản trước khi sử dụng 29
2.2.5 Phương pháp xử lý mẫu 29
2.3 Các thông số đánh giá độ tin cậy của phương pháp phân tích 30
2.3.1 Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) của phương pháp phân tích 30
2.3.2 Độ chụm ( độ lặp lại) của phương pháp 31
2.3.3 Độ đúng của phương pháp 32
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Nghiên cứu khảo sát tối ưu điều kiện phân tích As(III) trên thiết bị CE- C4D 33
3.1.1 Khảo sát lựa chọn dung dịch đệm điện di 33
3.1.2 Khảo sát ảnh hưởng pH của dung dịch đệm Arg và CAPS 34
3.1.3 Khảo sát nồng độ axit 39
3.1.4 Khảo sát ảnh hưởng của độ dẫn dung dịch đệm Arg và CAPS ở pH 9,6 41
3.1.5 Khảo sát thời gian bơm mẫu và chiều dài hiệu dụng của mao quản 43
3.1.6 Khảo sát ảnh hưởng của mangan (II) và sắt (II) 46
3.1.7 Khảo sát điện thế tách 48
3.2 Khảo sát khoảng tuyến tính và xây dựng đường chuẩn xác định As(III) 49
3.2.1 Khảo sát khoảng tuyến tính 49
3.2.2 Đường chuẩn phân tích hàm lượng As(III) 50
3.3 Độ lặp lại và hiệu suất thu hồi của phương pháp thêm chuẩn trong phân tích As(III) bằng hệ thiết bị điện di mao quản 53
3.4 Xác định gián tiếp As(V) qua phản ứng khử As(V) về As(III) 54
3.5 Phân tích hàm lượng Asen trong mẫu nước ngầm 54
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC ……… ……… 62
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Một số tính chất của Asen 3
Bảng 1.2: Hàm lượng Asen trong đá và trầm tích[39] 4
Bảng 1.3: Một số hợp chất của Asen gây độc tính với con người 5
Bảng 1.4: Quy định nồng độ giới hạn Asen trong nước uống[41] 7
Bảng 1.5: Một số quy định nồng độ giới hạn Asen trong nước ở Việt Nam[12, 13] 7
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH của dung dịch đệm đến tín hiệu và hệ số làm giàu của As(III) 40µM bằng phương pháp điện di mao quản CE- C 4 D 35
Bảng 3.3: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của độ dẫn dung dịch đệm Arg và CAPS ở pH 9,6 42
Bảng 3.4: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian bơm mẫu tới tín hiệu Asen khi chiều dài hiệu dụng của mao quản leff= 46 cm 44
Bảng 3.5: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian bơm mẫu tới tín hiệu Asen khi chiều dài hiệu dụng của mao quản leff= 48 cm 44
Bảng 3.6: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian bơm mẫu tới tín hiệu Asen khi chiều dài hiệu dụng của mao quản leff= 50 cm 45
Bảng 3.7: Khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng Fe(II) đến tín hiệu As(III) 46
Bảng 3.8: Kết quả khảo sát loại bỏ ảnh hưởng của hàm lượng Fe(II) đến tín hiệu As(III) 3200 µg/ l bằng cách tạo phức Fe(II) với 1,10- phenanthrolin 47
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của điện thế tách tới tín hiệu As(III) 48
Bảng 3.10: Điều kiện tối ưu cho phân tích As(III) bằng CE- C 4 D 49
Bảng 3.11: Nồng độ và diện tích pic trung bình của As(III) 49
Bảng 3.12: Giới ha ̣n phát hiê ̣n và giới ha ̣n đi ̣nh lương của Asen 51
Bảng 3.13: Kết quả so sánh giữa giá trị a với giá trị 0 của phương trình đường chuẩn As(III) 52
Bảng 3.14: Đánh giá độ lặp lại và hiệu suất thu hồi của phương pháp phân tích As(III) bằng hệ thiết bị điện di mao quản 53
Bảng 3.15: Hiệu suất thu hồi As(V) sau phản ứng khử về As(III) 54
Bảng 3.16: Kết quả hàm lượng As(III) và As(V) của các mẫu nước của CTCP nước sạch số 2, Gia Lâm, Hà Nội 55
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ phân tích hệ điện di mao quản 14
Hình 1.2 Mặt cắt ngang của mao quản 16
Hình 1.3 Lớp điện tích kép trên bề mặt mao quản 16
Hình 1.4 Ảnh hưởng của dòng EOF đến tốc độ của các ion trong quá trình điện di 16
Hình 1.5 Các kĩ thuật bơm mẫu trong phương pháp điện di mao quản 18
Hình 1.6 Nguyên lý hoạt động của cảm biến đo độ dẫn không tiếp xúc 19
Hình 1.7 : Cơ chế của kỹ thuật làm giàu khuyếch đại điện trường 21
Hình 1.8: Cơ chế của kỹ thuật làm giàu bơm mẫu lượng lớn 22
Hình 1.9: Cơ chế của kỹ thuật làm giàu trên cơ sở sự chênh lệch về độ pH 23
Hình 1.10: Cơ chế của kỹ thuật làm giàu đẳng điện ITP 24
Hình 1.11: Cơ chế của kỹ thuật làm giàu dựa trên sự khác nhau giữa pH của vùng đệm điện di và mẫu phân tích 25
Hình 2.1: Hệ thiết bị điện di mao quản CE-C 4 D tự chế, bán tự động 28
Hình 2.2: Sơ đồ quy trình xử lý mẫu nước ngầm để phân tích hàm lượng As(III) 30
Hình 3.1: Điện di đồ As(III) 40µM/ axit 15mM với pha động điện di là Arg: CAPS/ MES/ MOPS/ CHES 34
Hình 3.2: Đồ thị thể hiện sự phụ thuộc của hệ số làm giàu As(III) vào độ dẫn của dung dịch đệm điện di Arg: CAPS 35
Hình 3.7: Tín hiệu As(III) 40 µM khi dùng đệm Arg 14: CAPS 60 mM, 38
Hình 3.9: Đồ thị thể hiện sự phụ thuộc của hệ số làm giàu As(III) vào nồng độ axit của nền mẫu 40
Hình 3.10: Tín hiệu As(III) 40 µM pha trong nền axit formic 40
Hình 3.11: Tín hiệu As(III) 40 µM pha trong nền axit axetic 40
Hình 3.12: Tín hiệu As(III) 40 µM pha trong nền axit oxalic 41
Hình 3.13: Tín hiệu As(III) 40 µM pha trong nền axit maleic 41
Hình 3.15: Tín hiệu As(III) 40 µM pha trong nền axit formic 15mM 42
Hình 3.16: Tín hiệu As(III) 40 µM pha trong nền axit axetic 15mM 42
Hình 3.17: Tín hiệu As(III) 40 µM pha trong nền axit oxalic 15mM 43
Hình 3.18: Tín hiệu As(III) 40 µM pha trong nền axit maleic 15mM 43
Hình 3.21: Khảo sát khoảng tuyến tính As(III) 50
Trang 9Hình 3.22: Đường chuẩn phân tích hàm lượng As(III) 50
Hình 3.23 Đồ thị thể hiện hàm lượng Asen của các mẫu nước ngầm phân tích được so với TCVN về
hàm lượng Asen trong nước uống (10µg/ l) và trong nước ngầm (50µg/ l) 55
Trang 10MỞ ĐẦU
Tình trạng ô nhiễm Asen trong nước ngầm hiện đang là mối quan tâm không
chỉ Việt Nam mà còn cả trên thế giới Tại một số vùng ở Việt Nam việc sử dụng nguồn
nước ngầm có nguy cơ ô nhiễm asen làm nguồn nước sinh hoạt hàng ngày vẫn còn tiếp
diễn, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của con người
Trong nước, Asen tồn tại cả dạng vô cơ và hữu cơ với các hợp chất chủ yếu là
metylasonic, dimetylasinic, asenit (As(III)) và asenat (As(V)) Tỷ lệ As(III) so với
As(V) có thể dao động từ 0,1 : 1 cho đến 10 : 1 tùy vào từng vùng và tỷ lệ này thay đổi
theo mùa [33] Theo các số liệu nghiên cứu được về cơ chế giải phóng As từ trong
trầm tích vào nước ngầm, môi trường nước ngầm ở Việt Nam chủ yếu có tính khử
[31] Do vậy, tiểu phần As vô cơ chủ yếu trong nước ngầm ở Việt Nam là As(III) Mặt
khác, độc tính của asen phụ thuộc vào trạng thái oxi hóa của Asen, phụ thuộc vào dạng
tồn tại vô cơ hay hữu cơ Độc tính của các dạng Asen vô cơ cao hơn so với các dạng
Asen hữu cơ; trong đó, độc tính của các dạng hợp chất của Asen hóa trị III cao hơn các
dạng hợp chất của Asen hóa trị V[25]
Do đó, việc xác định hàm lượng Asen trong nước ngầm, đặc biệt là xác định
các dạng asen vô cơ, trước khi khai thác là yêu cầu cấp thiết, nhằm góp phần cung cấp
nguồn nước sạch, đảm bảo sức khỏe của người dân
Hiện nay, có rất nhiều phương pháp khác nhau để xác định hàm lượng Asen
tổng cũng như các dạng asen như phương pháp trắc quang (UV- VIS), phương pháp
phổ hấp thụ nguyên tử không ngọn lửa (GF- AAS), phương pháp phổ khối plasma cảm
ứng (ICP- MS), phương pháp điện hóa, phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao,
song các phương pháp này đều được tiến hành trong phòng thí nghiệm với trang thiết
bị phức tạp và đòi hỏi quy trình bảo quản mẫu nghiêm ngặt hoặc phải kết hợp với kỹ
thuật tách ngay tại hiện trường nhằm tránh sự oxi hóa dạng As(III) lên dạng As(V) khi
tiến hành phân tích dạng Asen Trong khi đó, trang thiết bị máy điện di thiết kế tương
đối gọn nhẹ, thao tác đơn giản không chỉ phù hợp cho việc phân tích hàm lượng Asen
Trang 11trong phòng thí nghiệm mà còn có thể tối ưu hóa thiết bị cho mục đích phân tích các
dạng Asen vô cơ ngay tại hiện trường
Trước đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi tác giả Nguyễn Thị Ánh Hường [2, 22]
đã thành công trong việc xây dựng quy trình xác định hàm lượng nhỏ các dạng asen vô
cơ bằng phương pháp điện di mao quản kết hợp với detector độ dẫn không tiếp xúc
kiểu kết nối tụ điện ( CE- C4D); giới hạn phát hiện As(V) là 2µg/ l và giới hạn định
lượng là 7,4 µg/ l; tuy nhiên, giới hạn phát hiện As(III) còn khá cao là 73 µg/l chưa
đáp ứng được quy định về mức cho phép về hàm lượng Asen là 50µg/ l đối với nước
ngầm (QCVN 02: 2009/ BYT)[13] và 10µg/l đối với nước uống (QCVN 01: 2009/
BYT)[12] Do đó, với mục đích làm tăng độ nhạy của phương pháp phân tích Asen,
đặc biệt là tăng độ nhạy của phương pháp đối với phép phân tích trực tiếp As(III),
chúng tôi tiếp tục nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật làm giàu trực tiếp với đề tài là:
“Nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật làm giàu kết hợp với phương pháp điện di mao
quản sử dụng detector đo độ dẫn không tiếp xúc để xác định các dạng Asen vô cơ ”,
hy vọng sẽ góp một phần nhỏ làm phong phú thêm công cụ kiểm tra hàm lượng các
dạng asen vô cơ trong mẫu nước, đáp ứng nhu cầu thực tế hiện nay
Comment [TA2]: Trích dẫn QCVN của Bộ
TNMT
Comment [TA3]: Trích dẫn quy định về nước
ăn uống
Trang 12CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1 Asen và ô nhiễm Asen trong nước ngầm
1.1.1 Khái quát chung về Asen
Asen là nguyên tố hình thành tự nhiên trong vỏ Trái Đất Asen là nguyên tố á
kim, mang cả tính chất kim loại và phi kim Asen thường được đề cập đến như là một
kim loại Asen nguyên chất tồn tại ở thể rắn, màu xám Asen tồn tại ở 4 trạng thái oxy
dẫn điện, dẫn nhiệt tốt
Độc tính của As phụ thuộc vào dạng tồn tại Asen tan trong nước và hầu như không tồn tại ở dạng nguyên tố mà hình thành
các hợp chất, gọi là các “Arsenicals” Tuy nhiên, asen tồn tại trong môi trường dưới
dạng hợp chất thành asen vô cơ và asen hữu cơ Asen vô cơ là hợp chất của asen với
một số nguyên tố như clo và lưu huỳnh Hợp chất của asen với với cacbon và hydro
được gọi là hợp chất asen hữu cơ Đa số các hợp chất của Asen là dạng bột màu trắng
hoặc không màu, không mùi và hầu hết không vị Asen vô cơ tự nhiên có trong đất và
nhiều loại khoáng vật, đặc biệt là các khoáng của chì hoặc đồng
Asen tồn tại trong tự nhiên chủ yếu trong các loại đá và trầm tích, bảng 1.2
Song Asen thực sự trở thành mối đe dọa đối với sức khỏe con người khi chúng được
thải ra từ đá thuộc tầng chứa nước hoặc từ trầm tích vào nước ngầm và sau đó nguồn
nước ngầm này lại được con người sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày, nước uống
Nghiên cứu cũng đã chỉ ra trong hầu hết các trường hợp thì asen trong đá và trầm tích
Trang 13xâm nhập vào môi trường chỉ xảy ra do điều kiện địa hóa của tự nhiên đẫn đến ô
nhiễm Asen cao trong nước ngầm
Bảng 1.2: Hàm lượng Asen trong đá và trầm tích[39]
Các hợp chất Asen sử dụng trong thương mại và trong công nghiệp như trong
sản xuất bóng bán dẫn, laser, chất bán dẫn cũng như trong chế biến thủy tinh, bột màu,
dệt may, giấy, keo dán kim loại, chất bảo quản gỗ cũng như trong sản xuất đạn dược
Ngoài ra, các hợp chất của Asen còn được sử dụng trong quá trình thuộc da và thuốc
trừ sâu, phụ gia thức ăn, dược phẩm (ở mức hạn chế)[40]
1.1.2 Độc tính và cơ chế gây độc của Asen
Độc tính của Asen
Độc tính của các As phụ thuộc vào cấu tạo hóa học cuả chúng và được sắp xếp
theo thứ tự sau: arsenite> arsenate> monomethylarsonate> dimethylarsinate As3+ có
độc tính lớn hơn As5+
khoảng 60 lần; các hợp chất As vô cơ có độc tính cao hơn các
As hữu cơ khoảng 100 lần Điều này cũng có thể giải thích là do các hợp chất asenit ,
asenat vô cơ bền hay có khả năng hòa tan trong nước đều dễ dàng hấp thụ vào dạ dày
và các tế bào của cơ thể Mặt khác, dạng xâm nhập chính của Asen vào cơ thể là các
hợp chất dạng asen vô cơ mà trong đó As(III) dễ hấp thụ vào con người qua con đường
Trang 14ăn uống, trao đổi chất vì dễ hòa tan vào nước hơn so với As(V); hơn nữa, As(V) được
bài tiết (chủ yếu qua nước tiểu) nhanh hơn As(III) [25, 40]
Bảng 1.3: Một số hợp chất của Asen gây độc tính với con người
Arsenite H2AsO3-, HAsO32-, AsO3
Arsenate H2AsO4-, HAsO42-, AsO4
3-Arsanilic acid C6H4NH2AsO(OH)2
Arsenobetaine (CH3)3As+CH2COO-
Arsenocholine (CH3)3AsCH2CH2OH
Dimethylarsinic acid (CH3)2AsO(OH)
Nhiễm độc Asen có thể gây ra hàng loạt các vấn đề nguy hại đe dọa tới sức khỏe
của con người Các triệu chứng khi nhiễm độc Asen bao gồm tổn thương da, ung thư
da, ung thư phổi và bàng quang, các bệnh về dạ dày, ruột và phổi Ngộ độc asen cũng
gây ra chậm phát triển nhận thức ở trẻ em Các triệu chứng phổ biến nhất khi nhiễm
độc Asen mãn tính là thay đổi sắc tố da và hình thành lớp sừng (xơ cứng, lớp dày và
xuất hiện các nốt trên da) và thường xuất hiện ở vùng cơ thể ít tiếp xúc với ánh sáng
như vùng ngực, bụng, lưng Hình thành lớp sừng dày, xơ cứng, các nốt sần chủ yếu ở
lòng bàn tay và lòng bàn chân Các nốt sần dày lên, da có thể bị nứt và dễ bị nhễm
trùng dẫn đến suy nhược và đau đớn
Song không phải bất cứ ai tiếp xúc với hàm lượng asen vượt quá giới hạn cho
phép đều bị nhiễm độc Asen Việc phơi nhiễm Asen tiềm ẩn rủi ro tới sức khỏe của
con người Rủi ro sức khỏe do nhiễm độc Asen không chỉ phụ thuộc vào hàm lượng
Asen mà còn phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc; hơn nữa, phụ thuộc vào chế độ ăn
uống, do di truyền
Trang 15 Cơ chế gây độc của Asen[17]
Asen đi vào cơ thể con người bằng tất cả các con đường có thể như: hít thở, ăn
uống và thẩm thấu qua da Trong đó, uống nước nhiễm Asen là con đường chính để
Asen xâm nhập vào cơ thể con người Khi vào cơ thể, chúng thể hiện độc tính, đặc biệt
là As(III) tấn công vào các nhóm hoạt động –SH của enzym, làm cản trở sự hoạt động
của enzym:
Mặt khác, AsO43- có tính chất tương tự PO43- sẽ thay thế ion PO43- gây ức chế
enzym, ngăn cải tạo ra ATP là chất sản sinh ra năng lượng
Như vậy, tác dụng sinh hóa chính của Asen là làm đông tụ protein, tạo phức với
enzym và phá hủy quá trình photphat hóa tạo ra ATP
Trang 161.1.3 Một số quy định nồng độ giới hạn Asen trong nước uống và nước ngầm
Asen ( As) được biết chủ yếu bởi độc tính của nó với sức khỏe con người, đe
dọa nghiêm trọng tới sức khỏe hàng triệu người trên thế giới Đặc biệt, ở một số nước
châu Á việc sử dụng nguồn nước ngầm (nước giếng) dùng trong sinh hoạt thay thế
nguồn nước mặt ô nhiễm khiến cho nguy cơ ô nhiễm Asen càng trở lên trầm trọng
Cục bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (US- EPA) và tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã quy
định hàm lượng As trong nước uống là 10µg/ l Trong khi đó, các nước đang phát triển
bởi hạn chế về kinh tế cũng như khó khăn trong việc áp dụng kỹ thuật mới nên vẫn sử
dụng tiêu chuẩn cũ, hàm lượng Asen quy định trong nước uống là 50µg/ l
Bảng 1.4: Quy định nồng độ giới hạn Asen trong nước uống[41]
Bảng 1.5: Một số quy định nồng độ giới hạn Asen trong nước ở Việt Nam[12, 13]
Trang 171.1.4 Vấn đề ô nhiễm Asen trong nước ngầm trên thế giới và Việt Nam
1.1.4.1 Vấn đề ô nhiễm Asen trong nước ngầm trên thế giới
Sự phơi nhiễm cao Asen trong nước uống diễn ra trong nhiều thập kỷ ở một số
vùng trên thế giới như Trung Quốc, một số nước thuộc trung tâm và Nam Mỹ và hầu
hết các nước này đều sử dụng nguồn nước ngầm làm nguồn nước uống Một số vùng ô
nhiễm hàm lượng asen cao như Bangladesh, Trung Quốc, Tây Bengal (Ấn Độ),
Argentina, Úc, Chile, Mexico, Mỹ và Việt Nam Một số vùng mỏ, nung chảy và các
hoạt động công nghiệp khác ở Nhật Bản, Mexico, Thái Lan, Brazil, Úc và Mỹ cũng
giải phóng một lượng asen vào nước[41] Phơi nhiễm Asen lớn nhất được biết đến
trong lịch sử xảy ra ở Bangladesh và các vùng cận kề Tây Bengal, Ấn Độ với 35÷ 77
triệu người nhiễm độc Asen khi sử dụng nguồn nước ô nhiễm Asen làm nước uống
Hầu hết nguồn nước uống của người dân thuộc các vùng nông thôn Bangladesh được
lấy từ các giếng khoan nông Hàm lượng Asen trung bình xác định được tại các giếng
nước ngầm phía nam và phía đông Bangladesh là 135 µg/ l Trên 60% số giếng trong
vùng bị ô nhiễm Asen nghiêm trọng với hàm lượng Asen vượt quá 1000 µg/ l[41]
1.1.4.2 Vấn đề ô nhiễm Asen trong nước ngầm ở Việt Nam
Asen là một nguyên tố không chỉ có trong nước mà còn có trong không khí, đất,
thực phẩm và có thể xâm nhập vào cơ thể con người Điều tra sơ bộ đã có thể khẳng
định nguyên nhân chủ yếu khiến nước ngầm ở nhiều vùng thuộc nước ta nhiễm asen là
do cấu tạo địa chất Giống như hầu hết các nước Đông Nam Á các lớp đất Việt Nam
nhận trầm tích từ vùng Hymalaya rửa trôi xuống do mưa và kéo theo đó là các trầm
tích giàu Asen Kết quả asen từ các trầm tích được hấp thụ vào các lớp chưa oxit sắt và
xâm nhập vào các nguồn nước ngầm[3, 4, 41]
Ngoài những nguyên nhân tự nhiên ở trên thì ảnh hưởng của chiến tranh Việt
Nam, chiến dịch “Operation Ranch Hand” (một dự án quân sự của Hoa kỳ từ ngày 10
tháng 8 năm 1961 đến tháng 10 năm 1971 sử dụng hợp chất diệt cỏ có chứa asen) cũng
là nguyên nhân gây ô nhiễm Asen trầm trọng đối với nước ta
Tuy nhiên, cũng không loại trừ ô nhiễm là do tác động của con người như gần
các nhà máy hoá chất, những khu vực dân tự động đào và lấp giếng không đúng tiêu
Trang 18chuẩn kỹ thuật khiến chất bẩn, độc hại bị thẩm thấu xuống mạch nước Asen được sử
dụng nhiều trong công nghiệp và được sử dụng hạn chế trong thuốc trừ sâu, chất phụ
gia trong thức ăn gia súc và trong các dược phẩm Dạng tồn tại và hàm lượng asen phụ
thuộc vào một số nhân tố, bao gồm sự oxi hóa và các nhân tố sinh học Trong các
nguồn nước tự nhiên dạng Asen thường xuất hiện nhất là Asenite (As3+) hay arsenate
(As5+) Hàm lượng Asen trong nước ngầm trung bình từ 1÷ 2 µg/ l, một số vùng núi
lửa và mỏ khoáng sunfua có hàm lượng asen trong nước ngầm lên tới 3 mg/ l[3, 4, 41]
Theo khảo sát tổ chức Unicef, tại Việt Nam hiện nay, số người có nguy cơ mắc
bệnh do tiếp xúc với thạch tín lên tới 10 triệu người Những nghiên cứu gần đây cho
thấy vùng châu thổ sông Hồng có nhiều giếng khoan có hàm lượng Asen vượt quá tiêu
chuẩn cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới cũng như tiêu chuẩn Việt Nam Những
vùng bị nhiễm nghiêm trọng nhất là Hà Nam, Nam Hà Nội, Hà Tây (cũ), Nam Định,
Ninh Bình Mức độ ô nhiễm Asen ở tỉnh Hà Nam là cao nhất so với cả nước (50,2% số
giếng khoan ở Hà Nam có nồng độ Asen trên 0,05 mg/l) [3, 4, 41]
Theo đánh giá của UNICEF, khu vực phía nam Hà Nội ô nhiễm asen nặng nhất,
thậm chí đứng đầu danh sách các địa chỉ ô nhiễm asen trên toàn quốc 34% số mẫu
nghiên cứu tại một địa bàn phía nam Hà Nội có hàm lượng asen vượt quá tiêu chuẩn
cho phép Nghiên cứu được thực hiện tại 500 giếng khoan vào mùa khô tại một số khu
vực thuộc phường Quỳnh Lôi (quận Hai Bà Trưng) do Viện KHCNMT Liên bang
Thụy Sỹ và Liên đoàn Địa chất Thủy văn – Công trình Miền Bắc thực hiện
Đáng chú ý, hàm lượng asen trong nước ở khu vực Hà Nội có xu hướng cao
hơn so với 5 – 6 năm trước Khảo sát trên diện rộng ở 12 tỉnh thực hiện từ tháng 11/
2003 đến tháng 4/ 2004 do UNICEF tài trợ, với 12.461 mẫu phân tích từ các giếng
khoan cho thấy, hàng chục triệu người Việt Nam đang phải sử dụng nước sinh hoạt và
ăn uống lấy từ tầng nước ngầm bị ô nhiễm asen
Thống kê ban đầu của UNICEF cho biết khoảng 10 triệu người ở Việt Nam có
nguy cơ bị bệnh do tiếp xúc với asen Những số liệu thu thập được cho thấy ô nhiễm
asen ở miền Bắc cao hơn miền Nam[3, 4, 41]
Trang 19Viện Địa lý thuộc Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam thực hiện từ năm
2001 thực hiện một nghiên cứu đánh giá chất lượng nước ngầm tại các huyện Bình
Lục, Lý Nhân, Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam) một cách ngẫu nhiên
Kết quả cho thấy hàm lượng asen trong nước ngầm qua xét nghiệm mẫu nước của 56
giếng khoan của những nơi này có mức độ ô nhiễm asen rất cao
UNICEF khẳng định mức độ ô nhiễm asen của Hà Nam nghiêm trọng như
ở Bangladesh - nơi được đánh giá là có độ ô nhiễm asen cao trên thế giới
Tuy nhiên, khảo sát của các chuyên gia tại ba xã Hòa Hậu, Bồ Đề và Vĩnh Trụ
(tỉnh Hà Nam) phát hiện 28,3% bị các bệnh về da (so với tỷ lệ trung bình cả nước là
3÷ 5%)[3, 4, 41]
Tại ba xã này tỷ lệ ung thư các bộ phận tiêu hoá và tiết niệu cao hơn các dạng
ung thư khác Có 31 trường hợp thiếu máu trong đó 28 người thiếu máu có liên quan
đến nhiễm độc asen mãn tính
Mới đây, tại thôn Thống Nhất (xã ứng Hoà, tỉnh Hà Tây), người ta cũng phát
hiện 22 người bị chết do ung thư trong vòng 10 năm qua mà nguyên nhân đầu tiên
được xem xét đến là do ngưồn nước nhiễm asen cao gấp 17÷ 30 lần mức độ cho phép
1.2 Các phương pháp phân tích Asen
1.2.1 Phương pháp trắc quang- Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV- VIS
với thuốc thử bạc dietydithiocacbamat (AgDDC) trong cloroform- Xác định
Asen tổng
Toàn bộ lượng Asen có trong mẫu sẽ chuyển về dạng asenat bằng dung dịch KI
hoặc NaI, sau đó dưới tác dụng của dòng hidro mới sinh do phản ứng của Zn với axit
HCl, Asenat bị khử thành Asin (AsH3) Khí Asin tạo thành đi qua ống hấp thụ chứa
bạc dietylditiocacbamat trong dung dịch piridin (hoặc cloroform) tạo thành phức chất
màu đỏ Đo quang phổ của phức chất màu đỏ- tím được tạo thành ở bước sóng 510 nm
hoặc 525 nm tương ứng với mỗi dung môi Phương pháp này dùng để xác định nồng
độ Asen trong khoảng từ 0,0001 đến 0,1 ng/ l[16]
Comment [TA4]: Nếu mà chuyển thành phân
tích các dạng asen thì hay hơn Trường hợp ko kịp thì phân làm 2, các PP xác định tổng hàm lượng asen và một số PP xác dịnh các dạng asen,
Chú ý, người ta có thể sử dụng PP xác định tổng kết hợp với 1 kỹ thuật tách tại hiện trường
là cũng xác định được dạng
Trang 201.2.2 Phương pháp ICP- MS ( Inductively coupled plasma- Mass spectrometry)
Phương pháp này có thể xác định đồng thời nhiều kim loại trong dung dịch
Mẫu phân tích dạng lỏng được bơm vào nguồn plasma, tại đây xảy ra quá trình hóa
hơi, nguyên tử hóa và ion hóa mẫu Các ion tạo thành được dẫn khỏi buồng plasma
bằng bơm chân không và sau đó được phân tách dựa trên tỷ lệ khối lượng/ điện tích và
được phát hiện bằng nhân quang điện.[38]
Tác giả S Pansamut và G Wattayakorn [35] đã xác định tổng hàm lượng Asen
bằng phương pháp ICP- MS trong các mẫu nước thuộc Tambon Ongpra, Thái Lan từ
58 ÷ 32,961 µg/ l và hàm lượng asen trung bình là 3,944 µg/ l
Các tác giả Z Cheng, Y Zheng, R Mortlock và A van Geen [42] cũng đã sử
dụng phương pháp ICP- MS phân tích hàm lượng tổng Asen (đồng thời với các kim
loại khác) trong 629 mẫu nước ngầm thu thập từ các giếng thuộc Bangladesh (đông
bắc Araiharzar) với giới hạn phát hiện rất thấp của Asen là 0,07 µg/ l
1.2.3 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử không ngọn lửa (GF- AAS)
Với phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử lò graphit một thể tích mẫu nhỏ
( khoảng 5÷ 50µl) được bơm vào lò graphit Tại đây mẫu được làm khô, hóa hơi và
nguyên tử hóa bằng nguồn điện Chùm sáng đơn sắc của các nguyên tố cần quan tâm
phát ra từ đèn catot rỗng được chiếu vào đám hơi nguyên tử tự do và một đầu dò xác
định lượng tia sáng bị hấp thụ Lượng tia sáng bị hấp thụ này tỷ lệ thuận với lượng
mẫu ban đầu[7, 38]
Phương pháp GF- AAS được các tác giả Lisia Maria Gobbo Santos và Silvana
do Couto Jacob[27] lựa chọn để xác định tổng hàm lượng Asen trong các mẫu nước
với giới hạn phát hiện đạt được rất thấp là 0,13 µg/ l và giới hạn định lượng là 1,04 µg/
l với độ đúng dưới 15%, độ chính xác 96% Các dạng As(III) và As(V) được phân tách
bằng cách sử dụng cột trao đổi ion (Dowex 1X8, Cl- ) và hiệu suất thu hồi với As(III)
là 98% và 90% đối với As(V)
Raad Al Shukry, Christophe Dagot, Jean-Claude Bollinger [32] đã áp dụng
phương pháp GF- AAS phân tích tổng hàm lượng Asen trong mẫu nước ngầm và đạt
giới hạn phát hiệ 0,26 µg/ l Ưu điểm của phương pháp này có thể phân tích 20 mẫu
trong 1 giờ Hiệu suất thu hồi đạt được từ 91 ÷ 105% với độ lệch chuẩn <5% Ảnh
Trang 21hưởng của cation và các anion trong nước ngầm cũng được các tác giả nghiên cứu Chỉ
anion photphat và anion silicat với hàm lượng 4 và 20 mg/ l tương ứng gây ảnh hưởng
tới tín hiệu Asen thu được (tại mức tổng hàm lượng Asen vô cơ là 4 µg/ l)
1.2.4 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử- Kỹ thuật hydrua hóa HG- AAS
(hydride generation- atomic absorption spectrometry)
Phương pháp HG- AAS là phương pháp phổ biến, đơn giản, hiệu quả để phân
tích tổng hàm lượng Asen trong nước với độ nhạy cao mức µg/ l đến mg/ l, thời gian
phân tích ngắn và giá thành rẻ Nguyên tắc của phương pháp là: khử As(V) về As(III)
Sau đó, As(III) được chuyển thành dạng hydrua hóa asin bằng phản ứng với Zn và axit
clohydric hoặc NaBH4 Khí asin sinh ra được dẫn vào ngọn lửa đền khí Argon- H2 tạo
thành đám hơi nguyên tử tự do Chiếu chùm sáng đơn sắc của nguyên tố cần quan tâm
tạo bởi đèn catot rỗng vào đám hơi nguyên tử này Đầu dò xác định lượng ánh sáng bị
hấp thụ bởi asin [ 7,38]
Tác giả T Tsetsegmaa, TS Darjaa và D Dorj [37] tiến hành xác định hàm
lượng Asen trong mẫu nước ngầm bằng phương pháp HG- AAS đạt được giới hạn
phát hiện thấp 0,3 µg/ l
Các tác giả Shraim, Amjad [34] cùng các cộng sự đã tiến hành định lượng tổng
hàm lượng Asen (arsenit+ arsenate+ axit monomethylarsonic và axit dimethyularsinic
) trong các mẫu nước ngầm thu thập từ các vùng khác nhau thuộc United Arbab
Emirates sử dụng HG- AAS và L- cysteine (thuốc thử của quá trình khử) trong môi
trường nồng độ axit thấp 0,04- 0,06 M HNO3, 2% L- cysteine với giới hạn phát hiện
0,2µg/ l; tổng hàm lượng Asen trong các mẫu này là dưới 5µg/ l
Các tác giả M.A Wahed1, Dulaly Chowdhury cùng cộng sự [28] đã tiến hành
phân tích 13286 mẫu nước giếng ngầm thuộc Matlab, vùng nông thôn của Bangladesh
bằng phương pháp HG- AAS Khoảng tuyến tính của đường chuẩn xác định hàm
lượng Asen từ 1÷ 30 µg/ l Giới hạn phát hiện đạt được từ 0,3÷ 0,5 µg/ l Kết quả 37%
số mẫu chứa hàm lượng Asen tổng dưới 50 µg/ l; 29% số mẫu có hàm lượng Asen
tổng dưới ngưỡng cho phép quy định của WHO về hàm lượng Asen trong nước uống
là 10 µg/ l và 17% số mẫu có mức hàm lượng Asen tổng dưới 1 µg/ l
Trang 221.2.5 Phương pháp điện hóa xác định hàm lượng Asen
Phương pháp von- ampe hòa tan
Nguyên tắc của phương pháp: dựa trên việc điện phân kết tủa làm giàu chất cần
phân tích lên bề mặt điện cực, sau đó ghi tín hiệu hòa tan của chất cần phân tích Do
kết hợp với việc làm giàu lên phương pháp có độ nhạy khá cao
Phương pháp vôn ampe hòa tan catot để xác định tổng hàm lượng Asen được
nghiên cứu bởi nhiều tác giả Giới hạn phát hiện đạt được là 0,05 ng/ ml; 0,52 ng/ l và
121 ng/ ml phụ thuộc vào thời gian và nồng độ chất phân tích trên điện cực
Tác giả Trần Hữu Hoan [1] đã nghiên cứu và xác định Asen bằng phương pháp
điện hóa hòa tan anot dùng điện cực than mềm, giới hạn phát hiện là 10-8 mol/ l
Tác giả Hoàng Thái Long [5] bằng phương pháp von- ampe hòa tan anot xung
vi phân đã xác định được As(III) với độ lặp lại tốt (RSD= 3,5%, n= 20), độ nhạy cao,
giới hạn phát hiện thấp 0,4 ppb và khoảng tuyến tính rộng (2÷80 ppb) As(V) được xác
định gián tiếp qua phản ứng khử về As(III) bằng Na2S2O4 và giới hạn phát hiện của
As(V) là 1,4 ppb
1.2.6 Phương pháp điện di mao quản xác định hàm lượng Asen
Nhóm nghiên cứu của chúng tôi tác giả Nguyễn Thị Ánh Hường [2] đã nghiên
cứu thành công quy trình xác định hàm lượng các dạng asen vô cơ bằng phương pháp
điện di mao quản kết hợp với detector độ dẫn không tiếp xúc kiểu kết nối tụ điện (CE-
C4D)
Quy trình phân tích tối ưu cho phân tích dạng As(V) bao gồm: axit axetic 5 mM
có pH= 4,6 làm dung dịch pha động điện di; bơm mẫu thủy động lực học kiểu
xyphông trong 120s ở độ cao 20 cm; điện thế tách -15 kV; mao quản silica có đường
kính trong 50 µm với tổng chiều dài 60 cm ( chiều dài hiệu dụng 53cm) Giới hạn phát
hiện đạt được cho As(V) với chất chuẩn là 2 µg/ l đáp ứng được QCVN (50 µg/ l đối
với nước ngầm và 10 µg/ l đối với nước uống)
Quy trình phân tích phân tích dạng As(III) bằng CE- C4D cũng được tối ưu hóa
như sau: dung dịch pha động điện di là Arg 2 mM - CAPS 50 mM, CTAB 30 µM,
pH= 9,0; bơm mẫu thủy động lực học kiểu xyphông ở độ cao 20 cm trong 60s; điện
thế tách -20 kV; mao quản silica có đường kính trong 50 µm với tổng chiều dài 75cm
Trang 23(chiều dài hiệu dụng 68cm) Giới hạn phát hiện đạt được cho As(III) là 21,7 µg/ l Tuy
nhiên giới hạn phát hiện này còn khá cao, do đó, việc phân tích hàm lượng As(III)
được tiến hành gián tiếp thông qua As(V) bằng cách sử dụng hỗn hợp chất oxy hóa là
Cr2O72- 10-5M và MnO4- để oxy hóa As(III) thành As(V)
Đối với mẫu nước ngầm, Asen tồn tại chủ yếu ở dạng Asen vô cơ: As(III) và
As(V) As(III) lại có độc tính cao gấp khoảng 60 lần so với As(V) Trong khi đó, đặc
điểm môi trường nước ngầm của nước ta thường có tính khử nên dạng As(III) chiếm
ưu thế, do đó, việc áp dụng kỹ thuật làm giàu trực tiếp trên cột trong phương pháp CE-
C4D nhằm hạ thấp giới hạn phát hiện phương pháp của phép phân tích trực tiếp As(III)
đáp ứng quy định về mức cho phép về hàm lượng Asen trong nước uống của Bộ y tế
(10 µg/ l) là có ý nghĩa
1.3 Phương pháp điện di mao quản
Điện di mao quản là một kỹ thuật tách các chất dựa trên sự di chuyển khác
nhau của các phân tử chất (chủ yếu là các ion mang điện tích) trong dung dịch chất
điện ly có chất đệm pH và trong tác dụng của điện trường (E) nhất định do thế (V) đặt
vào hai đầu mao quản sinh ra Cấu tạo của hệ điện di được cho trong hình 1.1[6, 14,
24]
Hình 1.1 Sơ đồ phân tích hệ điện di mao quản
Độ điện di, tốc độ điện di và thời gian điện di
Trong điện di, tốc độ di chuyển của các hạt tích điện (v) tỉ lệ thuận với cường
độ điện trường (E):
v = μ E
Trang 24Trong đó: v: tốc độ di chuyển của ion
μ: là độ diện di E: là điện trường ngoài Trong điều kiện tốc độ của dòng ổn định, lực tác động lên các tiểu phân tích
điện từ phía điện trường ngoài và lực ma sát sẽ cân bằng:
q.E= fe.v Trong đó: q: là điện tích hạt nhân
tỷ lệ nghịch với độ nhớt η của dung dịch pha động điện di và độ lớn (bán kính hydrat)
của ion chất phân tích
Mao quản
Là một bộ phận quan trọng trong điện di mao quản Đây chính là một trong các
yếu tố quyết định sự điện di hỗn hợp của các chất mẫu Mao quản được chế tạo chủ
yếu là silica được gọi là mao quản silica Trong một số trường hợp người ta cũng dùng
mao quản teflon, khi mao quản silica không phù hợp, ví dụ mẫu có ion F- và tách ở pH
thấp [6, 14, 24]
Trang 25Hình 1.2 Mặt cắt ngang của mao quản
Lớp điện kép trên thành mao quản và dòng điện di thẩm thấu
Trong quá trình điện di, lớp điện kép và thế của chúng (thế Zêta) xuất hiện ở sát
thành mao quản, nó phụ thuộc vào lực ion của dung dịch pha động điện di
Hình 1.3 Lớp điện tích kép trên bề mặt mao quản
Dòng EOF di chuyển từ cực dương sang cực âm, dưới tác dụng của điện
trường, các cation di chuyển cùng chiều với dòng EOF do đó di chuyển nhanh hơn,
ngược lại các anion di chuyển ngược chiều với dòng EOF do đó di chuyển chậm hơn
còn các phần tử trung hòa không chịu tác động của điện trường nên di chuyển cùng tốc
độ với dòng EOF
Hình 1.4 Ảnh hưởng của dòng EOF đến tốc độ của các ion trong quá trình điện di
Do vậy, để có được hiệu quả tách cao cần tìm được dòng EOF có cường độ phù
hợp với chất phân tích, có nghĩa là phải tối ưu hóa các điều kiện của quá trình điện di
Dung dịch đệm pH và pha động trong phương pháp điện di mao quản
Dung dịch đệm quyết định độ linh động điện di của các chất phân tích Do yếu
tố pH, loại dung dịch đệm mà trong đó, các ion và phân tử axit hay bazơ trong thành
phần của dung dịch đệm góp phần tạo nên lực ion của chúng Hơn nữa, chúng cũng
ảnh hưởng đến độ tan, tốc độ phản ứng của các chất [6, 14, 24]
Trang 26Bảng 1.6 Các chất thường dung làm pha động trong CE và giá trị pK của chúng
Nguồn điện thế cao
Quá trình điện di trong mao quản chỉ xảy ra khi có nguồn thế V một chiều nhất
định đặt vào hai đầu mao quản Thế V này tạo ra lực điện trường E và dòng điện I
trong mao quản, nó điều khiển và duy trì sự điện di của các chất Việc chọn điện thế V
là bao nhiêu tùy thuộc vào bản chất của chất phân tích, chất nền của mẫu, giá trị pH
của pha động điện di…[6, 14, 24]
Kỹ thuật bơm mẫu trong phương pháp điện di mao quản
Trong điện di mao quản có ba phương pháp thường dùng nạp mẫu phân tích
vào trong mao quản, bao gồm[6, 14, 24]:
- Phương pháp thủy động lực học dùng áp suất
- Phương pháp thủy động lực học theo kiểu xiphông
- Phương pháp điện động học
Trang 27Hình 1.5 Các kĩ thuật bơm mẫu trong phương pháp điện di mao quản
Kĩ thuật bơm mẫu kiểu thuỷ động học
Trong kĩ thuật này, mẫu được bơm vào mao quản nhờ áp lực (hình 1.5 A,
B) Khi đó, lượng mẫu bơm vào trong mao quản phụ thuộc vào áp lực sử dụng (áp
suất, lực hút chân không hoặc chiều cao bơm mẫu) và thời gian bơm mẫu
Kĩ thuật bơm mẫu kiểu điện động học
Kĩ thuật này sử dụng lực điện khi áp thế cao (5 - 10 kV trong vài giây) để bơm
mẫu vào mao quản (Hình 1.5 C) Phương pháp bơm mẫu này cho kết quả các pic
phân tách có độ sắc nét cao Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm rất lớn là
diện tích pic (dùng để định lượng) có độ lặp lại thấp với các nền mẫu khác nhau, do đó
thường chỉ dùng để định tính
Phương pháp điện di mao quản sử dụng detector đo độ dẫn không tiếp xúc
CE-C 4 D
Trong phương pháp điện di mao quản, detector đo độ dẫn là một trong những
loại detector rất được chú ý, tuy có độ nhạy thấp hơn so với hai kĩ thuật điện hóa khác
nhưng lại có ưu điểm là detector đa năng có thể dùng cho rất nhiều loại chất phân tích
khác nhau Detector này có thể thu nhỏ, thuận lợi khi kết hợp với các mao quản có
đường kính hẹp, thậm chí với các microchip mà không ảnh hưởng đến độ nhạy và các
Trang 28tính chất khác của detector[6, 14, 24]
Giới thiệu chung
Cảm biến đo độ dẫn không tiếp xúc (C4D) với thiết kế hai điện cực đồng trục
xuất hiện lần đầu trên thế giới vào năm 1998 Dựa trên thiết kế này, năm 2002
nhóm nghiên cứu của GS Peter Hauser (khoa Hóa, trường đại học Basel, Thụy Sỹ) đã
phát triển thành công dòng sản phẩm C4
D với nguồn điện thế kích thích xoay chiều cao (HV- C4D, 200V) Hãng điện tử eDAQ của Úc sau đó đã phối hợp cùng nhóm
nghiên cứu của GS Peter Hauser để phát triển dòng sản phẩm C4D thương phẩm
dựa trên nghiên cứu này
Nguyên lý hoạt động C4D
Nguyên lý hoạt động của C4D được minh họa trong hình 1.6
Hình 1.6 Nguyên lý hoạt động của cảm biến đo độ dẫn không tiếp xúc
Nguồn điện xoay chiều (V) với tần số (f) được áp vào điện cực thứ nhất Tại
điện cực thứ hai, tín hiệu đo được ở dạng cường độ dòng điện (I) Theo đó, dòng điện
thu được tại điện cực thứ 2 sẽ phụ thuộc vào độ lớn của điện thế V và tần số f
Tín hiệu đầu ra thu được ở dạng cường độ dòng điện (xoay chiều), sau đó sẽ
được chuyển đổi và khuếch đại thành tín hiệu dạng vôn thế (xoay chiều), thông qua
Trang 29việc sử dụng một điện trở khuếch đại (Rfeedback) Vôn thế xoay chiều sau đó được
chuyển đổi thành vôn thế 1 chiều, lọc nhiễu và khuếch đại, sau cùng chuyển đổi thành
tín hiệu số hóa trước khi được hiển thị và lưu trữ trên máy tính
Như vậy, detector đo độ dẫn không tiếp xúc ngoài ưu điểm là phân tích đa
năng còn có ưu điểm là không nhất thiết phải có sự tiếp xúc trực tiếp của các điện cực
với dung dịch đo nhờ lợi dụng tính chất kết nối tụ điện với dung dịch bên trong mao
quản hoặc ống phản ứng Đây là một cách rất thông minh loại trừ ảnh hưởng của điện
thế cao trong quá trình phân tách điện di đến hệ điện tử của detector và không làm
nhiễm bẩn dung dịch phân tích
1.4 Một số kỹ thuật làm giàu trực tiếp trên cột trong phương pháp điện di mao
quản
Giới hạn phát hiện ( LOD) của phương pháp điện di mao quản còn hạn chế bởi
kích thước mao quản Ví dụ, lượng mẫu được bơm vào mao quản bị hạn chế bởi thể
tích mao quản nhỏ Hơn nữa, chiều dài giảm gây hạn chế giới hạn phát hiện của
phương pháp Nhiều kỹ thuật được phát triển nhằm cải thiện LOD của phương pháp
điện di mao quản Làm giàu trực tiếp trên cột (làm giàu “online” ) là một trong những
hướng phát triển của phương pháp điện di mao quản Việc lựa chọn một nền mẫu thích
hợp có thể cải thiện giới hạn phát hiện và hiệu quả tách chất Nhìn chung các kỹ thuật
này được thiết kế nhằm “tập trung” vùng mẫu chứa chất phân tích trong mao quản, do
đó làm tăng thể tích mẫu được bơm vào mao quản trong CE Các kỹ thuật làm giàu
trực tiếp trên cột mao quản được nghiên cứu như: làm giàu dựa trên sự khác biệt về độ
dẫn của chất phân tích tại ranh giới giữa hai vùng đệm khác nhau về điện trở hay sự
phân bố chất phân tích giữa hai vùng ổn định và vùng ổn định tạm thời
(pseudostationary phase) Một số kỹ thuật làm giàu trực tiếp trên cột mao quản được
phát triển và áp dụng khá hiệu quả như khuếch đại vùng mẫu, tăng thể tích mẫu bơm
vào mao quản, khuếch đại mẫu trong hệ đệm liên tục và kỹ thuật làm giàu đẳng điện
Hệ số làm giàu đối với As(III) là tỷ lệ chiều cao pic As(III) trong nền mẫu là
axit với chiều cao pic As(III) trong nước với cùng một nồng độ
Hệ số làm giàu đối với As(III) được tính như sau:
k= a/ b
Trang 30Trong đó:
k: hệ số làm giàu
a: Tín hiệu As(III) pha trong môi trường axit
b: Tín hiệu As(III) pha trong nước
1.4.1 Kỹ thuật khuếch đại điện trường
Kỹ thuật làm giàu trên cơ sở tăng lượng mẫu bơm vào mao quản đơn giản nhất là
khuếch đại điện trường (Field- amplified sample stacking- FASS) Nguyên tắc chung
của kỹ thuật này là sự di chuyển điện hóa chậm của các ion chất phân tích trong vùng
ranh giới được hình thành giữa hai vùng đệm, một dung dịch có độ dẫn thấp vào một
dung dịch có độ dẫn cao Ví dụ, chất phân tích được hòa tan trong dung dịch có độ dẫn
thấp như nước Lực điện trường tác động lên vùng mẫu có có độ dẫn điện thấp sẽ cao
hơn so với vùng dung dịch đệm điện di có độ dẫn cao hơn Do đó, chất phân tích di
chuyển nhanh trong vùng mẫu tới bề mặt vùng ranh giới giữa hai vùng đệm Khi các ion
chất phân tích vào vùng đệm điện di có độ dẫn cao hơn, chúng di chuyển chậm hơn,
hình thành các dải hẹp của chất phân tích [2, 20, 26, 36], từ đó tập trung được vùng mẫu,
làm giàu chất phân tích ngay trên cột tách của phương pháp điện di mao quản
Hình 1.7 : Cơ chế của kỹ thuật làm giàu khuyếch đại điện trường
1.4.2 Kỹ thuật bơm mẫu lượng lớn
Kỹ thuật bơm mẫu lượng lớn (large volume sample satcking- LVSS) là một kỹ
thuật được đề xuất bởi Chien và Burgi [20, 26, 36], chất phân tích được hòa tan trong
Comment [TA5]: Tín hiệu?
Comment [TA6]: TLTK
Trang 31nước và bơm mẫu thủy động lực học sao cho lượng mẫu chiếm 1/3 đến 1/2 thể tích
mao quản Tiến hành phân cực ngược với dung dịch đệm diện di được đặt phía cuối
mao quản tại vị trí của detector Kết quả, dòng EOF ngược hướng với chất phân tích ở
dạng anion (chất phân tích di chuyển về phía detector) và hiệu ứng làm giàu đạt được
tại bề mặt ranh giới tiếp xúc với vùng đệm điện di Dòng điện di sẽ được kiểm soát
đến khi đạt 90- 99% giá trị thông thường Ngay sau đó, tiến hành điện di bình thường
và quá trình tách chất xảy ra Với kiểu phân cực ngược có thể loại bỏ được các cation
và các phần tử không mang điện sẽ bị loại khỏi mao quản trước khi quá trình điện di
được tiến hành lại bình thường Tuy nhiên, một số anion chất phân tích cũng sẽ bị loại
bỏ nếu dòng điện di không được kiểm soát chặt chẽ Kỹ thuật này không phân tách
đồng thời các anion và cation và không áp dụng hiệu quả với chất phân tích có độ linh
động điện di thấp Dòng điện di thẩm thấu cần được kiểm soát chặt chẽ để thu được độ
lặp lại tốt CTAB được thêm vào dung dịch đệm điện di cũng là một cách hiệu quả để
cải biến dòng EOF, quá trình thực hiện được minh họa trên hình 1.8
Hình 1.8: Cơ chế của kỹ thuật làm giàu bơm mẫu lượng lớn
1.4.3 Kỹ thuật làm giàu mẫu bằng pH (pH- Mediated stacking)
Cả hai phương pháp làm giàu mẫu FASS và LVSS dều được tiến hành khi mẫu
được hòa tan trong nước hay mẫu được hòa tan trong đệm có độ dẫn thấp Với phương
pháp làm giàu mẫu trên cơ sở chênh lệch về độ pH có thể cải thiện giới hạn phát hiện
của phương pháp điện di ngay cả khi dung dịch mẫu có độ dẫn cao Chất phân tích
Trang 32được hòa tan trong nền mẫu có lực ion lớn, được bơm vào mao quản bằng phương
pháp điện động học Do điện trở của nền mẫu thấp hơn so với điện trở của dung dịch
đệm điện di nên điện trường tác dụng chủ yếu lên vùng đệm điện di [20, 26, 36]
Nguyên tắc của kỹ thuật này được minh họa trong hình 1.9
Hình 1.9: Cơ chế của kỹ thuật làm giàu trên cơ sở sự chênh lệch về độ pH
1.4.4 Kỹ thuật làm giàu đẳng điện
Phương pháp làm giàu đẳng điện (ITP - isotachophoresis) được thực hiện với
một hệ đệm “không liên tục” Phương pháp ITP được áp dụng với nhiều chất phân tích
từ kích thước nhỏ nhỏ đến kích thước cồng kềnh như protein Kỹ thuật này đặc biệt
hữu ích ngay cả khi mẫu không hòa tan trong nước nhưng tồn tại các ion dẫn, ví dụ các
mẫu sinh học Với ITP, mẫu được đặt giữa hai vùng đệm, dung dịch đệm điện di với
độ linh động điện di cao có vai trò như chất điện phân dẫn “leading electrolyte” và
dung dịch đệm điện di có độ linh động thấp hơn có vai trò là chất điện phân cuối
“terminating electrolyte” ITP được áp dụng với cả cation và anion Khi phân tách
cation, bình đệm chứa chất điện phân dẫn được đặt tại catot và bình chất điện phân
cuối được đặt ở cực còn lại ngay khi bơm mẫu Khi áp thế sẽ hình thành các vùng mẫu
của các chất phân tích có cùng tốc độ điện di và quá trình phân tách được thực hiện
(hình 1.10)[20, 24, 26, 36]
Trang 33Hình 1.10: Cơ chế của kỹ thuật làm giàu đẳng điện ITP
1.4.5 Kỹ thuật làm giàu sử dụng sự khác biệt về pH giữa hai vùng mẫu (Dynamic
pH junction)
pH của dung dịch đệm điện di có vai trò quan trọng tác động tới khả năng tách
chất trong điện di Giá trị pH được lựa chọn sao cho gần với giá trị pKa của các chất
phân tích Kỹ thuật làm giàu Dynamic pH junction là kỹ thuật làm giàu dựa trên sự
thay đổi trạng thái ion hóa hay độ dẫn của chất phân tích giữa các vùng pH khác nhau
Kỹ thuật này có khả năng làm giàu các chất phân tích có khoảng pKa nhỏ và phương
pháp này rất hiệu quả với chất phân tích là các axit yếu và bazơ yếu [18, 20, 23, 24,
26, 36]
Trang 34Hình 1.11: Cơ chế của kỹ thuật làm giàu dựa trên sự khác nhau giữa pH của vùng
đệm điện di và mẫu phân tích
Trong số các kỹ thuật làm giàu mẫu trực tiếp trên cột của phương pháp điện di
mao quản, các kỹ thuật bơm mẫu lượng lớn, kỹ thuật làm giàu đẳng điện và kỹ thuật
làm giàu mẫu bằng pH đều không hiệu quả trong quá trình làm giàu phân tích hàm
lượng As(III) Lý do là một trong số các kỹ thuật này cần có quá trình chuyển phân
cực (như kỹ thuật bơm mẫu lượng lớn) rất khó thực hiện để đạt được độ lặp lại tốt đối
với mẫu phân tích và đặc biệt càng khó tiến hành lặp lại tốt đối với các mẫu nước
ngầm khác nhau có thành phần khác nhau Việc chuyển phân cực trong bước làm giàu
còn khó tiến hành với thiết bị điện di mao quản dùng để thực hiện đề tài này vì thiết bị
sử dụng chỉ áp thế 1 chiều Hơn nữa, một số phương pháp làm giàu trên còn sử dụng
một số chất có độ dẫn cao thêm vào dung dịch đệm điện di (như kỹ thuật làm giàu
đẳng điện) hoặc chất có độ dẫn cao được thêm vào dung dịch nền mẫu có khả năng
gây ra nhiễu nền lớn; điều này ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phân tích cũng như tín
hiệu As(III)- chất có độ linh động điện di rất kém Trong khi đó, kỹ thuật làm giàu sử
dụng sự khác biệt về pH giữa hai vùng mẫu (dynamic pH junction) tỏ ra ưu thế và dễ
áp dụng trong quá trình làm giàu As(III) Do đó, chúng tôi lựa chọn kỹ thuật này nhằm
làm tăng độ nhạy xác định dạng As(III) trong mẫu nước bằng phương pháp điện di
mao quản Dạng As(V) sẽ được xác định gián tiếp qua dạng As(III)
Kỹ thuật làm giàu sử dụng sự khác biệt về pH giữa hai vùng mẫu (dynamic pH
junction) trong phân tích As(III) bằng CE- C4D kiểu phân cực ngược
Do axit aseno có pKa= 9,2 nên trong vùng đệm có pH ≥ 9, As(III) tồn tại chủ yếu
dưới dạng anion H2AsO3- có độ linh động điện di kém nên khi tiến hành điện di thông
thường (áp thế âm ở đầu bơm mẫu) thì thời gian di chuyển điện di của As(III) hầu như
chậm nhất trong số các anion khác có mặt trong mẫu và chỉ xuất hiện ngay trước dòng
EOF Từ đó, nếu ta tiến hành phân cực ngược (áp thế dương ở đầu bơm mẫu) thì thứ tự
điện di lần lượt sẽ là: các cation, dòng EOF và anion H2AsO3 xuất hiện trước so với
các anion khác có trong mẫu Do đó, ta có thể tăng thời gain bơm mẫu cũng như áp
dụng một số kỹ thuật làm giàu mẫu mà không bị ảnh hưởng bởi các anion có hàm
lượng rất cao có trong mẫu nước ngầm
Trang 35Kỹ thuật làm giàu As(III) sử dụng sự khác biệt về pH giữa hai vùng mẫu (dynamic
pH junction) được tiến hành As(III) được pha trong nền mẫu axit có pH thấp và pha
động điện di có pH cao Trong môi trường axit có pH thấp, As(III) tồn tại dưới dạng
phân tử trung hòa nên không bị điện di; khi tiến hành phân cực ngược (áp thế dương
vào đầu bơm mẫu) dưới tác dụng của dòng EOF các phân tử này sẽ bị kéo tới vùng
ranh giới giữa hai vùng (vùng mẫu và vùng đệm) Tại đây, có sự thay đổi trạng thái
oxi hóa của As(III) từ trạng thái phân tử trung hòa sang dạng anion H2AsO3- Như
vậy, tại bề mặt ranh giới giữa hai vùng mẫu không chỉ có sự tập trung chất phân tích
mà còn có sự thay đổi tốc độ điện di của chất phân tích, điều này giúp làm giàu mẫu
Hơn nữa, kỹ thuật này còn hạn chế ảnh hưởng của các anion hàm lượng cao có trong
mẫu nước ngầm khi vùng anion này có thời gian di chuyển điện di sau As(III); đồng
thời loại bỏ các cation ra khỏi vùng mẫu
Trang 36CHƯƠNG II: THỰC NGHIỆM
2.1 Đối tượng, mục tiêu và nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các kỹ thuật làm giàu và xác
định các dạng Asen vô cơ, đặc biệt tập trung làm tăng độ nhạy của phép xác định dạng
As(III) trong mẫu nước ngầm bằng phương pháp điện di mao quản kết nối với detector
đo độ dẫn không tiếp xúc kiểu kết nối tụ điện (CE- C4
D) với độ nhạy thỏa mãn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam về hàm lượng Asen trong nước uống là 10µg/ l Dạng
As(V) có thể xác định gián tiếp qua As(III)
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu, tổng quan một số kỹ thuật làm giàu trực tiếp trên cột trong
phương pháp điện di mao quản
- Tối ưu hóa các điều kiện của các kỹ thuật làm giàu và phân tích As(III) trong
nước ngầm bao gồm: pha động điện di, nền pha mẫu, thời gian bơm mẫu, hiệu điện thế
tách, thời gian và chiều cao bơm mẫu, các yếu tố ảnh hưởng, quy trình xử lý mẫu
- Nghiên cứu phân tích dạng As(V) gián tiếp thông qua sự khử As(V) về As(III)
bằng KI trong môi trường axit HCl
- Áp dụng phương pháp nghiên cứu để xác định hàm lượng Asen trong một số
mẫu nước ngầm thu thập được
2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết bị, dụng cụ
Thiết bị
Nghiên cứu sử dụng thiết bị điện di mao quản kết nối với detector đo độ dẫn
không tiếp xúc kiểu kết nối tụ điện (CE-C4
D) (hình 2 1) được thiết kế, chế tạo bởi Công ty cổ phần 3SAnalysis tại Việt Nam trên cơ sở hợp tác với nhóm
nghiên cứu của GS Peter Hauser (khoa Hóa, trường Đại học Basel, Thụy Sĩ)
Comment [TA7]: Chưa chuẩn
Trang 37Thông tin chi tiết về đặc điểm kỹ thuật của hệ thiết bị có thể tham khảo trong
công bố trước đây của nhóm nghiên cứu
Hình 2.1: Hệ thiết bị điện di mao quản CE-C 4 D tự chế, bán tự động
(1: Hộp thế an toàn, 2: Bộ điều khiển thế, 3: Cảm biến đo độ dẫn không tiếp xúc
(C 4 D), 4: Bộ phận kết nối bán tự động, 5: Núm điều chỉnh, 6: Bộ phận điều khiển, 7:
Bình khí nén)
Bộ lọc nước đêion (Mỹ)
Máy rung siêu âm, có gia nhiệt của hãng BRANSONIC 521
Máy đo pH của hãng HANNA với điện cực thủy tinh và các dung dịch pH
chuẩn để hiệu chỉnh điểm chuẩn của máy đo pH
Cân phân tích của hãng S¢ientech (Mỹ), độ chính xác 0,1mg
Tủ lạnh Sanaky VH-2899W dùng bảo quản mẫu
Dụng cụ
Dụng cụ thủy tinh: bình định mức, ống nghiệm, cốc thủy tinh
Pipet pasteur với các cỡ khác nhau: 100; 1000 và 5000 µL và đầu tip tương ứng
Các bình định mức thủy tinh 25 và 50 mL đư+ợc sử dụng để pha các dung dịch
gốc của các chất phân tích và các dung dịch đệm
Mao quản sử dụng là mao quản silica, chiều dài 60cm, đường kính trong (ID) là
50 µm
Các dụng cụ thông thường khác của phòng thí nghiệm
2.2.2 Hóa chất
- Muối NaAsO2 (P.A Fluka)
- Muối HAsNa2O4.7H2O (P.A Fluka)
Comment [TA8]: Thêm TLTK vào