1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng

98 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Việc Thu Hồi Đất, Giải Phóng Mặt Bằng Tới Sinh Kế Của Người Dân Tại Dự Án Xây Dựng Khu Đô Thị Mới Quận Hải An, Thành Phố Hải Phòng
Tác giả Nguyễn Thị Thuận An
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hà Thành
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Địa chính
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp cao, cùng với sự di chuyển tự do của lao động nông thôn lên thành phố tìm việc làm là bài toán khó đang đặt ra cho các nhà quy hoạch, quản lý kinh tế-

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Tr Ưêng §¹i häc Khoa häc Tù nhiªn

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ****************************

NguyÔn ThÞ ThuËn An

Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh

kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An,

thành phố Hải Phòng

Chuyªn ngµnh: §Þa chÝnh

M· sè: 604480

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ HÀ THÀNH

Hà Nội - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đƣợc cám

ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thuận

An

Trang 4

LỜI CÁM ƠN Trong quá trình thực hiện công trình luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, nhiều ý kiến đóng góp quý báu và sự tạo điều kiện thuận lợi của nhiều cá nhân và tập thể Để hoàn thành luận văn tôi đã tốn không ít thời gian và tâm huyến của bản thân Qua quá trình thực hiện luận văn đã cho tôi nhiều kinh nghiệm quý báu nhiều bài học thực tiễn cần thiết cho quá trình công tác của cá nhân tôi sau này

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Hà Thành, giảng viên khoa địa lý trường Khoa học tự nhiên đại học Quốc gia Hà Nội người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu thực hiện đề tài

Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy PGS.TS Trần Văn Tuấn cùng các thầy cô giáo trong khoa địa lý đã có những góp ý quý báu để tôi hoàn thành tốt luận văn của mình

Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến các cán bộ Phòng Thống kê, phòng Kinh tế, phòng Tài nguyên và môi trường, Trung tâm phát triển quỹ đất quận Hải

An và lãnh đạo UBN phường Đằng Hải đã giúp đỡ tôi thu thập những số liệu cần thiết, cũng như góp ý cho tôi nhiều ý kiến quan trọng để làm định hướng cho đề tài Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến các đồng chí tổ trưởng tổ dân phố số 8, 9, 10

phường Đằng Hải đã bỏ thời gian công sức để cùng tôi đi điều tra phỏng vấn từng

hộ có đất thu hồi tại dự án

Tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp những người luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thuận

An

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GPMB VÀ TÁC ĐỘNG TỚI

SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG CÔNG CUỘC ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM

6

1.1.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển kinh tế - xã hội 8 1.1.3 Thực trạng quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong những năm gần đây 9 1.2 Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam 12 1.2.1 Một số khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất 12 1.2.2 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ trước khi có Luật Đất đai năm 2003 12 1.2.3 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ khi có Luật Đất đai năm 2003 14

1.3 Vấn đề sinh kế và những tác động của việc thu hồi đất tới sinh kế của người dân 20

1.3.3 Thực trạng sinh kế của người nông dân sau khi bị thu hồi đất do công nghiệp

hóa và đô thị hóa ở Việt Nam

21

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ

DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN HẢI AN

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội quận Hải An 25

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đô thị hóa giai đoạn

2005-2010

29

2.2 Tình hình sử dụng và biến động đất đai của quận Hải An giai đoạn 2005-2010 35

Trang 6

2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 35 2.2.2 Biến động sử dụng đất phục vụ quá trình đô thị hóa 37 2.2.3 Tình hình chung về công tác bồi thường, GPMB trên địa bàn quận trong những

năm qua

41

2.3 Khái quát về dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An 43

2.3.3 Các văn bản và căn cứ pháp luật nghiên cứu liên quan đến nghiên cứu việc thực

hiện dự án

44

2.3.4 Công tác bồi thường, hỗ trợ, GPMB của dự án khi thu hồi đất 46

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

CHO DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN HẢI AN ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI

DÂN VÀ ĐỀ XUẤT GIAỈ PHÁP

51

3.1 Thực trạng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, số tiền bồi thường và hỗ trợ cho

người dân bị thu hồi đất

của người dân

72

3.3.3 Đối với việc hỗ trợ đào tạo nghề cho người bị thu hồi đất 73

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

1.2 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả nước 17

1.4 Tỷ lệ lao động nông nghiệp bị mất việc làm tại một số vùng 22 2.1 Tình hình lao động có việc làm của quận Hải An theo ngành kinh tế 28 2.2 Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế quận Hải An qua các năm 2005,

2008, 2010

31

2.3 Hiện trạng sử dụng đất của quận Hải An giai đoạn 2005-2010 36

3.1 Số hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp ở các mức quy mô diện tích khác

nhau

51

3.2 Bình quân số tiền bồi thường, hỗ trợ việc làm của mỗi hộ dân 52

3.5 Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân trước và sau khi thu hồi đất

tại dự án

58

3.6 Tình hình thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất 61 3.7 Bình quân thu nhập/tháng/lao động của các hộ có đất thu hồi 62 3.8 Thu nhập bình quân theo đầu người/năm phân theo nguồn thu 63 3.9 Phương thức sử dụng tiền bồi thường của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất 65 3.10 Tài sản sở hữu của các hộ trước và sau khi thu hồi đất 67 3.11 Nguồn lực đảm bảo sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đẩt 68

Trang 8

2.2 Biểu đồ so sánh cơ cấu kinh tế quận Hải An quan các năm 2005,

2008, 2010

31

3.1 Biểu đồ so sánh số hộ dân bị thu hồi ở các mức quy mô diện tích

đất nông nghiệp khác nhau

Trang 9

Reduction

Trang 10

MỞ ĐẦU

Cùng với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH), đô thị hoá (ĐTH) là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Thực tiễn cho thấy ĐTH là hệ quả trực tiếp của quá trình CNH-HĐH, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất công nghiệp, dịch vụ Trong quá trình ĐTH, tiến trình phát triển xã hội có sự thay đổi cơ bản, đó là phát triển ĐT kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, là sự hình thành các khu đô thị khu công nghiệp (KCN) thay thế cho đất canh tác nông nghiệp Để tạo quỹ đất phục vụ quá trình đô thị hóa, việc thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cho xây dựng các KCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia là việc làm tất yếu

Chính sách thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2003 có nhiều đổi mới về cơ chế, giá bồi thường, chính sách tái định cư,…được cụ thể hóa ở một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành: Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khu nhà nước thu hồi đất; nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số 197/2004/NĐ-CP; Quyết định số 51/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Chính phủ về chính sách dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn trong đó có đối tượng ưu tiên là lao động bị thu hồi đất nông nghiệp; Chỉ thị số 11/2006/CT-TTg ngày 27/3/2006 của Thủ tướng chính phủ về giải pháp hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và thực hiện các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp; Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-Cp; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính Phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất…

Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và đã được các địa phương nỗ lực vận dụng để giải quyết vấn đề bồi thường, tái định cư, bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp,

Trang 11

không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt nơi ở mới, đặc biệt đối với người nông dân bị thu hồi đất đã và đang diễn ra tại nhiều địa phương Nguyên nhân này một phần do nhiều nơi thực hiện đền bù, tái định cư, đào tạo, giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi còn chưa hợp lý dẫn đến tình trạng khiếu kiện gây mất trật tự an ninh, xã hội Bên cạnh đó, bản thân người dân bị thu hồi đất còn thụ động trông chờ vào nhà nước, chưa tích cực tự đào tạo để đáp ứng với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Sự thay đổi điều kiện sống của người dân có đất bị thu hồi là một vấn đề lớn, mang tính thời sự cấp bách và trở thành vấn đề mang tính xã hội trên cả nước Thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp cao, cùng với sự di chuyển tự do của lao động nông thôn lên thành phố tìm việc làm là bài toán khó đang đặt ra cho các nhà quy hoạch, quản lý kinh tế-xã hội

Không nằm ngoài những vấn đề chung đó, quận Hải An, Thành phố Hải Phòng cũng gặp những vấn đề khó khăn trong công tác giải quyết việc làm và ổn định đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất Quận Hải An là một quận mới được thành lập năm

2003, trên cơ sở tách một phần địa giới hành chính của huyện Hải An cũ (nay là huyện

An Dương) và phường Cát Bi của quận Ngô Quyền, gồm 8 đơn vị hành chính cấp phường; Đằng Lâm, Đằng Hải, Đông Hải 1, Đông Hải 2, Tràng Cát, Nam Hải, Thành

Tô và Cát Bi

Do là một quận mới thành lập nên Hải An có quỹ đất nông nghiệp còn tương đối lớn, nhiều dự án xây dựng KĐT, KCN được tập trung triển khai trên địa bàn để phục vụ cho nhu cầu phát triển thành phố Hải Phòng nói chung và quận Hải An nói riêng Dự án xây dựng KĐT mới tại quận Hải An do Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Phát triển nhà làm chủ đầu tư là một dự án quan trọng của thành phố Hải Phòng năm 2007, là một trong những dự án trọng điểm nhằm phát triển cơ sở hạ tầng đô thị của quận Hải An Theo qui hoạch chi tiết, dự án có diện tích 119.187,46m2 trên địa bàn 2 phường: Đằng Hải và Đông Hải 2 quận Hải An Trong tổng số 119.187,46m2 đất thu hồi có 80.476,1m2 đất nông nghiệp được giao theo Nghị định 03/CP, diện tích đất nông nghiệp tư nhân tự quản lý là 15.290,5m2, đất ở

đã được cấp GCN là 4.242,4m2 Đây là một trong những dự án trọng điểm phát triển

cơ sở hạ tầng của quận Hải An KĐT mới bao gồm các khu đất xây dựng nhà biệt thự kiểu dáng hiện đại cùng với 4 toà nhà cao tầng để phục vụ cho nhu cầu về nhà ở

Trang 12

cho người dân có thu nhập thấp, hệ thống giao thông tĩnh là các bãi đỗ xe được bố trí trên diện tích mương An Kim Hải nằm trong dự án sau khi đã được xây dựng cống hộp kiên cố đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường trong khu đô thị Như vậy, sau khi dự án được thực hiện và hoàn thành, các hạng mục sẽ tạo ra quỹ nhà ở để phục vụ công tác an sinh xã hội cho những hộ gia đình có thu nhập thấp và tạo ra một KĐT hoàn chỉnh, đồng bộ với kiểu dáng hiện đại và khép kín với đầy đủ các dịch vụ công cộng Việc thực hiện dự án sẽ là một trong những điểm nhấn về cảnh quan đô thị hiện đại trên địa bàn quận Hải An

Tuy nhiên, do diện tích đất nông nghiệp thu hồi cho dự án tương đối lớn nên vấn đề giải quyết việc làm cho người dân sau khi mất đất đã và đang gây ảnh hưởng không nhỏ đối với sinh kế của người nông dân, và là một bài toán khó mà chính quyền địa phương chưa có hướng giải quyết thỏa đáng

Nhằm kịp thời có những đánh giá đúng đắn về ảnh hưởng của dự án, và đưa ra một số giải pháp hiệu quả cho công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng

đối với dự án này, tôi đã chọn thực hiện đề tài nghiên cứu:“Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cho dự án xây dựng khu đô thị mới tới việc làm và thu nhập của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại quận Hải An

- Đề xuất một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm góp phần cải thiện đời sống, việc làm cho người có đất bị thu hồi trên địa bàn nghiên cứu

1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan các chính sách, quy định pháp lý về bồi thường, hỗ trợ,tái định cư của Nhà nước ta từ khi có Luật đất đai 2003 đến nay

- Thu thập tài liệu, số liệu về công tác bồi thường, GPMB dự án xây dựng khu đô thị mới tại quận Hải An

- Đánh giá, phân tích thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB, và những ảnh hưởng của nó đến người dân bị thu hồi đất

- Rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất một số giải pháp cho công tác thu hồi đất, GPMB ở thành phố Hải Phòng hiện nay

Trang 13

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, điều tra nhanh

Đề tài thực hiện điều tra thực tế đối với 106 hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho dự án xây dựng đô thị quận Hải An bằng phương pháp sử dụng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp người dân, từ đó tổng hợp nguồn dữ liệu

về trình độ của lao động, việc thay đổi nghề nghiệp, thu nhập, cũng như khả năng thích ứng với việc chuyển đổi sử dụng đất của người dân Đề tài còn thu thập thêm thông tin và ý kiến từ các cán bộ và chuyên gia trong Ban giải phóng mặt bằng để có những số liệu và thông tin chi tiết về chuyển đổi sử dụng đất, số tiền đền bù, hỗ trợ

cụ thể, cũng như quá trình thực hiện giải phóng mặt bằng cho dự án

- Phương pháp so sánh, phân tích

Được thực hiện trên cơ sở nguồn số liệu thu thập được từ phiếu điều tra, phỏng vấn,

sử dụng các thuật toánvà sự hỗ trợ của phần mềm excel để thống kê, tính toán số lượng lao động phân theo độ tuổi, phân theo nghề nghiệp, và trình độ văn hóa trước và sau khi bị thu hồi đất; bình quân mức thu nhập của từng hộ, của các lao động trong hộ đối với các loại hình sinh kế khác nhau; số tiền đền bù trung bình mà từng hộ gia đình được nhận; số tiền

mà các hộ gia đình sử dụng tiền đền bù và hỗ trợ để chi cho các mục tiêu khác nhau,… Những số liệu thống kê, tính toán được sau đó sử dụng để phân tích, minh chứng vấn đề, hoặc để so sánh giữa thời điểm trước khi thực hiện thu hồi đất và sau khi thực hiện thu hồi đất cho dự án

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GPMB VÀ TÁC ĐỘNG TỚI SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG CÔNG CUỘC ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT

NAM 1.1 Vài nét về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay

1.1.1 Định nghĩa đô thị hóa

Đô thị hóa là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thời đại khoa học – công nghệ phát triển nhanh thì đô thị hóa là con đường giúp cho các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước

Brian Berry (1976) cho rằng “ Đô thị hóa được coi như sự tập trung có tính chất không gian của con người và các hoạt động kinh tế Quá trình đô thị hóa nảy sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau”[36] Quá trình đô thị hóa có thể khác nhau về thời gian và tốc độ ở các quốc gia, các vùng miền khác nhau, nhưng ở đâu thì quá trình này cũng có thể xảy ra, nó thể hiện sự tăng trưởng và phát triển của loài người Thậm chí, với nhiều học giả, đô thị hóa là quá trình diễn ra từ rất sớm: “Quá trình này bắt đầu diễn ra ngay từ thời kỳ sơ khai, khi con người bắt đầu chuyển từ giai đoạn săn bắt – hái lượm sang hoạt động trồng trọt, chăn nuôi” (Brian Robert, 2006) [38] Tác giả Brian Berry có cho rằng “sẽ chẳng thật là khôn ngoan cho lắm khi cố gắng tóm lược một cách chung nhất quá trình đô thị hóa bằng cách này hay cách khác” [36] Tuy nhiên, cũng đã có rất nhiều khái niệm về đô thị hóa được các nhà nghiên cứu diễn giải ra trên quan điểm riêng của mình

Với Brian Berry, “Đô thị hóa có 2 mặt ý nghĩa, ý nghĩa thứ nhất liên quan đến quá trình tập trung dân cư - khi dân số chuyển cư từ vùng thưa dân đến vùng đông dân hơn; ý nghĩa thứ 2 liên quan đến văn hóa và lối sống của người dân – lối sống thành thị, văn hóa hiện đại và dấu hiệu của sự văn minh, bắt nguồn từ các thành phố lớn rồi lan tỏa ra các đô thị nhỏ hơn hay thậm chí là vùng nông thôn” [37]

Theo Berd Hamm, khái niệm đô thị hóa được dùng theo ba nghĩa khác nhau:

“1 Sự tăng trưởng vượt quá mức trung bình số những người dân ở đô thị so với toàn

bộ dân cư ở một nước hay một lục địa; 2 Sự tăng trưởng về dân cư và/ hoặc diện tích của từng thành phố riêng; và 3 Sự mở rộng văn hóa và lối sống thành thị Đô

Trang 16

thị hóa theo Bernd Hamm gắn liền với sự thay đổi văn hóa, lối sống, và phát triển mật độ dân cư hơn là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong khi đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế lại là “hai quá trình diễn ra song song, không tách biệt nhau”[20]

“Đô thị hóa là một quá trình diễn thế kinh tế - xã hội – văn hóa – không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển các nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị, song song với việc tổ chức bộ máy hành chính và quân sự” Theo quan điểm trên của Đàm Trung Phường, thì quá trình ĐTH cũng bao gồm sự thay đổi toàn diện về các mặt: khoa học công nghệ, lối sống, mở rộng không gian đô thị, cơ cấu lao động…Tuy nhiên Đàm Trung Phường đã không nói rõ sự chuyển đổi ấy diễn ra theo chiều hướng như thế nào một cách cụ thể, có thể gây ra những nhầm lẫn cho người đọc

Tác giả Trần Cao Sơn có đưa ra một định nghĩa đầy đủ hơn về đô thị hóa như sau: "Đô thị hóa thực chất là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội, với các đặc trưng sau:

Một là, hình thành và mở rộng quy mô đô thị với hạ tầng kỹ thuật hiện đại, dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ

Hai là, tăng nhanh dân số đô thị trong tổng số dân cư, dẫn đến thay đổi cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội

Ba là, chuyển từ lối sống phân tán (mật độ dân cư thưa) sang sống tập trung (mật độ dân cư rất cao)

Bốn là, chuyển từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, từ văn hóa làng xã sang văn hóa đô thị, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp"[24]

Trong các định nghĩa đã đề cập đến thì có thể nói định nghĩa trên đưa ra một cái nhìn tổng quát nhất và khá đầy đủ về các mặt của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, bao gồm phát triển dân số, mở rộng không gian đô thị, nâng cao lối sống văn minh, hiện đại "Đô thị hóa đã làm thay đổi mọi mặt đời sống của con người, từ lối sống, thu nhập, nghề nghiệp cấu trúc xã hội, đến mối quan hệ giữa con người với con người, giữa các hộ gia đình, các tổ chức, và các cơ quan chính quyền"[38]

Trang 17

1.1.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển kinh tế-xã hội

Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy,

đô thị hóa là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới, hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế - xã hội nông thôn Trong nền kinh tế hiện đại, CNH-HĐH và đô thị hóacó sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.[28]

Trong quá trình CNH-HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơ bản, đó là: Phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Hiện tượng đô thị hóa được xem như

là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại hiện nay Cùng với quá trình đô thị hóa , CNH được xem như một khía cạnh quan trọng của sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hóa là một quá trình lịch sử trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng vao vai trò của trong sự phát triển mọi mặt của xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết

là trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp – xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hóa

Cụ thể hơn, quá trình đô thị hóa tạo điều kiện thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn; tạo tiền đề và trở thành thị trường lớn cho khu vực công nghiệp, đặc biệt là dịch vụ Nó kích thích cầu và mở đường cho cung ứng;

- Sự giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các vùng, miền, ngành kinh tế được thể hiện nhờ quá trình đô thị hóa cũng là quá trình thị trường hóa;

- Đô thị hóacũng kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được cải thiện – đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hóa;

- Về mặt văn hóa, làn sóng đô thị hóa cùng với sự phát triển hạ tầng văn hóa

xã hội, mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buôn bán giữa các vùng miền…đã làm cho diện mạo nông thôn và đời sống tinh thần của

cư dân nông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn Ở nông thôn đã xuất hiện những yếu tố văn hóa đô thị mới mẻ, hiện đại, sự truyền bá các sản phẩm văn hóa, các loại hình văn học, nghệ thuật có giá trị, sự du nhập lối sống, phong cách giao

Trang 18

tiếp, ứng xử văn minh, tiến bộ…làm cho văn hóa làng quê có những sắc thái mới Mức sống văn hóa, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa của nông dân các vùng đô thị hóa, nhìn trên tổng thể, được nâng lên

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con người,

sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến sự gia tăng nhu cầu khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên tự nhiên, trong đó có nguồn tài nguyên nước sạch; gia tăng mức độ ô nhiễm các chất thải công nghiệp và sinh hoạt ngày càng một lớn; sự gia tăng dòng người di dân từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường Đặc biệt, tiến trình ĐTH được đẩy mạnh đồng nghĩa với việc này sinh mâu thuẫn gay gắt giữa vấn

đề bảo vệ diện tích đất phục vụ cho công tác xây dựng đô thịvà vấn đề bảo vệ diện tích đất phục vụ sản xuất nông nghiệp Công nghiệp hóa, đô thị phát triển mạnh cũng đồng nghĩa với quá trình mất đất nông nghiệp gia tăng và một bộ phận người dân bị thu hồi đất bị rơi vào tình trạng dễ bị tổn thương

1.1.3 Thực trạng quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong những năm gần đây

Quá trình đô thị hóa nông thôn ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra với tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xã hội trên cả nước

ĐTH ở Việt Nam phát triển từ năm 1990, lúc đó cả nước có khoảng 520 đô thị (tỷ lệ đô thị hóa vào khoảng 17-18%); đến ngày 01/1/1999 (theo cuộc tổng điều tra dân số cả nước) đã có 624 đô thị với số dân 17,92 triệu người, chiếm 23,5% tổng

số dân Đến năm 2000 số đô thị là 649, và năm 2003 đã tăng lên 656 đô thị Kết quả tổng điều tra dân số lao động của Tổng cục thống kê ngày 01/4/2009 cho thấy, cả nước đã có trên 800 đô thị với dân số 25.374,262 người, chiếm 29,5% tổng số dân Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị khoảng trên 45 triệu dân.[2]

Hiện nay, cả nước có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở mang, nâng cấp, còn xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng tỏa rộng, tác động mạnh

mẽ tới khu vực nông thôn

Trang 19

Dưới đây là số liệu phản ánh tình hình đô thị hóa của nước ta trong giai đoạn vừa qua:

Bảng 1.1 Số dân đô thị của Việt Nam qua các từ năm 1975 đến năm 2010 Năm Tổng dân số

(người)

Số dân đô thị (người)

24.2 25.8 26.3

26.9 27.1 27.5 29

29.7 30.5

0 5 10 15 20 25 30 35

Tỷ lệ %

1975 1980 1985 1990 1995 2000 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Năm

Hình 1.1 Biểu đồ so sánh quy mô dân cư đô thị của Việt Nam giai đoạn 1975

-2010

Trang 20

Có thể thấy rằng, từ năm 1974 cho đến nay, tỷ lệ dân cư đô thị của Việt Nam đang có xu hướng gia tăng đều đặn qua các thời kỳ, và tăng nhanh nhất từ năm 2000 đến nay Nếu như từ năm 1975 đến năm 1985, quy mô dân số đô thị không những tăng mà thậm chí còn giảm từ 21,5% xuống còn 19,2% Từ năm 1985 đến năm

2000, tỷ lệ này tăng nhẹ từ 19,2% lên 24,2% Nhưng chỉ trong vòng 10 năm từ năm

2000 đến 2010, quy mô dân số đô thị đã tăng mạnh từ 24,2% lên 30,5% Vào năm

2011, theo báo cáo của UN thì tỷ lệ dân số đô thị của Việt Nam mới chỉ đạt 31% Mặc dù số lượng các khu vực đô thị tăng nhanh trong thời gian vừa qua, nhưng mức

độ đô thị hóa của Việt Nam vẫn còn ở mức tương đối thấp so với nhiều đô thị khác trong khu vực (Cho đến năm 2011, mức độ đô thị hóa của Philippines đã là 48,8%, của Indonesia là 50,7%, của Malaysia là 72,8%, của Brunei là 76% và của Singapore

là 100% - UN, 2012)

Sự tăng trưởng mức độ đô thị hóa ở Việt Nam chủ yếu diễn ra ở các khu vực đô thị lớn, với 200.000 dân trở lên.Các điểm đô thị có mặt trên khắp lãnh thổ đất nước Tuy nhiên quá trình ĐTH diễn ra không đồng đều Các vùng phía Bắc có tỷ lệ dân

số đô thịthấp hơn hẳn so với vùng phía Nam Mức độ ĐTH tăng lên ở Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ 21 không hẳn là kết quả của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa thành công, mà còn do sự hình thành các trung tâm hành chính,

sự mở rộng địa giới hành chính của các đô thị trong thời kỳ này

Chính vì thế,sự phát triển của các thành phố ở Việt Nam đang gặp khó khăn do sự quá tải về lao động, dân cư, còn thiếu thốn về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ

xã hội - nhà ở, điện, nước sạch, giao thông, bệnh viện và trường học chưa được xây dựng tương xứng để đáp ứng được nhu cầu của cư dân Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa nhanh đã gây ra làn sóng di chuyển vào các đô thị để tìm việc làm của số lao động nông thôn bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, làm cho các đô thị,bản thân đã chưa đủ đáp ứng nhu cầu việc làm, cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội, lại ngày càng trở nên chật chội, đông đúc Bên cạnh đó số nông dân còn lại ở các vùng thôn quê không còn đất sản xuất, chuyển đổi nghề không được, đời sống của họ lâm vào cảnh khó khăn, thất nghiệp

1.2 Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam

Trang 21

1.2.1 Một số khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất

Theo luật đất đai sửa đổi năm 2003 các khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được định nghĩa như sau:

Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử

dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý

Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra, trả lại tương xứng với giá trị

hoặc công lao Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử

dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất

Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi

đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới

Giá quyền sử dụng đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà

nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất

Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với

một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định

1.2.2 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ trước khi có Luật Đất đai năm

để giao cho mình, bồi hoàn thành quản lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật.”

Trang 22

Hiến pháp năm 1992 ra đời là bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật đất đai nói chung và chính sách bồi thường GPMB nói riêng

Tại Điều 23 quy định “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích của quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”

Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua

và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 Với quy định “đất có giá” và người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồi thường GPMB của Luật Đất đai năm 1993

Để cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồi thường GPMB đã được ban hành, bao gồm:

- Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung, Nghị định 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, so với các văn bản trước, Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hóa việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền bù bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất.v.v

- Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất;

- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên Bộ Tài chính- Xây dựng-Tổng cục địa chính-Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP;

Trang 23

- Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ

- Theo Nghị định 22/1998/NĐ-CP giá đất do Nhà nước quy định để bồi thường thiệt hại về đất khác xa so với giá thực tế Với giá trị được bồi thường người

có đất bị thu hồi không có khả năng tự lập nơi ở mới cũng như không có khả năng đầu tư để chuyển sang ngành nghề khác, để duy trì cuộc sống tối thiểu Như vậy, dưới tác động của cơ chế thị trường cùng với số lượng dự án gia tăng công tác bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp, thực tiễn đồi hỏi phải có sự thay đổi về mặt chính sách, cơ chế, năng lực thể chế trong công tác này

1.2.3 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ khi có Luật Đất đai năm

2003

Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 1 tháng

7 năm 2004 Luật đất đai năm 2003 đề ra một số điểm mới so với những chính sách thu hồi đất, GPMB có từ trước như:

- Luật quy định về thu hồi đất, việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế;

- Bổ sung trường hợp thu hồi đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện

dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án;

- Quy định thêm về việc thu hồi đất đối với các trường hợp đất bị lấn chiếm;

- Đổi mới về nguyên tắc định giá đất phải đảm bảo sát với chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường, khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp

- Về thẩm quyền xác định giá đất: Chính phủ quy định phương pháp xác định giá đất cho từng vùng, theo từng thời gian; trường hợp phải điều chỉnh giá đất và việc xử lý chênh lệch giá đất liền kề giữa các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Giá đất do UBND thành phố trực thuộc Trung ương công bố vào ngày 01 tháng 1 hàng năm để người sử dụng đất thực hiện các nghĩa vụ đất đai trong năm đó;

- Về vấn đề bồi thường, tái định cư cho người có đất thu hồi được quy định tại Điều 42: Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường giá

Trang 24

trị quyền sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng giá trị quyền

sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi

Ngoài ra, để hướng dẫn việc bồi thường GPMB theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, một số văn bản sau đã được ban hành:

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ

về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;

- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm

2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Tuy nhiên để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thường GPMB ngày 25 tháng 5 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2007/NĐ-

CP quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

Thông tư 06 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định

84/2007/NĐ-CP, Thông tư 1445/2007/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định số

188/204/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền

sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất…

- Về Nghị định 69/2009/NĐ-CP tập trung vào việc làm rõ, bãi bỏ một số điều Nghị định 181/2004/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP… về một số những vấn

Trang 25

đề cơ bản về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định

1.2.4 Thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam

* Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam

- Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công

nghiệp, đô thị và các công trình công cộng

Theo số liệu điều tra của BNNPTNT năm 2010 tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ

cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ

là 2,1%, ở nhiều vùng khác là dưới 0,5% Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308ha), Đồng Nai (19.752ha), Bình Dương (16.627ha), Quảng Nam (11.812ha), Cà Mau (13.242ha), Hà Nội (7.776ha), Hà Tĩnh (6.391ha), Vĩnh Phúc (5.573ha).[28]

Tính đến tháng 6/2009, nhiều tỉnh thành tiếp tục bị thu hồi một diện tích lớn

đất nông nghiệp

Trang 26

Bảng 1.2 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả

nước

(Tính đến tháng 6/2009)

STT Tỉnh, thành phố

Tổng diện tích đất nông nghiệp

Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi

Tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi

Trang 27

Trước tình hình đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng báo động, vào năm 2009, Bộ NNPTNT đã “mạnh tay” đề nghị đưa ra một dự thảo nghị định về quản lý đất lúa nước và phát triển lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Theo đó, điều khoản về quy định đền bù trồng đất lúa với mục đích phi nông nghiệp nêu rõ: Đối với vùng đất trồng lúa thích hợp, có hạ tầng thuận lợi, tiền bồi thường khi thu hồi phải cao gấp đôi giá đất thổ cư ở cùng thời điểm Còn ở vùng đất trồng lúa hạ tầng kém thì tiền thu hồi đất phải cao gấp 3-4 lần giá đền bù của đất nông nghiệp khác Đặc biệt, nhà đầu tư khi thu hồi đất lúa phải bồi thường toàn bộ số tiền đầu tư hạ tầng trên đất

đó như các công trình về thủy lợi, điện lưới…

* Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở thành phố Hải Phòng

Từ năm 2003 đến nay, toàn thành phố đã kiểm kê, lập phương án bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư cho 625 dự án với tổng diện tích 4.675 ha; tổng số hộ 64.037

hộ, số nhân khẩu 253.012 nhân khẩu, tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 3.738 tỷ đồng, trong đó hỗ trợ ổn định cuộc sống và chuyển nghề lao động trị giá hàng trăm

tỷ đồng

Trang 28

Trong đó số 625 dự án, có nhiều dự án trọng điểm quốc gia và thành phố có quy mô lớn, sử dụng quỹ đất lớn đã bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư như: dự án sân Golf Quốc tế và khu đô thị du lịch Đồ Sơn; Dự án Nhà máy nhiệt điện 1 Hải Phòng, các khu công nghiệp Tràng Duệ (Giai đoạn 1), Tân Liên (giai đoạn 1, Shinec VinaShin (giai đoạn 1); khu công nghiệp Đồ Sơn, khu công nghiệp Đình Vũ; Cảng Hải Phòng giai đoạn II…

Việc giải phóng mặt bằng để triển khai các dự án, công trình trọng điểm trên góp phần quan trọng tạo ra tăng trưởng GDP của thành phố hàng năm trên 10% (2003; 10.71%, 2004: 11.52%, 2005: 12.25%, 2006: 12.51% và 2009: 12.82%) Thu ngân sách nội địa tăng nhanh từ 1.700 tỷ đồng năm 2003 lên 3.243 tỷ đồng năm

2009 Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng công nghiệp – dịch vụ: Công nghiệp và xây dựng: 37,5%; Dịch vụ: 51,5%; Nông lâm thuỷ sản: 11,0% nhóm ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh nhất và chiếm trên 50% GDP, công nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tạo ra nhiều ngành có khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đâu tư, đặc biệt là việc thu hút FDI và ODA Nhiều khu công nghiệp được đầu tư, xây dựng và từng bước lấp đầy.[34]

Bộ mặt đô thị có nhiều thay đổi, cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội được quan tâm đầu tư theo hướng đạt tiêu chuẩn đô thị loại I Bước đầu, việc phát triển đã tạo việc làm hàng năm cho trên 4 vạn lao động Tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố giảm còn 6,12%.[34]

Nhìn chung công tác bồi thường,GPMB của thành phố Hải Phòng trong thời gian qua đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất cho các dự án đầu tư, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần tăng trưởng nền kinh tế -

xã hội của thành phố; tạo ra một diện mạo mới cho quá trình đô thị hóa của thành phố với việc phát triển số lượng quận nội thành lên 08 quận, đặc biệt tạo ra một số khu đô thị mới có cảnh quan đẹp như Khu đô thị Ngã 5 – Sân bay Cát Bi và tương lai gần là Khu đô thị Olympia và một số khu đô thị khác

Bên cạnh những mặt đạt được thì hạn chế và yếu kém lớn nhất trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trong thời gian qua là nhiều dự án chậm tiến độ bàn giao mặt bằng, nhất là các dự án có quy mô sử dụng đất lớn, các công trình trọng điểm Đáng lưu ý một số dự án đã được bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư nhưng

Trang 29

việc bồi thường, GPMB thiếu dứt điểm gây khó khăn cho việc triển khai dự án, đây cũng là nguyên nhân để một số nhà đầu tư lấy đó làm lý do để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước

Phần lớn số dự án khi thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ đều phát sinh đơn thư kiến nghị, khiếu kiện ở mức độ khác nhau về chính sách bồi thường, hỗ trợ do vậy

cơ quan nhà nước phải mất rất nhiều thời gian và công sức giải quyết Một số phương án cán bộ làm thiếu trách nhiệm phải bổ sung nhiều lần, việc giải quyết khiếu nại chưa thấu tình đạt lý, không kịp thời, còn có tư tưởng đùn đẩy nên kéo dài không dứt điểm của tổ chức làm công tác bồi thường,GPMB và của chính quyền địa phương làm tăng thêm nghi ngờ, bức xúc cho người bị thu hồi đất có khiếu nại Mặt khác, việc thiếu hiểu biết về chính sách pháp luật của một số hộ dân, do bị lôi kéo, kích động của đối tượng xấu là nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện đông người

1.3 Vấn đề sinh kế và những tác động của việc thu hồi đất tới sinh kế của người dân

1.3.1 Khái niệm về sinh kế

Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai hay phương kế kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó

Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện

Để nghiên cứu những vấn đề phát triển cộng đồng và sinh kế nông thôn, hiện nay người ta sử dụng khái niệm Sinh kế và Khung phân tích sinh kế bền vững của

Bộ Hợp tác phát triển Quốc tế Anh (DIFD): “Sinh kế của một hộ gia đình, hay một

cộng đồng còn gọi là kế sinh nhai hay phương cách kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện (tham vọng) của họ” [2]

Trang 30

Xuất phát từ những khái niệm trên ta có thể thấy sinh kế là dùng để chỉ kế sinh nhai hay phương cách kiếm sống của một hộ dân hay một cộng đồng, mà ở đây đối tượng sẽ là cộng đồng nông dân bị thu hồi đất do phát triển công nghiệp và đô thị ở các vùng nông thôn

Một kế sinh nhai được gọi là bền vững khi con người với khả năng của mình

có thể đối phó, phục hồi lại được sinh kế của mình sau các áp lực và những tổn thương (từ các cú sốc, từ các khuynh hướng và từ thay đổi của kỳ vụ) và đồng thời

có thể duy trì hoặc thậm chí nâng cao khả năng nguồn lực con người và thiên nhiên

1.3.2 Các nguồn lực để đảm bảo sinh kế

DFID cũng đưa ra một khung lý thuyết sinh kế bền vững trong đó chỉ ra rằng con người muốn đảm bảo sinh kế cho mình thì phải dựa vào 5 loại hình tài sản vốn sau:

-Vốn con người (Human capital)

-Vốn tài chính (financial capital)

- Vốn vật chất (physical capital)

- Vốn xã hội (social capital)

-Vốn tự nhiên (natural capital)

Sinh kế muốn bền vững thì sẽ phải đảm bảo 5 nguồn lực được cụ thể hóa như sau:

Bảng 1.3 Các nguồn vốn đảm bảo sinh kế

Vốn con người Kỹ năng, kiến thức, sức khỏe và khả năng làm việc

Vốn xã hội Tình làng nghĩa xóm, các phong tục truyền thống, các tổ

chức đoàn thể, cơ hội tham gia vào các cơ quan tổ chức ở địa phương

Vốn tự nhiên Đất đai, nước, rừng và các loài sinh vật khác

Vốn vật chất Cơ sở hạ tầng cơ bản như đường sá, hệ thống nước sinh

hoạt, điều kiện vệ sinh, trường học, trạm xá, hàng hóa sản xuất bao gồm công cụ, trang thiết bị và gia súc gia cầm Vốn tài chính Tiền tiết kiệm, thu nhập từ làm việc, buôn bán và tiền gửi

ngân hàng

(Nguồn: UNDP, UNISDR, IRP, 2010)

1.3.3 Thực trạng sinh kế của người nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

Nông dân nước ta chiếm 69,5% tổng dân số cả nước Lao động nông nghiệp chiếm 55,7% tổng lao động xã hội và đóng góp tới gần 21% GDP của cả nước

Trang 31

Chính vì thế, người nông dân có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế đất nước

và sinh kế nông thôn, là bộ phận chính cấu thành của nền kinh tế cả nước Nếu vấn

đề sinh kế nông thôn không tốt thì đời sống một bộ phận lớn dân cư trong xã hội (chủ yếu là người nông dân) sẽ không được đảm bảo, tức là khả năng sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội sẽ bị hạn chế Thế nhưng, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta trong những năm gần đây, sinh kế của một bộ phận nông dân đang gặp rất nhiều khó khăn và thiếu bền vững

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc thu hồi đất

đã tác động tới đời sống của 627.495 hộ dân với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người bị ảnh hưởng, trung bình cứ mỗi ha đất thu hồi, sẽ có 10 lao động mất việc Đồng bằng sông Hồng vẫn là nơi có nhiều hộ bị ảnh hưởng nhất với trên 300.000 hộ, kế đến là Đông Nam Bộ 108.000 hộ, trong đó Hà Nội có số hộ bị thu hồi lớn nhất với 138.291 hộ, tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh 52.094 hộ, Bắc Ninh 40.944 hộ, Hưng Yên 31.033 hộ, Đà Nẵng 29.147 hộ, Vĩnh Phúc 18.000 hộ [2]

Bảng 1.4 Tỷ lệ lao động nông nghiệp bị mất việc làm tại một số vùng

(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2011)

Điều đáng lo là chỉ có khoảng trên 27% lao động bị thu hồi đất đã tốt nghiệp phổ thông, 14% được đào tạo nghề ngắn hạn Đặc biệt, số lượng lao động quá tuổi tuyển dụng (trên 35 tuổi) chiếm rất đông và hầu như ít có hy vọng tìm được việc làm tốt trong ngành công nghiệp – dịch vụ

Trang 32

Theo kết quả khảo sát của đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa,

đô thị hóa", 60% số hộ bị thu hồi đất vẫn sống dựa vào nông nghiệp, đời sống gặp khó khăn, chỉ 29% số hộ có điều kiện sống cao hơn trước, trong khi có tới 34,5% số

hộ có mức sống thấp hơn trước và 36,5% thì vẫn như cũ, có tỉnh 25-30% lao động sau thu hồi đất không có việc làm hoặc việc làm không ổn định Số lao động không

có việc làm sau khi bị thu hồi đất tăng nhanh ở tất cả các tỉnh có khảo sát Tại Hà Nội, tỷ lệ lao động không có việc làm trước khi thu hồi đất là 4,7% đã tăng lên 12,4% sau khi bị thu hồi đất Hai tỷ lệ tương ứng của các tỉnh khác, như Hải Phòng

là 5,1% và 10,8%; Bắc Ninh 5,3% và 7,9% Số người không có việc làm tăng lên, cơ cấu nghề nghiệp cũng thay đổi: số người chuyển sang buôn bán tăng 2,72% chuyển sang làm thuê, xe ôm tăng 3,64%, số người làm công việc khác tăng 4,1% số người gắn với các khu công nghiệp chỉ tăng 2,79%

Trong khi đó, tỷ lệ lao động mất đất được doanh nghiệp (nhận đất) đào tạo ở các tỉnh thành là quá thấp: ở Hà Nội là 0,01%, Hà Tây: 0,02%; Hải Phòng: 0%; Bắc Ninh: 0% Bộ phận nông dân mất đất được Nhà nước đào tạo nghề cũng rất khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm cho mình và cũng chỉ đạt tỷ lệ tìm được việc làm rất thấp: Hà Nội: 0,01%; Hải Phòng: 0%; Bắc Ninh: 1,2%; Hà Tây: 0% Tỷ lệ lao động do gia đình tự đào tạo có cao hơn những cũng xa so với yêu cầu tạo việc làm mới phi nông nghiệp: Hà Nội: 0,9%; Hải Phòng: 0,01%; Bắc Ninh: 0,3% và Hà Tây: 0,09% [2]

Người nông dân có duy nhất đất nông nghiệp là công cụ sản xuất, khi bị thu hồi đất rồi thì người ta không còn công cụ sản xuất nữa Chính vì vậy mà nhu cầu chuyển đổi việc làm là rất cần thiết Những người đang trong độ tuổi lao động phải

đi tìm lấy một nghề để học và đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp Người nông dân phải tự vay kinh phí từ các chương trình và tự học nghề sau đó họ

tự tạo việc làm Các huyện ngoại thành, các ngành nghề chưa phát triển lắm, phần lớn là thuần nông cho nên có sự chênh lệch về trình độ đào tạo, giáo dục phổ thông

so với người dân trong nội thành Ngoài ra, các cơ sở dạy nghề tại khu vực nông thôn còn ít [28]

Tại Hà Nội, số lao động mất đất được đào tạo bằng nguồn vốn của Nhà nước, sau đào tạo được nhận vào làm việc là 33%, bằng vốn của gia đình là 45,6% Cụ thể

Trang 33

là lao động đào tạo bằng nguồn vốn của gia đình là 0,19 người/hộ nhưng chỉ có 0,09 người được tuyển dụng nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp nhận đất

Như vậy, cứ 1.000 hộ mất đất nông nghiệp có 190 người tự bỏ tiền ra học nghề nhưng cuối cùng chỉ có 90 người được tuyển dụng, còn 100 người thất nghiệp Tình hình tương tự cũng diễn ra đối với các địa phương khác trong vùng Đồng bằng sông Hồng như Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên…Lao động do các khu công nghiệp đào tại tỷ lệ nhận được việc làm cao hơn: Hà Nội 100%, Hải Phòng 100%, nhưng số lượng lao động quá ít Tuy nhiên, ngay cả các lao động được các khu công nghiệp đào tạo việc làm cũng không ổn định Do trình độ hạn chế, thời gian đào tạo ngắn, năng lực lao động không cao nên một bộ phận lao động sau một thời gian được nhận vào khu công nghiệp, doanh nghiệp lại xin thôi việc, rơi vào tình trạng thất nghiệp toàn phần hoặc từng phần [2]

Tỷ lệ thời gian lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng giảm nhanh trong những năm gần đây từ 80,21% năm 2004 xuống 78,85% năm 2005 và 78% năm 2006, thu nhập và đời sống nông dân mất đất tăng chậm, thậm chí giảm ở một số vùng tái định cư Cùng với xu hướng di cư ra thành thị, làm thuê tại khu công nghiệp, một bộ phận không nhỏ ở lại làng quê tiếp tục làm ruộng với quỹ đất giảm dần nên “nhàn cư vi bất thiện” Đó là môi trường để các tệ nạn xã hội phát triển

Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định vì họ

có đất sản xuất, có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất, tư liệu sản xuất đó được để thừa

kế từ thế hệ này sang thế hệ sau Sau khi bị thu hồi đất, đặc biệt là những hộ nông dân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của họ bị thay đổi hoàn toàn Mặc dù nông dân được giải quyết bồi thường bằng tiền, song họ vẫn chưa định hướng ngay những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống Sau khi bị thu hồi đất, chỉ có 32,3% số hộ đánh giá là đời sống có tốt hơn trước, 42,3% số hộ cho rằng đời sống không có gì là cải thiện và số hộ còn lại khẳng định đời sống của

họ kém đi so với trước khi bị thu hồi đất Như vậy, có đến 67,7% số hộ dân được điều tra khẳng định đời sống của họ kém đi hoặc không có gì cải thiện hơn sau khi Nhà nước thu hồi đất để chuyển sang xây dựng các KCN, KĐT mới và các dự án khác về phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương.[28]

Trang 34

Chương 2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ DỰÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN HẢI AN

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội quận Hải An

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Quận Hải An được thành lập theo Nghị định số 106/NĐ-CP ngày 20/12/2002 của Chính Phủ trên cơ sở sát nhập 05 xã của huyện An Hải và 01 phường của quận Ngô Quyền (đến nay tách ra làm 08 đơn vị hành chính cấp phường: Đằng Lâm, Đằng Hải, Tràng Cát, Nam Hải, Cát Bi, Thành Tô, Đông Hải 1 và Đông Hải 2) Vì vậy kinh tế xã hội, cơ sở vật chất của quận mang dáng dấp của một huyện nhiều hơn

là của quận nội thành Tổng diện tích đất tự nhiên của quận Hải An là 10.484,29ha, với tổng số dân là 104.070 người Quận Hải An nằm ở phía Đông Nam thành phố Hải Phòng, có vị trí địa lý như sau (hình 2.1.):

- Phía Tây Bắc giáp quận Ngô Quyền

- Phía Bắc giáp huyện Thủy Nguyên dọc theo sông Cấm

- Phía Nam giáp huyện Kiến Thụy dọc theo ranh giới sông Lạch Tray

- Phía Đông giáp huyện đảo Cát Hải theo ranh giới là cửa biển Nam Triệu Với vị trí đó, quận Hải An là đầu mối giao thông của thành phố Hải Phòng với đầy đủ các tuyến đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt và đường hàng không Chạy qua địa bàn quận Hải An có trục đường giao thông liên tỉnh quan trọng nhất là quốc lộ 5 nối liền Hà Nội - Hải Phòng, có sân bay Cát Bi Bên cạnh đó quận Hải An là khu vực mở rộng của Thành phố Hải Phòng về phía đông nam, thuận lợi cho việc giao lưu với các tỉnh thành khu vực phía bắc, là cửa ngõ có thể đón nhận các luồng hàng giao lưu với các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng và mở rộng thị trường

Với vị trí như vậy, quận Hải An có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các đô thị mới hiện đại, đồng bộ, tiếp nhận trực tiếp tiến bộ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và thông tin, góp phần xây dựng một thành phố cảng hiện đại

Trang 35

2.1.1.2.Địa hình, địa mạo

Hải An là vùng có địa hình tương đối bằng phẳng: đất thổ cư có cao độ bình quân từ +3,5 đến +4,5m; đất canh tác nông nghiệp có độ cao bình quân từ + 2,5 đến +3m

Tuy nhiên, đất ở quận Hải An được hình thành so sự bồi đắp của phù sa sông

có địa hình bằng phẳng hơi nghiêng ra biển với các lớp đất sét, á sét, á cát, cát và bùn, bị nhiễm mặn chịu sự tác động của gió biển và thủy triều biến động từ 1-5m Theo khảo sát địa chất, từ 1-2m đất sét dẻo mềm, dưới đó là các lớp á sét bão hòa mềm dẻo, dẻo chảy và thậm chí là bùn, do đó nền đất yếu, cường độ chịu nén: R=0,1-0,25kg/cm2 Quận nằm trong vùng địa chất công trình xấu, cấu tạo địa chất điển hình là lớp trầm tích trên lớp đá già Vì vậy việc xây dựng cơ bản hạ tầng cũng như xây dựng các công trình khác ở Hải An không được thuận lợi, mà phải đầu tư gia cố nền móng công trình

2.1.1.3 Khí hậu

Hải An nằm ở vành đai nhiệt đới gió mùa châu Á, giáp với biển Đông nên khí hậu chịu sự chi phối trực tiếp của biển, khí hậu vừa mang những đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc vừa mang những đặc điểm khí hậu riêng của vùng ven biển

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm ở quận Hải An là 23,60

C; thời điểm nóng nhất từ tháng 6 đến tháng 8 (nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 29,40C), lạnh nhất từ tháng 11 đến tháng 2 (nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 16,80

C) Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.747mm, trong mùa hè lượng mưa chiếm 85% so với cả năm Lượng mưa cực đại trong một ngày đêm ở mùa hè cũng lớn hơn nhiều so với mùa đông, cá biệt có ngày mưa tới 500mm

Trang 36

2.1.1.4.Thủy văn

Là một quận nằm ven biển cho nên Hải An có mạng lưới sông ngòi và kênh mương khá dày đặc: sông Lạch Tray, sông Cấm với cửa Nam Triệu và hệ thống mương An Kim Hải:

- Sông Cấm: là hợp lưu sông Kinh Môn và Kinh Thầy dài 37km, rộng 500m, sâu 6-8m lưu lượng dòng chảy Qmax=2.240m3/s, hàng năm đổ ra biển từ 10-15 triệu km3

nước và trên dưới 2 triệu tấn phù sa, đặc biệt là ở vùng cửa Nam Triệu – Đình

2.1.1.5.Tài nguyên đất đai

Là vùng đất được hình thành bởi phù sa cho nên thành phần đất của Hải An tương đối phong phú, theo tính chất thổ nhưỡng thì quận gồm những loại đất sau:

- Nhóm đất phù sa:

Đất phù sa glây của sông Cấm, Lạch Tray (Pg): Phân bố tập trung ở các phường ven quốc lộ 5 (phường Tràng Cát, Cát Bi, Đằng Lâm,Đằng Hải) Loại đất này nằm sâu trong nội đồng, không bị ảnh hưởng của nước mặn Thành phần cơ giới nặng ở các tầng trên, còn tầng đáy là lớp đất cát biển có lẫn phù sa sông Đây là một trong những loại đất tốt của quận có khả năng thâm canh, tăng vụ và trồng các loại rau mùa vụ đông

Đất phù sa bị glây của sông Cấm, Lạch Tray (Pg/c) phủ trên nền cát biển Phân bố ở một số phường như Đông Hải 1, Nam Hải, Thành Tô

- Nhóm đất phèn

Đất phèn ít (Si): Đất hình thành do phù sa sông biển lắng đọng lại, không còn chịu tác động ảnh hưởng của thủy triều và của nước mặn Đất có phản ứng từ chua đến rất chua và chứa nhiều muối tan mà chủ yếu là F2(SO4)3, Al2(SO4)3 Đất có thành phần cơ giới nặng trong toàn phẫu diện Trên loại đất này thường trồng 2 vụ lúa trong năm với các giống mới là chính

Trang 37

Đất phèn ít và trung bình mặn ít (Msi): Đất có phản ứng rất chua ở tầng mặt, thành phần cơ giới nặng trong toàn phẫu diện, có thể trồng 2 vụ lúa trong năm Phân

bố hầu hết ở các phường ven biển như Đông Hải 2, Nam Hải, Tràng Cát, Thành Tô

- Nhóm đất mặn

Đất mặn ít: Đất có phản ứng chua, mùn vào loại giàu, đạm tổng số khá, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo, kali tổng số rất giàu, thành phần cơ giới rất nặng Loại đất này phân bố ở ven sông Cấm, Lạch Tray Tập trung chủ yếu ở các phường Đông Hải 1, Đông Hải 2, Nam Hải

- Nhóm đất cát biển

Đất do phù sa biển mà chủ yếu là đất cát biển Hàm lượng mùn vào loại nghèo trong khi đạm tổng số vào loại khá, chất hữu cơ bị phân giải kiệt, lân và kali tổng số đều nghèo, lân dễ tiêu trung bình Đây là loại đất tốt, có thể thâm canh tăng

vụ, thích hợp với nhiều loại cây, rau màu có giá trị xuất khẩu Loại đất này phân bổ

ở các phường Đông Hải 1, Đông Hải 2, Nam Hải

2.1.1.6.Cảnh quan môi trường

Trong những năm qua, vấn đề môi trường đã được các cấp, các ngành của Thành phố quan tâm thông qua việc xây dựng và triển khai các chương trình dự án bảo vệ môi trường, tăng cường công tác quản lý và xây dựng nếp sống văn minh đô thị, quản lý tốt vỉa hè, hành lang an toàn giao thông, trật tự an toàn giao thông, quy hoạch và trật tự xây dựng đô thị qua đó đã góp phần cải thiện chất lượng môi trường của thành phố Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan môi trường của thành phố vẫn đang bị ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân

Ở một số nơi có khu công nghiệp, các nguồn nước có chứa các nguyên tố độc hại ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân trong khu vực Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường chủ yếu của Thành phố là do công nghiệp, khu tiểu thủ công nghiệp, phương tiện giao thông phát sinh khí thải, bụi và tiếng ồn

Trong thời gian tới Thành phố và quận có quy hoạch cụ thể đối với các khu

công nghiệp, các xí nghiệp thải ra chất thải độc hại gây ô nhiễm môi trường

Trang 38

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đô thị hóa giai đoạn

2005-2010

2.1.2.1.Biến động tình hình dân số và lao động

- Dân số: Dân số quận 2010 là 104.070 người (so với năm 2005 tăng 26.628

người, tức tăng 9,93%); tốc độ tăng dân số tự nhiên 0,85% và tốc độ tăng dân số cơ học

1,74%; mật độ dân số trung bình đạt 775 người/km2, vào loại thấp nhất về mật độ dân

số trong các quận nội thành Tuy nhiên tốc độ tăng cơ học trong những năm tới sẽ lớn

hơn, có thể đạt tới 95.000-100.000 người Đây cũng là một áp lực rất lớn đối với các

quận trong việc giải quyết việc làm và chỗ ở cho lao động (nguồn phòng thống kê quận

Hải An, năm 2010) Số nhân khẩu nông nghiệp có 21.312 khẩu, chiếm 25,1% tổng dân

số toàn quận

- Lao động: Tính đến năm 2010 quận Hải An có 70.037 người trong độ tuổi

lao độngchiếm 82,39% dân số của quận So với năm 2005,số người trong độ tuổi lao

động của quận tăng 8.758 người tương đương với 18,91% Trong đó 4.572 lao động

không có việc làm chiếm 6,53%, lao động có khả năng tham gia các hoạt động kinh

tế là 64.108 lao động

Tình hình lao động của quận Hải An trong có sự chuyển biến mạnh trong

những năm gần đây Tình hình phân bổ lao động theo ngành trong giai đoạn

2005-2010 được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.1 Tình hình lao động có việc làm của quận Hải An theo ngành kinh tế

10.580 (30.98%)

12.897 (31.98 %)

132.99 (32.99%)

19.986 (33.52%)

24.421 (38.09%)

3 Lao động

nông lâm,

thủy sản

15.551 (40.23%)

14.545 (42.59%)

8.685 (21.53%)

8.395 (20%)

7.769 (13.03%)

7.548 (11.77%)

Trang 39

14.020 (41.06%)

18.746 (46.48%)

19.716 (46.99%)

31.852 (53.43%)

32.139 (50.13%)

(Nguồn: phòng thống kê quận Hải An, năm 2010)

Trong bảng trên ta thấy sốlao động có việc làmnăm 2010 tăng so với năm

2005 là 25.460 người Số lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng tăng đều

qua các năm, tăng từ 23,94% năm 2005 lên 38,09% số lao động năm 2010 Số lao

động trong ngành nông lâm, thủy sản có chiều hướng giảm mạnh kể từ năm 2007

Năm 2005 ngành này có 15.551 lao động chiếm 40,23% tổng số lao động có việc

làm của quận nhưng năm 2010 số lao động trong ngành này chỉ còn7.548 lao động

chiếm 11,77% Số lao động trong ngành thương mại và dịch vụ cũng tăng nhanh từ

35,81% năm 2005 đến năm 2010 đã chiếm 50,13% tổng số lao động có việc làm của

quận

Sở dĩ có sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành một cách mạnh mẽ như

vậy là do trong những năm gần đây quá trình thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế

xã hội của quận Hải An diễn ra một cách mạnh mẽ Trong vòng 5 năm từ 2005-2010 đã có

538,15ha đất nông nghiệp bị chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác.Một bộ phận

lao động trong ngành nông lâm, thủy sản đã không còn đất để canh tác nên phải chuyển đổi

sang ngành nghề khác Bên cạnh đó quá trình đô thị hóa nhanh nên hệ thống cơ sở hạ tầng

kỹ thuật của quận ngày càng hoàn thiện, nhiều công trình trọng điểm của thành phố được

triển khai như đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, khu đô thị Ngã 5 sân bay Cát Bi,

khu công nghiệp Tràng Cát, Khu Kinh tế Đình Vũ – Cát Hải là điều kiện thuận lợi cho các

doanh nghiệp trong nước và quốc tế đầu tư sản xuất Điều này tạo ra nhiều cơ hội việc làm

cho lao động của quận

2.1.2.2.Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quận

Kể từ khi thành lập quận đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tăng

khá nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp và xây dựng

Trang 40

Bảng 2.2 Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế quận Hải An

qua các năm 2005, 2008, 2010

Tổng giá trị sản xuất Năm 2005 Năm 2008 Năm 2010

GDP (tỷ đồng)

(Nguồn số liệu: Phòng Thống kê quận Hải An, năm 2010)

Hình 2.2 Biểu đồ so sánh cơ cấu kinh tế quận Hải An qua các năm 2005,

2008,2010

Như vậy, trong vòng 5 năm, từ 2005 đến 2010, tỷ trọng ngành nông nghiệp của quận Hải An đã giảm nhẹ từ 29,45% xuống còn 26,4% Trong khi đó, tỷ trọng ngành công nghiệp tăng nhẹ từ 45,9% lên 48,7% Tỷ trọng ngành dịch vụ-thương mại duy trì ổn định, vào khoảng gần 30%

Có thể nói, quận Hải An có cơ cấu kinh tế gần tương tự như đặc trưng của một quận nội thành: công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, với tỷ trọng ngành nông nghiệp và dịch vụ gần tương đương nhau Tuy nhiên trên thực tế,tỷ trọng ngành

Ngày đăng: 13/07/2022, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo điện tử Tổng hội xây dựng Việt Nam (2009), "Đô thị hóa và vấn đề tam nông", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa và vấn đề tam nông
Tác giả: Báo điện tử Tổng hội xây dựng Việt Nam
Năm: 2009
2. Báo cáo chuyên đề (2010)"Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa", Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam -Viện tài nguyên, môi trường và phát triển cộng đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa
Nhà XB: Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Năm: 2010
3. Bộ tài chính, Thông tư số 116/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ – CP, ngày 07/12/2004 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 116/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ – CP
Tác giả: Bộ tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
4. Bộ Tài nguyên và môi trường (2005), Đề án tìm hiểu thực trạng đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tìm hiểu thực trạng đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp mới
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
5. Nguyễn Thành Chung (2010), "Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích phi nông nghiệp đến sinh kế của người dân tại xã Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội", Luận Văn thạc sỹ khoa học ngành Địa chính, trường Đại học Khoa học tự nhiên Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích phi nông nghiệp đến sinh kế của người dân tại xã Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thành Chung
Nhà XB: Luận Văn thạc sỹ khoa học ngành Địa chính
Năm: 2010
6. Chính Phủ, Nghị định số 90/1994/NĐ – CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước, ra ngày 17/8/1994, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 90/1994/NĐ – CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước
Tác giả: Chính Phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1994
7. Chính phủ, Nghị định số 22/1998/NĐ – CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, ngày 24/4/1998, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 22/1998/NĐ – CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
8. Chính phủ, Nghị định số 197/2004/NĐ – CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, ra ngày 03/12/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 197/2004/NĐ – CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
9. Chính phủ, Nghị định số 17/2006/NĐ – CP về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 187/2004/NĐ-CP, ra ngày 27/01/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 17/2006/NĐ – CP về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 187/2004/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
10. Chính phủ, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, ra ngày 25/5/1007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
11. Nguyễn Sinh Cúc (2008) "Phát triển khu công nghiệp Đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khu công nghiệp Đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
12. Lê Ngọc Hải "Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn – nhìn từ góc độ giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa" - Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Bộ quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn – nhìn từ góc độ giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Lê Ngọc Hải
Nhà XB: Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự
13. Duy Hữu "Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam ",Tạp chí Cộng sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam
Tác giả: Duy Hữu
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
14. Lê Hiền "Tiến trình phân tích sinh kế bền vững cho người dân vùng cao ở Thừa Thiên Huế", Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình phân tích sinh kế bền vững cho người dân vùng cao ở Thừa Thiên Huế
15. Nguyễn Đình Liêm "Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam", Tại Hội thảo "Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc tổ chức Hội thảo quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam", Tại Hội thảo
17. Nguyễn Tấn Lực "Giúp nông dân chủ động trước vấn đề dành đất cho công nghiệp và đô thị" - Tạp chí Cộng sản, Số 17/2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giúp nông dân chủ động trước vấn đề dành đất cho công nghiệp và đô thị
18. Hoàng Minh Nguyệt (Thông tấn xã Việt Nam): "Ước muốn của nông dân bị thu hồi đất", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ước muốn của nông dân bị thu hồi đất
19. Lê Duy Ngọ - Vũ Trọng Bình "Nông dân thời công nghiệp hóa", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông dân thời công nghiệp hóa
Tác giả: Lê Duy Ngọ, Vũ Trọng Bình
Nhà XB: Hà Nội
20. Đàm Trung Phường (2002) "Đô thị Việt Nam", tập 1, Bộ xây dựng, Chương trình KC11, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị Việt Nam
Tác giả: Đàm Trung Phường
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2002
21. Lê Du Phong (2007) "Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia
Tác giả: Lê Du Phong
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Biểu đồ so sánh quy mô dân cư đô thị của Việt Nam giai đoạn 1975 - -2010 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Hình 1.1 Biểu đồ so sánh quy mô dân cư đô thị của Việt Nam giai đoạn 1975 - -2010 (Trang 19)
Bảng 1.1. Số dân đô thị của Việt Nam qua các từ năm 1975 đến năm 2010  Năm  Tổng dân số - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 1.1. Số dân đô thị của Việt Nam qua các từ năm 1975 đến năm 2010 Năm Tổng dân số (Trang 19)
Bảng 1.2. Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả  nước - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 1.2. Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả nước (Trang 26)
Bảng 1.4. Tỷ lệ lao động nông nghiệp bị mất việc làm tại một số vùng - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 1.4. Tỷ lệ lao động nông nghiệp bị mất việc làm tại một số vùng (Trang 31)
Bảng 2.1. Tình hình lao động có việc làm của quận Hải An theo ngành kinh tế  St - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 2.1. Tình hình lao động có việc làm của quận Hải An theo ngành kinh tế St (Trang 38)
Hình 2.2. Biểu đồ so sánh cơ cấu kinh tế quận Hải An qua các năm 2005,  2008,2010 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Hình 2.2. Biểu đồ so sánh cơ cấu kinh tế quận Hải An qua các năm 2005, 2008,2010 (Trang 40)
Bảng 2.2. Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế quận Hải An  qua các năm 2005, 2008, 2010 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 2.2. Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế quận Hải An qua các năm 2005, 2008, 2010 (Trang 40)
Bảng 2.3. Hiện trạng sử dụng đất của quận Hải An giai đoạn2005-2010 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 2.3. Hiện trạng sử dụng đất của quận Hải An giai đoạn2005-2010 (Trang 44)
Bảng 2.4. Các khoản bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 2.4. Các khoản bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất (Trang 59)
Bảng 3.1.Số hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp   ở các mức quy mô diện tích khác nhau - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 3.1. Số hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp ở các mức quy mô diện tích khác nhau (Trang 61)
Hình 3.1.Biểu đồ so sánh số hộ dân bị thu hồi ở các mức quy mô diện tích  đất nông nghiệp khác nhau - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Hình 3.1. Biểu đồ so sánh số hộ dân bị thu hồi ở các mức quy mô diện tích đất nông nghiệp khác nhau (Trang 62)
Bảng 3.2. Bình quân số tiền bồi thường, hỗ trợ việc làm của mỗi hộ dân - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 3.2. Bình quân số tiền bồi thường, hỗ trợ việc làm của mỗi hộ dân (Trang 62)
Hình 3.2.Biểu đồ thể hiện bình quân số tiền bồi thường, hỗ trợ cho mỗi hộ dân  theo các mục - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Hình 3.2. Biểu đồ thể hiện bình quân số tiền bồi thường, hỗ trợ cho mỗi hộ dân theo các mục (Trang 63)
Bảng 3.3.  Mức tiền bồi thường đất của các hộ dân  STT  Mức bồi thường  Số hộ  Tỷ lệ - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 3.3. Mức tiền bồi thường đất của các hộ dân STT Mức bồi thường Số hộ Tỷ lệ (Trang 63)
Hình 3.3.Biểu đồ thể hiện số hộ dân được bồi thường đất với các mức tiền  khác nhau - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện số hộ dân được bồi thường đất với các mức tiền khác nhau (Trang 64)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w