Chính vì vậy vùng này được xem như là trung tâm của các loài đặc hữu và đa dạng sinh học cao nhưng việc bảo vệ nguồn lợi tự nhiên ở đây đang chịu áp lực do sự gia tăng dân số và do nhiều
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Hạnh Luyến
ĐA DẠNG SINH HỌC CÁ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN LỢI CÁ Ở VÙNG VEN BIỂN
CỬA SÔNG THUẬN AN, THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2-
Nguyễn Hạnh Luyến
ĐA DẠNG SINH HỌC CÁ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN LỢI CÁ Ở VÙNG VEN BIỂN
CỬA SÔNG THUẬN AN, THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN XUÂN HUẤN
Hà Nội – Năm 2012
Trang 3Hà Nội, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu đề tài
và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2012
Học viên: Nguyễn Hạnh Luyến
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ NGUỒN LỢI THỦY SẢN Ở VÙNG CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM 3
1.1.1 Khái quát về vùng cửa sông – ven biển 3
1.1.2 Hệ thống cửa sông – ven biển Việt Nam 4
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM 7
1.3 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ VÙNG VEN BIỂN CỬA SÔNG THUẬN AN 11
CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU 12
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 12
2.1.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 12
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 13
2 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU [31] 13
2.2.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc các tư liệu hiện có 13
2.2.2 Phương pháp thu mẫu thực địa 13
2.2.3 Phương pháp định loại trong phòng thí nghiệm 14
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 22
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.2 Một số vấn đề kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 27
Trang 63.2 THÀNH PHẦN LOÀI CÁ VÙNG VEN BIỂN CỬA SÔNG THUẬN
AN 29
3.2.1 Danh sách các loài cá vùng ven biển cửa sông Thuận An 29
3.2.2 Cấu trúc và tính đa dạng thành phần loài cá ở vùng ven biển cửa sông Thuận An 30
3.2.3 Biến động thành phần loài cá theo thời gian ở vùng ven biển cửa sông Thuận An 38
3.2.4 Phân tích các nhóm sinh thái 40
3.2.5 Các loài cá quý hiếm, nguy cấp của khu hệ 42
3.2.5 Mối quan hệ gần gũi về thành phần loài cá giữa khu vực nghiên cứu với các vùng khác 43
3.2.5 Thành phần loài cá kinh tế ở vùng ven biển cửa sông Thuận An, Thừa Thiên Huế 44
3.3 THỰC TRẠNG NGHỀ CÁ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN LỢI CÁ VÙNG VEN BIỂN CỬA SÔNG THUẬN AN 45
3.3.1 Thực trạng khai thác và môi trường thủy sản 45
3.3.2.Thách thức đối với nguồn lợi cá ở vùng ven biển cửa sông Thuận An 51
3.3.3 Đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi cá vùng cửa sông Thuận An 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
KẾT LUẬN 57
KIẾN NGHỊ……… ……… 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 59
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Lượng mưa ở tỉnh Thừa Thiên Huế 25
Bảng 2 Số lượng và tỉ lệ % các họ, giống , loài có trong các bộ 31 Bảng 3: Số lượng giống, loài có trong các họ 32 Bảng 4 Tính đa dạng về các bậc phân loại của 2 lớp cá ở vùng ven biển cửa sông Thuận An 36 Bảng 5 Danh sách các loài cá không gặp lại so với nghiên cứu trước đây 39 Bảng 6 Danh mục các loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 [4] 43 Bảng 7 Mối quan hệ gần gũi về thành phần loài cá ở vùng ven biển cửa sông Thuận An với các khu hệ cá khác 44 Bảng 8 Các loại ngư cụ và năng suất bình quân khai thác thủy sản trong vùng đầm phá Tam Giang và vùng ven biển cửa sông Thuận An 46 Bảng 9 Sản lượng thủy sản ở vùng ven biển, cửa sông Thuận An 51
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 Hình ảnh vùng ven biển cửa sông Thuận An 12 Hình 2 Chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Sụn dạng mập
[45,46,47,48] 17 Hình 3 Chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Sụn dạng đuối
[45,46,47.48] 18 Hình 4 Chỉ tiêu hình thái ngoài dùng trong định loại cá Xương [45,46,47,48] 19 Hình 5 Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm
và các kiểu răng dùng trong định loại cá Xương [45,46,47,48] 20 Hình 6 Các đặc điểm cấu tạo, hình dạng của mang, bóng bơi, tia vây, đuôi và vây đuôi dùng trong định loại cá Xương [45,46,47,48] 21 Hình 7 Vị trí cửa biển Thuận An 22 Hình 8 Biểu đồ tỉ lệ % các họ, giống loài trong từng bộ cá 37
Trang 9MỞ ĐẦU
Vùng cửa biển Thuận An trước còn được gọi là cửa Eo, cửa Nộn là một cửa biển quan trọng ở Miền Trung Việt Nam thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Đây là một vùng cửa biển quan trọng của tỉnh Thừa Thiên Huế Cửa này là thủy lộ chính thông sông Hương qua phá Tam Giang ra biển Đông Vì là nút giao thông nối liền vùng cận duyên và lưu vực sông Hương nên cửa Thuận An đóng vai trò trọng yếu đối với cố đô Huế về mặt chiến lược, thương mại, cũng như kinh tế Đây còn là vùng tiếp giáp với hệ thống phá Tam Giang – Cầu Hai – một hệ thống đầm phá điển hình , được coi như
là một vùng biển – một lagoon ven biển nhiệt đới Chính vì vậy vùng này được xem như là trung tâm của các loài đặc hữu và đa dạng sinh học cao nhưng việc bảo vệ nguồn lợi tự nhiên ở đây đang chịu áp lực do sự gia tăng dân số và do nhiều lý do khác… Mặc dù đã có một số tác giả tiến hành điều tra ngư loại tại khu vực phá Tam Giang – Cầu Hai nhưng cho đến nay tại vùng ven biển cửa sông Thuận An vẫn chưa có một đánh giá đầy đủ về đa dạng sinh học cá Tiến hành điều tra đánh giá đa dạng sinh học về khu hệ cá này nhằm đưa ra các giải pháp hợp lý về khai thác và sử dụng nguồn lợi cá ở vùng này là cần thiết và cấp bách
Các nghiên cứu gần đây về đa dạng sinh học cá của nhiều tác giả trong
và ngoài nước càng tăng thêm các lý do chính đáng cho các công trình điều tra chi tiết về khu hệ cá này Chính vì vậy chúng tôi đã chọn đề tài luận văn:
“Đa dạng sinh học cá và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý
nguồn lợi cá ở vùng ven biển cửa sông Thuận An, Thừa Thiên Huế”
Nghiên cứu này nhằm mục đích:
1 Xác định thành phần các loài cá có mặt tại vùng ven biển cửa sông ven biển Thuận An;
2 Tìm hiểu thực trạng nghề cá trong vùng;
Trang 103 Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác, sử dụng bền vững nguồn lợi cá cho vùng nghiên cứu
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ NGUỒN LỢI THỦY SẢN Ở VÙNG CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM
1.1.1 Khái quát về vùng cửa sông – ven biển
Cửa sông là vùng thủy vực ven bờ nửa khép kín về mặt không gian, liên hệ trực tiếp với biển một cách thường xuyên hay theo chu kỳ, trong đó độ muối biến đổi do xảy ra sự hòa trộn của nước biển với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa [38]
Vùng cửa sông ven biển là nơi tiếp xúc sông - biển, ôm sát dải nước ven bờ, từ phần thấp của hạ lưu các hệ thống sông trong mùa khô khi triều cường đến vùng nước nông thềm lục địa có ảnh hưởng của nước ngọt và ở nơi
xa nhất vào mùa mưa trong thời kì đỉnh lũ, ranh giới này có thể cách các cửa sông khoảng 30-60km về phía biển [5]
Vì vậy, vùng cửa sông là nơi tranh chấp mãnh liệt giữa đất liền và biển,
ở đó luôn xảy ra hai quá trình trái ngược nhau là bồi tụ và bào mòn Hai quá trình này xảy ra phụ thuộc vào các yếu tố động lực của dòng sông và dòng biển (sóng, thủy triều, hải lưu) và các quá trình địa chất
Vùng cửa sông không chỉ là nơi nước ngọt và nước mặn pha trộn với nhau đơn thuần mà tại đây có sự chuyển đổi tính chất hóa học của nước từ ngọt sang mặn, đặc biệt là độ muối Chính vì vậy, vùng cửa sông là vùng chuyển tiếp từ chế độ thủy văn sông sang chế độ thủy văn biển
Cửa sông là vùng biến đổi của nước ngọt đổ ra từ lục địa dưới ảnh hưởng hoạt động của thủy triều Do đó, độ muối biến đổi rất nhanh trong không gian và theo thời gian và biên độ dao động của nó rất lớn, từ 0,5 đến 30‰
Trang 12Theo sự dao động lớn về độ muối, vùng cửa sông được chia thành các phần khác nhau: phần đầu – phần trên vùng cửa sông – phần giữa vùng cửa sông - phần thấp vùng cửa sông và phần tận cùng Việc phân chia này có ý nghĩa lớn trong việc nhận biết mức độ biến thiên về cấu trúc của nền đáy, tốc
độ dòng chảy và độ muối, liên quan đến quần xã sinh vật vùng cửa sông [38]
Vùng ven biển là những vùng nằm giữa biển và bờ của thềm lục địa Vùng ven biển không chỉ khác với đại dương không chỉ ở độ sâu mà quan trọng hơn là các quá trình vật lý như hoạt động của thủy triều, sóng…
1.1.2 Hệ thống cửa sông – ven biển Việt Nam
Bờ biển Việt Nam dài 3260 km, từ 8030’ – 21030’ vĩ độ Bắc, với một loạt các sông lớn nhỏ, trong đó có hai hệ thống sông lớn là sông Hồng và sông Cửu Long Hầu hết các sông đều đổ ra biển Đông, chia cắt bờ biển thành từng đoạn với chiều dài 15-20 km/cửa sông [38] Thêm vào đó là dải bờ bao quanh các hải đảo cùng với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn gấp tới 3 lần lãnh thổ đất liền
Biển Đông hàng năm đón nhận khoảng 839 tỉ m3
nước ngọt cùng với khoảng 200 triệu tấn bùn cát và trên 100 triệu tấn các chất hòa tan trong nước làm cho khối nước ven bờ bị ngọt hóa và do đó vùng nước lợ cửa sông được
mở rộng, ôm lấy một diện tích lớn của thềm lục địa nước nông ven bờ Đây là nơi kiếm ăn và sinh sản của nhiều loại động vật biển, đồng thời còn là “vườn ươm” cho các đàn động vật biển còn non Với tiềm năng to lớn này đã tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta phát triển các ngành kinh tế biển Tuy nhiên, với khoảng 54% dân cư tập trung tại các tỉnh, thành phố ven biển, cộng với việc khai thác tài nguyên biển tự phát đã làm suy giảm nguồn lợi sinh vật, suy giảm chất lượng nước, tăng các nguy cơ rủi ro như xói lở bờ biển, lũ lụt ven
bờ, hạn hán kéo dài,…[38]
Trang 13Các vùng cửa sông Việt Nam có chế độ thủy triều đặc sắc của vùng bờ tây Thái Bình Dương, chịu sự phân hóa sâu sắc theo mùa trong năm Song do địa hình phức tạp nên mỗi vùng lại có những nét đặc trưng riêng bao gồm: các
hệ cửa sông kiểu delta ở vùng châu thổ Bắc Bộ và Nam Bộ; các cửa sông hình phễu và vụng cửa sông điển hình là các cửa sông ở Hải Phòng – Quảng Ninh hay ở Đông Nam Bộ như cửa Soi Rạp; hệ các đầm phá miền Trung và những vụng vịnh nông ven bờ [38]
Quần xã sinh vật là một thành phần quan trọng cấu thành hệ sinh thái cửa sông Các điều kiện vật lý hóa học luôn luôn bất ổn định không thể tách rời những hoạt động tương tác của các quần xã sinh vật Các quần xã không chỉ thích nghi, chịu sự chi phối của các yếu tố đó mà còn tác động trở lại cải tạo môi trường theo hướng có lợi cho đời sống của mình Ở đây, sinh vật đã đồng hóa năng lượng mặt trời và các muối dinh dưỡng, khí hòa tan; đồng thời thải các chất trao đổi bài tiết … để tạo dòng chu chuyển vật chất và năng lượng Con đường chuyển hóa vật chất và năng lượng ở các hệ sinh thái cửa sông – ven biển nước ta mang nhiều nét đặc trưng Ở vùng cửa sông – ven biển thấy xuất hiện hai loại xích thức ăn chính nhưng xích thức ăn được khởi đầu từ vật liệu phế thải với các sinh vật ăn mùn bã là động lực chính trong sự chuyển hóa vật chất và năng lượng [38]
1.1.3 Đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông – ven biển Việt Nam
Nước ta có trên 3260 km bờ biển (chưa kể bờ bao quanh các đảo) trải dài trên 13 vĩ độ với nhiều hệ thống sông lớn đổ ra biển, tạo ra vùng tiếp xúc sông - biển rộng lớn Cùng với điều đó, sự phân hoá cao của điều kiện khí hậu - thủy - hải văn đã làm tăng sự đa dạng về sinh cảnh và nơi sống Ngay trong phạm vi vùng thềm lục địa (Continental shelf) đã xuất hiện nhiều sinh
Trang 14cảnh rất đặc trưng, nhạy cảm với những tác động của các nhân tố tự nhiên và hoạt động của con người (Vũ Trung Tạng, 1982, 2009) [35,38], bao gồm:
- Các hệ cửa sông (Estuary): Cửa sông châu thổ và cửa sông hình phễu;
- Các bãi triều trần (Naked intertidal flats) gồm nhiều thềm cát, bãi bùn,
bờ đá hoặc các bãi triều lầy (Swamps) được phủ bởi rừng ngập mặn (Mangrove forests);
- Chuỗi các đầm phá (Lagoon chain) ven biển miền Trung;
- Hệ thống vũng vịnh nông ven bờ, nhận nước từ vài ba con sông (Shallow bays);
- Các rạn san hô (Coral reefs);
- Các sinh cảnh bao quanh các đảo và quần đảo thềm lục địa (Continental shelf islands);…
Có thể nói vùng cửa sông – ven biển chứa đựng kho gen quý và giàu
có Ở vùng luôn có những sự biến động về nơi ở, điều kiện sống nên sinh vật luôn luôn diễn ra những biến đổi không chỉ về hình thái, tập tính, sinh lý, sinh thái mà còn có cả những đặc điểm di truyền giúp các quần thể sinh vật thích nghi với điều kiện sống Chính điều đó tạo nên sự đa dạng sinh học cho vùng cửa sông – ven biển
Vùng cửa sông – ven biển giàu có về thức ăn, là bãi đẻ của nhiều loài động vật, là nơi ở vào giai đoạn sớm của nhiều giáp xác và cá biển Ở vùng ven biển Việt Nam đã xác định được khoảng 94 loài thực vật ngập mặn, 346 loài san hô, 794 loài cá biển, 677 loài rong và cỏ biển, 4971 loài động vật đáy,…[38]
Vùng cửa sông – ven biển là nơi có điều kiện sống đặc trưng tạo nên nhiều đặc sản như: tôm, cua, sò, rong câu… Nhiều loài trở thành mặt hàng có
Trang 15ngoài Trong số đó, cá, giáp xác, thân mềm và rong biển là những đối tượng
có sản lượng lớn và đang được khai thác Cá ở vùng biển nông chiếm tới 90% tổng sản lượng cá khai thác được…[38]
80-Một sản phẩm hoạt động của các hệ sinh thái cửa sông – ven biển nhiệt đới là rừng ngập mặn Theo những thống kê trước đây, diện tích rừng ngập mặn nước ta khoảng 400.000 ha Đến nay, diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp hơn chỉ còn 155.290 ha, mà chủ yếu trong đó là rừng tái sinh và rừng trồng Rừng ngập mặn là nơi quần tụ của nhiều loài nấm, vi khuẩn, động vật trên cạn
và dưới nước, hình thành nên hệ sinh thái đặc sắc và giàu có của bờ biển nhiệt đới Sinh khối rừng ngập mặn được đánh giá khá cao, dao động từ 229.000-283.320 kg/ha (đối với rừng trưởng thành), 14.004 kg/ha (rừng tái sinh tự nhiên) [38] Lượng sinh khối này phân hủy tạo nguồn thức ăn mùn bã cho sinh vật và được chuyển ra vùng cửa sông hay vùng kề cận Đặc biệt, do đặc điểm giàu có về dinh dưỡng nên rừng ngập mặn là nơi tập trung khá nhiều các loài động vật như các loài côn trùng, thân mềm, giáp xác, cá, bò sát, thú…
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM
Theo Vũ Trung Tạng (2009) [38], số loài cá trong các vùng cửa sông Việt Nam có 615 loài, thuộc 120 họ, 29 bộ trong đó chỉ có 26 loài cá sụn Phần lớn các loài này thuộc cá cỡ nhỏ, sống đáy thuộc các họ Albulidae, Clupeidae, Engraulidae, Salangidae, Harpodntidae, Hemirhamphidae, Fistularidae, Mugilidae, Polynemidae, Apogonidae, Leiognathidae, Gerridae, Drepanidae, Scatopliagidae, Siganidae, Eleotridae, Gobiidae, Periophthamidae, Psettodidae, Bothidae, Pleuronectidae, Cynoglossidae, Tetraodontidae,…[38]
Nhiều loài cá cửa sông có giá trị kinh tế cao như cá Song vây cao
(Epinephelus maculatus)
Trang 16Có thể khái quát những đặc điểm quan trọng của các loài hải sản nói chung và cá nói riêng ở vùng biển Việt Nam như sau: [5]
- Số loài nhiều, số lượng cá thể cùng loài ít Do đó nếu tập trung khai thác với cường độ cao trong một thời gian sẽ làm năng suất đánh bắt giảm sút đáng kể
- Gồm nhiều nhóm cá sinh thái: cá vùng khơi, cá thềm lục địa, cá cửa sông, cá đáy, cá rạn san hô…
- Trừ các loài cá nổi đại dương như : cá Thu, Ngừ, Chuồn,… di cư xa, hầu hết các loài có giá trị kinh tế đều là những đàn cá địa phương, ít di cư, chủ yếu tập trung sống ở các vùng nước có độ sâu dưới 200 m, nhất là các khu vực chịu ảnh hưởng của các con sông lớn, các vụng, vịnh ven biển Sự phân bố của các đàn cá có sự biến động theo mùa, theo vùng khí hậu: mùa đông có xu thế ra xa bờ, mùa hè di chuyển vào gần bờ
- Nhiều loài cá nói chung hay cá kinh tế nói riêng có mùa đẻ nhiều đợt, kéo dài Bãi đẻ chủ yếu ở các vùng nước nông ven bờ
Theo Vũ Trung Tạng (2009) [38], cá ở các vùng cửa sông riêng biệt không thật đa dạng so với vùng biển kế cận với chúng, với số lượng loài chỉ dao động từ 70 – 230 loài Khu hệ cá của toàn vùng cửa sông nước ta được tổng hợp lại lên tới 615 loài nằm trong 120 họ của 29 bộ cá, trong đó có 50 loài chưa xác định được đến loài, còn ở dạng sp Trong 615 loài cá của toàn vùng cửa sông có 26 loài cá Sụn, còn lại là cá Xương Bộ cá Vược
(Perciformes) là thành phần cơ bản trong cấu trúc của khu hệ, gồm 53họ
(chiếm 44,17% tổng số họ) và 339 loài (gần 55,12% tổng số loài) Có 9 bộ cá
mà mỗi bộ chỉ xuất hiện 1 loài ở vùng cửa sông Ngoài bộ cá Vược, những bộ
cá khác có số lượng đông phải kể đến bộ cá Trích (Clupeiformes), cá Đối
(Mugilifomes), cá Nóc (Tetraodontiformes), cá Chình (Anguiliformes), cá
Trang 17Gobiidae (47 loài), tiếp theo là họ Carangidae, Sciaenidae, Serranidae, Tetraodonidae, Clupeidae, Engraulidae (19 loài), Mugilidae, Hemirhamphidae Những loài khác đều có số loài ít hơn, từ 10 loài trở xuống [38]
Những họ có nhiều loài đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái cửa sông là: Megalopidae, Clupeidae, Engraulidae, Harpodontidae, Ariidae, Hemirhamphidae, Carangidae, Leiognathidae, Gerridae, Cynoglossidae, … Phần lớn các loài cá thuộc những họ trên là những loài thường xuyên có mặt trong vùng, một số ít xuất hiện có chu kỳ khi chúng xâm nhập vào vùng cửa sông để kiếm ăn hoặc để sinh sản Chúng có thể thuộc những loài cá biển khơi, cá rạn san hô ở đáy sâu xâm nhập vào để kiếm ăn, đẻ trứng, tức là sử dụng vùng cửa sông cho một giai đoạn nhất định trong chu kỳ sống của mình vào các thời gian xác định như các đại diện thuộc Sphyraenidae, Choetodontidae, Pomacentridae, Labridae, Stromatoidae,… Những đại diện của cá nước ngọt thích nghi với độ muối thấp chỉ sử dụng phần đầu của vùng cửa sông như một nơi để kiếm ăn [38]
Trong thành phần của các loài cá cửa sông dù có đại diện của một số loài
cá nước ngọt hoặc biển ấm ôn đới, song khu hệ cá cửa sông nước ta vẫn là khu hệ cá thềm lục địa biển nhiệt đới, gồm những loài thuộc biển kế cận (Vịnh Bắc Bộ, Trung và Nam Bộ), chịu được sự biến thiên khác nhau của độ muối, đồng thời nằm trong thành phần các loài động vật thuộc vùng nước nhiệt đới ven bờ Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương [38] Những loài cá sống và xâm nhập vào vùng cửa sông đã trải qua quá trình thích nghi tiến hóa trong điều kiện môi trường rất biến động theo không gian và thời gian, nhất là sự biến đổi nhanh của độ muối
Dựa vào mối quan hệ với độ muối, khu hệ cá cửa sông nước ta có thể chia thành 4 nhóm sinh thái sau đây [38]:
Trang 181 Nhóm nước ngọt: Gồm những loài có thể chịu được độ muối trên dưới 10‰ Số lượng loài không nhiều, chủ yếu thuộc đại diện một số họ như: Siluridae, Bagridae, Clariidae,…
2 Nhóm cá biển khá đa dạng, gồm chủ yếu những loài rộng muối Chúng thường xâm nhập vào cửa sông, một số lên cao, nơi độ muối 5‰, đôi khi thấp hơn Phần lớn tập trung ở độ muối 18-25‰ và nơi chuyển tiếp giữa nước sông và nước biển ven bờ Điều đặc biệt là không ít những loài cá khơi điển hình thuộc các họ Carcharhinidae, Pristidae, Clupeidae,… còn theo thủy triều thâm nhập sâu vào các vực nước ngọt để sinh sống Tuy nhiên, nhìn chung nhóm cá biển đa dạng về số lượng loài và đông về cá thể thường gặp ở phần cuối ở các của sông, nơi nước có độ mặn cao và biên độ dao động muối thấp, đặc biệt vào thời kỳ mùa khô, khi lượng nước sông giảm Thực tế vùng chuyển tiếp này là nơi giàu có thức ăn, trở thành bãi kiếm mồi và là nơi sinh sản của nhiều loài động vật biển, trong đó phải kể đến các loài cá
3 Nhóm cá cửa sông chính thức: gồm những loài nước lợ ven biển thích ứng với nhịp điệu biến đổi nhanh của độ muối vùng cửa sông và trở thành cư dân chính thức của vùng Cá cửa sông thuộc nhiều nhóm phân loại khác nhau,
từ những đại diện của họ cá tiến hóa thấp như Albulidae, Clupeidae đến những họ cá bậc cao như: Gerridae, Gobiidae, Tetraodontidae,… Phần lớn những loài này là cá cỡ nhỏ, sống đáy Nhiều loài sống ổn định trong vùng, nhiều loài tiến hành di cư biển-sông (Anadromy) như cá Mòi, Lành Canh,… hoặc sông – biển (Catadromy) như cá Đối, cá Hồng, cá Măng sữa Một số loài coi vùng cửa sông là nơi bắt nguồn một giai đoạn sống, còn khi sinh sản phải
rời cửa sông ra biển (Mugil,Chanos) hay vào nước ngọt (Clupanodon, Coilia)
4 Nhóm di cư theo chu kỳ hàng năm gồm các loài cá nước ngọt như cá
Chình (Anguilla japonica A marmorata) Chúng sống ở các sông suối miền
Trung, đến mùa sinh sản tập trung di cư sông – biển (Catadromy) để đẻ trứng
Trang 19Ngược lại cũng có những loài cá di cư biển – sông (anodromy) theo mùa để sinh sản như cá Mòi cờ hoa, cá Mòi cờ chấm, cá Cháy, cá Lành canh…
1.3 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ VÙNG VEN BIỂN CỬA SÔNG THUẬN AN
Tính đến nay chưa có nghiên cứu nào về ĐDSH cá riêng ở vùng ven biển cửa sông Thuận An nhưng đã có các công trình nghiên cứu về thành phần loài cá vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai như: công trình nghiên cứu của Võ Văn Phú (1995, 1997, 2001, 2005) hay công trình nghiên cứu của Tôn Thất Pháp và cộng sự (2009) [19,20,21,22,23]… Theo nghiên cứu của
Võ Văn Phú (2005) danh sách các loài cá vùng phá Tam Giang – Cầu Hai bao gồm 171 loài thuộc 62 họ, 17 bộ, 2 lớp; còn theo nghiên cứu của Tôn Thất Pháp (2009), danh sách các loài cá vùng phá Tam Giang – Cầu Hai có 168 loài thuộc 67 họ, 17 bộ, 2 lớp Nhìn chung những nghiên cứu này chưa tách riêng cá thuộc vùng cửa sông Thuận An và đều đã thực hiện trong những năm trước đây, do vậy cần phải kiểm tra, đánh giá lại và bổ sung để danh mục cá được đầy đủ hơn cho vùng cửa sông ven biển quan trọng này
Trang 20CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU 2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Vùng cửa sông ven biển Thuận An cách Thành phố Huế 15km về phía Đông Bắc (Hình 1)
- Thời gian nghiên cứu: Tiến hành hai đợt thực địa vào thời gian 11/6/2011 và 6-12/11/2011
5-(Nguồn: Đặng Đỗ Hùng Việt, Viện Tài nguyên và Môi trường biển)
Hình 1 Hình ảnh vùng ven biển cửa sông Thuận An
Trang 212.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài cá thuộc vùng cửa sông ven biển Thuận
An và thực trạng nghề cá trong khu vực
2 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU [31]
2.2.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc các tư liệu hiện có
* Thu thập tài liệu có liên quan:
- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, địa lý, thổ nhưỡng, khí tượng thủy văn của vùng nghiên cứu;
- Các số liệu thống kê về kinh tế - xã hội, số liệu thống kê ngư dân, phương tiện, ngư cụ, chiến lược phát triển kinh tế xã hội và thủy hải sản ngắn
và dài hạn…
* Tư liệu hiện có về các đối tượng nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp thu mẫu thực địa
Tiến hành sưu tầm mẫu cá dưới các hình thức [50]
- Thu mẫu cá tại các chợ địa phương, bến cá sau khi kiểm tra kỹ lưỡng;
- Mua từ các ngư dân địa phương khai thác theo nhiều ngư cụ khác nhau: các loại lưới, đăng, đáy,…
- Điều tra tên cá (tên phổ thông, địa phương), nơi sống, phân bố, đặc tính sinh học, giá trị kinh tế … của các loài cá từ các ngư dân;
- Điều tra số hộ, số công cụ khai thác và đời sống của các hộ khai thác cá;
- Điều tra sản lượng, năng suất đánh bắt, mùa vụ, khả năng đánh bắt của các loài cá,…
Trang 22Mẫu cá được định hình bằng formalin 8% để đem về phòng thí nghiệm phân tích, định loại
2.2.3 Phương pháp định loại trong phòng thí nghiệm
2.2.3.1 Hệ thống và phương pháp phân loại cá
Các mẫu cá được tiến hành định loại ở phòng thí nghiệm bằng phương pháp phân tích, so sánh hình thái ngoài
Tài liệu được sử dụng trong định loại là: “FAO species identification guide for fishery purpose – The living marine resources of the Western Central Pacific Vol 3,4,5,6” của Fao (1999-2001) [45,46,47,48] cùng một số tài liệu liên quan khác được trình bày ở phần Tài liệu tham khảo Ngoài ra, phần mềm FISHBASE 2004 cũng được sử dụng để tham khảo và so sánh hình ảnh các loài cá đã định loại
Tài liệu “Catalog of Fishes – Vol 1,2,3” của William N Eschmeyer (1998) [42,43,44] được sử dụng để kiểm tra, khẳng định tên Latinh (tên khoa học) và sắp xếp hệ thống Tên tiếng Việt (tên phố thông) được xác định chủ yếu theo quyển “Danh lục cá biển Việt Nam – Tập I, II, III, IV và V” của Nguyễn Hữu Phụng và các tác giả khác [15,26,27,28,29,30,41,52,51]
2.2.3.2 Một số dấu hiệu dùng trong phân loại
Các đặc điểm hình thái được dùng khi định loại:
- Chỉ tiêu đếm: Số lượng các tia vây cứng và tia vây mềm, số lượng vẩy đường bên, số lượng vẩy trên và dưới đường bên, số lượng và kích thước các
râu, số lượng lược mang … [Hình 2, 3, 4, 5, 6]
- Chỉ tiêu đo: Chiều dài thân, đầu và mõm, khoảng cách trước vây lưng, giữa hai hố mắt, đường kính mắt, chiều dài cuống đuôi, chiều cao thân lớn
nhất và nhỏ nhất [Hình 2, 3, 4, 5, 6], tính tỷ lệ giữa các số đo
Trang 23Khi đo đếm các chỉ tiêu, chúng tôi dựa vào tài liệu hướng dẫn nghiên cứu cá của Pravdin [31] Số đếm các vây và vẩy theo kí hiệu:
- D: Kí hiệu vây lưng, viết tắt của chữ Doral Fin
- A: Kí hiệu của vây hậu môn, viết tắt của chữ Anal Fin
- P: Kí hiệu vây ngực, viết tắt của chữ Pectoral Fin
- V: Kí hiệu vây bụng, viết tắt của chữ Caudal Fin
u là số lượng hang vảy trên đường bên
v là số lượng hàng vảy dưới đường bên
Đối với cá có hai vây lưng
- D1: là kí hiệu vây lưng thứ nhất
- D2 là kí hiệu vây lưng thứ hai
Kí hiệu các chỉ tiêu đo như sau:
- L0: chiều dài mình bỏ vây đuôi
- L: Chiều dài toàn thân cá
Trang 24- Lc: Chiều dài Smith, từ mõm đến chẻ vây đuôi
- H: Chiều cao lớn nhất của thân
- h: Chiều cao nhỏ nhất của thân
- hD: Chiều cao vây lưng
- hA: Chiều cao vây hậu môn
- hP: Chiều cao vây ngực
- hV: Chiều cao vây bụng
- lD: Chiều dài gốc vây lưng
- lA: Chiều dài gốc vây hậu môn
- a: Chiều dài đầu
- b: Chiều dài mõm
- c: Đường kính mắt
- e: Chiều dài cuống đuôi
Các số đo và đếm được xác định trên nhiều cá thể của cùng một loài
Sử dụng các dụng cụ: thước đo độ dài, compa, kim, mũi mác, dao mổ, panh, etyket, ghim mẫu…để tiến hành định loại cá
Trang 25Hình 2 Chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Sụn dạng mập
[45,46,47,48]
Trang 26Hình 3 Chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Sụn dạng đuối
[45,46,47.48]
Trang 27Hình 4 Chỉ tiêu hình thái ngoài dùng trong định loại cá Xương
[45,46,47,48]
Trang 28Hình 5 Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm và các kiểu răng dùng trong định loại cá Xương [45,46,47,48]
Trang 29Hình 6 Các đặc điểm cấu tạo, hình dạng của mang, bóng bơi, tia vây, đuôi và vây đuôi dùng trong định loại cá Xương [45,46,47,48]
Trang 30CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 ĐIỀU KIÊN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Cửa biển Thuận An thuộc thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Nằm trong khoảng 16023’ đến 16035’ vĩ độ Bắc và khoảng
107036’ đến 107037’ kinh độ Đông (Hình 7)
Hình 7 Vị trí cửa biển Thuận An
Cửa Thuận An định hướng luồng Bắc Tây Bắc – Nam Đông Nam, dài khoảng 600m, rộng 350m và sâu tới 11m, là cửa thông ra biển của hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Trang 31Trong thời gian 45 năm qua (1965-2010), ở ven biển cửa Thuận An đã
có những biến động to lớn do tác động của thiên nhiên và hoạt động kinh tế -
xã hội của con người
3.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn [Error! Reference source not found., 40]
Vùng biển ven bờ Thừa Thiên Huế cũng mang những đặc điểm đặc trưng của vùng biển miền Trung Việt Nam, nhưng do đặc điểm của địa hình
bờ biển chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, có các dãy núi cao tiến sát ra biển nên có những nét riêng biệt của một vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có một mùa hè khô nóng và một mùa mưa muộn
Theo số liệu của trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn Thừa Thiên Huế lượng bức xạ tổng cộng đo trong toàn tỉnh là 135,2Kcal/cm2 Trong đó lượng bức xạ thấp nhất là tháng 1 (2,92 kcal/cm2) và cao nhất là tháng 5 hoặc tháng
6 (10,49kcal/m2) Số giờ nắng trung bình dao động trong khoảng 1600-2600 giờ/năm
* Nhiệt độ
Chế độ nhiệt của Thừa Thiên Huế không những thay đổi theo mùa do tác động của hoàn lưu khí quyển, mà còn phân hóa theo vị trí, đặc điểm độ cao địa hình
Nhiệt độ trung bình năm trên lãnh thổ giảm từ Đông sang Tây, nhiệt độ trung bình năm từ 24 - 25°C ở đồng bằng và gò đồi thấp dưới 100m giảm xuống 20 - 22°C khi lên cao 500 - 800m và dưới 18°C tại núi cao trên 1.000m
Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng mùa đông lớn hơn biên
độ dao động nhiệt độ mùa hè, trong đó chênh lệch nhiệt độ lớn nhất giữa các tháng gần nhau cũng không vượt quá 3°C Từ tháng 11 đến tháng 12, nhiệt độ giảm nhanh nhất, còn từ tháng 3 đến tháng 4 nhiệt độ tăng nhanh hơn Diễn
Trang 32biến nhiệt độ lớn nhất thường rơi vào thời kỳ chuyển tiếp từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam và ngược lại
* Chế độ gió
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên chịu chi phối của 2 trường gió chính gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam, đồng thời cũng chịu các quy luật của miền duyên hải như các hoạt động của gió biển
và gió đất liền thổi luân phiên theo chu kỳ ngày đêm Ở vùng ven bờ Thừa Thiên – Huế do ảnh hưởng của địa hình nên gió mùa Đông Bắc thường bị lệch
về Tây Bắc Tốc độ gió trung bình đạt 3m/s, cực đại là 15-20 m/s
/00) đến cửa biển Thuận An (250
/00) Chỉ số trung bình độ muối vào mùa này đạt 100
/00 Trong khi đó vào mùa mưa (tháng 8 đến tháng 12) nồng độ muối giảm dần từ cửa biển Thuận An (12 0/00) đến cửa sông Ô Lâu (0,20/00)
* Lượng mưa
Là một trong các tỉnh nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn của miền duyên hải Trung Bộ nên chế độ mưa, lượng mưa ở đây vừa chịu sự chi phối của cơ chế hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á, vừa bị tác động mạnh mẽ của vị trí địa lý (địa thế) và điều kiện địa hình
Thừa Thiên Huế là tỉnh có lượng mưa lớn nhất nước nhưng phân bố không đồng đều giữa các mùa trong năm (Bảng 1)
Trang 33Bảng 1 Lượng mưa ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Lượng mưa cao nhất
Lượng mưa thấp nhất
Số ngày mưa trung bình trong năm
Tổng lượng mưa trung bình mùa lũ
4937mm 1822mm
162 ngày
1745 mm
(Nguồn: Số liệu theo trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Thừa Thiên Huế)
- Mùa mưa (IX - XII) có lượng mưa chiếm 65 -> 67% lượng mưa cả năm tạo ra dòng chảy mùa lũ với lưu lượng, vận tốc và cường suất lũ lớn Ngược lại, do lượng mưa trong 8 tháng còn lại (I - VIII) của mùa khô chỉ chiếm 25 – 35% lượng mưa năm nên lưu lượng, vận tốc, mực nước của dòng chảy mùa cạn rất thấp
* Chế độ thủy văn
Cửa Thuận An là một trong hai cửa biển liên thông với Đầm phá Tam Giang nên chế độ nước của Thuận An liên quan chặt chẽ với chế độ nước của đầm phá và biển Đông
Thủy triều khu vực cửa Thuận An thuộc loại bán nhật không đều với biên độ nhỏ nhất so với cả nước.Tại Thuận An, độ cao thủy triều trung bình khoảng 0,4-0,5m Vùng Bắc Thuận An có độ cao thủy triều trung bình 0,6-1,2m
Về mùa mưa tại cửa Thuận An dòng chảy ra biển liên tục 23 giờ trong ngày với tốc độ trung bình 45cm/s và cao nhất đạt 105cm/s; Về mùa khô, dòng chảy ra cũng liên tục 23 giờ trong ngày với tốc độ trung bình đạt 45
cm/s, cao nhất đạt 89cm/s Sự trao đổi nước phức tạp và thay đổi theo mùa
Trang 343.1.1.3 Nguồn lợi thủy sinh vật [19,25,40]
Theo nguồn tài liệu thu thập được cho thấy về thành phần loài một số nhóm thủy sinh vật khá đa dạng cụ thể như sau:
- Thực vật nổi (Phytoplankton): đã xác định 357 loài thuộc 6 ngành:
Cyanophyta 19 loài; ngành Heterokontophyta 241 loài; ngành Chlorophyta 3 loài; ngành Dinophyta 72 loài; ngành Euglenophyta 2 loài; ngành Chlorophyta 20 loài Mức độ phong phú về loài của các ngành sắp xếp theo thứ tự:
Heterokontophyta > Dinophyta > Cyanophyta >Chlorophyta > Chromophyta > Euglenophyta
- Động vật nổi (Zooplankton): Đã xác định được 43 loài động vật nổi,
trong đó các loài Giáp xác chân chèo Copepoda chiếm ưu thế với 37 loài, Giáp xác Râu ngành Cladocera 5 loài và 1 loài Trùng Bánh xe Rotaroria
- Động vật đáy (Zoobenthos): Đã xác định được 76 loài động vật đáy,
gồm Giun nhiều tơ (Polychaeta) 6 loài, Giáp xác chân khác (Amphipoda) 6 loài, Giáp xác chân đều (Isopoda) 2 loài, Giáp xác Tanaidacea 1 loài, Giáp xác lớn 9 loài, Thân mềm 9 loài và Ấu trùng côn trùng 1 loài
- Thực vật ngập mặn: Có 18 loài thực vật có hoa thủy sinh của 11 chi thuộc 8 họ trong hai lớp thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta) Trong hai lớp thực vật có hoa có lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) gồm có 2 họ Trong 18 loài
có hoa thủy sinh đã xác định được thì 7 loài có nguồn gốc từ biển (cỏ biển) và
11 loài có nguồn gốc từ sông Các quần xã thực vật ngập mặn này đã tạo điều kiện cho sự lắng đọng chất hữu cơ và khoáng chất, tạo nên cơ sở thức ăn phong phú cho các loài thủy sinh vật
Bên cạnh đó với điều kiện môi trường thuận lợi của vùng cửa sông đã tạo điều kiện thuận lợi cho thủy sinh vật của vùng này trong đó có các loài
Trang 35thủy sản có giá trị kinh tế phát triển như các loài tôm, cua, hai mảnh vỏ, cá, các loài rong biển…Trong số chúng có những loài cho trữ lượng khai thác cao như tôm He, cá Đối, cá Mú, cá Chẽm, cá Hồng, cua Biển, rong câu,…
3.1.2 Một số vấn đề kinh tế xã hội vùng nghiên cứu
3.1.2.1 Dân số
Vùng nghiên cứu thuộc địa bàn huyện Phú Vang Nếu tính cả khu vực phá Tam Giang – Cầu Hai thì toàn vùng nằm trên địa bàn của 41 xã thuộc 5 huyện (Phong Điền (6 xã), Quảng Điền (8 xã), Hương Trà (2 xã), Phú Vang (14 xã), Phú Lộc (11 xã))
Hiện nay số dân sống bằng nghề thủy sản trên địa bàn trong vùng là 125.000 nhân khẩu Dân số ven biển, đầm phá là nguồn tiềm năng, đồng thời cũng là sức ép đối với xã hội và đối với nguồn tài nguyên trong vùng ven biển cửa sông Thuận An
Ở đây, tỷ lệ tăng dân số đạt khoảng 1,7% cao hơn so với tỷ lệ tăng dân số chung của toàn tỉnh (toàn tỉnh có 1,5%) Mật độ dân cư ở trong vùng cao (350người/km2
) Trong khi đó, mật độ bình quân toàn tỉnh chỉ 226,1 người/km2
.[2,6,8]
3.1.2.2 Lao động
Dân số trong đô ̣ tuổi lao động có 137.779 người, chiếm 21,25% tổng dân số của toàn vùng, phân bố theo 5 huyện như sau: Phú Lộc (33.197 người, chiếm 24,1%), Phú Vang (46.163, người chiếm 33,5%), Hương Trà (16.432 người, chiếm 11,9%), Quảng Điền (25.311 người, chiếm 18,4%), Phong Điền (16.676 người, chiếm 12,1%) Trong tổng dân số lao động chỉ có 129.423 người có công ăn việc làm chiếm 93,94% Số lao động chưa có việc làm là
8356 người, chiếm tỷ lệ 6,06%.[6,8]
Ngành nghề ở đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và khai thác thủy sản Những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản được phát triển nên đã thu hút nhiều lao động ở khu vực nông nghiệp và khai thác thủy sản này Dân
Trang 36số lao động thủy sản ở vùng được phân chia theo các lĩnh vực lao động như sau:
Dân số lao động khai thác đầm phá: 9.726 người, chiếm 26,4% Dân số lao động khai thác biển: 17.035 người, chiếm 26,4% Dân số lao động nuôi trồng thủy sản: 5.838 người, chiếm 16,3%.[6,8]
3.1.2.3 Đời sống kinh tế
Ngư dân vùng ven biển cửa sông Thuận An sống chủ yếu dựa vào ngành thủy sản, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Trong những năm gần đây, việc phát triển mạnh nghề nuôi tôm, cá và đánh bắt xa bờ nên giá trị tổng sản lượng các sản phẩm của vùng có tăng nhanh Tốc độ tăng bình quân giá trị tổng sản lượng các ngành chủ yếu trong vòng 5 năm qua đạt 8,1%, cao hơn mức bình quân tổng sản lượng chung của tỉnh (tỉnh đạt 5,7%) Trong đó, đáng chú ý là ngành thủy sản đạt mức 16 %/năm, có xu hướng phát triển hơn so với các ngành nghề khác.[6,8]
Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng nghề cá còn nghèo, hầu hết chợ cá, bến cá ở phần lớn các địa phương được hình thành tự nhiên, chưa có chợ cá, bến cá xây dựng đúng tính chất để phục vụ hậu cần và dịch vụ cho nghề cá phát triển Trong những năm gần đây, đời sống kinh tế, xã hội của dân cư trong vùng được cải thiện 1 bước Vấn đề cần quan tâm hiện nay là sự gia tăng dân
số, việc khai thác quá mức, nuôi trồng thủy sản không theo quy hoạch,…nên tài nguyên thủy sản ngày bị cạn kiệt, môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng
3.1.2.4 Xã hội
Theo số liệu thống kê về sự phân hoá giàu nghèo: số hộ giàu có 6.254
hộ, chiếm 12%; số hộ khá có 17.291 hộ, chiếm 33%; số hộ đủ ăn có 21.982
hộ, chiếm 42%; số hộ nghèo có 6.682 hộ, chiếm 13% Tuy vậy, sự phân hoá
Trang 37giàu nghèo vẫn còn khá lớn Những gia đình có viện trợ của người thân ở nước ngoài thì có đời sống tốt hơn những hộ nông – ngư nghiệp [6,8]
Văn hoá, giáo dục: Số lượng học sinh đến trường ngày càng nhiều, gây áp lực đối với việc phát triển trường lớp Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” thì trong 10 năm qua, cơ sở hạ tầng giáo dục trong vùng có bước phát triển Đến nay, đã có hơn 144 trường cấp I và 62 trường cấp II, 16 trường phổ thông trung học.[6,8]
Y tế: Các trung tâm y tế huyện được trang bị đầy đủ các phòng chức năng và cơ bản đảm bảo được nhiệm vụ chuyên môn Hiện nay, trên mỗi huyện có 1 trung tâm y tế và 34 trạm y tế trực thuộc 10 xã, thị trấn
Giao thông: Hệ thống giao thông đường bộ đã mở rộng và nâng cấp Các tuyến tỉnh lộ và đường liên huyện, liên thôn, xóm được rải nhựa hoặc cấp phối Ngoài ra, có nhiều thuyền vận tải hàng hoá, chở khách và thuyền đánh
cá cũng tham gia làm phương tiện giao thông đường thủy những lúc cần thiết
3.2 THÀNH PHẦN LOÀI CÁ VÙNG VEN BIỂN CỬA SÔNG THUẬN AN 3.2.1 Danh sách các loài cá vùng ven biển cửa sông Thuận An
Căn cứ vào kết quả định loại, chúng tôi đã lập được danh sách các loài
cá khu vực ven biển cửa sông Thuận An thu được qua các đợt thu mẫu là 143 loài Đối chiếu với kết quả nghiên cứu của Võ Văn Phú và các cộng sự (2005) [23], Tôn Thất Pháp (2009) [19] và một số nghiên cứu khác trong cùng khu vực sau khi chỉnh lý theo hệ thống phân loại của Eschmeyer (1998), chúng tôi
đã xác định được có 110 loài gặp lại Như vậy, dựa trên kết quả nghiên cứu thu được của chúng tôi, kết hợp với các nghiên cứu đã có trong vùng, toàn bộ danh sách các loài đã thống kê ở vùng ven biển cửa sông Thuận An được là
164 loài (Phụ lục 1)
Trang 383.2.2 Cấu trúc và tính đa dạng thành phần loài cá ở vùng ven biển cửa sông Thuận An
Có thể nói khu hệ cá ven biển cửa sông Thuận An có tính đa dạng cao, với 14 bộ, 59 họ, 103 giống và 164 loài Tính đa dạng thể hiện rõ cả ở bậc bộ,
bậc họ, bậc giống và bậc loài (Bảng 2)
- Tính đa dạng về họ ở bậc bộ: Trong số 14 bộ và 59 họ cá đã xác định đƣợc thì bộ cá Vƣợc (Perciformes) chiếm ƣu thế cả về số họ, giống và loài với 29 họ chiếm 49,2% tổng số họ, 54 giống chiếm 52,4% tổng số giống và
104 loài chiếm 63,95% tổng số loài, tiếp đến là bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) 4 họ, bộ cá Chình (Anguilliformes), bộ cá Nheo (Siluriformes), bộ cá Nhái (Beloniformes), bộ cá Mù làn (Scorpaeniformes),
bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) đều có 3 họ Các bộ còn lại mỗi bộ có 1 hoặc 2
họ
- Tính đa dạng về giống ở bậc họ: Trong tổng số 59 họ tìm đƣợc với
103 giống thì họ cá Khế (Carangidae) chiếm số lƣợng giống lớn nhất với 8 giống, chiếm 7,8%, tiếp đến là họ cá Bống trắng (Gobiidae) với 5 giống chiếm 4,9%, họ cá Trích (Clupeidae), họ cá Đối (Mugilidae) đều có 4 giống
chiếm 3,8% Các họ còn lại có từ 3 giống trở xuống (Bảng 3)
- Tính đa dạng về loài ở bậc giống: Trong tổng số 103 giống cá thu
đƣợc, có 1 giống (Leiognathus) có 8 loài; 1 giống (Epinephelus) có 6 loài; giống (Lutjanus), giống (Oxyurichthys) có 5 loài; 3 giống có 4 loài; 7 giống
có 3 loài; 17 giống có 2 loài và có tới 73 giống (71%) chỉ có 1 loài
- Tính đa dạng về bậc loài: Trong danh sách 164 loài cá thu đƣợc thì bộ
cá Vƣợc (Perciformes) chiếm ƣu thế hơn cả với 110 loài chiếm 63,95% tổng
số loài Tiếp đến là bộ cá Trích (Clupeiformes) , bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) và bộ cá Nóc (Tetraodontidae) đều có 9 loài, bộ cá Chình
Trang 39(Anguiliformes) và bộ cá Nhái (Beloniformes) đều có 7 loài, bộ cá Nheo
(Siluriformes) có 5 loài Các bộ còn lại chỉ có từ 1 đến 4 loài (Bảng 2)
Bảng 2 Số lƣợng và tỉ lệ % các họ, giống , loài có trong các bộ
Số lƣợng %
Số lƣợng %
Trang 40Tổng 59 100 103 100 164 100
Như vậy trung bình mỗi bộ có 4,21 họ; 7,43 giống và 11,71 loài
Trong đó có 4 bộ chỉ có 1 họ với số loài trong các họ từ 3 loài trở xuống Mỗi
họ trung bình có 1,75 giống; 2,83 loài
Bảng 3: Số lượng giống, loài có trong các họ
giống loài Số
Số giống trong từng họ có số lượng loài
tương ứng là Tên tiếng Việt Tên khoa học loài 1 loài 2 loài 3 loài 4 loài 5 loài 6 loài 7 loài 8