Hành vi bạo lực học đường thường được diễn ra một cách cố ý nhằm gây thiệt hại cho người khác làm ảnh hưởng đến tinh thần, thể chất, sức khỏe, sự nhạy bén của nạn nhân và những người xun
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC
VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Lớp học phần: 420300319815 Nhóm: 9
GVHD: Lưu Thế Vinh
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2022
Trang 2KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
TỔ GIÁO DỤC HỌC
BẢN CHẤM ĐIỂM TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
(ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU)
Học kỳ 1 năm học 2020 - 2021 Lớp: DHDTTM14B Nhóm: 9
Đề tài: Nguyên nhân dẫn đến thực trạng bạo lực học đường và biện pháp khắc phục
Điểm tiểu luận nhóm
Trang 3khảo
Số lượng/ chất lượng tài
Trình bày danh mục
Điểm của các thành viên
(b) Điểm tổng kết (a+b)
CLO 4
1 Trịnh Thị Lan Anh /1.0
2 Nguyễn Phạm Bằng /1.0
3 Nguyễn Dương Thanh Dự /1.0
4 Bùi Huy Hoàng /1.0
Trang 4BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2022
Trang 51
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2
PHẦN MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Các khái niệm 5
1.1.1 Khái niệm bạo lực học đường 5
1.1.2 Khái niệm tham vấn, tư vấn học đường, trị liệu tâm lý 7
1.1.3 Khái niệm đặc điểm giao tiếp của HS THCS có hành vi BLHĐ 8
1.1.4 Khái niệm phòng, chống bạo lực học đường 8
1.2 Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường 8
1.2.1 Tình hình nghiên cứu thực trạng nguyên nhân dẫn đến bạo lực trong nước và ngoài nước 9
1.2.1.1 Tình hình trong nước: 9
1.2.1.2 Tình hình ngoài nước: 15
1.2.2 Tình hình hậu quả của bạo lực học đường 16
1.3 Biện pháp khắc phục bạo lực học đường 17
1.3.1 Tình hình trong nước 17
1.3.2 Tình hình phòng chống ngoài nước: 20
1.4 Những vấn đề/ khía cạnh còn chưa nghiên cứu: 21
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP 21
2.1 Nội dung nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
CHƯƠNG 3 KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 22
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC 1 26
PHỤ LỤC 2 28
Trang 6MỤC LỤC BẢNG
Bảng 1.1: Đánh giá của học sinh trung học cơ sở thành phố Vũng Tàu về nguyên nhân gây bạo lực học đường ở
học sinh trung học cơ sở 10
Bảng 1.2: Nội dung giao tiếp của HS THCS có HVBLHĐ ở thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ [6] 11
Bảng 1.3: Mức độ biểu hiện hành vi bạo lực học đường từ phương diện người thực hiện 14
Bảng 1.4: Đánh giá của học sinh với biện pháp khắc phục ở trường học 17
Bảng 1.5: Đánh giá của học sinh với biện pháp khắc phục tại gia đình 18
Bảng 1.6: Đánh giả của học sinh với biện pháp khắc phục tại xã hội 18
Bảng 3.1: Kế hoạch thực hiện đề tài 22
Bảng 3.2: Đánh giá mức độ hoàn thành của các thành viên 23
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
Trang 73
NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG “BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG” VÀ BIỆN
PHÁP KHẮC PHỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài/ tính cấp thiết của đề tài:
Bạo lực học đường là vấn đề không còn mới mẻ, trong những năm gần đây hiện tượng này diễn ra rất nhiều với mức độ nghiêm trọng và tính chất rất phức tạp Bạo lực học đường không chỉ xảy ra giữa học sinh với học sinh mà xảy ra đối với cả giáo viên và học sinh, bạo lực học đường xảy ra ở khu vực không phân biệt thành phố hay nông thôn và xảy ra ở mọi cấp độ trường học những phổ biến nhất là ở độ tuổi cấp trung học cơ sở (THCS), đầu cấp trung học phổ thông (THPT)
Hành vi bạo lực học đường thường được diễn ra một cách cố ý nhằm gây thiệt hại cho người khác làm ảnh hưởng đến tinh thần, thể chất, sức khỏe, sự nhạy bén của nạn nhân và những người xung quanh, hành vi được nghiên cứu một khía cạnh trong nước quan tâm ảnh hưởng đến nguyên nhân bạo lực học đường, từ sau sự nghiên cứu giữa 2 yếu tố chủ quan và khách quan, phân tích
về hành vi BLHĐ của học sinh: yếu tố chủ quan về cảm xúc mức căng thẳng tâm lý, kỹ năng giao tiếp tiếp nhận thông tin, nhận thức về hành vi bạo lực , yếu tố khách quan: cha mẹ, mối quan hệ tình bạn, hình phạt của cha mẹ khi học sinh mắc lỗi, trò chơi bạo lực [1]
Vì những ảnh hưởng vô cùng khó lường mà bạo lực học đường để lại nhóm đã quyết định chọn đề tài “Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường” nhằm nghiên cứu, phân tích, chỉ ra các nguyên nhân xảy ra vấn nạn trên, giúp mọi người nắm thêm thông tin để đưa ra các giải pháp
và tránh né tối ưu nhất các nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường góp phần làm giảm tình trạng bạo lực học đường dang diễn ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu chính:
Đề tài “nguyên nhân dẫn đến thực trạng bạo lực học đường và biện pháp khắc phục” có mục tiêu là nhằm tìm ra những nguyên nhân, yếu tố dẫn đến tình trạng bạo lực học đường của học sinh cả trong và ngoài nước để giúp đưa ra các biện pháp khắc phục Nhóm mong muốn có thể giúp những học sinh có biện pháp đối phó khi gặp phải tình trạng bạo lực học đường đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng theo chiều hướng tiêu cực hơn rất nhiều
2.2 Mục tiêu cụ thể:
Trang 8- Tham khảo tài liệu, khảo sát một số trường trong nước và ngoài nước từ để xác định các nguyên nhân, yếu tố dẫn đến tình trạng bạo lực học đường
- Xem xét mức độ ảnh hưởng của những nguyên nhân, yếu tố gây ra tình trạng bạo lực học đường dựa theo bảng khảo sát trong tài liệu
- Đánh giá và đưa ra kết luận những nguyên nhân ảnh hưởng nhiều nhất đến tình trạng bạo lực học đường
3 Câu hỏi nghiên cứu
Dựa vào những nguyên nhân từ tài liệu tham khảo nhóm đưa ra các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bạo lực học đường là gì?
- Cần khảo sát ở những trường học có đặc điểm như thế nào để tìm ra nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường?
- Môi trường sống có ảnh hưởng ra sao đến bạo lực học đường?
- Kinh tế gia đình có ảnh hưởng như thế nào?
- Hình thức kỷ luật các học sinh vi phạm có ảnh hưởng như thế nào?
- Tâm lý của những học sinh là nạn nhân của bạo lực học đường là như thế nào?
- Học sinh là nạn nhân của bạo lực học đường thường có đặc điểm như thế nào?
- Các tệ nạn xã hội có ảnh hưởng ra sao?
- Sự khác nhau giữa các vùng miền của học sinh có ảnh hưởng như thế nào?
- Tỉ lệ tiếp xúc với game hoặc phim ảnh bạo lực của học sinh là bao nhiêu?
- Mâu thuẫn trên mạng xã hội có là nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường không?
- Cách ứng xử có xu hướng bạo lực của giáo viên có ảnh hưởng như thế nào đến hành
vi bạo lực của học sinh với bạn bè?
- Ngôn từ trong giao tiếp ảnh hưởng như thế nào?
- Học sinh có phản ứng thế nào khi thấy bạo lực học đường?
- Giả sử bạn là nạn nhân của bạo lực học đường vậy những hành động nào được cho là bạo lực học đường?
- Những bất lợi về Kinh tế-Chính trị có được coi là một nguyên nhân?
- Trong các nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường nguyên nhân nào ảnh hưởng lớn nhất?
- Nhà trường có trách nhiệm như thế nào với tình trạng bạo lực xảy ra ở trường?
Trang 95
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là nguyên nhân gây BLHĐ và biện pháp phòng chống BLHĐ trên các học sinh và giáo viên:
Những nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường ở học sinh và giáo viên
Những yếu tố (trường học, gia đình, xã hội) tác động đến bạo lực học đường
Những biện pháp khắc phục hành vi bạo lực học đường
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Tìm kiếm nguồn tại liệu uy tín ở các tạp chí, cổng thông tin chính phủ
- Các tài liệu nhóm thu thập được là những tài liệu có số liệu thống kế từ 2009 đến 2020 nhằm đưa ra những số liệu thống kê gần đây nhất về những nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Từ các nguồn tài liệu tham khảo đã cho thấy được những nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực học đường của học sinh, làm nổi bật các con số tỉ lệ và mức độ ảnh hưởng của nguyên nhân, yếu tố đó, giúp cho mọi người có cái nhìn bao quát nhất về những hành vi bạo lực học đường của giáo viên, học sinh
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Bạo lực học đường vẫn đang là vấn đề khá nan giải đối với nhà trường và gia đình của học sinh Đề tài “những nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường” đưa ra các nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường để mọi người có được những thông tin hữu ích về vấn đề này để có thể tránh né,tuyên truyền các kỹ năng và tìm ra các biện pháp khắc phục nhằm ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm bạo lực học đường
Theo Furlong & Morrison, đến năm 1992, khái niệm “BLHĐ” mới được sử dụng rộng rãi như một thuật ngữ để mô tả những hành động bạo lực và căng thẳng trong trường học Thuật ngữ
Trang 10BLHĐ (Violence School) được hiểu là “khái niệm gồm nhiều khía cạnh liên quan đến thủ phạm gây ra bạo lực và nạn nhân bị bạo lực, từ các hành vi chống đối xã hội đến cả hành vi phạm tội
và gây hấn trong trường học ngăn cản sự phát triển và học tập, cũng như làm ảnh hưởng đến môi trường học đường, bao gồm cả sự khiếp sợ/ lo lắng, sợ hãi, kỉ luật/ môi trường học đường và các khía cạnh khác [2]
Theo Phan Thị Mai Hương BLHĐ là thuật ngữ dùng để chỉ những hành vi bạo lực trong môi trường học đường hoặc những hành vi bạo lực của lứa tuổi học đường, bao gồm hàng loạt các hành vi bạo lực với các mức độ khác nhau, từ không lời đến có lời, từ hành động đơn giản đến những hành động thù địch, gây hấn, phá phách, gây tổn thương tâm lí, thậm chí tổn hại đến thể chất của người khác [2]
Theo Huỳnh Văn Sơn: “BLHĐ là một thuật ngữ dùng để chỉ các hành động làm tổn hại đến thể chất, tinh thần và vật chất của người khác dưới những hình thức khác nhau diễn ra trong môi trường học đường” [3]
Theo Nguyễn Văn Tường: “BLHĐ là hệ thống xâu chuỗi lời nói, hành vi mang tính miệt thị, đe dọa, khủng bố người khác” [2]
Theo Nguyễn Thị Mai Hương và Nguyễn Thu Hà, BLHĐ là hành vi dùng ngôn ngữ, cử chỉ
và hành động gây tổn thương về thể chất và tinh thần của người khác trong môi trường học đường; BLHĐ thường là hành vi có ý thức, nhưng đôi khi cũng là hành vi vô tình, chưa có suy xét đầy đủ của người thực hiện [2]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bạo lực là việc “cố ý dùng sức mạnh thể chất hoặc
uy quyền để đe dọa hoặc thực hiện hành vi chống lại bản thân, người khác hoặc một nhóm người hay một cộng đồng, làm gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát” [4]
- Bạo lực học đường có thể chia làm hai hình thức là trực tiếp (thể lý) và gián tiếp (cảm xúc, tâm
lý, tương quan) BLHĐ cũng có thể được phân chia theo các khía cạnh như: về mặt thể lý (đánh, đấm, ), về mặt ngôn từ (đe dọa bằng ám hiệu, chửi bới, sỉ nhục, ), vê mặt tương quan (cách ly,
cô lập, không cho chung nhóm, ) và thông qua phương tiện, truyền thông (đe dọa, quấy rối, sỉ nhục, mạo danh qua điện thoại, internet, các mạng xã hội, ) (Theo Th.s Lê Thị Xuân)
Trang 117
- Theo quan điểm của nhóm em BLHĐ là hành vi, tác động, lời nói của giáo viên gây ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh hay của học sinh gây ảnh hưởng tiêu cực đến giáo viên hoặc học sinh khác
về mặt thể chất, tinh thần
1.1.2 Khái niệm tham vấn, tư vấn học đường, trị liệu tâm lý
Tư vấn (Consultation) được xem như một quá trình tham khảo về lời khuyên, hay sự trao đổi quan điểm về vấn đề nào đó để đi đến một quyết định phù hợp với hoàn cảnh và đặc điểm cá nhân (theo Ths Lê Thị Xuân) [5]
Tham vấn là một kỹ thuật trợ giúp trong công tác xã hội và việc cho lời khuyên là một trong những thủ thuật cơ bản của tham vấn Tham vấn tâm lý là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn - người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức và yêu cầu nghề nghiệp của nghề tham vấn - với thân chủ - người đang có vấn đề khó khăn về mặt tâm lỷ cần được giúp đỡ Thông qua sự chia sẻ, trao đổi thân mật trong một bầu không khí tâm lý an toàn (an toàn về mặt tâm lý), dựa trên những nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ nghề nghiệp, thân chủ hiêu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng và nguồn lực bản thân đê giải quyết vấn đề của chính mình (theo Ths Lê Thị Xuân) [5]
Tham vấn học đường là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (chuyên viên tham vấn tâm lý, giáo viên, ) với HS, phụ huynh HS, và các lực lượng giáo dục khác trong nhà trường (gọi là thân chủ), trong đố đối tượng chủ yếu là HS - người đang gặp các vấn đề khó khăn trong học tập, mối quan hệ liên nhân cách (mối quan hệ bạn bè, thầy - trò, cha mẹ, ) cần sự giúp đỡ Thông qua sự lắng nghe, chia sẻ cởi mở, thấu cảm, tôn trọng sự khác biệt và bầu không khí tâm
lý an toàn, cùng những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, HS hiểu và chấp nhận thực tế của minh,
tự tìm thấy tiềm năng và nguồn lực của bản thân đê giải quyết vân đê của chính mình.(theo Ths
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 12nhằm hồ trợ thân chủ tự nhận diện vấn đề của họ, tự nhìn thây tiêm năng và sức mạnh bản thân
và các nguồn lực xung quanh để tự tháo gỡ các nan đề của chính họ hoặc nhận diện và trải nghiệm các cách thức “sống chung” với vấn đề của chính họ (Theo Th.s Lê Thị Xuân) [5]
1.1.3 Khái niệm đặc điểm giao tiếp của HS THCS có hành vi BLHĐ
Là những nét riêng biệt nổi bật trong giao tiếp (nhu cầu giao tiếp, nội dung giao tiếp, đối tượng giao tiếp, khách thể giao tiếp, phạm vi giao tiếp, phương tiện giao tiếp, hình thức giao tiếp,…) của những HS có độ tuổi từ 11-15, đang học từ lớp 6 đến lớp 9 ở các trường THCS có hành vi cố ý sử dụng sức mạnh vũ lực, quyền lực, lời nói, cử chỉ, gây nên những tổn thương về mặt thể xác, tinh thần cho giáo viên và HS khác trong phạm vi trường học (Theo Nguyễn Thị Mai Hương) [6]
1.1.4 Khái niệm phòng, chống bạo lực học đường
Mục tiêu tổng quát của Chương trình hành động phòng, chống BLHĐ của Bộ GD-ĐT ghi rõ: “Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và kịp thời xử lí các hành vi vi phạm nhằm giảm thiểu BLHĐ” (Bộ GD-ĐT, 2017b)
Điều 6 của Quy định của Chính phủ về môi trường GD cũng xác định: Phòng, chống BLHĐ bao gồm “biện pháp phòng ngừa BLHĐ”, “biện pháp hỗ trợ người học có nguy cơ bị BLHĐ” và
“biện pháp can thiệp khi xảy ra BLHĐ” (Chính phủ, 2017)
Như vậy, có thể hiểu: Phòng, chống BLHĐ là phòng ngừa; phát hiện, ngăn chặn nguy cơ BLHĐ để không xảy ra và can thiệp, xử lí kịp thời khi xảy ra BLHĐ [7]
Hoạt động phòng chống bạo lực học đường là các hoạt động nhằm ngăn chặn nguy cơ xảy
ra và can thiệp, kịp thời xử lí kịp thời khi xảy ra các hành vi hành hạ, đánh đập, xâm hại thân thể, lăng mạ danh dự… của học sinh trong môi trường học đường [7]
1.2 Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường
Từ các tài liệu tham khảo có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường từ bốn nguyên nhân chính do bản thân, do gia đình, do môi trường sống, do trường học đó là:
- Nguyên nhân do bản thân:
Nguyên nhân sở thích cá nhân, cách ăn mặc
Nguyên nhân do game online, mạng xã hội
Nguyên nhân do cách giao tiếp, ứng xử với bạn bè, thầy cô
Trang 139
- Nguyên nhân do gia đình:
Nguyên nhân do cha mẹ ly hôn
Nguyên nhân do thiếu sự quan tâm, thiếu định hướng của gia đình
Nguyên nhân do kinh tế gia đình
- Nguyên nhân do môi trường sống:
Nguyên nhân do chứng kiến những bạo lực tại địa phương
Nguyên nhân do các tệ nạn xã hội
- Nguyên nhân do trường học:
Nguyên nhân do giới tính
Nguyên nhân do khối học
Nguyên nhân do hình thức kỉ luật của nhà trường
Nguyên nhân do những nhóm bạn không chính thức
1.2.1 Tình hình nghiên cứu thực trạng nguyên nhân dẫn đến bạo lực trong nước và ngoài
nước
1.2.1.1 Tình hình trong nước:
Trong tài liệu [1] chỉ ra hành vi bạo lực học đường thường được diễn ra một cách cố ý nhằm gây thiệt hại cho người khác làm ảnh hưởng đến tinh thần, sự nhạy bén của nạn nhân và những người xung quanh chứng kiến Điều này được thông qua việc khảo sát tại trường trung học phổ thông với hơn 365 học sinh tại ở thành phố Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nghệ An vào năm 2011-2012 với những nguyên dẫn đến bạo lực học đường là do học sinh nhận thức sai lầm về bạo lực cứ nghĩ dùm bạo lực mới giải quyết vấn đề giữa các học sinh với nhau, ngoài ra việc căng thẳng tâm lý của nhà trường áp lực trong việc học tập và các hình phạt nhà trường đưa ra,
kỹ năng năng giao tiếp cũng dễ gay bạo lực học đường giữa các học sinh bạn bè cha mẹ hơn khi
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 14Hiện tượng mắng chửi ở học sinh: Hành vi bạo lực của học sinh còn phổ biến dưới hình thức mắng chửi lẫn nhau: 89,8% học sinh thuộc mẫu khảo sát có ít nhất một lần Trong đó, 43,7% học sinh có hành vi mắng chửi nhau từ một đến 7,5 lần; 30,1% học sinh có hành vi mắng chửi lẫn nhau từ 8 đến 13,5 lần và 16% học sinh có trên 13 lần mắng chửi lẫn nhau Tính trung bình mỗi học sinh đã trải qua 7,5 lẫn mắng chửi lẫn nhau [1]
Hiện tượng doạ nạt lẫn nhau ở học sinh: Ngoài hành vi đánh nhau, BLHĐ còn xảy ra rất phố biến dưới hình thức học sinh doạ nạt lẫn nhau: 48,5% học sinh thuộc mẫu khảo sát đã doạ nạt hoặc bị doạ nạt ít nhất một lần Trong đó, 21,1% học sinh đã doạ nạt hoặc bị doạ nạt từ 1 đến
2 lần; 12% học sinh trải qua hành vi này từ 2 – 5 lần và 15,4% học sinh đã trải qua trên 5 lần doạ nạt hoặc bị doạ nạt Tính trung bình mỗi học sinh đã trả qua hành vi này 2 lần Hiện tượng dọa nạt giữa học sinh với học sinh có sự khác biệt về giới Học sinh nam dọa nạt nhau nhiều gấp hai lần học sinh nữ [1]
Trong [5] bài nghiên cứu này sử dụng dụng cụ nghiên cứu là phiếu khảo sát dành cho học sinh của 5 trường tham gia khảo sát và thang khảo sát là những câu hỏi mở đến giáo viên là học sinh của một số trường THCS thành phố Vũng tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhằm thu thập ý kiến
về vấn đề nghiên cứu Sau khi thu thập kết quả, phân tích từ phiếu khảo sát tác giả đã chỉ ra các biểu hiện của bạo lực học đường là: đánh nhau, tổ chức đánh nhau, trấn lột tiền bạc, xúc phạm bằng lời nói, đe dọa bằng ám hiệu, và chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường ở học sinh trung học cơ sở thành phố Vũng Tàu đó là: nhu cầu khẳng định bản thân (Muốn mọi người khen, thể hiện bản lĩnh, ): 49,4%, ảnh hưởng của phim và game bạo lực: 53,1%, ảnh hưởng của các trò chơi bạo lực: 55,6%, thiếu tình thương và sự quan tâm của gia đình: 48,1%, người gây bạo lực là nạn nhân của bạo hành gia đình (Ở nhà hay bị cha mẹ, người lớn trách phạt, chửi mang, đánh đập, ép làm việc quả khả năng và không mong muốn): 49,4%, thiếu kỹ năng sống, muốn gây chú ý và được mọi người quan tâm: 30%
Bảng 1.1: Đánh giá của học sinh trung học cơ sở thành phố Vũng Tàu về nguyên nhân gây bạo lực học đường ở học sinh trung học cơ sở [5]
Trang 1511
5 Người gây bạo lực là nạn nhân của bạo hành gia đình (Ở nhà hay bị
cha mẹ, người lớn trách phạt, chửi mang, đánh đập, ép làm việc quả
khả năng và không mong muốn)
49,4
Trong tài liệu [6] bài nghiên cứu được thực hiện bằng các phương pháp: nghiên cứu lí luận, quan sát, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và thống kê toán học để xử lí kết quả khảo sát, kết quả khảo sát cho thấy rằng nội dung giao tiếp của học sinh có hành vi bạo lực học đường
ở tỉnh Phú Thọ khá phong phú nhưng chủ yếu vẫn xoay quanh những nội dung giới trẻ khá quan tâm điển hình là nội dung giao tiếp liên quan đến liên quan đến cá nhân (bạn cùng giới, khác giới, phong cách ăn mặc, game online, mạng xã hội…) chiếm tỉ lệ khá cao trên 30% trong khi những nội dung liên quan đến học tập ở trường chưa được học sinh quan tâm nhiều Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường là do tiếp xúc với game bạo lực và mạng xã hội làm cho khó kiểm soát hành vi dẫn đến BLHĐ ngoài thực tế Nguyên nhân tiếp theo là do cá nhân (sở thích, phong cách, lối sống, ngôn ngữ giao tiếp) thích tạo cái uy để lấn át bạn cùng trang lứa Nguyên nhân thứ ba là do sự buông lỏng quản lí của gia đình (thiếu phát triển định hướng) làm cho các
em lệch lạc trong giao tiếp ứng xử với thầy cô, bạn bè
Bảng 1.2: Nội dung giao tiếp của HS THCS có HVBLHĐ ở thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ [6]
bậc
1 Nội dung giao tiếp liên quan tới học tập (nội dung
môn học, phương pháp học, hình thức học, thuận lợi,
khó khăn trong học tập…)
2 Nội dung liên quan tới các hoạt động khác của nhà
trường: Hoạt động văn thể, mít tinh, giao lưu câu lạc
bộ…
3 Nội dung liên quan tới cách ứng xử, thái độ, giao
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 164 Nội dung liên quan tới các vấn đề kinh tế, văn hóa,
8 Nội dung liên quan tới cá nhân (sở thích cá nhân,
10 Nội dung liên quan tới các vấn đề “hot” của giới trẻ
Đặc điểm nổi bật trong nội dung giao tiếp của HS THCS có HVBLHĐ ở địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ là các em quan tâm đặc biệt tới game bạo lực, xu hướng thời trang… (nội dung liên quan tới các vấn đề “hot” của giới trẻ), nội dung liên quan tới cá nhân (sở thích cá nhân, phong cách, lối sống…), nội dung liên quan tới nhóm bạn không chính thức những nội dung này lần lượt xếp ở thứ bậc 1, 2, 3 cụ thể: Xếp ở vị trí số 1 là nội dung giao tiếp liên quan tới các vấn đề “hot” của giới trẻ (game bạo lực, thời trang, mạng xã hội…) Nội dung giao tiếp này chiếm tới 98,21% (55/56 HS) nội dung giao tiếp chung của các em, xếp ở vị trí thứ 2 là nội dung giao tiếp liên quan tới cá nhân các em (sở thích cá nhân, phong cách, lối sống…) nội dung giao tiếp này chiếm 96,42 % (54/56 HS), xếp ở vị trí thứ 3 là nội dung giao tiếp liên quan đến nhóm bạn không chính thức chiếm tỉ lệ 92,85% (52/56 HS)
Trong tài liệu [8] các tác giả tiến hành nghiên cứu mô tả tại một thời điểm trong thời gian 4-5/2017 trên tổng số 254 học sinh đang theo học ở 4 khối lớp 6, 7, 8, 9 tại một trường trung học
cơ sở tại tỉnh Phú Yên Sử dụng phương pháp lấy mẫu cụm, đơn vị cụm là lớp Có 9 lớp được chọn bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên Lấy toàn bộ số học sinh đang theo học tại các lớp
đã chọn Gồm 3 phương pháp nghiên cứu là phương pháp thu thập số liệu, phân tích toán thống
kê và đạo đức nghiên cứu Bài này đưa ra 4 nguyên nhân chính dẫn đến bạo lực học đường, Đặc điểm cá nhân vẫn là nguyên nhân số 1 (về hạnh kiểm, học lực, giới tính và khối lớp của học sinh ) Những học sinh từ khối lớp 7 đến khối lớp 9 có tỉ lệ bị bắt nạt cao hơn so với học sinh lớp 6 Học sinh có học lực và hạnh kiểm từ khá trở xuống có tỉ lệ bị bắt nạt cao hơn so với học sinh có học lực giỏi Nguyên nhân về gia đình chiếm vị trí số 2 liên quan tới các yếu tố như nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân của cha mẹ, kinh tế gia đình, học sinh sống chung với ai, mức độ quan tâm của gia đình, mức độ học sinh chứng kiến bạo hành gia đình và mức độ bị người thân
Trang 1713
la mắng, đánh đập Phần lớn học sinh có cha, mẹ có trình độ học vấn trung học cơ sở (49,4% và 41,1%) Nghề nghiệp chủ yếu của cha, mẹ học sinh là làm ruộng/ làm rẫy (77,8% và 79,8%) Hầu hết cha mẹ học sinh đang sống chung với nhau (94,4%) Học sinh sống chung với cả cha và
mẹ là chủ yếu (89,5%) Đa số gia đình học sinh có tình trạng kinh tế từ trung bình khá trở lên (46,5%) Phần lớn học sinh nhận được sự quan tâm từ gia đình, trong đó 64,5% cho là rất quan tâm và 31,1% là quan tâm, có 0,8% cho rằng không được gia đình quan tâm Trong 12 tháng qua,
đa số học sinh không chứng kiến bạo lực gia đình (60,1%), nhưng có tới 51,6% học sinh trả lời
đã bị người thân la mắng đánh đập, trong đó 6,8% học sinh bị la mắng, đánh đập với mức độ thường xuyên Nguyên nhân về môi trường sống xếp ở vị trí thứ 3 (mức độ đánh nhau, cãi nhau tại nơi sinh sống và tệ nạn xã hội) Khu vực sinh sống của học sinh hiếm khi xảy ra các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, cướp giật (71,4%), tuy nhiên vẫn có 5,2% khu vực thường xuyên xảy
ra tệ nạn xã hội Học sinh sống trong khu vực không có đánh nhau hoặc cãi nhau có tỉ lệ bị bắt nạt thấp hơn 44% so với những học sinh sống trong khu vực có xảy ra đánh nhau hoặc cãi nhau (p < 0,01) Tương tự, không có các tệ nạn xã hội như bài bạc, trộm cắp, cướp giật có tỉ lệ bị bắt nạt thấp hơn 32% so với học sinh sống trong khu vực có xảy ra tệ nạn xã hội (p = 0,02) Nguyên nhân về nhà trường xếp vị trí thứ 4 (mối quan hệ với giáo viên,học sinh sống cô lập và chứng kiến bắt nạt tại trường học) Có 52% học sinh nhận định có mối quan hệ tốt với thầy cô Hầu hết học sinh sống hòa đồng với bạn bè ở trường có 2,4% học sinh sống cô lập một mình và không nhận được sự giúp đỡ từ bạn bè Phần lớn học sinh có chứng kiến bắt nạt học đường (68,6%), trong đó có 23,8% học sinh chứng kiến với mức độ thường xuyên
Kết quả từ mô hình BMA trong [8] cho thấy có 3 yếu tố liên quan đến bị bắt nạt ở học sinh đó là học lực của học sinh, kinh tế gia đình, đánh nhau và cãi nhau tại khu vực sinh sống
Downloaded by út bé (beut22834@gmail.com)
Trang 18Hình 1.1: Biểu đồ tiên lượng học sinh bị bắt nạt theo mô hình BMA (Bayesian Model
Average) 1.2.2.1.a Biểu hiện của hành vi bạo lực học đường
Bảng 1.3: Mức độ biểu hiện hành vi bạo lực học đường từ phương diện người thực hiện [4]
Loại bạo
lực
thực hiện