I Tây Tiến Bài làm 1 Tây Tiến biên cương mờ lửa khói Quân đi lớp lớp động cây rừng Và bài thơ ấy con người ấy Vẫn sống muôn đời với núi sông (Giang Nam) Qủa thật, dẫu mảnh đất Tây Bắc đã để thương, để nhớ cho biết bao thi nhân, đi vào thơ ca như một người đồng hương quen mặt thì Tây Tiến của Quang Dũng vẫn đứng nghiêm trang trên một hòn ốc đảo độc lập, ghi vào thơ ca kháng chiến một thi phẩm xứng tầm với danh xưng “vĩnh cửu” Có lẽ bởi Quang Dũng không chỉ là một người lính cầm súng đánh giặc,.
Trang 1Nhân vật chính của đoạn thơ: binh đoàn tây tiến - binh đoàn nơi Quang Dũng công tác được thành lâp năm 1947, hoạt động chủ yếu ở vùng núi cao Tây Bắc với sứ mệnh bảo vệ vùng biên giới
việt lào Tới năm 1948, khi phải rời xa đơn vị cũ, tại làng phù lưu chanh, tác giả đã chắp nỗi nhớ, nỗi
hoài niệm những buồn vui gian khổ về Tây Tiến thành vần thơ và cho ra đời bài thơ Tây tiến Cũng
bởi phần đông chiến sĩ của đoàn binh là các học sinh, sinh viên, thanh niên của thủ đô hà nội nên giữa
mùi khói lửa chiến tranh, trong điều kiện hết sức gian khổ, thiếu thốn dòng ký ức được tại hiện trong
bài thơ tràn ngập màu lạc quan kiên cường anh dũng và hào hoa Ban đầu bài thơ mang tên “ Nhớ Tây
Tiến”, nhưng về sau lại đổi thành “ Tây Tiến” Hai tiếng “Tây Tiến” vang lên tạo ra âm hưởng mạnh
mẽ, chắc khỏe gợi cho độc giả hình dung về một binh đoàn anh hùng, gợi mở về không gian rộng lớn
của vùng núi Tây Bắc đồng thời bước đầu dẫn dắt người đọc đến với chân dung, hình tượng kiêu
hùng của những người lính Tây Tiến năm xưa Phải chăng nhà thơ đã xoá đi từ “ nhớ” để khúc ca
chiến sĩ sẽ trở nên hoành tráng hơn? Để nỗi nhớ xuyên suốt, rạo rực như mạch máu nóng đưa tác giả
trở về hồi ức năm ấy?
Mở đầu hành trình trở về Tây Tiến, đó là nỗi nhớ thiên nhiên Tây Bắc hiểm trở hùng vĩ cùng với chặng đường hành quân đầy gian khổ của binh đoàn Tây Tiến Mà con sông Mã đã mở đầu
cho nguồn cảm xúc chủ đạo bao quat toàn bài thơ:
“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Sông Mã là dòng sống chảy từ Thượng Lào vào đất Việt, là hình ảnh của thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ, là dòng sông lắm thác nhiều ghềnh Tác giả đã gọi tên con sông Mã ở đầu tiên
trong nỗi nhớ của mình vì con sông còn là người bạn , là nhân chứng lịch sử đã theo suốt chặng
đường hành quân chứng kiến biết bao buồn vui, mất mát hi sinh của người lính Tây Tiến “ Xa rồi” là
xa về không gian và thời gian, được đặt ở giữa hai địa danh sông Mã và Tây Tiến tạo nên khoảng
không xa xăm, mênh mông vời vợi Tây Tiến và sông Mã đứng ở hai đầu nỗi nhớ mà hướng về nhau
Cách gọi “ Tây Tiến ơi” gợi lên sự thân thương gần gũi đưa người đọc đến một nỗi nhớ da diết Đó là
nỗi nhớ đồng đội, nhớ núi rừng Tây Bắc Tác giả dùng rất độc đáo và chính xác sắc thái của nỗi nhớ
qua từ láy “chơi vơi “ Đó là nỗi nhớ không hình, không tượng nhưng cũng rất sâu nặng và mênh
mang Bởi nó không đo được chỉ biết lửng lơ, ám ảnh trong tâm trí của thi nhân Chúng ta cũng từng
gặp nỗi nhớ ấy trong ca dao:
“ Ra về nhớ bạn chơi vơi Nhớ chiếu bạn trải, nhớ chăn bạn nằm”
Hay trong thơ của Xuân Diệu cũng từng xuất hiện một nỗi nhớ độc đáo thế:
“ tương tư nâng lòng lên chơi vơi”
Câu thơ bảy chữ ngắt nhịp 4/3 và điệp từ nhớ được đặt ở đầu hai vế câu đã diễn tả một nỗi nhớ da diết cháy bỏng như từng đợt sóng trong lòng, nỗi nhớ này chưa qua thì nỗi nhớ khác đã ùa về
trào dâng trong ký ức của nhà thơ Hai câu thơ sử dụng hai vần “ơi” âm tiết mở lại là thanh bằng tạo
Trang 2âm hưởng vang vọng ngân xa trong cả không gian, thời gian đều ngập tràn trong nỗi nhớ Dường như Quang Dũng đã đưa người đọc vào miền của nỗi nhớ- một cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ
Những kí ức mãnh liệt ấy khép lại nhưng lại như mở ra trước mắt người đọc một hành trình mới với những con người anh dũng, quả cảm của một thời lịch sử đã qua Và cứ như thế những kí ức
về chặng đường hành quân đầy vả và gian khổ hiện lên trong tâm trí của nhà thơ Nó đã được Quang Dũng khắc hoạ thành một bức tranh sinh động và không kém phần hùng vĩ nơi Tây Bắc:
“ Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Trong đoạn thơ trên, tác giả đã liệt kê một loạt các địa danh bản làng : Sài Khao, Mường Lát, Đây là những địa danh rất quen thuộc gắn bó với binh đoàn Tây Tiến Từ đó, Quang Dũng như đưa người đọc khám phá về nhưng mảnh đất mới xa xôi, heo hút lạ lẫm của Tổ Quốc Không phải ngẫu nhiên
mà ông viết thế bởi có lẽ :
“ khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”
Ấn tượng đâu tiên về núi rừng Tây Bắc đó là màn sương mù dày đặc bao phủ Sài Khao Đó không chỉ
là màn sương của thiên nhiên mà còn là màn sương của kí ức, hoài niệm và nỗi nhớ.” Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi” Qua bút pháp tả thực “ đoàn quân mỏi” gợi lên hình ảnh về một binh đoàn Tây Tiến đang thấp thoáng ẩn hiện trong màn sương trên một chặng đường hành quân gian lao và vất vả Câu thơ ngắt nhịp 4/3 khiến trọng tâm câu thơ rơi vào từ “ lấp” gợi tả được mà sương mênh mông dày đặc một thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội Từ đó ta hiểu và thấm hơn về sự vất vả trên chặng đường hành quân đầy hiểm nguy của binh đoàn Tây Tiên Đung như lời bình luận của nhà thơ Vũ Quần Phương : “ đoàn quân không gợi chút nào cái hùng sân khấu mà đoàn quân mệt mỏi vì đường xa, bụi bặm và đói khát” Thế nhưng trong sự khắc nghiệt ấy lại ánh lên nét lãng mạn thơ mộng của “ đêm hơi” :
“ Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
câu thơ mang vẻ đẹp huyền ảo mơ hồ với khói sương bồng bềnh Quang Dũng sử dụng rất đắt và hay
từ “ hoa” với nhiều cách cảm nhận đa chiều phong phú khác nhau Đó có thể là những bông hoa rừng được người lính Tây Tiến mang về Mường Lát Hay đó cũng chính là người lính Tây Tiến được ví như những bông hoa tuyệt đẹp của núi rừng Tây Bắc đang trở về hội tụ nơi đây Phải chăng con người chính là trung tâm của cái đẹp? Hay đó cũng chính là hình ảnh của những người lính Tây Tiến hành quân trong đêm tay cầm những ngọn đuốc giống như những bông hoa lửa lung linh trong khói sương
mờ ảo Dù hiểu theo cách nào người đọc vẫn cảm nhận được những khó khăn gian khổ mà người lính Tây Tiến đã trải qua Và mặc dù vậy, họ vẫn vượt lên trên khốc liệt của chiến tranh để tâm hồn thăng hoa trong cảm xúc cách nhìn của họ vẫn lãng mạn, mơ mộng và hào hoa
Nhưng bức tranh thiên nhiên ấy còn dữ dội và khắc nghiệt hơn qua hình ảnh dốc núi Tây Bắc:
“ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”
Quang Dũng đã sử dụng các từ láy một cách độc đáo và tài tình “ khúc khuỷu” gợi tả những chặng đường gập ghềnh quanh co lúc ẩn lúc hiện, gấp khúc đứt nối Còn “ Thăm thẳm” không chỉ gợi được chiều cao mà còn gợi ấn tượng về chiều sâu, cảm giác như đến tận cùng cũng không biết đâu là giới hạn cuối cùng Qua câu thơ đã gợi lên bức tranh Tây Bắc hiểm trở hoang sơ, làm dốc nhiều đèo Bên cạnh đó, điệp từ “ dốc” kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 gợi cảm giác con dốc này chưa qua thì con dốc khác đã hiện ra thăm thẳm trước mắt Câu thơ 5/7 là thanh trắc gợi cảm giác gập ghềnh khó khăn trắc trở khiên chúng ta liên tưởng đến câu thơ của Lý Bạch trong “ Thục đạo nan”:
“ Thục đạo chi nan
Nan y thướng thanh thiên”
Nhưng con dốc còn cao đến độ “ Heo hút côn mây súng ngửi trời” gợi lên sự khắc nghiệt và sự độc đáo trong ngôn từ của Quang Dũng Qua từ láy “ heo hút” người đọc hình dung trước mắt được sự hoang vu vắng vẻ hiu quạnh nơi núi rừng hiểm trờ giữa không gian bao la hùng vĩ” Bên cạnh đó còn
Trang 3là sự liên tưởng độc đáo kết hợp bút pháp nhân hoá “ Súng ngửi trời” Đó là hình ảnh đẹp hào hùng
và hào hoa Những người lính Tây Tiến trong tư thế trên đỉnh núi cao nhất đứng giữa mây ngàn lòng súng chạm trời Đó là tư thế làm chủ thiên nhiên chân dung con người được đặt ở tầm vóc vũ trụ đẹp
đẽ hào hùng Câu thơ dường như gợi nhắc chúng ta về hình ảnh của người lính vệ quốc trong thơ của
Tố Hữu :
“ Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá nguỵ trang reo với gió đèo”
Chữ “ngửi” có thể thay bằng từ “chạm” nhưng chữ “ chạm” chỉ miêu tả được độ cao Còn chữ “ ngửi” không chỉ miêu tả được độ cao mà còn miêu tả được vẻ đẹp tâm hồn của những người lính Tây Tiến Dưới cái nhìn của họ, ngọn sứng như đang tò mò thám hiểm trời xanh Đó là cái nhìn lãng mạn, hồn nhiên, trẻ trung và tinh nghịch Chính nét hiên ngang hồn nhiên ấy không hề bị lu mờ trước sự thách thức của thiên nhiên mà càng thêm nổi bật:
“ Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”
“Ngàn thước” là nghệ thuật điệp với ước từ chỉ số lượng mang tính chất ước lệ Qua nghệ thuật đối lập hai động từ “ lên” và “xuống” kết hợp với nhịp câu thơ 4/3, khiến câu thơ như bị bẻ gãy làm đôi miêu tả được hai chiều không gian Tây Bắc : vừa có độ cao lên đến tận cùng , vừa có chiều sâu thăm thẳm như đến cõi vô biên Ngòi bút tạo hình gân guốc rắn rỏi đã khắc hoạ ấn tượng sông núi miền Tây Bắc đầy hiểm trở hùng vĩ Chính vì thế nhà thơ Trần Lê Văn đã từng nhận xét “ đọc câu thơ và nghe như đã muốn mòn chân mỏi gối” Chỉ bằng một vài nét gợi cách sử dụng thanh điệu, từ láy, tác giả đã đặc tả được núi cao Tây Bắc quanh co gập ghềnh hiểm trở và đồng thời cũng mang vẻ đẹp hùng vĩ Từ đó thấy được con đường hành quân đầy nhọc nhằn của người lính Tây Tiến
Trải qua một chặng đường hành quân vất vả để rổi tác giả như vỡ oà trước cảnh thôn quê thanh bình- thứ mà họ đang cố gắng để bảo vệ từng ngày:
“ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Quang Dũng đã thả xuống một câu thơ hoàn toàn là thanh bằng, kết hợp với âm tiết mở khiên câu thơ như một dấu nặng đột ngột nâng nâng êm đềm, như một chỗ dừng chân sau một chặng đường gian lao
và vất vả Đaị từ phiếm chỉ “ nhà ai” đã gợi tả một ngôi nhà không xác định nhạt nhoà trong màn mưa Câu thơ đã miêu tả màn mưa giăng mắc khắp núi rừng : cảnh vật thân quen, thanh bình khiến tâm hồn người lính trở nên thanh thản sau một chặng đường hành quân đầy sương gió Nếu như ở ba câu thơ trên có 11 thanh trắc gợi cảm giác nặng nề mệt mỏi thì câu thơ thứ tư hoàn toàn là thanh bằng gợi cảm giác nhẹ nhàng Sự phối thanh trong đoạn thơ cũng giống như sự phối màu trong hội hoạ: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng nhưng gam màu lạnh làm dịu lại xoa mát cả khổ thơ Chính vì thơ nhà thơ Xuân Diệu đã từng nhận xét : “ Đọc Tây Tiến như ngậm âm nhạc trong miệng ” Hành trình trở về nỗi nhớ trong kí ức của nhà thơ lại dừng chân ở một bản làng Tây Bắc mà luôn có sự rình rập của thú hoang và sự cuồng bạo của thiên nhiên:
“ chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
Từ láy hoàn toàn chỉ thời gian : “ chiều chiều , đêm đêm” là thời gian được lặp đi lặp lại cho thấy sự vĩnh hằng, trường cửu Màn đêm buông xuống sự hiểm nguy trở nên khắc nghiệt hơn bao giờ hết qua nghệ thuật nhân hoá đặc sắc : thác gầm thét và cọp trêu người Độc đáo hơn đó là phép phối thanh được sử dụng rất tinh tế : thác- thét, hịch- cọp Thác – thét ở âm vực cao gợi tả âm thanh tiếng thác nước man dại, dữ dội, hịch- cọp âm vực thấp góp phần miêu tả những bước chân nặng nề đang ngày đêm đe doạ con người Qua hai câu thơ gợi lên sự âm u đầy huyền bí nguy hiểm đang đe doạ con người vừa cảm phục tấm lòng của những người lính Tây Tiến
Kết thúc chặng đường hành quân gian khổ mà hào hùng ấy, Quang Dũng có những khoảng lặng riêng, một cảm nhận về một thời xưa cũ với những người đồng đội đã kề vai sát cánh cùng ông vượt qua bao gian khổ:
“ Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Hai tiếng “Anh bạn” cất lên giữa những nỗi bâng khuâng trong cảm xúc như một tiếng nấc nghẹn ngào Từ láy “ dãi dầu” như diễn tả một phần nào đó sự khó khăn gian khôt mà người lính Tây Tiến phải trải qua trên dọc đường hành quân Chính vì thế, có những người “ không bước nữa “ và “ bỏ quên đời” Đó là khoảnh khắc nghỉ ngơi , nỗi mệt mỏi dường như bao trùm khiến họ kiệt sức không
Trang 4thể tiếp tục qua bút pháp tả thực Hay chúng ta có thể hiểu đó là nghệ thuật nói gỉam nói tránh đề cập đến sự hi sinh của những người lính Tây Tiến Cách nói như vậy khiến người lính đối diện với cái chết vẫn ngang tàng ngạo nghễ nhẹ nhàng thanh thản vì họ đã hi sinh thân mình vì dân tộc Nhà thơ không hề né tránh những mất mát hi sinh vì đó là một phần tất yếu của chiến tranh Dù có hi sinh những khi gục xuống thì họ vẫn có súng mũ bên mình Đó trở thành một vật bất li thân Qua hai câu thơ trên Quang Dũng đã tái hiện hiện thực chiến tranh từ đó người lính Tây Tiến hiện lên kiên cường hào hùng với tinh thần yêu nước thiết tha
Khép lại khổ thơ, Quang Dũng đã đưa người đọc trở lại một bức tranh thẫm đẫm tình quân dân gắn bó trên mảnh đất Tây Bắc thân yêu:
“ Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Thán từ “ ôi” kết hợp với từ nhớ đã diễn tả một nỗi nhớ trào dâng, ăm ắp trong lòng không thể kìm nén được mà bật lên thành lời Hình ảnh cơm lên khói như một sự chuyển biến về hình ảnh Tất cả đều ấm lại, sự ấm áp như tràn ngập trong lòng người chiến sĩ khi chứng kiến hình ảnh cuộc sống thanh bình của nhân dân Nhưng không thể không nói đến sự kết hợp từ độc đáo và đắc địa “ mùa em” Từ “ mùa” là một từ đơn vị thời gian chỉ sự sinh sôi dào dạt sức sống Còn “ Em” là cách xưng
hô đầy tình tứ “ Mùa em’” gợi lên hình ảnh mùa lúa chín gặp em hay cũng có thể hiểu là mùa của niềm thương nỗi nhớ, của những tấm lòng thơm thảo Những kí ức ấy đã trở thành dấu ấn in sâu trong trái tim của những người lính Mùa hương thơm của cơm nếp của vùng Tây Bức không chỉ để thương
để nhớ cho Quang Dũng mà còn để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí của Chế Lan Viên:
“ Đất Tây Bắc tháng này không có lịch
Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương.”
Hai câu thơ chủ yếu là thanh bằng gợi cảm giác bồng bềnh xao xuyến trong nỗi nhớ về một khoảnh khắc đã xa Tất cả đều hoà quyện vào nhau để tạo nên một nỗi nhớ đọng lại sâu trong kí ức của độc giả
Mười bốn câu thơ đầu tiên khép lại, một bức tranh về mảnh đất Tây Bắc hiểm trở khắc nghiệt hùng vĩ những cũng rất đỗi thơ mộng lãng mạn được khắc hoạ sinh động hấp dẫn Nổi bận trên nền núi rừng ấy, là hình ảnh của những người lính Tây Tiến kiên cường trên chặng đường hành quân đầy gian lao vất vả Qua đó ta thấy được vẻ dẹp tâm hồn đầy lạc quan tinh nghịch của những chàng trai
Hà Thành Tất cả điều đó đều được nhà thơ thể hiện qua các biện pháp tư từ : nhân hoá, điệp, phép đối cùng các động từ mạnh , phép phối thanh tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao, Từ đó đã để lại ấn tượng như một khúc ca kháng chiến kết hợp hài hoà giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Tám câu thơ tiếp theo mở ra một bức tranh mới, cảm xúc mới, một đêm liên hoan lửa trại thẫm đẫm tình quân dân cùng những người đồng đội cũ Một cách chuyển đổi cảnh vô cùng tinh tế, tất
cả sự hiểm trở quanh co đều biến mất để nhường chỗ cho những đường nét mềm mại, uyển chuyển đầy tinh tế:
“ Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.”
Trải qua cả một quãng hành trình đầy máu và sương, đoàn quân dừng chân tại doanh trại và nhận được sự đón tiếp nồng hậu thân tình của những con người Tây Bắc Có lẽ đây là kỉ niệm khó nhớ vô cùng trong quãng đời người lĩnh của Quang Dũng Động từ ‘ bừng” như làm bừng sáng lung linh cả khoảng trời Tây Bắc bởi những ngọn đuốc trong đêm liên hoan Trong Việt Bắc, Tố Hữu cũng từng
có kỉ niệm như thế :
“ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan”
Phải chăng bừng lên còn bởi không khí lễ hội vui tươi phấn khởi, náo nức mê say của đêm hội liên hoan Có lẽ trong cuộc đời cái khoảnh khắc ấy đối với Quang Dũng là không nhiều Ở đây nhà thơ đã
có cách sử dụng từ ngữ vô cùng độc đáo “ đuốc hoa” Đó là hình ảnh tả thực những ngọn đuôc bập bềnh cháy như những bông hoa lửa xoè nở giữa núi rừng Tây Bắc “Đuốc hoa” lấy nghĩa từ chữ Hán
là “ hoa chúc” nến thắp trong phòng vợ chồng đêm tân hôn Từ đó có thể Quang Dũng đang gửi gắm khát vọng hạnh phúc về tình yêu đôi lứa chúng ta cũng từng gặp hình ảnh đuốc hoa trong dân ca quan
họ Bắc Ninh:
“ còn duyên ngồi gốc cây thông
Hết duyên ngồi gốc cây hồng hái hoa
Trang 5Có yêu nhau sang chơi cửa chơi nhà
Cho thầy mẹ biết để đuốc hoa định ngày”
Với không khí tưng bừng của lễ hội những ánh nến lung linh dưới cái nhìn lãng mạn của người lính Tây Tiến thì doanh trại vốn là nơi của kỉ luật trật tự nay bỗng tràn ngập ánh sáng ấm áp niềm vui say
mê của những chàng trai cô gái trẻ tuổi Trong phút chố, doanh trại trở thành sân khấu cho đêm hội ánh sáng lung linh huyền ảo giữa núi rừng
Trong cái lễ hội tưng bừng ấy hình ảnh của các cô gái hiện lên thật lỗng lẫy Những cô gái này không được miêu tả kĩ ở chân dung, ở nhan sắc mà hiện lên vô cùng đẹp đẽ qua từ “ Xiêm áo” Đây là từ Hán Việt cổ chỉ những bộ trang phục cầu kì, lộng lẫy hết sức mới lạ và đẹp đẽ Chính vì thế, câu thơ đã gợi lên sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, thích thú trong ánh nhìn của người lính Tây Tiến trước sự xuất hiện của các cô gái miền Sơn Cước qua thán từ “ kìa” và cụm từ “ tựa bao giờ” Không chỉ là đêm hội của ánh sáng, mà đêm hội ấy còn rộn rã âm thanh và nhịp nhàng những điệu múa
“Khèn” là nhạc cụ truyền thống của một số đồng bào dân tộc thiểu số của vùng núi cao Tây Bắc Trong tiếng khèn còn là hồn vía của núi rừng, là tâm tư tình cảm của những con người nơi đây Tiếng khèn cất lên làm sống dậy cả một vùng văn hoá bản địa Bên cạnh đó., Quang Dũng đã sử dụng từ
“ Man điệu” hết sức tài hoa để nói lên những vũ khúc hoang sơ, những vũ khúc ấy hoà với vẻ đẹp e ấp tình tứ của “em” khiến cho chàng lính trẻ say mê ngây ngất Một điều đặc biệt trong cách sử dụng từ của Quang Dũng là cách xưng hô Ban đầy là “em” sau đó chuyển thành “ nàng” lúc này những cô gái giống như những nàng tiên kiều diễm đẹp đẽ lộng lẫy, huyền ảo khiến tâm hồn những người lính ngây ngất trước cảnh và người :
“ Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Mở đầu là nhạc kết thúc là thơ kết hợp với một loạt các thanh bằng diễn tả cảm giác bay bổng say
mê , nâng cánh tâm hồn người lính bay đến kinh đô của cõi mộng, cõi mơ Người lính say sưa đắm chìm trong bữa tiệc thịnh soạn của tâm hồn Đoạn thơ đã tái hiện một buổi liên hoan văn nghệ thấm đẫm tình quân dân, đậm màu sắc văn hoá bản địa Từ đó còn thấy được vẻ đẹp lãng mạn hài hoa, nét
đa tình trẻ trung của những người lính Tây Tiến Với khoảnh khắc ấy người lính không thoát khỏi thực tại, chốn chạy thực tế mà những giờ phút áy trở thành niềm động viên để người lính cân bằng sau những gian khổ hi sinh bảo vệ đất nước
Dọc theo hành trình trở về kí ức mang tên Tây Tiến, ta một lần nữa bắt gặp cảnh sắc đẹp đẽ, nên thơ núi rừng Tây Bắc Đó là khung cảnh chia ta miền sông nước hoang vắng tĩnh lặng, có chút man mắc buồn:
“ người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Câu thơ thứ nhất, có nhân vật là người đi, có không gian là “ Châu Mộc” có thời gian là “ chiều sương ấy” Nhưng tất cả đều nhoà mờ hư ảo trong cảm giác xa xôi, u buồn và tiếc nhớ Biện pháp nhân hoá
“ hồn lau “ được sử dụng một cách độc đáo Cây lau xuất hiện trong thơ của Quang Dũng như một điều hiển nhiên bởi có lẽ nó là một hình ảnh đắc trưng của núi rừng Trong “Việt Bắc” Tố Hữu” cũng
đã viết :
“ Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”
Hay trong thơ của Chế Lan Viên;
“ Ai đi biên giới cho lòng ta theo với
Thăm ngàn lau chỉ trắng có một mình”
Nhưng đối với thơ của Quang Dũng, ông không chỉ nhìn thấy cây lau, ngàn lau mà ông còn thấy
“ hồn lau” Nó không chỉ là linh hồn của cây lau mà có lẽ đó là chính linh hồn của thiên nhiên rừng núi Tây Bắc đang trở về hội tụ nơi đây trong một buổi chiều sương lạnh Nó cũng biết nhớ biết thương Tác giả đã cảm nhận rất tinh tế hai từ này Bởi nó gợi cảm giác hoang vắng thiêng liêng và có chút phảng phất tâm linh của núi từng Bên cạnh đó , cụm từ “ nẻo bến bờ “ gợi cmar giác xa xôi heo hút vắn vẻ và cô tịch Tác giả hỏi có “ có thấy” dường như khác sâu nỗi nhớ hơn nữa có lẽ, để thấy được những vạt lau chỉ cần sự quan sát của thị giác Nhưng để cảm nhận được hồn lau thì phải là người sống ở đây quen thuộc và yêu mảnh đất này lắm, phải có sự lãng mạn tinh tế nhiều lắm thì mới
có thể nhận ra được điều đó Hơn hết, tác giả đã sử dụng nghệ thuật điệp câu hỏi tu từ “ có thấy- có nhớ” như chạm khắc vào lòng người đọc một nỗi nhớ da diết cháy bỏng khôn nguôi :
“ có nhớ dáng người trên độc mộc
Trang 6Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.’
Nếu như ở hai câu thơ trên là câu gợi nhắc về thiên nhiên Tây Bắc thì ở câu thơ thứ ba là câu hỏi gợi nhớ về con người Tây Bắc Đó là hình ảnh của con thuyền “ độc mộc” một loại thuyền nhỏ làm bằng
từ thân cây gỗ, là phương tiện di chuyển chủ yếu trên sông suối, vượt thác băng rừng của người dân miền núi Để điều khiển được con thuyền này không chỉ đỏi hỏi sự khéo léo, uyển chuyển mà còn phải có sức khoẻ bản lĩnh và kinh nghiệm Hình ảnh của con người Tây Bắc trên con thuyền độc mộc băng thác lũ mưa rừng gợi vẻ đẹp kiên cường mạnh mẽ khoẻ khoắn Đó là hình ảnh con người chinh phục thiên nhiên khác hẳn với con người của thời trung đại trong thơ của Nguyễn Du:
“ hoa trôi man mác biết là về đâu”
“ trôi dòng nước lũ” là hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt dữ dội làm nền cho con người xuất hiện đẹp
đẽ và con người trở thành trung tâm của bức tranh Hơn hết Quang Dũng đã sử dụng đắc địa từ “đong đưa” chứ không phải từ “ đung đưa” Có lẽ bởi nếu như “đung đưa” chỉ là chuyển động một cách cơ học thì “ đong đưa” lại gợi cách chuyển động nhẹ nhàng , uyển chuyển mềm mại như đang làm duyên làm dáng với dòng nước lũ Câu thơ trở nên tình tứ và đó còn là sự tài hoa, tinh tế lãng mạn của những người lính Tây Tiến, những đứa con từ giã Hà Thành hoa lệ để cầm súng chiến đâu bảo vệ quê hương
Đoạn thơ thứ hai là một khúc nhạc đầy chất hoạ Đó là nhạc điệu cất lên từ tiếng khèn, là tâm hồn trẻ trung của người lính Hình ảnh thơ tạo nên bởi đường nét hài hoà mang chất trữ tình lãng mạn của nhà thơ phần nào cho thấy sự lạc quan yêu đời của những người lính Bên cạnh nỗi nhớ về thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng cùng đồng đội cũ, thì còn tập trung tái hiện lên hình ảnh bi tráng, oai hùng của người lính Tây Tiến
Nếu như đoạn đầu của bài thơ là nỗi “nhớ chơi vơi” bao kỉ niệm đẹp và cảm động của một thời trận mạc đầy gian khổ, hy sinh thì tám câu thơ đoạn ba lại khắc họa khí phách anh hùng và tâm hồn lãng mạn của người chiến sĩ trong máu lửa, qua đó thể hiện rõ niềm tự hào của tác giả Bốn câu thơ đầu tác giả đã khắc hoạ thành công hình ảnh của người lính Tây Tiến trong những năm tháng hào hùng của dân tộc:
“ Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”
Mở đầu khổ thơ là đảo ngữ “ Tây Tiến” nhằm nhấn mạnh khắc sâu ấn tượng về một cái tên Tây Tiến, chỉ riêng cái tên thôi đã gợi trong longd nhà thơ biết bao kỉ niệm về một quãng đời không thể nào quên Không chỉ thế vượt qua gió bụi của thời gian Tây Tiến đã đi vào lịch sử như một đoàn binh có một không hai, là chủ nhân của một thời đại gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc Bên cạnh đó, những người lính Tây Tiến với cái tên “ Đoàn binh” là từ Hán Việt gợi cảm giác về một đoàn quân được trang bị đầy đủ và tinh nhuệ Qua bút pháp tả thực, cụm từ ‘ không mọc tóc” hiện lên đầy ấn tượng qua cách sử dụng bút pháp hiện thực đề cập đến sự khốc liệt của chiến tranh Đó là những cơn sốt rét rừng hành hạ khiến cho người lính Tây Tiến bị rụng hết tóc Trong văn học kháng chiến không
ít lần chúng ta bắt gặp hình ảnh của những cơn sốt rét rừng Như trong tác phẩm “ đồng chí “ của Chính Hữu :
“ anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”
Hay Nguyễn Đức Mậu cũng từng viét :
“ nơi thuốc súng trộn vào áo trận
Cơn sốt rừng đi dọc tuổi thanh xuân”
Cách diễn đạt của Quang Dũng thật độc đáo khi chuyển “ không mọc tóc “ từ thế bị động sang thế chủ động không thèm mọc tóc khiến chó người đọc cảm nhận về một đoàn quân kiêu hùng ngang tàng , bất châp mọi hiểm nguy , gian khổ Họ vẫn kiêu hãnh nhìn thẳng về phía trước, lạc quan hài hước và hóm hỉnh Trong sự thiếu thốn trăm bề ấ là hình ảnh của người lính Tây Tiến hiện lên thật chân thực và oai hùng : “ Quân xanh màu lá dữ oai hùm” Xanh màu lá là hình ảnh tả thực : màu xanh ấy có thể là màu xanh của quần áo lính, màu lá nguỵ trang H ay đó có thể là xanh như lá cây do những cơn sốt rừng, do đói ăn khát sống bệnh tật, thiếu thốn trăm bề Nhưng độc đáo hơn là cụm từ
“ dữ oai hùm” qua bút pháp ẩn dụ độc đáo Bên ngoài hình tượng tưởng chừng như tiều tuỵ ấy là cả một khí phách, một bản lĩnh kiên cường, một sư oai nghiêm sữ dằn đầy sức mạnh như một vị chúa
Trang 7sơm lâm Đúng như nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhận xét: “Lối viết của Quang Dũng thật tài hoa Nói được lính ốm mà không thấy lính yếu”
Gian khổ, ác liệt, thiếu thốn, bệnh tật muôn lần khó khăn, thử thách nhưng họ vẫn có những giấc “mơ”, giấc “mộng” rất đẹp:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Chân dung người chiến sĩ Tây Tiến không chỉ có nét ngang tàng, oai phong trong dáng vẻ dữ dội, uy nghi mà còn được thể hiện ở chiều sâu đẹp đẽ trong tâm hồn “ Mắt trừng” là từ để diễn tả một ánh nhìn đầy căng thẳng nung nấu, chưa đựng bao hoài bão hướng về kẻ thù Đó là cái nhìn đầy oai phong lẫm liệt Còn “ Mộng” là ước mơ giết giặc lập công của những người chiến sĩ Đó là cái mộng để hướng tới cuộc sống hoà bình, độc lập cho dân tộc Đây là cái mộng cao cả xuất phát từ tình yêu quê hướng đất nước Mộng của người chiến sĩ Tây Tiến rất giống với quan niệm nợ công danh của những trang hào kiệt đấng nam nhi thời Trung đại Mộng thì gửi về biên cương nhưng mơ thì hướng về Hà Nội :
“ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Sống giữa núi rừng miền Tây, gian khổ, ác liệt, cái chết bủa vây, lửa đạn mịt mù, nhưng các anh vẫn mơ về Hà Nội Quên sao dược những hàng me, hàng sấu, nhưng phố cũ trường xưa, “Những phố dài xao xác hơi may?” Quên sao được những tà áo trắng, những thiếu nữ thương yêu, những
“dáng kiều thơm" từng hò hẹn Đó có thể là người vợ, người yêu hay một người em gái chưa từng dám ngỏ lời Câu thơ thể hiện cái nhìn lãng mạn, đa tình, cũng như gửi gắm khát khao thầm kín về hạnh phúc lứa đôi Bởi chiến sĩ Tây Tiến vốn là những học sinh, sinh viên, những chàng trai Hà hành
“xếp bút nghiên theo việc đao, cung”, giàu lòng yêu nước, phong độ hào hoa: “Từ thuở mang gươm đi giữ nước - Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ)
Quang Dũng đã khắc hoạ thành công hình ảnh người lính Tây Tiến : vẻ ngoài xanh xao, tiều tuỵ nhưng mang một ý chí mạnh mẽ, tư thế chiến đấu oai hùng, tinh thần yêu nước hiết tha và âm hồn lãng mạn hào hoa Đó cũng chính là một nét khám phá mới của nhà thơ khi vẽ chân dung anh bộ đội
cụ Hồ xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản trong chín năm kháng chiến trống Pháp Bên cạnh đó đoạn thơ nhưng mộ khúc hùng ca bi tráng oai hùng về một thời đại không thể nào quên với Quang Dũng và những người lính Tây Tiến qua sự kết hợp tài tình giữa bút pháp lãng mạn và bút pháp hiện thực, sử dụng thành công các biện pháp tu từ : ẩn dụ, đảo ngữ, cùng một lối diễn đạt giàu cảm xúc, giàu hình ảnh
Dải đất hình chữ S thân yêu đã độc lập từ rất lâu nhưng có lẽ hình ảnh của những người chiến sĩ đã ngã xuống vẫn in sâu trong từng tấc đất, bản làng, ngõ xóm, Tưởng chừng tất cả đã qua đi nhưng hình ảnh xương máu của cha ông một lần nữa được tái hiện trong âm hưởng bi tráng và niềm tự hào dân tộc :
“ Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”
Câu thơ đầu đem đến một cảm giác buồn bã, ảm đạm về cái chết: Rải rác biên cương/ mồ viễn xứ Nhịp ngắt 4/3 khiến trọng tâm câu thơ rơi vào chữ mồ, một âm tiết mang thanh bằng ở âm vực thấp, một từ gợi ý nghĩa hiện hữu của cái chết, câu thơ vì thế đem đến cảm giác trầm buồn và ảm đạm Trong đoạn thơ sử dụng rất nhiều từ Hán Việt : biên cương, viễn xứ, chiến trường, áo bào,… Tất cả được sử dụng một cách trang nghiêm như những nén tâm hương thắp lên để tưởng nhớ những người chiến sĩ đã hi sinh vì tổ quốc “Mồ” chỉ nắm đất đắp vội chôn ngay dọc đường hành quân để đoàn quân tiếp tục lên đường đặt trong không gian nơi biên cương miền viễn xứ khiến nấm mồ ấy gợi bao xót xa Khi nằm xuống, bất cứ ai cũng mong trở về nơi quê hương đất mẹ, được vùi mình xuống dòng nước mát quê hương Nhưng ảm đạm thay họ phải hi sinh nơi đất khách quê người gợi biết bao thương tiếc Bên cạnh đó, nhà thơ còn sử dụng nghệ thuật đảo “ rải rác” lên đầu câu gợi sự thưa thớt
Đó là những nấm mồ nằm lẻ loi dọc đường hành quân, cũng là nơi những người lính Tây Tiến đã nằm xuống Đó cũng chính là hiện thực chiến tranh tàn khốc mà không ai có thể trốn tránh Nhờ đó, cảm giác ảm đạm ngậm ngùi trong câu 5 đã nhanh chóng được xoá đi bởi tứ thơ mạnh mẽ, rắn rỏi như một lời tuyên thệ trong câu 6:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Trang 8Nếu tách câu thơ trên ra khỏi đoạn thơ thì nó tựa như bức tranh xám lạnh, ảm đạm và hiu hắt, đem đến nhiều xót thương Nhưng nằm trong văn cảnh, đoạn mạch, câu thơ tiếp theo: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, đã nâng cao chí khi và tầm vóc người lính Nghệ thuật đảo trong cụm từ “ Chiến trường đi” nhấn mạnh điểm đến Chiến trường chính là nơi hòn tên mũi đại đầy gian khổ hi sinh Nhưng chiến trường cũng chính là lựa chọn duy nhất đầy trách nhiệm của cả thế hệ trẻ vì đối với họ
“ đường ra trận mùa này đẹp lắm “ Và cuộc đời đẹp nhất là trên trận chiến đấu chống quân thù Hơn hết, cách nói “ chẳng tiếc đời xanh” cho thấy sự dứt khoát quyết tâm “ Đời xanh” là tuổi trẻ, là thanh xuân của những “ chàng trai chưa trắng nợ anh hùng” những học sinh, sinh viên Hà Nội Họ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh câu thơ vang lên như một lời thề thiêng liêng cao cả Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc chúng ta cũng từng thấy tinh thần ấy trong
“ trường ca những người đi tới biển “ của nhà thơ Thanh Thảo:
“ chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
Nhưng tuổi hai mươi thì làm sao không tiếc
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi tổ quốc”
Anh bộ đội cũng như nhân dân ta đã đứng lên kháng chiến với quyết tâm sắt đá: Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu làm nô lệ Quang Dũng ghi lại cảnh bi tráng giữa chiến trường miền Tây thuở ấy:
“Áo bào thay chiếu anh vế đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”
Hình ảnh “ áo bào thay chiếu “ là một hình ảnh thực đến xót xa của chiến tranh Đó là sự thiêú thốn về vật chất họ hi sinh chỉ có tấm chiếu chôn vào lòng đất Nhưng ở đây không có chiếu mà có áo bào Hình ảnh áo bào có lẽ chính là tấm áo lính họ mặc chiến đấu hằng ngày nó giống như những tấm áo bào của tráng sĩ ngày xưa Cách nói như vậy để vinh danh những người lính Tây Tiến như những tráng sĩ có da ngựa bọc thây, áo bào bọc thấy Quang Dũng có kể lại: “Khi tử sĩ nằm xuống không đủ manh chiếu để liệm, nói áo bào thay chiếu là mượn cách nói của thơ trước đây để an ủi những người đồng chí vừa ngã xuống" Còn cụm từ “ về đất” là cách nói giảm nói tránh nhưng có ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng và sâu xa Chết không phải đi vào cõi hư vô mà là trở về với đất mẹ thân yêu Đất
mẹ mở lòng dang tay đón những đứa con ưu tú của mình Các anh đã ngã xuống để hoá thân cho dáng hình xứ xở để mỗi tên làng, tên sông, tên núi đều có hình bóng các anh Hình ảnh con sông Mã lại một lần nữa xuất hiện : mở đầu cho cuộc hành trành trở về Tây Tiến trong kí ức của nhà thơ là con sông Mã Và lúc này khi tiễn đưa những người con trở về với đất mẹ cũng là con sông Mã Với nghệ thuật nhân hoá “ sông Mã gầm “ dòng sông ấy gầm lên trong cơn giận dữ đau thương và uất nghẹn Đau thương ấy sẽ biến thành sức mạnh của lòng căm thù Hơn hết “ độc hành” tức là một mình Những ngừoi lính Tây Tiến hi sinh là những mất mát thiếu hụt không gì có thể bù đắp được để lại sự thương tiếc xót xa và hụt hẫng
Đoạn thơ viết về chân dung người lính trong bài thơ Tây Tiến là đoạn thơ độc đáo nhất Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được nhà thơ kết hợp vận dụng sáng tạo trong miêu tả và biểu lộ cảm xúc, tạo nên những câu thơ “có hồn” Người lính đã sông anh dũng, chết vẻ vang Hình tượng người chiến sĩ Tây Tiến mãi mãi là một tượng đài nghệ thuật bi tráng in sâu vào tâm hồn dân tộc
Anh Vệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh thế!
Đến khổ cuối của bài thơ, âm điệu trở nên thiết tha, sâu lắng, bồi hồi Vẫn là tiếng lòng rung lên theo hoài niệm Biết bao thương nhớ khôn nguôi hiện lên qua từng con chữ:
Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Tây Tiến một lần nữa xuất hiện ở đầu câu, gợi nhắc về một binh đoàn hào hùng kiêu dũng Chỉ một cái tên thôi đã gợi trong lòng Quang Dũng biết bao nhớ thương về một quãng đời không thể nào quên Cụm từ “ không hẹn ước” khẳng định ý chí của những người lính Tây Tiến Họ ra đi mà không hẹn ngày trở về Bởi khi bước chân ra đi họ đã xác định “ nhất khứ bất phục phản” Tư thế ra đi của người lính Tây Tiến rất giống với tư thế ra đi của người ly khách trong “ Tống biệt hành” của Thâm Tâm:
“ ly khách! Ly khách con đường nhỏ
Chí lớn không về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Trang 9Ba năm mẹ già cũng đừng mong”
Có lẽ, Tây Tiến chỉ còn lại trong tâm trí của nhà thơ còn hiện thực thì “ thăm thẳm” Đó là sự xa xôi, cảm giác như hút tầm mắt không biết đâu là giới hạn cuối cùng Cụm từ “ một chia phôi” và “ chẳng
về xuôi” gợi lên một tư thế ra đi đầy dứt khoát vững vàng Họ từ giã gia đình ra nơi biên cương miền chiến địa Họ coi đó là một cuộc chia phôi không hẹn ước Đó cũng chính là tinh thần chung của cả thế hệ thời kháng chiến Giọng thơ trầm lại nhưng ý thơ vẫn hào hùng
Trước thực tế hiện tại, xuất phát từ tình đồng chí đồng đội, từ tình quân dân keo sơn, từ những kỉ niệm
và nỗi nhớ nhà thơ Quang Dũng khẳng định tâm hồn của mình luôn gắn bó với Sầm Nứa:
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
Những năm tháng ngắn ngủi sống trong đoàn binh Tây Tiến đã để lại trong lòng nhà thơ những hoài niệm không thể phai mờ Bài thơ kết lại bằng lời nhắn nhủ thiết tha “Ai” là đại từ chỉ nhà thơ hay chỉ người lính Tây Tiến, nó không được xác định Có lẽ nhà thơ cố tình nói như thế để thay mặt cho tất cả những người lính trong đoàn quân Tây Tiến dù còn sống hay đã chết đều trở về Sầm Nưa Họ không sinh ra ở mảnh đất biên cương heo hút, gian nan ấy nhưng họ lại nguyện gắn bó tâm hồn mình với nó
“ Mùa xuân ấy” là một khoảng thời gian quý giá nhất trong cuộc đời Đó là từ ngữ gợi nhắc đếm thời điểm thành lập binh đoàn Tây Tiến : mùa xuân năm 1947 Hay đó là mùa xuân của tuổi trẻ : những con ngừoi mang tuổi xuân chẳng tiếc đời xanh của mình, để góp phần làm nên mùa xuân lớn của dân tộc Họ đã để lại nơi cánh rừng, nhưng dòng sông ngọn núi, bản làng, nơi biên cương tổ quốc một phần tuổi trẻ, quãng đời oanh liệt hào hùng với những kỉ niệm không thể nào quên Chính vì thế câu thơ cuối vang lên như một lời thề lời hứa :
“ hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
Dù đã hi sinh hay chiến đấu thì người lính Tây Tiến vẫn tự nguyện gắn bó với mảnh đất Tây Bắc Bởi
đó là cả thanh xuân của họ để lại
Khổ thơ như một khúc vĩ thanh khép lại bài thơ để lại trong lòng người đọc biết bao xúc động Đó
là ước hẹn thuỷ chung, gắn bó son sắt với mảnh đất và con người Tây Bắc, những đồng đội từng chia
sẻ thiếu thốn, hiểm nguy vào sinh ra tử Đoạn thơ cuối này sử dụng bút pháp lãng mạn để nhấn mạnh
vẻ đẹp tinh thần hi sinh vì lí tưởng mang màu sắc lãng mạn của đoàn quân Tây Tiến Vẻ đẹp chân dung của một tập thể anh hùng tiêu biểu cho một thời kì lịch sử bi tráng được khắc họa bởi bút pháp tài hoa sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc Đoạn thơ cũng bộc lộ tình đồng chí, đồng đội thắm thiết của Quang Dũng Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp
Bằng việc sử dụng bút pháp sử thi kết hợp với khuynh hướng lãng mạn, âm hưởng bi tráng hào hùng bài thơ Tây Tiến đã khắc hoạ thành công bức tranh Tây Bắc hoang sơ hùng vĩ nhưng cũng rất đỗi lãng mạng và thơ mộng Mà nổi bật hơn cả là bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến anh dũng lãng mạn mà hào hoa Họ là những người lính trẻ mang trong mình những lý tưởng cao đẹp vì đọc lập dân tộc Bài thơ còn thể hiện ngòi bút tài hoa của Quang Dũng qua cách sử dụng từ ngữ độc đáo, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, các biện pháp tu từ: điệp, liệt kê, ẩn dụ,…
“ có khoảng không nào đo chiều dài nỗi nhớ
Có khoảng mênh mông nào sâu thẳm hơn tình thương”
Khép lại trang thơ Tây Tiến ta vẫn không khỏi ám ảnh, bồi hồi trước một hành trình theo mạch cảm xúc nỗi nhớ về vẻ đẹp của sông núi, đắm đuối trước cái yên bình nồng đượm ẩn hiện trong nhưng khung cảnh đường nét tuyệt mũ Và ta cũng không sao quên được một bức tượng đài bất diệt về người lính kiêu dũng, ngang tàng với một vẻ đẹp lãng mạn đến hào hoa như Phong Lan từng nhận xét: “ Lý tưởng cách mạng đã truyền cho chàng trai Tây Tiến chất anh hùng ngang tang và chất men say lãng mạn ngay cả khi họ chết cũng phảng phất nét nghệ sĩ tài tử”
Nguyễn Diệu Linh
Khoá văn 2020- lớp văn thầy Nhật
Trang 10
Quang Dũng là người nghệ sĩ đa tài, sức sáng tạo của ông ghi dấu trên nhiều lĩnh vực như: viết văn, làm thơ, vẽ tranh, trong đó nổi bật hơn cả có thể kể đến thơ ca Giữa rừng thơ ca kháng chiến muôn màu muôn vẻ, hồn thơ Quang Dũng được độc giả đặc biệt ấn tượng với nét phóng khoáng, ngang tàng nhưng rất đỗi hào hoa, lãng mạn điển hình cho tâm hồn của những chàng trai đất Hà Thành, và bài thơ Tây Tiến chính là kết tinh tiêu biểu nhất cho hồn thơ ấy Bài thơ được sáng tác vào cuối năm 1948, trong một buổi liên hoan mừng công tại làng Phù Lưu Chanh – chưa lâu kể từ khi Quang Dũng rời binh đoàn Tây Tiến để chuyển đến công tác ở đơn vị khác, trong cảm xúc nghẹn ngào, lưu luyến nhớ nhung
về binh đoàn Tây Tiến, Quang Dũng đã viết bài thơ này để ghi lại những cảm xúc thiêng liêng, những
kỉ niệm gắn bó đã có với những người đồng đội chí cốt, với mảnh đất Tây Bắc tuy thâm u, trắc trở nhưng cũng đầy thơ mộng và ấm áp tình người
Bằng nét hào hoa, lãng mạn của thanh niên, trí thức Hà Thành, Quang Dũng đã mang đến cho
"Tây Tiến" một chất lính đầy mới lạ, cũng đầy xúc động qua cách khắc hoạ hình ảnh những người lính
có lí tưởng, luôn lạc quan trong mọi hoàn cảnh, những chàng thanh niên mang trong mình sức trẻ, tâm hồn lãng mạn, hào hoa Qua Tây Tiến, độc giả đón nhận một hình tượng hoàn toàn mới lạ về người lính trong kháng chiến, đó không chỉ là những con người yêu nước, cháy bỏng một niềm tin, lí tưởng "quyết
tử cho tổ quốc quyết sinh" mà còn mang nét hào hoa, lãng mạn của những chàng trai tuổi đôi mươi Ngay trong chính nhan đề súc tích chỉ gói gọn 2 từ "Tây Tiến", tác giả đã rất khéo léo lồng ghép những nội dung và tư tưởng muốn gửi gắm qua tác phẩm Tây Tiến không chỉ viết về nỗi nhớ đồng đội, nhớ mảnh đất Tây Bắc da diết, mà tác giả còn tái hiện đầy sống động hình ảnh bi tráng mà ngang tàng, vừa hào hoa lại vừa bản lĩnh của người lính Tây Tiến xưa, khơi dậy trong lòng chúng ta những rung động mạnh mẽ
Mở đầu bài thơ là một tiếng gọi làm nao lòng người Nỗi nhớ thương,nỗi nhớ da diết về mảnh đất Tây Bắc và binh đoàn Tây Tiến trên những chặng đường hành quân vất vả như dồn nén và rồi trào dâng mãnh liệt trong lòng tác giả:
“Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Sông Mã là một địa danh nổi tiếng hùng vĩ của miền Tây Bắc, và đó cũng là một người bạn, một người đồng hành cùng những người lính Tây Tiến sẻ chia những khó khăn, vất vả trên con đường hành quân Đi cùng chiều dài của lịch sử, Sông Mã chính là một chứng nhân lâu đời cho những chiến công oanh liệt của dân tộc, là hiện thân của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, dữ dội vừa thơ mộng, trữ tình Hai từ Tây Tiến trong tiếng gọi “Tây Tiến ơi!” hiện lên sao mà thân quen, gần gũi đến thế,đối với Quang Dũng, đó không đơn giản chỉ là tên một binh đoàn, một đơn vị mà đó còn là những người bạn, những người đồng chí đã từng gắn bó keo sơn trong suốt chặng đường Cách mạng Lời thơ như một lời xác nhận đầy tiếc nuối, rằng sông Mã đã xa và Tây Tiến cũng xa rồi Nỗi nhớ về thiên nhiên Tây Bắc
và những người đồng đội trong lòng tác giả là một nỗi nhớ “chơi vơi”, cách sử dụng từ láy tinh tế kết hợp cùng phép điệp từ “nhớ” đã diễn tả thần tình nỗi nhớ vừa da diết cồn cào, vừa bồng bềnh lơ lửng,
nó cứ len lỏi, cứ ám ảnh day dứt mãi không thôi, đó là nỗi nhớ về những người đồng chí, nỗi nhớ “rừng núi” - địa bàn gắn liền những người lính trên đường hành quân gian khổ Nỗi nhớ ấy lửng lơ, giăng mắc theo những con đường trùng điệp trong mây trời sương khói huyền ảo của miền đất Tây Bắc Trong thơ
văn ngàn đời, chúng ta cũng đã bắt gặp cụm từ “chơi vơi” trong thơ của Xuân Diệu: “Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”, hay như trong ca dao cũng đã từng có cách bộc lộ nỗi nhớ độc đáo như vậy : “Ra
Trang 11về nhớ bạn chơi vơi” Thanh âm mở của vần “ơi” như bắt nguồn cho một nỗi nhớ mênh mang, không
điểm tựa gợi dậy sự bồn chồn, xôn xao trong tâm hồn Nhớ như vậy, có lẽ mới quay quắt, mới khiến người ta nhói lòng
Đi cùng với nỗi nhớ da diết của tác giả là những kỉ niệm đẹp một thời chinh chiến bỗng sống dậy Những tên bản, tên mường của rừng xưa núi cũ yêu thương hiện về, bỗng trở nên gần gũi thân thiết, làm xao xuyến tâm hồn người chiến sĩ:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”.
Sài Khao, Mường Lát là những địa danh, bản làng xa xôi hẻo lánh mà binh đoàn Tây Tiến đã hành quân qua hoặc đã có những phút giây ngơi nghỉ Sài Khao là mảnh đất lắm sương nhiều khói, sương che lấp đường đi, sương phủ kín bóng người, sương như tấm áo choàng bảng lảng chùm lên con sông, ngọn suối, sườn đèo Ta nghe đâu đây giữa núi rừng hiểm trở cheo leo có những hơi thở mệt mỏi của các chàng trai đất Hà thành nhọc nhằn trên chặng đường hành quân Thế mà với trái tim nhạy cảm, tình yêu tha thiết với mảnh đất và con người Tây Bắc, họ như nghe từng hơi thở nhịp đập thậm chí là cái khe khẽ trở mình của cỏ cây hoa lá trên đất Mường Lát khi màn đêm buông xuống Hình ảnh “hoa” ở đây
có thể hiểu theo nhiều nghĩa, đó có thể là những bông hoa rừng hé nở trong đêm sương Tây Bắc, cũng
có thể là hình ảnh những ngọn đuốc soi đường của đoàn quân vào buổi đêm trông từ xa tựa như những đoá hoa lửa bập bùng trên phông nền của thiên nhiên Tây Bắc, hay “hoa” cũng chính là hình ảnh ẩn dụ cho những cô gái miền Tây duyên dáng, e ấp đầy quyến rũ lòng người.Song, dù hiểu theo cách nào thì
sự xuất hiện của hình ảnh “hoa về trong đêm hơi” cũng giúp xoa dịu đi cái vất vả, mỏi mệt của những người lính trên đường hành quân, làm cho ý thơ đầy chất hoạ
Có thể nói Quang Dũng như một phóng viên lia ống kính một cách tài tình để mở ra trước mắt người đọc một thước phim về núi rừng hiểm trở và cheo leo:
“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm, Heo hút cồn mây súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.
Các từ láy: "thăm thẳm", "khúc khuỷu", "heo hút" được lựa chọn và sử dụng như những nét khắc, nét
vẽ có giá trị tạo hình đặc sắc, làm hiện lên những dốc, những cồn mây mà nhà thơ và đồng đội phải vượt qua trong những tháng ngày: "áo vải chân không đi lùng giặc đánh" (Hồng Nguyên) Câu thơ sử dụng phần lớn là các thanh trắc, kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 như bẻ câu thơ làm đôi, gợi mở ra địa hình hiểm trở, độc dữ của những con dốc những người lính phải vượt qua "Súng ngửi trời" vừa là một hình ảnh nhân hóa phản ánh cái ngộ nghĩnh, hồn nhiên trẻ trung và yêu đời của người lính Tây Tiến, vừa gợi ra độ cao của những ngọn núi miền Tây Bắc, núi cao đến mức khi đứng trên đỉnh thì tưởng chừng như mũi súng của họ có thể chạm đến tận trời Câu thơ gồm 2 vế tiểu đối, bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ Tây Tiến được đo bằng: "Ngàn thước lên cao // Ngàn thước xuống" Núi tiếp núi, đèo nối đèo, hết lên cao, lại xuống thấp, đoàn quân đi trong mù sương, trong màn mưa rừng cùng với địa hình hiểm trở như muốn nuốt trọn người lính chỉ khi một bước chân sơ sảy Điệp từ “ngàn thước” như một phép ước lượng khi người lính lấy tầm mắt làm thước đo, nghệ thuật ước lệ kết hợp với phép điệp và tiểu đối “lên><xuống”, cách ngắt nhịp 4/3 giúp mở ra trước mặt người đọc hình ảnh những dãy núi cao đến tận cùng, sâu đến tận đáy, khiến ta mới chỉ đọc lên đã tháy mỏi bước, chùn chân Từ những đỉnh cao " ngàn thước", các chiến binh dõi tầm mắt nhìn xa Những bản mường, những nhà sàn thấp thoáng ẩn hiện
Nếu những câu thơ trên gieo toàn thanh trắc, thì đến câu thơ cuối:
"Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi".
Quang Dũng gieo toàn thanh bằng, nếu như 3 câu thơ trên là nét vẽ hiện thực gân guốc, rắn rỏi thì câu cuối là nét mẽ mềm mại, lãng mạn, tinh tế, nếu 3 câu thơ trên mở ra theo chiều cao, chiều sâu, thì câu thơ cuối mở ra theo chiều rộng khoáng đạt của không gian, tạo cho bức tranh tổng thể sự cân đối hài hoà, quả đúng là “thi trung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc” Câu thơ đã diễn tả cảm xúc tươi vui, lâng lâng thanh thản dâng lên trong tâm hồn người lính trẻ lạc quan yêu đời khi dõi nhìn về xa qua màn mưa rừng
và thấy những bản làng ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc, mang lại cảm giác vừa thân quen, vừa bình yên
ấm áp cho những người con xa quê nhà, giúp họ xua đi cái mệt mỏi trên đường hành quân
Trang 12Trên những nẻo đường trường chinh lửa máu và gian khổ ấy, những mất mát hi sinh là điều không thể tránh khỏi, trong đoạn thơ tiếp theo, Quang Dũng đã tái hiện lại những hình ảnh đau thương
ấy làm cho âm điệu câu thơ bỗng chùng xuống, trĩu nặng:
"Anh bạn dãi dầu không bước nữa.
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!"
Hai tiếng "anh bạn" cất lên như một tiếng khóc thầm Trong gian khổ "dãi dầu", trong những ngày dài hành quân và chiến đấu, có bao đồng đội thân yêu đã "không bước nữa",vĩnh biệt đoàn binh, "bỏ quên đời", bỏ quên đồng chí bạn bè, nằm lại vĩnh viễn nơi chân đèo, góc núi Bốn chữ "gục lên súng mũ" thể hiện một sự hi sinh vô cùng bi tráng: ngã xuống, gục xuống trên đường hành quân giữa trận đánh khi súng còn cầm trên tay, mũ còn đội trên đầu Ta chợt nhớ đến dáng đứng của anh giải phóng quân về sau trong thơ Lê Anh Xuân:
Anh ngã xuống trong khi đang đứng bắn Máu anh tuôn theo lửa đạn cầu vồng.
Dáng đứng của anh giải phóng quân mãi mãi đi vào lòng người dân trong kháng chiến chống Mĩ thì dáng ngã xuống của anh lính cụ Hồ hẳn sẽ không phai mờ trong tâm hồn của Quang Dũng, của đoàn quân Tây Tiến và của những người tham gia kháng chiến “Gục lên súng mũ” cũng là cách nói nhẹ và cũng là cách nói của những người thanh niên trí thức lúc bấy giờ Người lính ra đi nhưng đồng đội anh lại tiếp bước
Mặc dù Quang Dũng đã thay thế từ "chết", từ "hi sinh" bằng cụm từ "không bước nữa", "bỏ quên đời!",… nhưng vẫn trào lên nỗi xót xa, thương tiếc Sự thật chiến tranh xưa nay vẫn thế! Song, vần thơ của Quang Dũng tuy nói đến cái chết của người lính nhưng không gợi ra bi lụy, thảm thương mà trái lại, tác giả đã khắc hoạ chân dung người lính đầy ngoan cường, bất khuất Quang Dũng không dùng từ
“ không thể bước” mà là “không bước nữa” thể hiện một tư thế chủ động và ngang tàng, tuy rằng các anh hi sinh, nhưng là hi sinh trong tư thế oai hùng nhất, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng Đó cũng chính
là màu sắc hào hùng, bi tráng tác giả muốn gửi gắm qua bài thơ
Cảnh tượng chiến trường đâu chỉ có đèo cao, cồn mây, dốc thẳm, đâu chỉ có mưa ngàn, muỗi rừng vắt núi, mà còn có biết bao thử thách của rừng thiêng tự ngàn đời mang cái vẻ hoang sơ và bí mật, hùng vĩ và oai nghiêm:
"Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người".
Điệp từ “chiều chiều, đêm đêm” được đặt ở đầu câu thơ, gọi ra dòng thời gian vô tận, dài đằng đẵng Chiều nối chiều, đêm tiếp đêm, chiến khu vang động tiếng "gầm thét" của thác Trên một không gian mênh mông của chốn đại ngàn, từ Pha Luông đến Mường Hịch hoang vu, cái chết đang rình rập đe dọa Chốn rừng thiêng ẩn dấu nhiều bí mật "oai linh", được nhân hóa như tăng thêm phần dữ dội Thác thì
"gầm thét", cọp thì "trêu người" như để thử thách chí can trường các chiến binh Tây Tiến Sự hiệp vần tài tình của 3 từ “ Mường – Hịch – cọp” khiến người đọc cảm thấy được bước chân nặng nề của thú dữ trong đêm, nghe thấy cả tiếng tim đập thình thịch, đầy hồi hộp, cảnh giác của người lính Tác giả dùng
từ “ trêu” chứ không phải “vồ” hay “rình”, mang theo tiếng cười tinh nghịch, dí dỏm của những người lính, khó khăn gian khổ không làm họ chùn bước mà vẫn luôn giữ trong mình sự ngoan cường, tự tin
Cuộc sống của những ngừoi lính ở chiến trường không chỉ có những chặng đường hành quân vất vả,không chỉ có những trận đánh ác liệt mà còn có những đêm liên hoan mừng công thấm đẫm tình quân dân:
"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Trang 13Kìa em xiêm áo tự bao giờ, Khèn lên man điệu nàng e ấp, Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ"
Chất tài tử, tài hoa và lãng mạn của những chàng lính chiến được nói đến thật hay trong đêm "hội đuốc hoa" Chữ "bừng" là một nét vẽ có thần, làm cho không gian sáng bừng lên từ những ngọn đuốc trong đêm hội Cảnh vật, con người như bốc lên men say ngây ngất Cái ác liệt của chiến tranh đã lùi xa, nhường chỗ cho một không gian ngập tràn âm thanh, ánh sáng giúp cả quân và dân tạm vơi bớt đi những mệt mỏi trong hiện thực chiến tranh khốc liệt lúc bấy giờ Chữ "kìa" là đại từ để trở từ xa, gợi nhiều ngạc nhiên, tình tứ Trong ánh lửa đuốc bập bùng, sự xuất hiện những cô gái Mường, cô gái Thái miền Tây Bắc trong bộ xiêm áo dân tộc rực rỡ đem đến cho những người lính trẻ đoàn binh Tây Tiến bao niềm vui, tình quân dân thắm thiết “Kìa em” là lời chào đón đầy ngạc nhiên, sung sướng đến ngỡ ngàng Lời chào đón mang tính phát hiện Em lạ mà quen, quen mà lạ Quang Dũng phát hiện ra vẻ đẹp rực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phục Chính trang phục truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa của các thiếu nữ Tây Bắc càng tôn vinh lên vẻ đẹp của họ Em trở thành điểm sáng của bức tranh với vẻ đẹp xứ lạ phương xa Đêm liên hoan sôi động trong tiếng khèn của núi rừng,có khúc nhạc
du dương, có dáng điệu duyên dáng "e ấp" của những cô gái Tây Bắc xinh đẹp tay trong tay cùng những người lính nhảy múa theo man điệu đầy say mê
Chiều sương ở nơi đâu cũng gợi buồn, gợi nhớ, đặc biệt là những buổi chiều ở miền Tây Bắc với “bản sương giăng, đèo mây phủ” lại đặc biệt gợi buồn gợi nhớ hơn cả:
"Người đi Châu mộc chiều sương ấy,
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ,
Có nhớ dáng người trên độc mộc, Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"
Nhớ Tây Tiến là nhớ đến những chiều sương cao nguyên, nhớ đến những con thuyền độc mộc Một không gian ngập tràn khói sương như trong cõi mộng cứ thế hiện ra Cái thực của khí trời Tây Bắc, cái mộng của sương khói hiện lên như một miền cổ tích Ta nhớ rằng Quang Dũng là một họa sĩ bởi vậy đoạn thơ được tô đậm màu sắc hội họa Nét bút phác thảo của Quang Dũng thật là tài hoa Chỉ một vài nét chấm phá vậy mà cái hồn của cảnh vật và con người hiện lên thật sinh động đầy sức cuốn hút Cách
sử dụng từ ngữ “ hồn lau, dáng người, hoa đong đưa” có sự cộng hưởng hô ứng với nhau, tác gỉa dùng
từ “ hồn lau” mà không phải là bờ lau, làm cho câu thơ càng thêm mềm mại và có hồn Cách đặt câu hỏi tu từ thật đặc sắc, kết hợp với điệp từ “ Có nhớ, có thấy” như gõ sâu vào trong trí nhớ, khơi dậy những ký ức sâu đậm, thiêng liêng nhất Quang Dũng đã rất khéo léo trong việc chọn lọc từ ngữ “ hoa đong đưa” mà không phải “hoa đung đưa”, biện pháp nhân hoá là một nét vẽ giàu giá trị tạo hình gợi lên hình ảnh những bông hoa đang làm duyên làm dáng đầy quyến rũ, mê say Sự đối lập giữa “nước lũ”- cái dữ dội khắc nghiệt của thiên nhiên Tây Bắc và hình ảnh “hoa đong đưa”- sự thơ mộng, huyền
ảo của thiên nhiên đã tạo nên một khoảnh khắc quý giá Nếu không sống mạnh mẽ, sống hết mình của đời người lính trẻ một thời trận mạc gian nan thì Quang Dũng không thể nào viết được những vần thơ mang hương sắc núi rừng xa lạ, tươi đẹp và thơ mộng như thế
Âm điệu đoạn thơ trầm bổng lâng lâng như đang ru hồn ta vào cõi mộng Chất nhạc, chất thơ họa toát lên từ vần thơ, cho thấy tính thẩm mĩ độc đáo của ngòi bút thơ Quang Dũng, đồng thời khắc họa vẻ đẹp tâm hồn các chiến sĩ Tây Tiến: trong gian khổ và thử thách, trong gian truân và chết chóc, học vẫn lạc quan và yêu đời, hồn nhiên và mơ mộng Ai nói rằng Tây Bắc là xứ rừng thiêng nước độc, xin hãy một lần để cho tâm hồn mình lắng lại để chất thơ Tây Bắc ngấm vào hồn
Trong đoạn thơ tiếp theo, Quang Dũng đã dựng lên một tượng đài đầy oai hùng, bi tráng về đoàn binh Tây Tiến Đoàn quân luồng rừng đi trong biển sương mù, trong những cồn mây trong màn mưa, vượt qua bao nhiêu núi cao, đèo cao, dốc thẳm, "áo vải chân không đi lùng giặc đánh", chắc chắn phải gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ:
"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm".
Đoạn thơ ghi lại một cách chân thật, hào hùng cái khốc liệt dữ dội của chiến tranh, của một dân tộc quật khởi đứng lên dùng giáo mác, gậy tầm vông chống lại sắt thép quân thù Hình tượng thơ được đặt trong thế tương phản đối lập để khẳng định chí khí hiên ngang, anh hùng, những tâm hồn với bao mộng mơ
Trang 14tuyệt đẹp Hai câu thơ đầu đã khắc hoạ hình hài kỳ dị của những người lính Tây Tiến: những cơn sốt rét rừng hành hạ, sự thiếu thốn thuốc men, nhu yếu phẩm, những con suối độc,… đã khiến cho người lính rụng hết tóc, hoặc họ phải cạo trọc đầu để dễ dàng trong sinh hoạt, chiến đấu, khiến da họ xanh xao như màu lá Hiện thực này cũng đã được phản ánh qua rất nhiều những bài thơ trong kháng chiến chống Pháp:
“ tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh Rét run người vầng trán ướt mồ hôi” – (Chính Hữu)
“ giọt mồ hôi rơi trên má anh vàng nghệ Anh vệ quốc quân ơi, sao mà yêu đến thế” – (Tố Hữu)
Tuy nhiên Quang Dũng đã viết về hiện thực ấy bằng ngòi bút lãng mạn Tác giả dùng từ" không mọc tóc" chứ không phải “không thể mọc” để tô đậm tư thế chủ động, ngoan cường của những người lính khi đương đầu với khó khăn Màu da xanh xao của họ được miêu tả qua câu thơ “ quân xanh màu lá dữ oai hùm”làm toát lên vẻ oai nghiêm của những chúa tể rừng xanh làm kẻ địch khiếp sợ Cũng là một
cách nói truyền thống trong thơ ca dân tộc ngợi ca sức mạnh Việt Nam: "Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu" (Phạm Ngũ Lão), "Tỳ hổ ba quân – Giáo gươm sáng chói" (Trương Hán Siêu).Quang Dũng đã thật tài
tình trong việc kế thừa một cách sáng tạo thơ ca cổ điển dân tộc để viết nên những vần thơ như vậy!
Đoàn binh Tây Tiến phần lớn cán bộ và chiến sĩ là thanh niên, học sinh, sinh viên của 36 phố phường, nơi ngàn năm văn hiến Là "Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…" ra đi đánh giặc với hoài bão và nhưunxg mơ ước lớn, hai câu thơ tiếp theo đã diễn tả được những vẻ đẹp nội tâm đáng quý của những người lính ấy:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
“Mắt trừng” là đôi mắt thao thức suốt đêm không ngủ để làm nhiệm vụ canh chừng biên cương của Tổ
quốc, khiến ta nhớ đến ý thơ của Chính Hữu : “ Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/ Đầu súng trăng treo”.Nhưng người lính thao thức không ngủ được còn bởi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương da diết,nhớ về
phố cũ trường xưa, mơ về một tà áo đẹp, một "dáng kiều thơm" nơi Hà Nội yêu dấu.Câu thơ "Đêm mơ
Hà Nội dáng kiều thơm" thể hiện chất tài tử, hào hoa của người lính Tây Tiến Còn người chiến sĩ trong
bài "Đồng Chí" của Chính Hữu, thì nỗi nhớ hướng về ruộng nương, về "gian nhà không mặc kệ gió lung lay", về giếng nước gốc đa Nỗi nhớ của anh Vệ quốc quân trong bài thơ "Nhớ" của Hồng Nguyên
là cả một mối tình quê trang trải, đằm thắm, sâu nặng, thiết tha:
… "Ba năm rồi gửi lại quê hương,
Mái lều gianh, Tiếng mõ đêm trường, Luống cày đất đỏ,
Ít nhiều người vợ trẻ Mòn chân bên cối gạo canh khuya"…
Qua đó, ta thấy nỗi nhớ, cái mộng mơ của người lính thời trận mạc là nông dân, hay tiểu tư sản thành thị đều đẹp và đáng yêu vì nỗi nhớ, cái mộng mơ ấy đều biểu lộ một tình yêu quê hương thắm thiết Nếu có ai đó cho rằng câu thơ của Quang Dũng mang theo cái mộng rớt, buồn rớt, cái đuôi tiểu tư sản thì mới thật buồn thay Thời gian và độc giả hơn nửa thế kỉ qua đã khẳng định cái hay riêng của thơ Quang Dũng vì nó góp phần làm phong phú thêm chân dung "anh bộ đội Cụ Hồ" trong kháng chiến chống Pháp
Cái giá của độc lập, tự do được đo bằng tầm vóc lớn lao và khí phách của dân tộc, được ghi nhận bằng xương máu của nhân dân, mà trước hết là xương máu của hàng ngàn, hàng vạn người lính trên chiến trường Lý tưởng cao đẹp: "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" đã được Quang Dũng thể hiện bằng những vần thơ bi tráng lay động lòng người:
"Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành".
Có biết bao đồng đội thân yêu của nhà thơ đã ngã xuống trong lửa đạn Cụm từ Hán Việt “biên cương”
kết hợp với đảo ngữ “rải rác” gợi nên một không gian vừa hoa sơ, xa vắng lại vừa trang trọng.Với "áo bào thay chiếu" rất bình dị, chẳng có "da ngựa bọc thây" như những tráng sĩ thời xưa, các anh đã thanh
thản "về đất", vĩnh viễn nằm trong lòng mẹ Tổ quốc thân yêu Hai chữ "về đất" được sử dụng như một cách nói giảm nói tránh để xoa dịu sự đau thương, mất mát.Các anh hi sinh trong một tâm thế vẫn kiêu
Trang 15hùng và chủ động như vậy, điều ấy đã được khẳng định qua cụm từ “chẳng tiếc đời xanh”, những chiến binh ấy đã chẳng tiếc hi sinh tuôit thanh xuân đẹp nhất của cuộc đời cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cao
cả Tiếng thác sông Mã "gầm lên" vang vọng giữa núi rừng như một tiếng khóc thương tiễn biệt người bạn đồng hành của nó, tiếng gầm dội lên trầm hùng trong lòng đồng độiNhư tiếng kèn trong bài "Chiêu hồn liệt sĩ", như loạt đại bác nổ xé trời giữa núi rừng chiến khu, mang sắc thái của một lời thề cao cả, thiêng liêng Đặt cái chết của những anh hùng vô danh giữa một không gian rộng lớn, giữa một thiên nhiên bao la hùng vĩ, câu thơ "rải rác biên cương mồ viễn xứ" đã làm cho nỗi đau mất mát hi sinh càng thêm mênh mang, càng được nâng lên tầm lẫm liệt, bi tráng Cao cả hơn nữa là lí tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc được khẳng định như một lời thề, một niềm tin mãnh liệt: "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh"
"Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy" (Chế Lan Viên) Những câu thơ trên đây của Quang Dũng thực sự ngang tầm vóc với các chiến sĩ Tây Tiến, với những đồng đội đã oanh liệt hi sinh giữa núi rừng biên cương Việt – Lào Quang Dũng đã miêu tả và ngợi ca người lính Tây Tiến mang chí khí những anh hùng vô danh, những anh hùng thời đại, ra trận với "tình sông núi", với quyết tâm "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" Họ đã đi tiếp con đường tổ tiên, ông cha, đã đem máu xương ra giữ vững sơn hà Họ đã sống bình dị, yêu đời, biết mơ ước khát khao, rất hồn nhiên lạc quan Họ đã sống anh dũng, chết vẻ vang, sẵn sàng đem xương máu và cả "đời xanh" hiến dâng cho nhân dân và đất nước Cuối cùng khi chia li, sông Mã cũng phải tiếp tục hành trình về xuôi của nó, để lại một khoảng lặng trầm buồn cho chúng ta tưởng nhớ oai linh những chiến binh quả cảm ấy…
Khổ cuối bài thơ, âm điệu trở nên tha thiết sâu lắng, bồi hồi Vẫn là tiếng lòng rung lên theo hoài niệm Biết bao thương nhớ khôn nguôi:
"Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi".
Mùa xuân ấy, khi "Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông" (Hồ Chí Minh), đoàn binh Tây Tiến xuất quân Họ đã tiến ra sa trường với lời hẹn ước: "Nhất khứ bất phục hoàn" Đó là lời thề, là quyết tâm của
cả một thế hệ "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" Các anh đã giã biệt quê hương Những ai còn ai mất sau những tháng ngày đầy máu lửa? Bạn bè, đồng đội thân yêu, những ai đó "Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi" Nhưng quê hương vẫn đời đời ôm ấp bóng hình các anh – người chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến Bài thơ đã khép lại mà âm điệu của nó vẫn bồi hồi vang vọng trong tâm hồn ta
Bài thơ Tây Tiến dưới ngòi bút tài tình của Quang Dũng đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật được kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất hoạ và chất nhạc, chất hào hùng, bi tráng Bằng cách sử dụng tài tình và nhuần nhuyễn ngòi bút mang tính sử thi, kết hợp với các biện pháp tu từ, các cấu trúc câu độc đáo, và tên các địa danh của Tây Bắc đặt rải rác suốt chiều dài của tác phẩm, Quang Dũng đã rất thành công khắc hoạ hình ảnh của một miền Tây Bắc với thiên nhiên vừa hùng vĩ, tráng lệ, vừa thơ mộng trữ tình và đặc biệt hơn cả, nổi bật trên màu nền của thiên nhiên chính là hình ảnh những người lính Tây Tiến vừa tinh nghịch, dí dỏm, vừa oai hùng, kiêu hãnh, dũng cảm và ngang tàng coi thường hiểm nguy
và cái chết để bảo vệ độc lập Tổ quốc
Tây Tiến là một tượng đài thi ca qua nhiều thế hệ Nhưng trên hết và trước hết Tây Tiến là lịch
sử Lịch sử của một đoàn quân Lịch sử của một cuộc chiến tranh Lịch sử của một dân tộc Và lịch sử của một con người, một nhà thơ Tây Tiến đã trở thành lịch sử của tâm hồn, của văn hóa, của tinh thần một giống nòi Bài thơ đã bất tử hoá sức sống của đoàn quân Tây Tiến và sẽ luôn là nguồn cảm hứng bất tận củng cố cho tình yêu nước và lòng biết ơn của các thế hệ sau này đối với những thế hệ cha anh
đi trước đã hi sinh cả bản thân cho độc lập tự do của đất nước ngày hôm nay
Nguyệt Hà Học sinh khoá văn 2020- Lớp văn thầy Nhật
Trang 16Phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng.
Bài làm:
“Có một không gian nào,
Đo chiều dài nỗi nhớ?
Có khoảng mênh mông nào Sâu thẳm hơn tình thương?”
( Trần Đình Chính )
Thơ ca Việt Nam hiện đại có cả một khoảng trời dành cho nỗi nhớ Đó là nỗi nhớ thương mà Hoàng Cầm đã gửi lại mảnh đất của mình trong bài thơ “Bên kia sông Đuống”, là nỗi nhớ thương của người con xa quê qua bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt Đôi khi đó còn là nỗi nhớ thương trong tình yêu mà người bên ấy chỉ dám gửi cho người bên này trong bài thơ “Hương thầm” của Phan Thị Thanh Nhàn Và Quang Dũng – người nghệ sĩ đa tài cũng không phải là một ngoại lệ khi đặt tình cảm của mình nơi những người đồng chí, đồng đội qua bài thơ “Tây Tiến”
Nói về Quang Dũng là ta nhớ ngay đến tác phẩm thơ đặc sắc viết về đề tài người lính của ông
- Tây Tiến Có lẽ do nó đã gắn bó một thời sâu sắc với nhà thơ Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, với nhiệm vụ phối hợp với Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào, đánh tiêu hao sinh lực địch ở Thượng Lào và miền Tây Bắc Bộ Việt Nam Quang Dũng là đại đội trưởng của binh đoàn Tây Tiến nhưng đến năm 1984, Tây Tiến giải thể, thành lập Trung đoàn 52, Quang Dũng cũng
chuyển sang đơn vị khác ở Phù Lưu Chanh – 1 làng ven bờ ở sông Đáy Trong nỗi nhớ về đơn vị cũ của mình, ông sáng tác thành công bài thơ với cái tên lúc đầu là “Nhớ Tây Tiến” nhưng một thời gian sau, khi in lại trong trong tập “Mây đầu ô” ông đã bỏ từ “nhớ” trong tiêu đề vì suốt cả bài thơ là mạch dòng cảm xúc của nỗi nhớ, một nỗi nhớ da diết, cồn cào, chỉ với hai từ “Tây Tiến” cũng đủ để gợi lên cảm hứng chủ đạo trong bài thơ, đó là nỗi nhớ
Bài thơ bắt đầu bằng những câu thơ mang âm điệu trầm, buồn và sâu lắng Ẩn sâu trong đó là nỗi nhớ về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, nỗi nhớ về con đường hành quân hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất đỗi thơ mộng, trữ tình của một thời Tây Tiến đã qua! Nỗi nhớ ấy thể hiện qua hai câu đầu của nhà thơ được thốt lên thành tiếng gọi:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Mở đầu bài thơ, tác giả đã đề cập đến hình ảnh sông Mã Và ta cũng thấy rằng, sông Mã xuất hiện ở đầu tác phẩm và gần cuối tác phẩm, đây chính là nghệ thuật đầu cuối tương ứng, bắt mạch vòng với nhau để thể hiện một điều rằng sông Mã gắn liền với suốt đoạn đường hành quân của người lính Tây Tiến từ vùng địa bàn này sang vùng địa bàn khác Mặt khác, con sông Mã ấy còn được nâng tầm để trở thành một chứng nhân lịch sử ghi lại tội ác tày trời của kẻ thù và những chiến công vẻ vang của người lính Tây Tiến Như nhà thơ Phan Quế đã nhận xét: “Câu thơ như một tuyết bút thiên nhiên về sông Mã Tôi chưa đọc câu thơ nào viết về sông Mã hay hơn thế Âm vang của câu thơ là khí tiết của con sông chiến trận, quả cảm và dũng mãnh trong độc khúc binh lửa của mình mà tạo nên chất hiệp sĩ
tứ thơ” “Tây Tiến” không chỉ để gọi tên đơn vị bộ đội mà nó đã trở thành một người bạn “tri âm, tri kỷ” để nhà thơ có thể giãi bày tâm sự Câu thơ cảm thán kết hợp với điệp từ “nhớ” diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào trong tâm trí Quang Dũng, khiến cho nỗi nhớ ấy cứ bồng bềnh như một dải lụa, vương vấn trong lòng người đọc mãi không nguôi Nỗi nhớ ấy đâu chỉ riêng về dòng sông
Trang 17Mã, mà đó còn là nỗi nhớ về Trung đoàn Tây Tiến đã cùng nhà thơ trải qua mọi khó khăn gian khổ, nỗi nhớ ấy cũng đồng thời là nỗi nhớ về địa bàn hoạt động, là nhớ về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở vừa thơ mộng vừa trữ tình Đặc biệt là cách nói “nhớ chơi vơi” đã khắc họa nên cái hồn của câu thơ Thơ ca Việt Nam khi nói về nỗi nhớ có nhiều cách diễn tả Ca dao có câu:
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”
Cách nói “xa rồi” lại càng tạo thêm cảm giác bâng khuâng, xao xuyến, tiếc nuối về một thời đã xa, về những khoảng thời gian, những kỷ niệm của một thời tươi đẹp, bởi những điều ấy sẽ không bao giờ quay trở lại nữa “Chơi vơi” là trạng thái trơ trọi giữa khoảng không rộng lớn, không thể bấu víu vào đâu cả “Nhớ chơi vơi” ta có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông, không đầu, không cuối, không có thứ tự thời gian, không gian Đó là nỗi nhớ da diết, miên man, bâng khuâng làm cho con người có cảm giác đứng ngồi chẳng yên Vần “ơi!” kết hợp với từ “chơi vơi” đó là tiếng gọi tha thiết về đoàn binh Tây Tiến, diễn tả một nỗi nhớ sâu lắng, mênh mang, chênh chao giữa hai bờ hư thực, nỗi nhớ không nổi hình nổi khối, khi cụ thể, lúc chìm khuất trong hư ảo, chơi vơi Nó còn vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ - nỗi nhớ thấm vào cảnh vật, thấm vào không gian, thấm cả vào thế giới mênh mông của những hoài niệm Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mai Châu,…Tất cả đều là những nơi họ từng đi qua và dừng chân trên bước đường hành quân gian khổ, những địa danh ấy đã in đậm dấu chân của đoàn binh Tây Tiến Càng nhiều địa danh hiện lên thì nỗi nhớ thương lại càng da diết, mà càng da diết thì lại tạo cảm giác xa xôi, hoang vu, bí ẩn
Trước hết là miền Tây Bắc hiện lên bởi con đường hành quân gian nan, vất vả Tuy thời tiết sương mù lạnh lẽo, khắc nghiệt nhưng cũng thật trữ tình:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Nói đến Tây Bắc là nói đến vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt Ấn tượng đầu tiên về thiên nhiên nơi đây chắc chắn phải là sương Trên đỉnh Sài Khao, sương dày đến độ che lấp luôn cả đoàn quân Tây Tiến đang ngày đêm vượt núi, băng sông khiến họ không nhìn rõ mặt nhau Động từ
“lấp” làm ta như có cảm giác chính sương đã khiến cho đoàn quân khó khăn thêm phần khó khăn hơn,
bị trĩu xuống trong mỏi mệt “Đoàn quân mỏi” nhưng tinh thần họ không hề có chút sự mỏi mệt, nản lòng nào, bởi ý chí quyết tâm ra đi vì Tổ quốc đã làm cho họ trở nên kiên cường, bất khuất hơn Quang Dũng thật tài tình khi dùng hình ảnh sương để khắc họa sự khắc nghiệt của thiên nhiên vùng Tây Bắc Cũng miêu tả sương, Chế Lan Viên đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”
Nhưng cũng thật bất ngờ, trong cái gian truân, vất vả ấy vẫn có nét lãng mạn với hình ảnh “hoa về trong đêm hơi”, đó chính là hương thơm của hoa nở vào lúc đêm phảng phất nhẹ nhàng trong tâm hồn người lính Nhưng ta cũng có thể hiểu “hoa” ở đây chính là những người lính Tây Tiến trở về, bởi Bác
Hồ đã từng nói: “Con người ta là hoa đất, con người ta là đẹp nhất”, mặt khác hình ảnh hoa là một hình ảnh ẩn dụ chỉ những bó đuốc bình thường đang chập chờn, lung linh, huyền ảo mà người lính cầm trên tay để soi đường chỉ lối trong những đêm dài hành quân nung nấu Cái hay của nhà thơ là
Trang 18không nói hoa nở mà nói “hoa về”, không nói đêm sương mà nói “đêm hơi” Cách dùng từ ngữ đã chứng tỏ được vẻ đẹp trong tâm hồn của những anh bộ đội cụ Hồ là một tâm hồn lãng mạn, hào hoa
Ngoài sự giá lạnh của sương thì dốc và đèo là những thứ không thể bỏ qua khi nhắc về thiên nhiên miền Tây Bắc Quang Dũng tả cảnh vượt dốc, băng đèo, đường đi nguy hiểm với dốc cao, vực thẳm, tuy hùng vĩ và dữ dội nhưng cũng rất thơ mộng, huyền ảo:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng người trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Tác giả sử dụng điệp từ “dốc” nhằm nhấn mạnh độ cao mà người lính phải trải qua Với hàng loạt những từ láy tượng hình toàn vần trắc như: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” diễn tả một cách đắc địa sự hiểm trở của núi rừng, những chặng đường hành quân luôn có sự nguy hiểm đang rình rập
“Khúc khuỷu” ý chỉ đường đi hiểm trở, nhiều gấp khúc “Thăm thẳm” là từ chỉ độ sâu nhưng tác giả lại dùng để chỉ độ cao, cao đến rợn người Quang Dũng đã khéo léo khi không sử dụng từ “chót vót”, bởi như thế thì người đọc có thể cảm nhận và thấy được bề sâu của nó nhưng “thăm thẳm” thì khó ai
có thể hình dung được nó sâu như thế nào Để có thể đem lại một cảm giác chân thật như thế thì điểm nhìn của anh phải ở từ dưới lên mới có thể thấy dốc khúc khuỷu, nhìn từ trên xuống mới biết dốc sâu thăm thăm, mà để có được cái nhìn như vậy thì buộc các anh phải trải nghiệm, phải hành quân đi lên những ngọn núi, con dốc đầy nguy hiểm ấy Kết hợp với nhịp thơ 4/3 gập đôi câu thơ giúp bạn đọc hình dung các anh đang phải treo mình trên những triền núi đá, một bên là vực sâu thăm thẳm, một bên là núi cao chót vót Ở câu thơ đầu có 7 chữ thì đã tận 5 thanh trắc, gợi nên cảm giác chênh vênh, gập ghềnh, vô cùng nguy hiểm Ta nghe như có tiếng thở mệt nhọc của người lính khi vượt qua đèo dốc, vực sâu Đây cũng là chất nhạc trong thơ Quang Dũng, làm ta liên tưởng đến tiếng nhạc trong bài hát “Nhạc rừng” của nhạc sĩ Hoàng Việt “Cồn mây heo hút” thể hiện sự vắng vẻ, không có bóng người Quang Dũng đã viết “súng ngửi trời” chứ không phải là “súng chạm trời”, bởi “chạm” hay
“đụng” thì ý câu thơ sẽ yếu hẳn đi, đồng thời “súng ngửi trời” cũng thể hiện vẻ đẹp hiên ngang của chiến binh dũng cảm, họ đang chiếm lĩnh tầm cao của thiên nhiên, chinh phục nơi mà ít người lui tới Khi người lính Tây Tiến hành quân qua các đỉnh núi, mũi súng của các anh dường như đã chạm đến đỉnh của bầu trời, khoảng cách được thu hẹp đến mức ngắn nhất giữa súng và trời, đó là hiện thực nhưng qua cách nói này làm tôn thêm vẻ đẹp khí phách của người lính Tây Tiến, đồng thời đây cũng
là những giây phút đùa vui, tếu táo, có nét tinh nghịch của người đồng đội trẻ với nhau Quang Dũng
sử dụng phép đối ở câu thơ thứ ba, đối “lên cao” với “thước xuống”, dấu phẩy đã bẻ gãy nhịp câu thơ một cách đột ngột tạo thành hai vế đối lập nhau Thế núi bây giờ cao và nguy hiểm đến khủng khiếp, dốc lên cao rồi lại đổ xuống ngay lập tức gần như thẳng đứng, nhìn lên thì cao vút, ngó xuống thì sâu thăm thẳm, khoảng cách giữa đỉnh dốc và mặt đất như xa “ngàn thước’ vạn dặm Dẫu vậy, những người lính vẫn âm thầm tiến lên phía trước, đứng trên độ cao ấy, phóng mắt nhìn ra xa để rồi chợt vỡ
òa vui sướng trước cảnh thôn quê êm đềm trải dài trước mắt: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Trong làn mưa giăng giăng của núi rừng Tây Bắc thì những ngôi nhà ẩn hiện, cứ bồng bềnh giữa biển khơi của mưa và sương đọng lại Nhìn từ góc độ hội họa thì nó như một bức tranh thủy mặc có những cái
tả sắc nét nhưng cũng có những khoảng trống, khoảng lặng huyền ảo “Nhà ai” là những mái nhà, bản làng của người vùng cao, các anh luôn luôn được đón tiếp nồng hậu và đây cũng là địa điểm nghỉ chân của các anh Vẻ đẹp này ta cũng từng bắt gặp trong bài “Bao giờ trở lại” của Hoàng Trung Thông:
“Các anh về mái ấm nhà vui Tiếng hát câu cười
Trang 19Rộn ràng xóm nhỏ Các anh về tưng bừng trước ngõ Lớp đàn em hớn hở theo sau
Mẹ già bị rịn áo nâu Vui đàn con nhỏ rừng sâu mới về”
Đó là cảm giác bình yên của người lính khi được nhìn thấy những mái nhà của đồng bào miền cao
Và vui hơn nữa khi các anh được đón tiếp bằng tình cảm quân dân nồng ấm
Bốn câu thơ này được phối hợp với nhau rất đặc biệt, sau ba câu thơ được vẽ bằng nét gân guốc thì câu thơ thứ tư lại được vẽ bằng một nét rất mềm mại Không phải ngẫu nhiên mà tài năng hội họa của Quang Dũng lại được mọi người yêu mến đến vậy Bởi quy luật sử dụng những gam màu trong hội họa là giữa những gam màu nóng phải pha chút gam màu lạnh để tạo sự hài hòa cho bức tranh, thì ở đây nhà thơ cũng sự dụng đúng như vậy trong thơ ca của mình từ các thanh bằng – trắc Không chỉ là tranh mà những hình ảnh ấy còn là nhạc, sau những nốt lên cao lại là nốt trầm thấp, bởi vậy nói như Xuân Diệu: “Đọc Tây Tiến, người ta như ngậm âm nhạc trong miệng” cũng là một nhận xét thật tinh tế
Tuy trên chặng đường hành quân, các anh gặp vô vàn khó khăn, gian nan đến tột bậc nhưng ta vẫn thấy ở các anh có sự can trường tột bậc Đoàn quân vẫn tiến bước, người nối người, băng lên phía trước Uy lực của thiên nhiên như bị giảm xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn lên một tầm vóc mới Quang Dũng cũng nói đến sự hi sinh của đồng đội trên những chặng đường hành quân
hi sinh Chúng ta biết rằng, văn chương muốn thuyết phục lòng người thì trước hết phải chân thật Dù
là viết về chiến tranh nhưng Quang Dũng không nề hà, né tránh sự thật đau thương Vì vậy mà “Tây Tiến” được một lần nữa đưa vào chương trình giảng dạy như một kiệt tác văn chương Hai tiếng “ anh bạn” cất lên như một tiếng nấc nghẹn ngào Sức nặng của câu thơ đã dồn vào từ láy “dãi dầu” thể hiện vất vả, khó khăn trên chặng đường hành quân Đặc biệt thay, tác giả không viết “bị gục xuống” mà ông lại viết là “không bước nữa”, biến các anh từ thế bị động sang chủ động, họ chấp nhận cái chết, coi nó chỉ đơn giản như một giấc ngủ mà thôi “Súng mũ” là biểu tượng của người lính, cho thấy rằng
dù có ra đi, các anh vẫn không quên mình vẫn là một người lính, dù có gục cũng phải “gục lên” súng
mũ của người lính, tư thế hi sinh đầy xót xa nhưng cũng thật hào hùng Hình ảnh về người lính anh dũng hy sinh ấy sau này ta còn bắt gặp trong “Dáng đứng Việt Nam”:
“Và anh chết trong khi đang đứng bắn Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng”
Dáng của các anh bộ đội cụ Hồ dù có gục xuống nhưng vẫn không phai mờ trong tâm của Quang Dũng, của đoàn quân Tây Tiến và của cả những người tham gia kháng chiến Họ đã hy sinh trên chặng đường hành quân, đã có những người lính nằm xuống, rõ ràng súng đã nổ, người dân Việt Nam cũng đổ máu, chiến tranh không phải là trò đùa, có người ra đi thì có người hi sinh, đó là điều rất đỗi
Trang 20bình thường Người lính ra đi nhưng đồng đội anh lại tiếp bước “Bỏ quên đời” là cách nói giảm nhẹ
sự mất mát, tang thương Khi người lính từ trần, cái chết bây giờ trở nên không đáng kể Cách nói giảm phần thê lương mà tăng thêm cái tính chất cao cả, sự hy sinh thầm lặng của những người lính Tây Tiến Thông qua lăng kính lãng mạn của tác giả thì sự hi sinh ấy hiện về chỉ như giấc ngủ của người lính Ông thật tài tình khi miêu tả cái chết của người lính nhẹ tựa lông hồng Nhưng dù thế nào vẫn không thể diễn tả hết được sự xót xa, thương tiếc, vì thế tác giả đành ngậm ngùi đặt dấu chấm cảm “!” cuối câu như một nén nhang tâm tình gửi lại
Khó khăn chưa dừng lại ở đó, đất Tây Bắc đâu chỉ có đèo cao dốc thẳm hay mưa ngàn suối lũ
mà còn biết bao thử thách khó khăn hơn Chặng đường hành quân của các anh qua núi rừng Tây Bắc đầy hoang dại, bí ẩn, dường như là để thử thách bước chân của người lính :
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
Quang Dũng đã chọn ra hai mốc thời gian là “chiều chiều” và “đêm đêm”, đây là thời điểm bộc lộ rõ nhất sự nguy hiểm của chốn rừng núi Tây Bắc, và sự nguy hiểm ấy cứ tuần hoàn, tuần hoàn, mỗi ngày các anh đều phải đối diện với những khó khăn, hiểm nguy như thế Các anh phải thường xuyên hành quân qua những mảnh đất rừng thiêng nước độc cho nên bị ám ảnh trong tâm hồn là tiếng thác nước gầm thét dữ dội Ở nơi xa xôi, thiên nhiên làm chủ thì khó khăn như tăng thêm bội phần “Mường Hịch” với sức nặng dồn vào từ “Hịch” thể hiện bước chân nặng trịch có bóng cọp vờn người, cọp ăn thịt người, cọp xé xác người, cọp giết người Nhưng nhìn nhận quan bản lĩnh của người lính thì bóng
hổ ấy chỉ đơn thuần là trò đùa trẻ con, điều này được thể hiện qua từ “trêu” để thử thách sự gan dạ, độ bền gan của các anh bộ đội cụ Hồ mà thôi
Và ở những câu thơ này, tác giả mô tả rất chân thực, dù chúng ta không sống ở thời kỳ này, chúng ta vẫn chưa từng đặt chân lên núi non miền Tây, chưa nhập ngũ vào đoàn binh Tây Tiến Nhưng đọc tác phẩm ta thấu hiểu được gian lao mà người lính trải qua Để khép lại khổ một, nhà thơ
đã kết thúc bằng hai câu thơ đầy cảm xúc thương nhớ, nỗi nhớ ấy phả vào bản làng Tây Bắc thân yêu:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Lần thứ hai trong bài thơ, tác giả gọi tên đơn vị Tây Tiến, phải chăng ông nhớ quá những gian khổ, kỉ niệm gắn bó với các đồng đội của mình trong suốt những năm tháng kháng chiến cùng nhau nên Quang Dũng mới thốt lên “nhớ ôi Tây Tiến” như vậy Sau chặng đường hành quân vất vả, mệt mỏi các chiến sĩ có dịp dừng chân dựng trại ở một bản làng có tên rất đỗi thân thương-Mai Châu Ở đây các thiếu nữ dân tộc trẻ trung xinh xắn mang cơm nếp thơm lên cho các anh, cùng các anh quay quần ngồi bên nồi xôi nếp khiến bao nhiêu vất vả, khó khăn đều tan biến Đây là khung cảnh đậm đà tình quân dân, chiến tranh lùi dần vào trong một góc khuất nào đó nhường chỗ cho một cảnh sinh hoạt vui tươi Sau thời gian dài hành quân vất vả giữa núi rừng phải chịu đói, chịu khát Nay các anh được đồng bào Mai Châu đón tiếp bằng “cơm lên khói” cùng mùi hương “thơm nếp xôi” thật là ấm lòng Quang Dũng đã dùng từ “mùa em”thể hiện sự gần gũi, thân thương và nó gắn bó như “tình em”, các anh bộ đội cụ Hồ nhớ những vụ mùa, nhớ cơm nếp thơm và nhớ cả những bóng hồng miền sơn cước Cũng nói về hương nếp, hương xôi và tình cảm quân dân, Chế Lan Viên đã viết trong bài “Tiếng hát con tàu”:
“ Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Trang 21Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”
Nhớ mùi hương thơm của lúa gạo là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ tình nghĩa, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu
Mười bốn câu đầu của bài thơ “Tây Tiến” một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp Bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên đó nổi bật là hình ảnh chiến sĩ đầy bản lĩnh và lạc quan, đang dấn thân vào máu lửa Nửa thế hệ trôi qua, bài thơ vẫn giữ được trị của mình Như bốn câu thơ của Giang Nam:
“Tây Tiến biên cương mờ khói lửa Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và bài thơ ấy, con người ấy Vẫn sống muôn đời với núi sông”
Cảnh núi rừng hoang vu, chênh vênh, hiểm trở, dữ dội lùi dần rồi khuất hẳn, nhường bước cho một thế giới hoàn toàn khác của núi rừng Tây Bắc Những nét vẽ mềm mại, uyển chuyển, tinh tế dưới ngòi bút tài hoa của Quang Dũng cũng được bộc lộ rõ nhất trong đoạn thơ thứ hai Đó là nỗi nhớ
về những đêm giao lưu văn hóa văn nghệ và vẻ đẹp huyền hồ của thiên nhiên miền Tây Bắc Mở đầu phần hai là sự tiếp nối cái hương vị “thơm nếp xôi” ấy “Hội đuốc hoa” đã trở thành kỉ niệm đẹp trong lòng nhà thơ, trở thành hành trang trong tâm hồn của các chiến binh Tây Tiến Trên con đường hành quân gian khổ, các anh dừng chân dựng trại và được sự tiếp đón nồng hậu, thân tình của người dân Đối với Quang Dũng cũng như những người lính, không khí tươi vui của đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân với ánh lửa sáng bừng luôn là những kỉ niệm khó có thể quên:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Đêm liên hoan văn nghệ được tổ chức ngay ở doanh trại bộ đội, đây là hiện thực Không gian
ở bốn câu thơ không còn rộng lớn như đoạn thơ đầu, mà không gian giờ đây được thu hẹp lại thành
“doanh trại” – một không gian bình yên, được coi là mái nhà của người lính Ở đây, những người lính không phải gồng mình lên để chiến thắng những khó khăn, vất vả mà tâm hồn họ thực sự được thư giãn Hai từ “bừng lên” trong câu thơ như điểm thêm phần tưng bừng náo nhiệt, ấm áp, rực rỡ, ngập tràn ánh sáng “Bừng” chỉ ánh sáng của đuốc hoa, của lửa trại sáng bừng, “bừng” cũng có nghĩa là tiếng khèn, tiếng hát, tiếng cười tưng bừng rộn rã Ở đây, Quang Dũng đã có cách ví von đầy nghệ thuật trong hai từ “đuốc hoa” “Đuốc hoa” trong Hán Việt có nghĩa là nến hoa chúc – một biểu tượng hạnh phúc của các đôi uyên ương, là từ ngữ được dùng trong văn học cũ: “Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa” (Truyện Kiều) Nhưng thật ra, “đuốc hoa” ở đây chỉ là những bó đuốc bình thường trong những đêm giao lưu văn nghệ của người lính Tây Tiến, khi có gió thổi qua làm cho những bó đuốc ấy phát ra các tia lửa và nhìn nhận qua lăng kính lãng mạn của tác giả thì lại trở thành đuốc hoa, khiến cho ta liên tưởng đến lễ cưới “Kìa em” là sự ngắm nghía, đồng thời là lời thốt lên bất ngờ vì vẻ đẹp lộng lẫy, kiêu sa của các cô gái miền cao Đằng sau từ “kìa” là thấy cả ánh mắt, nụ cười hết sức yêu đời, tinh nghịch, phong độ và tài hoa của người lính Tây Tiến “Xiêm áo” chính là những bộ trang phục đẹp của người con gái miền cao, nhưng ta có thể hiểu đây là hình ảnh vô cùng vui tươi, tinh nghịch của người lính khi các anh mặc những bộ xiêm y của phụ nữ cùng nhau vui đùa, nhảy múa
Trang 22xung quanh ngọn lửa trại Từ xa xưa, những chiếc khèn bè đã được dùng làm nhạc đệm trong hầu hết các làn điệu dân ca, làm nền cho những điệu dân vũ, điệu múa lăm vông, hát đối, giao duyên, trong các dịp lễ Tết, lễ hội hay tiếng khèn dùng để gọi bạn tình đêm khuya của những chàng trai cô gái Lào khi yêu nhau Tiếng khèn bè trầm bổng, sâu lắng, dồn dập, rộn ràng, náo nức cả không gian yên ắng Khi tiếng khèn cất lên làm người nghe thấy da diết, sâu lắng, ngân nga trong sáng như tiếng suối reo, gió hát, hiện nên vẻ hoang sơ,hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc Bởi thế, Quang Dũng đã không khỏi say sưa và quyện vào tiếng nhạc du dương của khèn, vừa lạ vừa mang tính sơ khai mà đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Từ “man điệu” mà tác giả sử dụng ở đây cũng rất tài hoa, người đọc như được chứng kiến những vũ khúc hoang sơ của văn hóa Âu Lạc Trong những đêm sinh hoạt ấy có trang phục đẹp,
có cả âm nhạc, có những điệu múa, điệu nhảy vui tươi và không khí ở đây là không khí say mê ngây ngất Điều đó được chứng tỏ khi ban đầu ông dùng từ “em” sau ông lại chuyển sang dùng từ “nàng”
Từ cách sử dụng ấy, ta cảm nhận em như một nàng tiên kiều diễm và ta như lạc cõi thần tiên với một không khí say mê đến ngây ngất Những thiếu nữ Mường,Thái xinh đẹp, duyên dáng “e ấp” xuất hiện trong bộ xiêm áo rực rỡ, cùng với tiếng khèn “man điệu” đã “xây hồn thơ”, xây cả nỗi nhớ bâng khuâng trong lòng những người lính trẻ Địa danh Viêng Chăn không phải là địa danh của Việt Nam,
mà đó là thủ đô của Lào Ta nhận thấy được sự đặc biệt trong địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến Họ không chỉ chiến đấu trên nước ta, mà còn cầm súng trên đất bạn Lào “Nhạc về” tạo nên độ phiêu du phiêu lãng khiến tâm hồn người lính trở nên thăng hoa Mọi cảm giác mệt mỏi đều tan biến, thay vào đó là lòng yêu đời, yêu cuộc sống Chính những phút giây ấy đã nâng bước họ mạnh mẽ hơn trên con đường hành quân phía trước
Ở đoạn thơ này, tác giả đã làm xuất hiện một thế giới khác của Tây Bắc, thiên nhiên giờ đây không còn khốc liệt, dữ dội nữa mà nó hiện ra với vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình Ngòi bút của Quang Dũng có sự thay đổi, bên cạnh nét vẽ mạnh mẽ, khỏe khoắn thì vẫn có những đường nét mềm mại, uyển chuyển, tinh tế Tất cả làm cho bức tranh thiên nhiên và con người miền Tây hiện lên rất rõ
So với bốn câu thơ trên là hình ảnh không khí đêm lễ hội tưng bừng hòa hợp với ánh sáng lung linh và tâm hồn trẻ trung, yêu đời của các chiến sĩ Tây Tiến thì bốn dòng thơ tiếp theo, Quang Dũng đã đưa người đọc đến với hình ảnh của con người và núi rừng Tây Bắc trong một buổi chiều sương Một không gian bảng làng khói sương như trong cõi mộng cứ thế hiện ra Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên theo chiều hướng nhẹ hóa Cái dữ dội, khốc liệt được đẩy lùi thay vào đó là những hình ảnh nhẹ nhàng và thơ mộng:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
“Người đi” chắc hẳn là người lính Tây Tiến Ngòi bút Quang Dũng không tả mà chỉ gợi Hình ảnh đầu tiên là hình ảnh của một “chiều sương” cho ta thấy nét đặc trưng vốn có của núi rừng nơi đây Nhưng sương lúc này không phải là sương lấp, sương che hay sương phủ, mà chỉ là những làn sương bình thường mở ảo, nó gợi màu sắc bảng làng, khói sương và có chút man mác buồn Địa danh duy nhất trong khổ hai chính là Châu Mộc, bởi ở đây có cảnh sắc thiên nhiên rất đẹp, nơi đây có núi sông diệu lệ, có lung lũng lúa chín vàng, có gió cuốn mây bay, có nắng vàng rực rỡ Mở ra ở đó là một không gian buổi chiều được giăng mắt lên là mùa của sương khói hiện ra như một miền cổ tích, chính
vì vậy mà Châu Mộc là nơi để lại cho các anh nhiều ấn tượng, kỷ niệm sâu sắc nhất Đại từ “ấy” làm
rõ nghĩa hơn cho từ chiều sương, nhấn mạnh rằng đây là một buổi chiều rất đặc biệt, chiều sương trong nỗi nhớ đã thành kỷ niệm nên tình người cũng man mác, bâng khuâng Chữ “ấy” bắt vần với chữ “thấy” ở câu thơ sau, một vần lưng thân tình, âm điệu câu thơ như bị trĩu xuống như một nốt nhấn Nữ thi sĩ xưa nhớ kinh thành Thăng Long là nhớ “hồn thu thảo”, nay Quang Dũng nhớ về “hồn lau”, nhớ về cái xào xạc của gió, nhớ những cờ lau trắng trời, những cây lau giăng khắp mọi nẻo bến
bờ, hiện ra như những đôi bờ tiền sử Trong văn chương Nguyễn Tuân thì cảnh vật không hề vô tri vô
Trang 23giác, bởi đó là nghệ thuật nhân hóa “hồn lau” Nỗi buồn, tâm trạng của người đi dường như cũng khuếch tán vào cảnh vật, những bông lau sậy chập chờn đôi bờ cũng có hồn của nhà thơ, Ta nhớ thơ Chế Lan Viên:
“Ai lên biên giới cho lòng ta theo với Thăm ngàn lau trắng chỉ có một mình Bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi Suốt một đời với gió giao tranh”
Những hình ảnh “chiều sương ấy”, “hồn lau”, “bến bờ” và “hoa đong đưa” kết hợp với cách hỏi “có thấy, có nhớ” mở ra một khung cảnh buổi chiều sương trong ký ức Sương mờ giăng khắp không gian, bến bờ lặng lẽ hoang dại như một bờ tiền sử, trên sông xuất hiện một dáng người mềm mại, uyển chuyển nhưng cũng hết sức vững chãi của người đi trên thuyền độc mộc, những bông hoa rừng đong đưa làm duyên trong dòng nước Điệp ngữ “có thấy-có nhớ” luyến láy như chạm khắc vào nỗi nhớ da diết, cháy bỏng khôn nguôi Độc mộc là một loại thuyền được làm từ cây gỗ lớn dài, dáng người trên chiếc thuyền độc mộc ấy có thể là hình ảnh mềm mại, uyển chuyển của những cô gái Thái, Mèo đang đưa các chiến sĩ vượt sông Nhưng ta cũng có thể xem đây là dáng hình kiêu dũng của các chiến
sĩ Tây Tiến đang chèo chống con thuyền vượt thác dữ tiến về phía trước Tất cả những hình ảnh ấy đều để lại trong lòng Quang Dũng một cách khó phai nhòa Cảnh và người hòa quyện đồng điệu Ai nói rằng đất Tây Bắc là xứ rừng thiêng nước độc xin hãy để tâm hồn mình lắng lại để chất thơ Tây Bắc ngấm vào hồn Câu thơ cuối được tác giả dùng từ rất tinh tế, ông đã dùng từ láy hoa “đong đưa” chứ không phải là “đung đưa” hay “đu đưa”, bởi nếu viết “hoa đung đưa” thì cảnh vật ở đây vô tri vô giác, gợi đến một sự chuyển động về cơ học khô khan, còn “hoa đong đưa” thì lại có hồn người, thể hiện sự chuyển động duyên dáng, tình tứ, bông hoa lau trở thành những sinh thể có hồn đang làm duyên, làm dáng trên mặt nước sóng sánh, chòng chành Cánh hoa rừng như cũng quyến luyến con người, cánh hoa ấy như bàn tay vẫy chào người lính, tiễn các anh vượt sông đi đánh giặc Cảnh như
có hồn, có sự thiêng liêng của núi rừng, đậm đà màu sắc cổ tích và huyền thoại Qua những nét vẽ hư
ảo trên, ta thấy như trước mắt mình một bức tranh sơn thủy hữu tình mang dấu ấn của một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, lãng mạn, tài hoa, vô cùng yêu mến và gắn bó với mảnh đất miền Tây trong tâm hồn Quang Dũng Đồng thời ta cũng cảm nhận được tâm hồn rung động của các chiến sĩ Tây Tiến trước cái đẹp
Tám câu thơ đã vẽ nên khung cảnh thiên nhiên, con người miền Tây với vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng, trữ tình Chất nhạc, chất họa, chất mơ mộng hòa quyện chặt chẽ với nhau trong đoạn thơ tạo nên một thế giới của cái đẹp Từng nét vẽ của tác giả đều mềm mại, tinh tế, uyển chuyển Đây là đoạn thơ bộc lộ rõ nhất sự tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng trong bài tổng thể bài thơ
Giữa thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng đầy thơ mộng trữ tình là hình ảnh người lính Tây Tiến với những gian khổ thiếu thốn được thể hiện qua khổ thơ thứ ba Nếu như những đoạn thơ đầu, hình ảnh đoàn quân mới hiện lên qua nét vẽ gián tiếp, nói đến gian khổ, hy sinh và địa bàn hoạt động thì ở đây, đoàn quân ấy đã hiện lên với những nét vẽ cụ thể, gân guốc, rạch ròi Đã trở thành khuôn sáo khi đề cập đến sự can trường của các chiến binh:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Đó là bức tượng đài bi tráng về những chàng trai xuất thân từ thủ đô hoa lệ, họ sẵn sàng ra đi với lý tưởng sống cao đẹp “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Hai câu thơ trên nói về ngoại hình của người lính Tây Tiến, mang vẻ đẹp ở đây là viết về cái ốm nhưng không hề yếu Nhà thơ miêu tả, khắc tạc cả một tập thể của mình, những con người anh hùng được tác giả gọi bằng cái tên khá thú vị - “Đoàn binh không mọc tóc”, cái hào hùng hiện lên qua cách dùng từ Hán Việt “đào binh” thay vì là “quân
Trang 24ấy” nhằm gợi lên sự mạnh mẽ lạ thường, gợi âm vang khỏe khoắn, khẳng định một lực lượng đông đảo, hừng hực khí thế Nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng đã từng gọi tiểu đội của mình bằng cái tên bắt nguồn từ hiện thực khắc nghiệt – “Tiểu đội xe không kính”, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan và chất lính dí dỏm hài hước
Nhưng trước hết, đây là những câu thơ tả thực, thực một cách trần trụi: Chiến sĩ Tây Tiến hồi ấy hoạt động ở những vùng núi hiểm trở, ma thiêng nước độc, chết trận thì ít mà chết bệnh thì nhiều, có những con suối khiến họ rửa chân rụng lông, gội đầu rụng tóc Câu thơ cũng mang đến một nét nghĩa nữa là người lính Tây Tiến họ tự cạo trọc đầu trở thành những anh “vệ trọc” để giữ vệ sinh trong cuộc kháng chiến thiếu thốn trăm bề và cũng dễ thuận lợi trong việc đánh giáp lá cà Và nhà thơ còn đề cập đến một căn bệnh đã ám ảnh vào cả một thời kì trong văn chương của thời kì kháng chiến chống Pháp, căn bệnh khiến cho các anh bị rụng tóc đó là bệnh sốt rét rừng Một căn bệnh nguy hiểm đã hoành hành dữ dội khiến cho người chiến sĩ chết đường chết bệnh còn nhiều hơn là chết trận Thơ ca kháng chiến đã từng ghi lại những hình ảnh thật cảm động về sự tiều tụy của người chiến sĩ vì sự nguy hiểm của căn bệnh này, không chỉ người lính trong “Tây Tiến” mà ngày trong cả bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu cũng có nhắc đến:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”
Quang Dũng thật tinh tế khi viết “không mọc tóc” chứ không phải là “tóc không mọc”, bởi “không mọc tóc” được ông sắp xếp từ ngữ để chỉ cái ngang tàng, ngạo nghễ, tinh thần vượt lên trên sự khốc liệt của cuộc chiến ở người lính nhưng có nét hóm hỉnh, đùa vui là không cần mọc tóc, nhìn qua lăng kính lãng mạn của tác giả chuyển từ thế bị động sang thế chủ động Từ đó ta thấy rằng, hiện lên trong trang thơ của Quang Dũng đó là vẻ đẹp của những anh vệ trọc đáng yêu, tuy ốm nhưng chẳng hề yếu Trong thực tế, “xanh màu lá” chính là màu xanh của làn da đang bị ốm, làn da xanh xao, vàng vọt, bủng beo Điều này ta có thể thấy sự tương đồng trong bài “Cá nước” của nhà thơ Tố Hữu:
“Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ Anh vệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh thế”
Hay trong thơ của Thôi Hữu cũng có nhắc:
“Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật Đâu còn tươi nữa những ngày hoa”
Đâu chỉ riêng những người lính trong thơ Quang Dũng mới bị mắc bệnh, mới phải chết vì căn bệnh ác liệt này Thế nhưng một lần nữa thông qua lăng kính lãng mạn của Quang Dũng, màu xanh ấy không còn là màu của làn da đang bị ốm nữa mà nó trở thành màu xanh của áo lính, màu xanh của lá cây ngụy trang, xanh sắc mạ non, xanh lũy tre làng Quang Dũng đã dùng từ “dữ oai hùm” một cách rất sáng tạo, tạo nên âm hưởng mạnh mẽ cho câu thơ khiến người đọc cảm nhận được sức mạnh tinh thần, khí thế oai hùng khiến cho kẻ địch khiếp sợ của đoàn binh Hình ảnh người lính Tây Tiến trong
tư thế làm chủ thiên nhiên, làm chủ đất trời Tây Bắc, đạp đổ mọi gian khổ, khó khăn để tiến về phía trước, họ mạnh mẽ, oai phong lẫm liệt như mãnh hổ ngự trị chốn rừng xanh rộng lớn Câu thơ thứ hai tạo ra hai vế đối lập giữa “quân xanh màu lá” với “dữ oai hùm”, một bên là cái thiếu thốn, khó khăn gian khổ, một bên là khí phách anh hùng của những người lính Tây Tiến Ba tiếng “dữ oai hùm” tạo nên một âm hưởng mạnh mẽ, hùng tráng cho câu thơ, người đọc cảm nhận được khí thế của đoàn
Trang 25quân ra trận, câu thơ ngắt nhịp mạnh tô đậm nét hùng dũng Như Vũ Quần Phương nhận xét: “Quân xanh màu lá, màu áo hay màu da? Chắc cả hai! Chỗ này tả lính rất khéo, nói được lính ôm mà không yếu, có tóc rụng, có da xanh, nhưng ấn tượng lưu lại là dữ oai hùm” Mười bốn chữ thơ mà chạm khắc vào lịch sử hình ảnh một đoàn quân phi thường, độc đáo, có một không hai trong cuộc đời cũng như trong thơ ca Đoàn quân của một thuở “xếp bút nghiên lên đường chinh chiến”
Dưới ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, các chiến sĩ không còn là nạn nhân mà trở nên thật chủ động, ngạo nghễ: không mọc tóc, da xanh xao là để thích nghi với hoàn cảnh chiến đấu Vũ Quần Phương có nhận xét: Quang Dũng miêu tả lính Tây Tiến ốm mà không hề yếu Đầu không mọc tóc không phải là hình ảnh gây cười hay nói chính xác hơn là cười mà xót xa, không cầm được nước mắt, bởi răng tóc là gốc con người, ai cũng muốn chăm sóc cho vẻ đẹp ngoại hình của mình Từ biệt Hà Thành ra đi chiến đấu khi màu tóc còn xanh, da còn hồng hào Vậy mà giờ đây họ chấp nhận hy sinh mái tóc, tuổi thanh xuân của mình để góp phần làm nên mùa xuân vĩnh viễn của Tổ quốc
Khó khăn gian khổ là thế, nhưng các chiến binh Tây Tiến vẫn không nguôi đi những tình cảm lãng mạn Nếu hai câu thơ trên như nét khắc, nét chạm vào không gian của tác giả để tạo nên bức tượng đài với ngoại hình ốm mà không yếu, thì hai câu thơ sau, tác giả lại nói về vẻ đẹp tâm hồn của
họ Và tâm hồn chính là sức mạnh nội tâm, là khí phách của những người lính Tây Tiến Dù cuộc sống có vất vả thiếu thốn nhưng không vì thế mà từ bỏ lý tưởng “mộng chinh phu, mộng giai nhân”:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Cùng một lúc ta có thể thấy xuất hiện hai hành động trong tâm hồn của người lính Tây Tiến đồng thời xảy ra Đó là “mắt trừng”, đó là “gửi mộng” Hai câu thơ nhốt trọn hai thế giới, hai giấc mộng của người lính Tây Tiến Người ta vẫn thường nói: “Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, là tâm điểm của mọi suy nghĩ” Vì vậy, khi bắt gặp đôi mắt trừng đã gợi cho ta nhiều liên tưởng Đôi mắt của các anh mở to nhắm thẳng về phía quân thù mà bắn với chí khí thề sống chết với kẻ thù Đôi mắt ấy còn gửi mộng qua biên giới – mộng giết giặc, mộng lập công, mộng hòa bình.Ban ngày các anh gửi ánh mắt trừng đầy căm thù tới kẻ địch Hình ảnh “mắt trừng” là ánh mắt mở to, đầy dữ dằn hướng về phía trước, ánh lên sự quyết tâm, khát vọng chiến đấu giành chiến thắng Đôi mắt ấy còn gửi mộng qua biên giới – mộng giết giặc, mộng lập công, mộng hòa bình Một hình ảnh ước lệ làm tôn lên khí thế oai phong lẫm liệt, kiêu hùng của đoàn binh như trong bài thơ “Bài ca chim Chơ Rao” của Thu Bồn từng viết:
“Quân thù kia ơi! Một bầy man rợ Bay đừng hòng khuất phục đời ta Bay định đốt ta thành hòn than quỳ lạy Trong ánh lửa hồng ta xuất hiện một vòng hoa”
Nhiều người cho rằng : “ dáng kiều thơm” là nỗi nhớ của Quang Dũng về quán kiều trên phố Hàng Bông, nơi mà ông hay lui đến để đàm đạo văn chương Hay có người cho rằng đó là những người lính đang nhớ về những thiếu nữ Hà Thành, nhớ người yêu của mình với vẻ đẹp “sắc nước hương trời”, với các chiến sĩ thì nỗi nhớ ấy là sự cân bằng, thư thái trong tâm hồn sau mỗi chặng đường hành quân vất vả, chứ không phải nhớ những điều ấy mà quên đi nhiệm vụ cao cả, nhớ để mà thối chí nản lòng Vậy mà một thời câu thơ “đẹp một cách lãng man”như thế này đã khiến cho tác giả của nó và chính bài thơ trải qua bao gió dập, sóng dồi Từng một thời bị phê phán bởi thói tiểu tư sản, nhưng thực ra nhờ vẻ đẹp ấy mà tâm hồn người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ Quang Dũng đã tạo nên một nét tương phản hết sức đặc sắc Những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng
đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn, trái tim họ vẫn rung động trong nỗi nhớ về một dáng kiều thơm Bức tượng đài người lính Tây Tiến
Trang 26đã được khắc tạc bằng những nguồn ánh sáng tương phản lẫn nhau, vừa hiện thực vừa lãng mạn Tại sao cấm những người lính xuất thân từ thành thị sống với những tâm tình riêng của mình, trong khi những người lính xuất thân từ nông dân thì lại được phép nhớ giếng nước, nhớ gốc đa, nhớ người thân của họ Vấn đề là nỗi nhớ ấy có ảnh hưởng đến ý chí, tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ hay không? Hay họ vẫn hiên ngang chắp tay súng tiêu diệt kẻ thù Có lẽ đa phần người lính Tây Tiến đều là học sinh, sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường, tuổi đời còn rất trẻ nên hành trang mang theo khi ra chiến trường không chỉ có súng đạn mà còn là một thế giới tâm hồn đầy mộng mơ Nỗi nhớ ấy cũng được nhà thơ Nguyễn Đình Thi thể hiện trong bài “Đất nước”:
“Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”
Tuy nhiên, thơ hay ta không nên truy theo nghĩa riêng để làm mất đi vẻ đẹp của bài thơ ấy, ta phải truy theo nghĩa chung Dù có đến quán kiều như Quang Dũng, dù có nhớ dáng hình yêu kiều của người con gái đi chăng nữa thì tất cả những người lính đều nhớ về quê hương, nhớ về Hà Nội với những con đường nồng nàn hoa sữa:
“Từ thuở mang gươm đi mở cõi Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”
Điều đó cho ta thấy, các anh bộ đội cụ Hồ không chỉ biết cầm súng bảo vệ Tổ quốc mà còn rất hào hoa, lãng mạn Ban đêm họ buông bỏ một vài gánh nặng để nhớ về Hà Nội, nhớ những con phố, góc nhỏ thân quen, nhớ về hình bóng giai nhân của mảnh đất Hà Thành Những giấc mộng tưởng như đơn giản nhưng lại chính là động lực để họ vững tin chiến đấu trong những tháng ngày gian khổ
Hai câu thơ tiếp theo là ý chí của người lính, sáng ngời vẻ đẹp lí tưởng của thời đại: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Quang Dũng không hề né tránh hiện thực, né tránh đau thương mất mát mà ông lại nhìn thẳng vào những bi thương ấy để viết nên những vần thơ của mình Có thể thấy câu thơ: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” nếu tách riêng ra rất dễ gây cảm giác nặng nề bởi đó là câu thơ nói về cái chết, về những nấm mồ nơi “viễn xứ”, nơi xa xôi Tác giả dùng phép đảo và đưa từ láy “rải rác” lên đầu câu để nhấn mạnh sự ít ỏi, thưa thớt, gợi sự hoang lạnh của những nấm mồ người lính Tây Tiến Cả một đoàn quân đang đi trên đường dài thỉnh thoảng sẽ có một người ở lại, họ ra đi không một tiếng khóc than, không một lời từ biệt Những nấm mồ ấy nằm rải rác không một nén hương, không một vòng hoa, cũng không có giọt nước mắt tiễn đưa của người thân Thật sự quá cô đơn, côi cút khi họ ngã xuống
và lại yên nghỉ ở nơi nào đó trên con đường diệt giặc, ở đỉnh đèo, góc núi, dưới tầng sâu, nơi đất lạnh đều có bóng dáng của họ Câu thơ như đưa người đọc vào cõi tê tái, nghẹn lòng như trong bài thơ
“Chinh phụ ngâm” của “Đặng Trần Côn”:
“Hồn sĩ tử gió về ù ù thổi Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi Chinh phu tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn”
Trang 27Yếu tố bi tráng, hào hùng được nâng lên, yếu tố bi lụy đau thương được giảm bớt khi Quang Dũng sử dụng từ Hán Việt “biên cương”, “mồ”, “viễn xứ” thì tăng tính trang trọng cho câu thơ, gợi không khí
cổ kính, biến những nấm mồ hoang lạnh nơi rừng sâu thành những ngôi mộ trang nghiêm nơi vĩnh hằng Lúc bấy giờ, ít ai viết bạo tay như Quang Dũng và đưa hình ảnh ảm đạm, thê lương, chết chóc vào thơ ca nhưng nhà thơ đã làm và tạo nên nét riêng của mình Các anh bộ đội cụ Hồ chiến đấu trên mọi mặt trận, mọi địa bàn núi non hiểm trở, thậm chí phải hy sinh tính mạng của mình Thế nhưng đó lại là bản lĩnh của người lính Tây Tiến, họ thà bám riết vào trận địa chứ quyết không đào ngũ bỏ về, lấy cái chết của mình làm tiền đề cho những người đồng đội nhắm thẳng về phía quân thù mà bắn Nếu như câu thơ trước tạo nên cái bi thì vần thơ sau lại vẽ lên nét tráng, câu thơ nhẹ nhàng như không hề mang chút bi thảm của những nấm mồ viễn xứ Cái không khí bi quan biến mất, chỉ còn lại nét ngang tàn, chút thanh thản của người lính Tây Tiến “Chiến trường” là nơi mưa bom bão đạn dữ dội, khốc liệt và nguy nan, là nơi cái chết cận kề như một định mệnh Bảo “chẳng tiếc đời xanh” là cách nói của người thanh niên trí thức Hà Nội mang cả quan niệm lí tưởng chiến đấu cao đẹp Đâu phải họ không tiếc cho tuổi trẻ! Chẳng phải “tuổi trẻ là mùa xuân” đó sao? Nhưng cao hơn cả “mùa xuân” ấy, họ còn có tự do, quê hương, còn người hậu phương gửi gắm cả nỗi lòng cho họ Đó cũng là
lí do tại sao người lính không tiếc đời xanh, họ chỉ tiếc nếu như tuổi trẻ này không được cầm súng bảo
vệ quê hương đất nước thì sẽ vô nghĩa biết nhường nào! Cụm từ “chẳng tiếc” là một cách nói hết sức ngang tàng, khí phách của người lính, đây là thái độ tự nguyện, không gượng ép mình, họ ra đi với tâm trạng thanh thản, và cũng khẳng định rằng đời xanh, tuổi xuân nhiều hy vọng, hoa mộng sẽ không
có ý nghĩa gì nếu không xông pha nơi trận mạc, góp mình bảo vệ quê hương Tổ quốc Người lính coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, là lí tưởng quên mình chói sáng “Chết vinh còn hơn sống nhục”, thà hi sinh anh dũng chứ quyết không sống dưới tay kẻ thù Người lính Tây Tiến mang dáng vẻ của người anh hùng “Kinh Kha” sang mưu sát Tần Thủy Hoàng trong bài “Sông Dịch”, người chinh phu thời xưa một đi không trở lại:
“Gió thổi hiu hắt, nước sông Dịch lạnh, Tráng sĩ một khi ra đi, sẽ không trở về nữa”
Hay lí tưởng của người đi trong bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:
“Li khách, li khách con đường nhỏ Chí lớn chưa về bàn tay không”
Mãi sau này, nhà thơ Thanh Thảo cũng viết:
“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc”
Vậy là người lính cụ Hồ không chỉ mang vẻ đẹp của thời đại mà còn mang một vẻ đẹp cổ kính đượm màu hiệp sĩ xa xưa Nhà thơ đã nhìn thẳng vào sự thật khốc liệt của chiến tranh, miêu tả cái chết một cách không né tránh Đúng như những gì nhà thơ Trần Lê Văn nhận xét: “Tây Tiến phảng phất nét buồn đau, nhưng buồn đau mà không hề bi lụy” Quang Dũng thật tài tình khi nói về cái chết nhưng không bao giờ hét của người lính Tây Tiến ở hai câu thơ trên
Và hai câu thơ sau, nhà thơ đã viết về vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng qua sự hy sinh cao đẹp của những người lính Tây Tiến:
“Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Trang 28Cách nói “Áo bào thay chiếu” có thể hiểu là chiếu không có, những có áo bào vì theo ý kiến của Quang Dũng: Tôi muốn nói thêm cái phần gian khổ, thiếu thốn của miền Tây Khi nằm xuống, người chiến sĩ không có manh chiếu để liệm Nói “áo bào thay chiếu” là cách nói của người lính chúng tôi, cách ước lệ để an ủi đồng chí của mình đã nằm xuống Người lính Tây Tiến ra đi từ những năm 1946,
1947 của thời kỳ trước, những năm đầu của cuộc kháng chiến, họ thiếu thốn đủ bề về cơ sở vật chất Vậy áo bào là điều không thể có, muốn hiểu hình ảnh này ta đến với cách hiểu cua Trần Lê Văn:
“ Không có áo bào, mà chỉ đơn giản là những tấm áo mỏng và người lính cởi ra để bọc người đồng đội của mình trở về với đất mẹ” Vẻ đẹp này ta bắt gặp trong thơ của Chế Lan Viên:
“Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con”
“Áo bào” là một từ Hán Việt, thực ra đó là tấm áo choàng bên ngoài của các anh bộ đội nhưng qua cái nhìn của tác giả, dù nó đã bạc, sờn hay rách vì bom đạn của kẻ thù nhưng nó vẫn trở thành chiếc áo bào sang trọng tiễn đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng Cách dùng từ “áo bào” làm cho câu thơ trở nên
cổ kính hơn, trang trọng hơn cho cái chết người lính Gợi được hào khí của chí trai “thời loạn sẵn sàng chết giữa sa trường lấy da ngựa bọc thây” Nhà thơ Hoàng Lộc trong bài thơ “Viếng Bạn” cũng đã viết về cảnh tiễn đưa như thế:
“Ở đây không manh ván Chôn anh bằng tấm chăn Của đồng bào Cứa Ngàn Tặng tôi ngày sơ tán”
Hoặc “áo bào” này Trần Lê Văn khẳng định: “Đôi khi là những tấm chiếu mỏng, những tấm chăn mỏng của đồng bào dân tộc miền cao Họ tặng cho người lính, các anh sử dụng tấm chiếu này để đưa người đồng đội của mình trở về với cát bụi” Chữ “về” nói được thái độ nhẹ nhóm, ngạo nghễ của người tráng sĩ đi vào cái chết “Anh về đất” là hình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca Sau khi hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng, người lính Tây Tiến trở về trong niềm chở che của đất mẹ quê hương, của đồng đội và đây cũng là cách nói giảm nói tránh để vơi bớt đau thương Quang Dũng muốn vĩnh viễn hóa
sự hy sinh cao đẹp, với người lính thì chết không phải là hết mà là về với đất mẹ, được đất mẹ ôm vào lòng để hóa thân mình cho dáng hình xứ sở, để còn mãi với núi sông này Dù hôm nay chưa có bảng vàng, bia đá để khắc tạc công ơn nhưng trong lòng người ở lại, các anh được tôn vinh như những anh hùng dân tộc, được xứng đáng tiễn đưa trang trọng nhất Quang Dũng nói về cái chết nhưng lại bất tử hóa người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ Các anh ra đi mãi mãi nhưng ra
đi là cho lẽ sống của mình còn sống mãi nên cái chết của các anh nhẹ nhàng như về đất Trong bài
“Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm cũng đã nói:
“Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…”
Mở đầu bài thơ ta gặp hình ảnh sông Mã gắn liền với lịch sử đoàn quân Tây Tiến, chứng kiến mọi gian khổ, chiến công của ta, nhìn thấy tội ác của quân thù và giờ đây, cũng chính con sông Mã ấy lại chứng kiến sự hy sinh của người lính Nó như “gầm” lên khúc độc hành bi phẫn, đau thương làm rung động cả một chốn hoang sơ Câu thơ đề cập đến đau thương nhưng vẫn hùng tráng Sông Mã “gầm lên” đây là âm vang của sông núi, là điệu khèn vĩnh quyết, là khúc ca bi tráng của thiên nhiên miền
Trang 29Tây và quê hương đất nước đang quặn lòng, nghiêng mình tiễn đưa các anh về nơi yên nghỉ cuối cùng Khi các anh ngã xuống về cõi vĩnh hằng, sông Mã như con chiến mã trung thành gầm lên một tiếng kêu đầy đau đớn tiếc thương cho tướng sĩ của mình , đây chính là biểu hiện cao độ của nỗi đau
Và sông Mã oai hùng qua biện pháp nhân hóa đã trở thành một sinh thể biết đau đớn, như thay cho cả dân tộc kịp tấu lên những âm thanh bi tráng để tiễn đưa những anh hùng dân tộc Tiếng gầm ấy là khúc tráng ca - khúc nhạc bi tráng, khúc nhạc thiêng tiễn đưa anh linh của những người chiến sĩ về điểm dừng chân cuối cùng, nó đã nâng cao cái chết của người lính lên tầm sử thi hoành tráng, cái chết của người trai thời loạn đầy hào sảng Không hề có tiếng khóc, không có những giọt nước mắt tang thương, chỉ có núi sông, đất mẹ chứng kiến cái chết của các anh Người lính ra đi nhưng hình ảnh của các anh sẽ không bao giờ phai nhòa trong tâm trí mọi người Hình ảnh người lính và những kỉ niệm vẫn đậm mãi trong lòng Quang Dũng nói riêng và trong mỗi chúng ta nói chung Trong bài “Bài thơ ấy”, Giang Nam có viết:
“Tây Tiến biên cương mờ khói lửa Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và bài thơ ấy con người ấy Vẫn sống muôn đời với núi sông”
Từ sự kết hợp hài hòa giữa cái nhìn hiện thực và cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên một bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước mình, mang ba vẻ đẹp ốm mà không yếu, chết nhưng không hết, bi nhưng không bi quan bi lụy mà còn bi hùng bi tráng Nói như Vũ Thu Hương: “…Tây Tiến – bức tượng đài bất tử về người lính vô danh…”
Đoạn thơ cuối thể hiện tình cảm của nhà thơ về đoàn quân Tây Tiến, tình đồng chí đồng đội trong những năm kháng chiến gian khổ, đó là khúc vĩ thanh của nỗi nhớ Bốn câu thơ này được xem
là mộ chí của người lính Tây Tiến, là lời thề gắn bó sâu sắc, ý chí còn đến muôn đời sau của các anh
“Li khách! Li khách con đường nhỏ Chí lớn chưa về bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong”
Từ láy “thăm thẳm” ý chỉ các anh bộ đội càng đi thì càng không có cơ hội trở về Bởi lẽ, họ ra
đi trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, và đây là lúc thế giặc thì mạnh còn quân
Trang 30ta thì yếu Đó là hoàn cảnh lấy trứng chọi đá, đòi hỏi phải hy sinh xương máu mới mong có ngày độc lập tự do Bao thế hệ thanh niên cầm súng ra chiến trường với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Ý thơ lột tả lí tưởng chiến đấu cao cả của người lính cụ Hồ, làm nổi bật phẩm chất yêu quê hương, yêu đất nước của họ “Ai” là đại từ phiếm chỉ chỉ đoàn binh Tây Tiến ra đi trong mùa xuân năm ấy, mùa xuân khi “tiếng kèn vang dậy khắp non sông”, đoàn binh Tây Tiến xuất quân lên đường với hành trình chiến đấu bảo vệ Tổ quốc “Mùa xuân” ấy ta có thể hiểu đó là thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến, mùa xuân năm 1947 Hoặc đây chính là mùa xuân của tuổi trẻ, của các chiến sĩ đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà Câu thơ cuối với sự kết hợp linh hoạt từ các thanh bằng như một bài hát đầy cảm xúc “Sầm Nứa” là địa danh ở phía đông Thượng Lào,
“chẳng về xuôi” nghĩa là bỏ mình trên đường hành quân Chí nguyện của các chiến sĩ là sang nước bạn hợp đồng tác chiến với quân dân Lào chống Pháp, họ quyết tâm thực hiện lí tưởng ấy đến cùng Cho nên dù ngã xuống trên đường hành quân, nhưng hương hồn vẫn đi cùng đồng đội, sống trong lòng đồng đội Câu thơ mang âm hưởng của “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”:
“Sống cũng đánh giặc, thác cũng đánh giặc”
Bài thơ đã tái hiện được vẻ hùng vĩ, hoang dại, nguyên sơ nhưng cũng không kém phần thơ mộng của núi rừng Tây Bắc Đặc biệt là cảnh sông nước mênh mang, mờ sương khói của Tây Bắc càng làm cho bức tranh thiên nhiên ở đây hiện lên đầy ấn tượng và trở thành nỗi nhớ khôn nguôi của những người lính Tây Tiến Hình tượng của những người lính Tây Tiến vừa mang vẻ đẹp lãng mạn, vừa mang tinh thần bi tráng Những chặng đường hành quân dài qua núi non gập ghềnh, trắc trở và những trận chiến hùng tráng, sự hi sinh mất mát cũng không làm hình ảnh của các anh mờ nhòe đi mà chỉ là những nét bút tô đậm hơn vẻ kỳ vĩ của những bức tượng đài ấy mà thôi Qua bài thơ, ta thấy tình yêu thiên nhiên, sự gắn bó máu thịt với đoàn binh Tây Tiến của tác giả Quang Dũng Với những sáng tạo nghệ thuật của Quang Dũng cùng bút pháp tạo hình đa dạng đã dựng nên bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng và hình ảnh của người lính Tây Tiến với những đường nét khỏe khoắn, mạnh mẽ Sử dụng ngôn ngữ vừa quen thuộc vừa độc đáo, vừa có nét cổ kính, vừa mới lạ, bút pháp lãng mạn kết hợp với tinh thần bi tráng tạo nên giọng điệu riêng cho thơ Quang Dũng
Những người lính Tây Tiến nói riêng và những người lính chống Pháp nói chung đã để lại cho thế hệ trẻ hôm nay một bài học, một sự nhìn nhận đúng đắn về vai trò và sứ mệnh của bản thân trong thời đại mới Ngày hôm nay, khi chúng ta ở trong thời bình, những tiếng súng, những hình ảnh hành quân, những khó khăn gian khổ của người lính chỉ còn ở trong những trang sách, vần thơ mà thôi Nhưng mà đó là thời đại có thật, thời oanh liệt của cha ông chúng ta cho nên ta phải trân trọng
nó và từ đó trân trọng cuộc sống của mình hôm nay, để có ý thức phát triển bản thân, giữ gìn và phát huy lòng yêu nước của mình, có nhiều cống hiến cho quê hương, đất nước Việt Nam thêm phát triển bền vững và ngày càng lớn mạnh, có thể sánh vai với các cường quốc năm châu như những lời mà Bác đã dặn
Có thể nói, trong những năm trường kỳ kháng chiến, cảm hứng yêu nước thật sự là một động lực tinh thần mạnh mẽ cho những người con đất Việt mang “Tầm vóc nhà thơ đứng trên thành chiến lũy” Lịch sử hào hùng của dân tộc, thiên nhiên và người chiến sĩ, đã được tái hiện sinh động và hào hùng qua những câu thơ “Tây Tiến” Khép lại những trang thơ hào hùng nhưng dư âm của nó có lẽ vẫn còn vương mãi Ta nhớ đến những câu thơ của Chế Lan Viên:
“Ôi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường”
Ngọn lửa thắp sáng ấy có lẽ không chỉ trong thơ ông, mà còn thắp lên từ những câu thơ Tây Tiến, hòa vào những bản trường ca kháng chiến Nhờ sự cống hiến hết mình cho nền thơ ca hiện đại mà vào năm 2001, Quang Dũng được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
Trang 31luôn trường tồn với chúng ta qua bao nhiêu năm tháng đó là bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng.Ông được biết đến với hồn thơ lãng mạn nặng tình quê hương đất nước Đến với bài thơ “Tây Tiến” là nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với đơn vị cũ Nhớ những cuộc hành quân vất vả, gian lao với bao mất mát hi sinh nhưng vẫn còn đó những kỉ niệm đẹp, ấm áp tình đồng chí, đồng đội Qua tác phẩm, tác giả đã khắc hoạ chân thực hình ảnh người lính Tây Tiến hào hùng, dũng cảm đan xen với cảnh thiên nhiên thơ mộng hữu tình nơi miền Tây Bắc ấy:
“Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi !
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
…
Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
để hướng về Tổ Quốc thân yêu.Phải tinh tế và tài tình làm sao khi tác giả kết hợp bút pháp hiện thực
và lãng mãn cùng với những hình ảnh độc đáo và sáng tạo khiến bài thơ “Tây Tiến” luôn vang đọng trong tâm trí người đọc
Đến với 14 câu thơ đầu của bài thơ là hình ảnh người lính Tây Tiến gắn liền với thiên nhiên Tây Bắc cùng với những chặng đường hành quân gian khổ, khó khăn Mở đầu bài thơ với âm điệu nhẹ nhàng trìu mến:
“Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi ! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”
Bài thơ mở ra cùng với âm mở “ơii” như vang vọng khắp núi rừng Nỗi nhớ ấy như được dồn nén lại
để bật lên một tiếng “ơi” tha thiết đến thế.Dường như mọi khoảng cách về địa lý cũng không thể
Trang 32khiến tác giả quên đi mà thay vào đó là một nỗi nhớ “chơi vơi”.Một nỗi nhớ lửng lơ, mơ màng trong tâm trí người lính ấy Kết hợp với âm “ơi” tuy nhẹ nhàng nhưng lại luôn khiến người đọc day dứt trong trái tim Xuyên cả không gian và thời gian nỗi nhớ ấy cũng chính là mạch cảm xúc của toàn bài thơ làm sống dậy bao kí ức tươi đẹp của tác giả Tuy đã “ xa rồi” nhưng đối với Quang Dũng chắc hẳn
“Sông Mã” là một chứng nhân lịch sử ghi dấu lại bao tội ác của kẻ thù cũng như cả bao chiến tích của đoàn binh “Tây Tiến” Hình ảnh “Sông Mã” như gắn liền với bao năm tháng chiến đấu gian khổ với chặng đường hành quân vô cùng vất vả nhưng cũng đầy tươi đẹp đối với những người lính.Chỉ bằng hai câu thơ mà dường như nỗi nhớ đã hiện lên một cách đầy rõ nét và sinh động
đã cho chúng ta những hình dung về dáng vẻ, tư thế của người lính trong gian lao.Tuy “mỏi” nhưng tinh thần của họ chưa bao giờ bị khuất phục trước khó khăn bởi họ luôn mang trong mình tinh thần lạc quan và nồng nàn lòng yêu nước “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” Quang Dũng đã khéo léo sử dụng một lúc hai biện pháp tu từ nhân háo và ẩn dụ qua hình ảnh “ hoa về”.Và cũng thật tinh tế khi tác giả không sử dụng từ “hoa nở” mà thay vào đó là từ “hoa về”.Cách dùng từ vừa khiến không gian như nhẹ hơn vừa cho ta cảm giác những bông hoa như những ngọn đuốc sáng trong đêm để mừng sự trở về của những người lính Nhà thơ Tố Hữu cũng có những liên tưởng độc đáo về hình ảnh đoàn quân:
“Những đường Việt Bắc của ta, Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”
Còn trong thơ Quang Dũng, bối cảnh thiên nhiên hiện ra với những hình ảnh sóng đôi trái ngược:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm, Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống, Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Trang 33
Có thể thấy cuộc hành quân với muôn vàn khó khăn trắc trở được tác giả thể hiện qua những con dốc Quang Dũng đã sử dụng một loạt tính từ để miểu tả độ cao của con dốc “khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút” kết hợp với nhịp thơ 4/3 càng làm tăng sự khó khăn, vất vả lên nhiều lần Những vách núi cheo leo và địa hình gấp gãy cùng với độ cao của con dốc làm thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, bao la hơn bao giờ hết Giữa cái không gian rộng lớn, bao la như thế con người lại càng trở nên nhỏ bé hơn giữa các cồn mây trắng xoá Sự vắng vẻ, hiu quạnh nơi núi cao bởi có lẽ nơi mà các anh đi qua chư ai từng đặt chân tới Hình ảnh “ súng gửi trời” vừa thể hiện độ cao choáng ngợp khi những mũi súng hướng lên khi đi hành quân cuả đoàn binh tưởng chừng như đã chạm tới trời.Quả thật nhà thơ đã rất tài tình để vừa miêu tả cảnh thiên nhiên hùng vĩ của đất nước đồng thời đó cũng làm nôir bật lên sự dũng cảm khi đứng trước khó khăn của người lính.Dường như chua dừng lại ở đó những khó khăn vẫn tiếp diễn:
“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”
Phải chăng đối với người lính càng khó khăn lại càng kích thích họ chinh phục? Hai hình ảnh so sánh đối lập “ lên- xuống”, “cao- thấp” càng tô đậm sự nguy hiểm và khó khăn của đoàn binh Tây
Tiến.Hình như thiên nhiên Tây Bắc đang muốn thử tài những người lính từ chỗ sâu thẳm nhất cho tới chỗ ngút ngàn nhất của mình Nhưng khi hành quân từ trên cao xuống thì hình ảnh bình dị thân thuộc lại hiện lên trong mắt người lính:
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Trong một phút dừng chân nghỉ nơi, có lẽ đây chính là khung cảnh yên bình nhất mà đoàn binh Tây Tiến có thể ngắm nhìn được Phải chăng có những giây phút người lính nhớ nhà ko? Bởi trên chặng đường gian lao ấy có không ít những người đã gục ngã, hi sinh:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Hai từ “ anh bạn” chắc hẳn đó chính là những người đồng đội, đồng chí có thấy sự thân thiết, gắn bó qua từ ngữ mà nhà thơ đã dùng Với biết bao thiếu thốn về vật chất, thuốc men nên đã có biết bao những ngừoi lính không thể bước tiếp Từ “gục” với âm nặng làm cho câu thơ có phần nặng nhưng khi kết hợp với “bỏ quên đời” dường như làm cho câu văn được cân bằng và nhẹ nhàng hơn Những người lính Tây Tiến đã chủ động không bước nữa để ra đi thanh thản không day dứt, đắn đo Tác giả còn rất tinh tế khi sử dụng cụm từ “bỏ quên đời” làm giảm sự đau xót đối với cái mất của những người lính
Chỉ hai câu thơ đã nói lên tất cả sự khắc nghiệt của miền sơn cước này, một vùng núi tăm tối, nơi thú
dữ đe dọa con người Nhà thơ sử dụng các từ “chiều-chiều”, “đêm-đêm” để gợi lên một khoảng thời gian có tính chu kỳ và đều đặn, lặp đi lặp lại Dường như những gian khổ mà những người lính đã phải trải qua không chỉ là những ngọn núi cao và dốc đứng, không chỉ là những cơn mưa cùng với thác đổ ầm ầm, mà còn là những lúc khi hổ đang đùa giỡn với con người Cả sức nặng của câu thơ như đổ ồn vào chữ “Mường Hịch”, những khó khăn ấy dường như khi nhìn qua lăng kính lãng mạn
Trang 34của Quang Dũng, nó như một trò đùa trẻ con dùng để “chọc tức thiên hạ” Thế nhưng, giữa nơi rừng thiêng nước qua con mắt hào hoa lãng mạn của chiến binh Tây Tiến một thời người ta vẫn nhìn thấy được những khung cảnh bình yên, nỗi nhớ chợt ùa về Mai Châu xinh đẹp:
“Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn nhớ tỏa mùi hương.”
Nồi cơm ấm nóng cùng đồng chí, đồng đội xua tan bao mệt mỏi Dù phải chiến đấu ở đâu, trong hoàn cảnh nào, mùi lúa nếp vẫn luôn đọng trong lòng mỗi người lính khi nhớ về quê hương Khi đến đoạn thứ hai, chúng ta thấy một hướng Tây Bắc hoàn toàn khác với đoạn trước Thay vì hình ảnh cảnh núi non hoang vu, hiểm trở, Tây Bắc như một miền sơn cước đẹp đẽ, đầy quyến rũ và trữ tình, rất đỗi nên thơ:
ấm áp của ngọn lửa, xua đi giá lạnh, xua đi những mệt nhọc vất vả hiểm nguy nơi chiến trường vừa qua.một từ ngữ xuất hiện.Đêm liên hoan văn nghệ này cũng chính là sự rạo rực, tưng bừng, tươi vui, hân hoan như những ngày lễ hội của người dân miền núi cao Tây Bắc Tác giả ban đầu viết là “nàng” nhưng sau đổi thành “em” như chính trong không gian âm nhạc và vũ điệu đã chắp cánh cho tâm hồn Quang Dũng cũng như những người lính Tây Tiến khác Đêm liên hoan văn nghệ có ánh sáng, có âm thanh của tiếng khèn - nhạc cụ đặc trưng của những dân tộc miền núi cao Tây Bắc thêm vào đó còn là những vũ điệu của tình người, tình quân dân Tình cảm đẹp đẽ ấy, có phải đôi lần hay là rất nhiều lần
ta đã gặp trong thơ:
“Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
Bà mẹ đón tôi trong gió đêm
- Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm”
Trang 35Để rồi:
Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm Của những cọng rơm xơ xác gầy gò”
(Hơi ấm ổ rơm - Nguyễn Duy)
Ở câu thơ sau, ta bắt gặp Quảng trường Viêng Chăn, một địa danh độc nhất vô nhị trong bài thơ không thuộc đất nước Việt Nam, thủ đô nước Lào, ta nhận thấy người lính Tây Tiến không chỉ chiến đấu ở Việt Nam mà còn chiến đấu trên đất nước Việt Nam và dù bạn ở đâu, bạn luôn được chào đón nồng nhiệt Mặt khác, người đọc còn thấy được tình cảm lâu đời của Lào đối với Việt Nam, kẻ thù chung của thực dân Pháp Nếu bốn câu thơ trước là cuộc giao lưu văn hóa nghệ thuật của các dân tộc cao nguyên với đoàn binh Tây Tiến thì bốn câu thơ sau mang vẻ đẹp của thiên nhiên miền Tây:
“ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
“Buổi chiều mù sương ấy” là buổi chiều mùa thu năm 1947 Màn sương mù phủ trắng núi rừng chiến khu vào buổi chiều thu này đã in sâu vào tâm hồn người đọc với nỗi nhớ ngày càng lan tỏa Hồn của cây lau là hồn của mùa thu Hoa lau nở trắng cờ, lá lau kêu xào xạc trong gió thu "nẻo bến bờ", nơi bờ sông bờ suối Với tâm hồn thi sĩ tài hoa, Quang Dũng đã cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Châu Mộc qua cảnh sắc "chiều sương" và "hồn lau nẻo bến bờ" Những thi liệu ấy đã tạo nên vẻ đẹp
cổ điển bức tranh suối rừng nơi miền đất lạ Các thi sĩ xưa nay vẫn gọi hồn thu là hồn lau:
"Ngàn lau cười trong nắng Hồn của mùa thu về Hồn mùa thu sắp đi Ngàn lau xao xác trắng"
Các từ “đã thấy”, “đã nhớ” càng làm cho nỗi nhớ Châu Mộc chiều sương thêm man mác,
bâng khuâng Nhớ cảnh rồi nhớ người.Như một câu hỏi “có nhớ" con thuyền độc mộc và "dáng người" chèo thuyền độc mộc? "Có nhớ" hình ảnh "hoa đong đưa" trên dòng nước lũ? "Hoa đong đưa"
có phải là hoa rừng "đong đưa" làm duyên trên dòng nước lũ như giáo sư Phan Cự Đệ đã nói? Hay
"Hoa đong đưa" là hình ảnh ẩn dụ gợi tả các cô gái miền Tây xinh đẹp lái thuyền độc mộc duyên dáng, uyển chuyển như những bông hoa rừng đang "đong đưa" trên sông suối Thuở ấy, núi rừng Tây Bắc vô cùng hoang vu, là chốn rừng thiêng liêng nước độc, nhưng Quang Dũng với tâm hồn lạc quan
và yêu đời của một khách chinh phu thời đại mới đã cảm nhận và phát hiện bao vẻ đẹp thơ mộng,
Trang 36xinh tươi của cảnh sắc thiên nhiên và con người Tây Bắc Đến với khổ 3 là hình tượng người lính Tây Tiến hào
hùng, hào hoa, lãng mạn và bi tráng:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Chiến tranh rồi sẽ qua, thời gian sẽ bù đắp những đau thương, mất mát, nhưng hình ảnh người lính vô danh hy sinh vì tổ quốc không phai sẽ luôn còn mãi trong trái tim hàng triệu người Việt Nam Như Banzlac đã nói: “Nhà văn phải là người thư ký trung thành của thời đại mình” Như vậy, văn học với
sứ mệnh thiêng liêng của mình đã mãi mãi khắc ghi trong lòng người đọc hình ảnh những người con anh hùng đã ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử Đọc câu thơ Đoàn quân Tây Tiến không mọc tóc ta mới thấy được tài năng trong ngòi bút của Quang Dũng Nếu tả người lính với những nét khắc khổ, tiều tụy thì đều gợi lên âm hưởng hào hùng, bởi những điểm nhấn đầu tiên của những câu thơ được gieo vào lòng như “tiến lên”, “tóc mọc”, từng chữ, từng vần chúng như những nét khắc trên tượng đài người lính Tây Tiến Ngay từ hai dòng đầu của đoạn văn, tác giả
đã gợi lại trong tâm trí người đọc một căn bệnh quái ác đã ám ảnh văn học thời kỳ kháng chiến chống Pháp bệnh sốt rét rừng Ta nhớ đến một bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân:
“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng
Chợt thấy anh, giặc hoảng hốt xin hàng
Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công Anh tên gì hỡi Anh yêu quý Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ
Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ:
Anh là chiến sỹ Giải phóng quân
Tên Anh đã thành tên đất nước
Trang 37Ôi anh Giải phóng quân!
Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.”
Đoàn quân Tây Tiến chủ yếu hoạt động ở những vùng rừng núi hiểm trở, núi cao, vực thẳm, những cơn sốt rét của rừng khiến họ xanh xao, yếu ớt đến nỗi hình hài cũng thay đổi " không thể mọc tóc" Nhưng khó khăn không thể khuất phục được ý chí chiến đấu, ở họ luôn tràn đầy sức sống anh dũng, tiêu biểu cho một tinh thần chiến đấu kiên cường bất chấp hiểm nguy bủa vây, dù bệnh tật, cuộc sống khó khăn.Vẻ uy nghiêm được thể hiện qua ánh mắt giận dữ đầy căm thù của những người lính dường như đôi mắt anh hùng cũng có chút dữ tợn đối với người lính, nhưng đằng sau tấm chăn ấy là những tâm hồn luôn khao khát yêu thương Khắc họa về đồng đội mình, Quang Dũng tiếp tục đem đến những hình ảnh chân thực,không chỉ về đời sống mà còn về tâm hồn hào hoa, lãng mạn của các anh:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Hai câu thơ như nhốt cả hai thế giới” (Vũ Quần Phương), “thấy nổi lên lời độc tấu của chàng trai Hà Nội” (Đặng Anh Đào) vừa rất hào hùng lại rất hào hoa Hình ảnh "mắt trừng" thể hiện sự quyết tâm mãnh liệt của đoàn binh Tây Tiến chiến đấu bảo vệ biên cương Hình ảnh này còn thể hiện hoài bão, khát vọng lập công và lòng căm thù giặc cháy bỏng của những người lính Tây Tiến Và ngay trong cuộc sống chiến đấu gian khổ dữ dằn đó, những người lính vẫn để tâm hồn cho những hình ảnh thật dịu hiền, thân thương: "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"Chiến tranh tàn khốc, nhưng chiến tranh không cướp được chất hào hoa của những chàng trai Hà thành Không gì có thể ngăn được những giây phút mộng
mơ trong tâm hồn người lính Thực chất đoạn thơ miêu tả vẻ đẹp tâm hồn riêng của ngừoi lính Tây Tiến Nguyễn Đình Thi cũng đã diễn đạt rất thành công vẻ đẹp này trong bài thơ Đất nước:
Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Khác với nỗi nhớ của người lính trong thơ Nguyễn Đình Thi và các nhà thơ khác, Quang Dũng thể hiện tình cảm của người lính qua giấc mơ, khiến cho nỗi nhớ cũng lãng mạn như chính tâm hồn họ vậy Giấc mơ đã nâng đỡ tâm hồn con người Thật sang trọng và hào hoa!
Nói đến chiến tranh, nói đến đời lính không thể không nói đến cái chết Quang Dũng cũng không né tránh và nhà thơ đã nói theo cách riêng củamình:
“ Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”
Nếu tách câu thơ trên ra khỏi đoạn thơ thì chẳng khác nào một hình ảnh xám xịt và lạnh lẽo, tăm tối, hiu quạnh, mang nhiều ngậm ngùi Nhưng trong ngữ cảnh, mạch văn, câu thơ sau: "Ra chiến trường chẳng tiếc đời xanh" đã nâng cao chí khí, tầm vóc của người chiến sĩ Bạn ra trận vì một lý tưởng cao đẹp Đó là cuộc sống của một chàng trai trẻ , những thanh niên của "Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…", anh là những sinh viên Hà Nội, lên đường nhập ngũ vì nghĩa lớn với ý chí làm người, đã
"Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh" Câu thơ "Chiến trường đi không tiếc đời xanh" vang lên như một lời thề thiêng liêng và cao cả Các anh đã quyết hiến máu xương của mình để bảo vệ độc lập, tự do
Trang 38của quê hương, chống lại thực dân Pháp với một quyết tâm sắt đá: "Chúng tôi thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, dứt khoát không chịu làm nô lệ" Quang Dũng ghi lại cảnh tượng bi tráng giữa chiến trường miền Tây thuở ấy:
"Có một khúc ca không bao giờ quên" - có một "Tây Tiến", một Quang Dũng luôn đi trong lòng bất
cứ người yêu văn học nào Chiến tranh đã lùi xa, nhưng dư âm của nó sẽ luôn trường tồn "Tây Tiến"
là một trong những ca khúc không thể quên của những năm dài chống Pháp.", nhà thơ Vũ Thu Hương cũng nhận xét: "Tây Tiến là sự tiếp nối của một dòng thơ lãng mạn, nhưng được tác giả thổi vào một tâm hồn rất trẻ trung, mới mẻ Và cũng là cảm hứng khó và giai đoạn vẻ vang trong lịch sử đất nước, Tây Tiến đã thể hiện mình một cách đặc biệt qua ngòi bút của Quang Dũng, với nỗi nhớ về đồng đội của tác giả đã làm xúc động người đọc bao thế hệ, và đây cũng là âm hưởng chủ đạo của bài thơ Shelly đã từng nói: “Thơ ca làm cho tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời trở thành bất tử” Quả vậy, bài thơ “Tây Tiến” đã trở thành một tượng đài bất tử của đoàn binh Tây Tiến nói riêng cũng như
Trang 39những người lính Việt Nam nói chung.Trong mặt người đọc “Tây Tiến” hiện lên quá đỗi hùng vĩ, bao
la đến choáng ngợp nhưng không vì như thế mà làm những người lính trở nên nhỏ bé Với ý chí và một trái tim yêu nước nồng nàn họ quyết hi sinh để bảo vệ cho Tổ Quốc của mình Bằng sự tài tình và tinh tế trong cách viết nhà thơ Quang Dũng đã kết hợp hài hoà bút pháp hiện thực và lãng mãn với nhiều hình ảnh, giọng điệu khi tha thiết bồi hồ, khi nhẹ nhàng vui tươi.Tất cả những điều đó đã tạo nên một “Tây Tiến” như sống dậy trong longf người đọc một thời kỳ không thể nào quên của dân tộc.Qua đó cho thấy thêm hiểu được những khó khăn, vất vả của cha ông ta để ta có thể trân trọng hơn những ngày tháng được sống trong đọc lập tự do
Khuất Phương Thảo
Khoá văn 2020- lớp văn thầy Nhật
II Việt Bắc
Bài làm 1: bức tranh tứ bình
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”
Đến với những mảnh đất màu mỡ của văn chương, với những cảm hứng bất tận, nhà thơ Tố Hữu cũng
đã từng thả hồn mình với Việt Bắc để tâm sự rằng: “Cảnh vật và tinh thần Việt Bắc đã nhập vào tâm hồn tôi, máu thịt tôi” Chắc hẳn, phải là con người yêu mảnh đất hóa tâm hồn ấy lắm mới có thể cảm nhận
sâu sắc được cái tình mà nó đem lại đến vậy Phải chăng vì thế mà khi đọc thơ Tố hữu người đọc lay động từng chút, từng câu chữ sáng tạo độc đáo nhưng thấm nhuần hương sắc đất Việt Điều này được khắc họa rõ nét trong bài thơ “Việt Bắc” một thi phẩm đặc sắc đậm đà bản sắc dân tộc, ca ngợi con người kháng chiến và cuộc sống chiến khu thời kháng chiến chống Pháp gian khổ, hào hùng và là bản tình ca thủy chung, nghĩa tình giữa con người cách mạng với đồng bào Việt Bắc Mà ấn tượng hơn cả là bức tranh tứ bình trở nốt nhạc ngân xa, vang vọng khắp núi rừng:
Việt Bắc là quê hương cách mạng, là căn cứ địa vững chắc của bộ đội ta trong kháng chiến chống Pháp Tại nơi đây, người dân miền núi đã che chở, đùm bọc cho Đảng, Chính phủ và kề vai sát cánh bên những người cán bộ kháng chiến để giành và bảo vệ nền độc lập của dân tộc Chính vì thế bài thơ “Việt Bắc” được coi là một trong những đỉnh cao sáng tác của đời thơ Tố Hữu bài thơ được sáng tác nhân một
sự kiện quan trọng diễn ra vào năm 1954 Đó là thời điểm quân và dân ta giành được thắng lợi Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, buộc Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán và ký với ta hiệp định Giơnevơ lập lại hòa bình ở miền Bắc Đây cũng là lúc cơ quan trung ương đảng và cán bộ cách mạng rời chiến khu Việt Bắc để trở về với Hà Nội- thủ đô sao vàng nắng Ba Đình Nhân sự kiện trọng đại đó tháng mười năm 1954, Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc, bài thơ ra đời trở thành khúc hùng ca, khúc tình
ca, được biết bao thế hệ yêu thích và trân trọng gọi đó là đỉnh cao của thơ kháng chiến chống Pháp Đúng như lời Chế Lan Viên tâm sự "Anh là một con chim vụ ở đường bay, hơn là bộ lông bộ cánh, tuy vẫn là lông cánh đẹp"
“Việt Bắc” để lại trong lòng người đọc những lời đối đáp đầy chân thành mà lưu luyến, bịn rịn giữa tình cảm của người ra đi và ở lại Đó còn là những kí ức chẳng thể phai nhoà trong những năm tháng được sống, được chiến đấu ở mảnh đất của cách mạng của kháng chiến Mà trong đó Tố Hữu đã đặt bút
để “ vẽ” lên bức tranh tứ bình với những nét chấm phá hài hòa, mang những đặc trưng của núi rừng Việt Bắc
Thiên nhiên Việt Bắc cũng tạo nên một bức tranh tứ bình với phong cảnh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông:
Trang 40“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”
Câu hỏi tu từ vang lên, cũng là câu hỏi đầu tiên từ phía người ra đi một câu hỏi phảng phất hương vị ngọt ngào của tình yêu Đó cũng là câu hỏi để gọi nhắc chứ không gọi câu trả lời Vì có lẽ họ quá hiểu rõ lòng nhau Một lần nữa ta lại bắt gặp giọng điệu ngọt ngào tha thiết qua cặp đại từ “mình ta” Đọc một bài thơ viết về tháng năm cách mạng một tình cảm chung của cả dân tộc vậy mà cách xưng hô nhà thơ này sử dụng lại là “mình -ta” Chúng ta đã từng gặp rất nhiều trong ca dao:
“Mình nhớ ta như cà nhớ muối
Ta nhớ mình như cuội nhớ trăng”
Hay cặp đại từ mình ta để diễn tả tình yêu đôi lứa:
“Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm dải áo ta đề câu thơ”
Sáng tạo của Tố hữu khi sử dụng cặp đại từ mình ta để diễn tả tình cảm cách mạng cho mối quan hệ càng trở nên gắn bó gần gũi thân thiết “Hoa” là biểu tượng cho những gì tinh túy nhất của núi rừng Việt Bắc Nhắc đến hoa là nhớ đến người dân Việt Bắc nơi đây Hoa và người có sự hòa quyện gắn bó, làm cho bức tranh thiên nhiên thêm sống động Cấu trúc của khổ thơ rất độc đáo cứ một câu nói về cảnh lại là một câu nói về người, tạo nên bức tranh tứ bình cảnh với cảnh sắc bốn mùa Trong nghệ thuật tứ bình phương
Đông khi nói đến cảnh của thiên nhiên bao giờ cũng có hình ảnh của “tùng, cúc, trúc, mai” hay “long,
ly, quy, phượng” còn nói tới con người là “ngư, tiều, canh, mục” Còn ở đây Tố Hữu đã lãng mạn hóa
núi rừng Tây Bắc tạo nên bức tứ bình riêng rất Việt Nam Đầu tiên là cảnh mùa đông:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
Bức tranh mùa đông gợi lên bởi không gian mênh mông với chiều rộng của rừng xanh đại ngàn Tất cả trở nên sáng hơn khi tô điểm trên nền màu xanh bát ngát của núi rừng, là màu đỏ tươi của hoa chuối đang nở
rộ Hai từ “đỏ tươi” làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng ấm áp xua đi cái hoang sơ lạnh lẽo vốn có của mùa đông Nổi bật trên nền xanh ấy là hình ảnh con người trong một tư thế trên đỉnh đèo cao
Đó là tư thế của con người hiên ngang vững chãi làm chủ thiên nhiên, làm chủ núi rừng Không chỉ thế thì hình ảnh “dao gài thắt lưng” làm con người hiện lên trong lao động hằng ngày chăm chỉ cần cù Nhưng đặc sắc hơn là cụm từ “nắng ánh” Tác giả thật tinh tế khi đã chớp lấy khoảnh khắc đẹp nhất trong ngày Đó là khi anh nắng rọi vào lối sau khiến con người trở thành điểm hội tụ của ánh sáng tỏa sáng trên đỉnh đèo cao Có lẽ đây là một phát hiện độc đáo và sáng tạo trong cái nhìn quan sát đầy tinh tế và chi tiết của Tố hữu Qua hai câu thơ ta thấy giữa hoang sơ heo hút, giữa trời cao và rừng rộng mênh mông con người đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông ở Việt Bắc
Khép lại bức tranh mùa đông là sự bao trùm với màu trắng tinh khiết của hoa mơ đã làm cho không gian núi rừng Việt Bắc mang vẻ đẹp trong trẻo lạ thường:
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”
Đó là khi Việt Bắc vào mùa xuân Chúng ta đã thấy hình ảnh ấy trong bài thơ “trường ca theo chân Bác”:
“Ôi sáng xuân nay Xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về im lặng! Con chim hót Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”
Tố hữu đã sử dụng thành công động từ “nở” để miêu tả được sức sống mùa xuân như lan tỏa khắp không gian núi rừng Tây Bắc Màu xanh của cánh rừng đại ngàn đã được thay thế bởi sắc trắng tinh khiết của hoa mơ Hình ảnh ấy gợi cho ta nhớ đến cảnh xuân trong truyện Kiều của Nguyễn Du:
“Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Nhưng sắc trắng trong thơ Nguyễn Du là sự điểm xuyết, là nét chấm phá tài tình với sự “ trắng điểm” đầy tinh tế giữa nền xanh của núi rừng Còn trong thơ Tố Hữu là sắc trắng ngần bao phủ cả núi rừng Hai từ
“trắng rừng” thôi đã làm cho không gian của núi rừng Việt Bắc như bừng sáng cả một khoảng trời, được tắm mình trong sắc trắng của hoa mơ.Trên nền trắng tinh khôi ấy thì con người vẫn chịu khó, cần cù, nhẫn nại, tỉ mỉ khéo léo trong công việc hằng ngày qua từ " chuốt " Nó còn gợi lên vẻ đẹp trong hành động, tính cách của con người Việt Bắc Họ đơn sơ, giản dị và nâng niu từng giá trị mà mẹ thiên nhiên ban tặng Họ cũng là những người đã và đang tiếp tục và giữ gìn nghề đan nón- một công việc truyền