Tần suất và sự đột biến mất đoạn gien lmp1 ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng Phạm Thị Nguyệt Hằng, Phan Thị Phi Phi, Nguyễn Văn Đô, Bạch Khánh Hoà, Trần Thị Chính Đại học Y Hà Nội Epst
Trang 1Tần suất và sự đột biến mất đoạn gien lmp1
ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng
Phạm Thị Nguyệt Hằng, Phan Thị Phi Phi, Nguyễn Văn Đô, Bạch Khánh Hoà, Trần Thị Chính
Đại học Y Hà Nội
Epstein-Barr (EBV) - virút có mối quan hệ mật thiết đối với ung thư vòm mũi họng (UTVMH) Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 20 cặp mẫu (gồm máu ngoại vi và sinh thiết vòm họng) bệnh nhân UTVMH thể không biệt hoá, 5 mẫu bệnh nhân ung thư vùng đầu, cổ không phải UTVMH Mục đích của nghiên cứu này nhằm điều tra tần suất của gien LMP1 là một trong những gien ở thể tiềm ẩn của virút và 30 mẫu máu ngoại vi của những người khoẻ mạnh Sử dụng hai cặp mồi LMP1 dựa theo kinh nghiệm của phòng thí nghiệm MTC, viện Karolinska, Thuỵ điển Hai cặp mồi này đặc hiệu và thiết kế cho gien LMP1 đột biến, có vị trí từ 168592 - 168174 và từ vị trí 168373 - 168174 (từ genom của EBV) Kết quả thu được như sau:
1 Tỷ lệ gien LMP1 - EBV ở máu ngoại vi người khoẻ mạnh là 96,7% (29/30 ca dương tính)
2 Tỷ lệ gien LMP1 - EBV ở cặp mẫu bệnh nhân UTVMH thể biểu mô không biệt hoá là 100% (20/ 20 trường hợp dương tính)
3 Tỷ lệ gien LMP1 ở bệnh nhân ung thư vùng đầu, cổ không phải UTVMH là 100% (5/ 5 trường hợp dương tính)
4 Trên điện di, 90% gien LMP1 - EBV ở mô sinh thiết vòm họng bệnh nhân UTVMH có hiện tượng đột biến mất đoạn trong khi gien LMP1 - EBV ở máu ngoại vi của những bệnh nhân này chỉ
có 10% có đột biến mất đoạn
I Đặt vấn đề
EBV thuộc nhóm Herpes virút có lõi ADN
xoắn kép, liên quan gần đến một vài khối u ác
tính ở người trong đó có ung thư vòm mũi họng
(UTVMH), đặc biệt là với thể ung thư biểu mô
không biệt hoá Mối liên quan này được chứng
minh lần đầu tiên do sự xuất hiện kháng thể
chống kháng nguyên EBV trong huyết thanh
của bệnh nhân UTVMH Mối liên quan này
được khẳng định thêm bởi việc phát hiện sự có
mặt của EBV trong những mẫu sinh thiết
UTVMH Hơn nữa, gần đây bản sao của EBV ở
thể tiềm ẩn gồm EBNA1 và LMP1, LMP2 đã
được tìm thấy trong các mẫu sinh thiết
UTVMH Trong số các protein mã hoá của
virút EBV ở thể tiềm ẩn trên thì LMP1 là một
protein quan trọng: có thể ức chế sự biệt hoá và
gây biến chuyển tế bào biểu mô [7]
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới, trình tự gien LPM1 của các bệnh nhân UTVMH là khác nhau, đặc biệt
có đột biến mất 30 bp ở đầu –C tận so với gien LMP1 của dòng tế bào B95 – 8[5][6][7] Hơn nữa, có những bằng chứng cho rằng, đột biến mất 30bp của gien LMP1 là một nhân tố thúc
đẩy sự phát triển của khối u (Li et al., 1996) [7] Việc mất 30bp của gien LMP1 có thể làm thay đổi cấu trúc dẫn đến thay đổi chức năng của protein, ảnh hưởng tới việc nhận biết protein bởi hệ thống miễn dịch [9] Việt Nam
là một nước có tần suất UTVMH khá cao trong lúc các nước Âu Mỹ thì quá thấp tuy rằng tỷ lệ nhiễm EBV trên toàn cầu là cao như nhau (95 – 97%)
Xuất phát từ tình hình thực tiễn này, chúng tôi tiến hành đề tài với mục đích:
Trang 21 Xác định tỷ lệ gien LMP1 ở người
khoẻ mạnh và bệnh nhân UTVMH
2 Xác định tỷ lệ gien LMP1 ở bệnh nhân
ung thư vùng đầu, cổ không phải UTVMH
3 Phát hiện đột biến gien LMP1 ở bệnh
nhân UTVMH
II Đối tượng và phương pháp
1 Đối tượng
♦ Đối tượng nghiên cứu:
- 20 cặp mẫu: máu ngoại vi và sinh thiết
vòm họng bệnh nhân UTVMH thể không biệt
hoá Các mẫu này được thu thập tại bệnh viện
K Hà Nội từ năm 2000 đến 2001
♦ Đối tượng chứng:
- 5 mẫu sinh thiết bệnh nhân ung thư đầu,
cổ khác không phải UTVMH
- 30 mẫu máu ngoại vi lấy từ người khoẻ
mạnh về lâm sàng
Toàn bộ mẫu sinh thiết trên được bảo quản
ở – 700C cho đến khi tiến hành tách chiết ADN
2 Phương pháp
2.1 Tách chiết ADN
- ADN tách từ máu ngoại vi theo qui trình
Perchlorate
- ADN tách từ mẫu sinh thiết theo qui trình
của tác giả Chomczynski và Sacchi
2.2 Phản ứng PCR:
- Trình tự cặp mồi:
168373: 5’ - CTA GCG ACT CTG CTG
GAA AT - 3’
168174: 5’ - CGC GGA TCC TTA GTC
ATA GTA GCT TAG - 3’
- Nguyên vật liệu để tiến hành phản ứng
PCR gồm: 100ng ADN; 4àM mỗi mồi; 0,2
mM dNTP; 2.0mM MgCl2; 1 đơn vị Taq ADN polymerase (Perkin – Elmer) trong PCR buffer
IX Tổng thể tích phản ứng là 50àl
- Điều kiện chu trình nhiệt: 940
C/ 4 phút; 35 chu kỳ: 950C/ 30 giây, 570C/ 1 phút 30 giây,
700C/ 2 phút 30 giây; 720C/ 10 phút → 40C
2.3 Phản ứng PCR lồng:
2.3.1 Phản ứng PCR lần thứ nhất:
- Trình tự cặp mồi:
168592: 5’ - ATC GCG ACT CTG CTG GAA AT - 3’
168174: 5’ - CGC GGA TCC TTA GTC ATA GTA GCT TAG - 3’
- Nguyên vật liệu để tiến hành phản ứng
PCR gồm: 100ng ADN; 4àM mỗi mồi; 0,2
mM dNTP; 3.0 mM MgCl2; 1 đơn vị Taq ADN polymerase (Perkin – Elmer) trong PCR buffer 1X Tổng thể tích phản ứng là 50àl
- Điều kiện chu trình nhiệt: 940C/ 10 phút;
35 chu kỳ: 950C/ 45 giây, 550C/ 1 phút 30 giây,
720C/ 2 phút 30 giây; 720C/ 10 phút → 40C
2.3.2 Phản ứng PCR lần thứ hai:
- Trình tự cặp mồi: giống như cặp mồi để
tiến hành phản ứng PCR (phần 2.2)
- Nguyên vật liệu để tiến hành phản ứng
PCR gồm: 2 àl sản phẩm PCR lần thứ nhất; 4àM mỗi mồi; 0,2 mM dNTP; 1.0 mM MgCl2;
1 đơn vị Taq ADN polymerase (Perkin – Elmer) trong PCR buffer 1X Tổng thể tích phản ứng là 50àl
- Điều kiện chu trình nhiệt: 940C/ 5 phút; 20 chu kỳ: 950C/ 30 giây, 600C/ 1 phút 30 giây,
720C/ 1 phút; 720C/ 10 phút → 40C
- Kiểm tra sản phẩm PCR và PCR lồng bằng
cách điện di trên gel agarose 2% trong đệm TAE 1X, điện thế 100V, thời gian 1 giờ
Trang 3III Kết quả
1 Kết quả tách chiết ADN
Bảng 1: Hàm lượng và độ tinh khiết của
ADN
OD
Đối tượng
OD260 OD280 OD260/
OD280
- Hàm lượng ADN được đo bằng giá trị
OD260 trên quang phổ kế
- Độ tinh khiết của ADN được đo bằng chỉ
số OD260/ OD280 sau khi đo trên quang phổ kế
Một đơn vị OD260 = 0,1494 tương ứng với
dung dịch có nồng độ ADN sợi đôi là 0,1496 x
50 x 20 = 140,8àg/ ml
Hình 1: Điện di kiểm tra ADN trên gel agarose
0,8%, điện thế 100V, thời gian 20 phút
1, 2, 3, 4, 5, 6: ADN tách từ máu ngoại vi của 6
người khoẻ mạnh
2 Xác định ADN - EBV ở máu ngoại vi
Bảng 2: Tỷ lệ gien LPM1 - EBV ở máu ngoại vi
(sử dụng cặp mồi để nhân đoạn ADN từ vị trí
168592 - 168174)
Máu người khoẻ mạnh 96,7% (29/ 30 ca)
Máu bệnh nhân UTVMH 100% (20/ 20)
Hình 2: Kết quả kiểm tra sản phẩm PCR vòng 2 trên gel agarose 2%, điện thế 100V,
thời gian 1 giờ
Số 1, 2, 3, 4, 5: Người khoẻ mạnh M: thang ADN chuẩn 100 bp
Số 21, 22, 23, 24, 25: Mẫu sinh thiết chứng
- Trên hình ảnh điện di cho thấy: sản phẩm
PCR của chúng tôi có độ dài khoảng 230bp so với thang ADN chuẩn 100bp
3 Tỷ lệ gien LMP1 đột biến mất 30bp ở mô sinh thiết
Bảng 3: Phát hiện gien LMP1 đột biến mất
đoạn bằng kỹ thuật PCR
Đối tượng % gien LMP1 đột
biến mất đoạn Sinh thiết UTVMH 90% (18/ 20 mẫu) Sinh thiết UT vùng đầu cổ
khác không phải UTVMH
0% (0/ 5 mẫu)
Máu ngoại vi người khoẻ
mạnh
0% (0/ 30 mẫu)
Máu ngoại vi bệnh nhân UTVMH
10% (2/ 20 mẫu)
Trang 4Hình 3: Kết quả kiểm tra sản phẩm PCR từ
mẫu sinh thiết trên gel agarose 2%, điện thế
100V trong 1 giờ
Số 1, 2, 3, 4, 9,10: các mẫu UTVMH thể không biệt
hoá
M: thang ADN chuẩn 100bp
Số 21: Bệnh nhân chứng
Hình 4.A: Kết quả kiểm tra sản phẩm PCR
(của các cặp mẫu) trên gel agarose 2%, điện
thế 100V, thời gian 1 giờ
(Có sự chênh lệch giữa sản phẩm PCR của máu
ngoại vi và của mô sinh thiết khối u vòm họng trên
cùng một bệnh nhân UTVMH)
T: sản phẩm PCR từ mô sinh thiết khối u vòmhọng
của bệnh nhân UTVMH
B: sản phẩm PCR từ máu ngoại vi của bệnh nhân
UTVMH
Các mẫu số 1, 2, 3 gồm có B và T
Số 4: Chỉ có B
Bc: Mẫu máu chứng
Tc: Mẫu sinh thiết chứng
M: thang ADN chuẩn 100bp
Hình 4.B (Không thấy có sự chênh lệch
giữa sản phẩm PCR của máu ngoại vi và của
mô sinh thiết khối u vòm họng trên cùng một
bệnh nhân UTVMH)
T: sản phẩm PCR từ mô sinh thiết khối u vòm họng của bệnh nhân UTVMH
B: sản phẩm PCR từ máu ngoại vi của bệnh nhân UTVMH
Các mẫu số 14, số 11, số 13, số 16: Gồm T và B M: thang ADN chuẩn 100bp
IV Bàn luận
1 Xác định gien LMP1 - EBV ở máu ngoại vi
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là 30 mẫu máu ngoại vi người khoẻ mạnh và 20 mẫu máu ngoại vi bệnh nhân UTVMH Sau khi tách chiết được ADN tổng số từ những mẫu máu này, chúng tôi tiến hành phản ứng PCR lồng (Nested PCR) để nhân đoạn gien LMP1 từ vị trí
168592 đến vị trí 168174
Do số lượng ADN của EBV so với lượng ADN tổng số được tách ra từ máu ngoại vi của những người khoẻ mạnh là rất nhỏ, vì vậy trong nhiều trường hợp nếu chỉ sử dụng PCR một lần, hay nói một cách khác là chỉ sử dụng một cặp mồi thì sẽ không tạo ra được đủ lượng sản phẩm PCR mong muốn vì lượng ADN của EBV khuôn quá thấp Hơn nữa, chúng tôi không thể tăng nhiều ADN tổng số làm khuôn ban đầu vì điều này sẽ gây nên tính không đặc hiệu của phản ứng PCR và có thể cho ra nhiều sản phẩm phụ
Với kỹ thuật PCR lồng chúng tôi khắc phục nhược điểm này Sản phẩm PCR lần thứ nhất sau đó sẽ được dùng làm sợi khuôn cho phản ứng PCR tiếp theo để nhân bản đoạn ADN của gien LMP1 ở lần chạy PCR thứ hai, chúng tôi
sử dụng 2àl sản phẩm PCR lần thứ nhất để làm khuôn
Trên 30 mẫu ADN tách từ máu ngoại vi của người khoẻ mạnh phát hiện có 96,7% (29/ 30 mẫu dương tính) có LMP1 - EBV Trên 20 mẫu máu ngoại vi của bệnh nhân UTVMH, chúng
Trang 5tôi thu được 100% (20/ 20 mẫu dương tính) có
LMP1 - EBV (Bảng 2; Hình 2) Kết quả này rất
phù hợp với kết quả của các tác giả: Theo Kee -
Ching G., Chen - Yi Hsu và cs, tỷ lệ nhiễm
EBV ở người dân sống ở Đài Loan là 100%[8]
ở nước ta, tỷ lệ những người trưởng thành
nhiễm EBV là 93% [2] Nghiêm Đức Thuận
cũng tìm thấy có genome EBV ở 100% bệnh
nhân UTVMH thể không biệt hoá ở Việt Nam
[3]
Bằng kỹ thuật miễn dịch, khi tiến hành
nghiên cứu huyết thanh học của bệnh nhân
UTVMH, nhóm tác giả Phan Thị Thu Anh, Đỗ
Hoà Bình, Phan Thị Phi Phi và cộng sự thu
được kết quả như sau: tỷ lệ % IgG/ VCA dương
tính ở bệnh nhân trước xạ trị là 92,3%, tỷ lệ
IgA/ VCA dương tính ở bệnh nhân trước xạ trị
là 85,7% Sau khi xạ trị một mũi thì tỷ lệ IgG/
VCA và IgA/ VCA dương tính đều là 100%
[1]
Như vậy, đối chiếu giữa hai phương pháp
khác nhau, một là tiến hành nghiên cứu trên
gien (LMP1 - kỹ thuật sinh học phân tử), hai là
tiến hành nghiên cứu trên sản phẩm của gien
(kỹ thuật miễn dịch) thì đều cho một kết quả
chung Đó là: hầu hết dân cư trên thế giới đều
nhiễm EBV
Tuy nhiên, không phải tất cả những người
nhiễm EBV đều mắc UTVMH Vì vậy, bên
cạnh EBV có thể còn rất nhiều yếu tố khác như
yếu tố cơ địa, yếu tố di truyền HLA và yếu tố
gien nhạy cảm
2 Tỷ lệ gien LMP1 - EBV ở mô sinh thiết
So với ở máu ngoại vi, ở sinh thiết mô có
hàm lượng EBV rất cao Vì vậy, đối với những
mẫu ADN tách từ mẫu sinh thiết, chúng tôi
không tiến hành phản ứng PCR lồng mà chỉ
tiến hành một lần với cặp mồi để nhân đoạn
ADN - EBV từ vị trí 168373 - 168174
Kết quả cho thấy đoạn gien LMP1 đã được
nhân lên một cách đặc hiệu, thể hiện một băng
sáng rõ nét, có kích thước khoảng 230bp (Hình
3; Bảng 3)
Xuất phát từ cùng một hàm lượng ADN làm khuôn (khoảng 100 ng) để chạy phản ứng PCR,
ở máu ngoại vi chúng tôi phải tiến hành PCR 2 lần, nhưng ở tổ chức sinh thiết khối u chỉ tiến hành PCR một lần và điện di 4àl sản phẩm PCR so với điện di 10àl sản phẩm PCR ở máu ngoại vi Kết quả là: sản phẩm PCR chạy từ sinh thiết khối u có băng ADN đậm hơn rất nhiều so với băng ADN - LMP1 là sản phẩm PCR đã chạy điện di từ máu ngoại vi Kết quả này hoàn toàn đúng với lý thuyết cho rằng: hàm lượng ADN - EBV ở trong mô sinh thiết cao hơn rất nhiều so với ở máu ngoại vi Trong
25 mẫu sinh thiết (gồm 5 mẫu bệnh nhân ung thư vùng đầu, cổ không phải là UTVMH và 20 mẫu sinh thiết vòm bệnh nhân UTVMH) đều
có gien LMP1 - EBV
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nghiêm Đức Thuận [3]: trong tổng số 47 bệnh nhân UTVMH thể không biệt hoá phát hiện thấy có 85,11% trường hợp có ADN - EBV trong mẫu sinh thiết khối u vòm họng (tác giả
sử dụng cặp mồi EBNA - 2A) Tiếp tục sử dụng sản phẩm PCR với cặp mồi EBNA - 2A làm ADN dò cho kỹ thuật lai dot - blot thì tác giả phát hiện thấy 95,74% trường hợp có ADN - EBV trong mẫu sinh thiết khối u vòm họng Và phải tiến hành kỹ thuật RT - PCR với mồi EBNA - 1 tác giả mới xác định được 100% trường hợp có hoạt tính mARN - EBV Hơn nữa, đối với nhóm chứng bao gồm ung thư đầu,
cổ không phải UTVMH, tác giả Nghiêm Đức Thuận phát hiện được 3/ 11 trường hợp có ADN - EBV (trong đó có 2/ 11 trường hợp là ung thư amidan khẩu cái, còn 1/ 11 trường hợp
là ung thư sàng hàm) Điều này cho phép nghĩ rằng cặp mồi LMP1 chúng tôi sử dụng có độ nhạy nhưng khi so sánh các cặp mồi EBNA - 2A, EBNA - 1 và LMP1 thì có lẽ EBNA - 1 đặc hiệu với UTVMH ở nước ta hơn so với EBNA - 2A và LMP1
Tuy nhiên, một điều đặc biệt là trong 20 mẫu sinh thiết UTVMH, có 16 mẫu đơn ADN (80%) tách từ mô sinh thiết khối u vòm họng
Trang 6của bệnh nhân UTVMH được nhân lên có độ
dài khoảng 200bp và có 2 cặp mẫu (cả của máu
ngoại vi và sinh thiết vòm họng) Như vậy, có
tất cả 18 mẫu sinh thiết khối u vòm họng sau
khi chạy điện di sản phẩm PCR có đoạn gien
LMP1 khoảng 200bp
Trên điện di, sản phẩm PCR của máu ngoại
vi, của bệnh nhân ung thư đầu, cổ không phải
UTVMH, của bệnh nhân UTVMH và khi làm
điện di song song các mẫu này thì thấy rằng:
trong lúc các mẫu máu ngoại vi người bình
thường, máu ngoại vi người UTVMH (18/ 20
mẫu) và mô sinh thiết bệnh nhân ung thư vùng
đầu, cổ không phải UTVMH đều chỉ thấy sản
phẩm quãng 230bp thì 16 mẫu đơn sinh thiết
vòm của bệnh nhân UTVMH và 2 cặp mẫu
thấy sản phẩm quãng 200bp (tổng số là 18/ 20
mẫu) (Hình 4.A; Hình 4.B) Điều này khiến
chúng tôi suy nghĩ là đã có đột biến mất đoạn ở
gien LMP1 - EBV, khoảng 30bp hay ít, nhiều
hơn
So sánh với kết quả một số tài liệu của
những nước có tần suất UTVMH rất cao, cao
hơn cả nước ta, cho thấy:
92% gien LMP1 có mặt trong mô sinh thiết
khối u vòm họng của bệnh nhân UTVMH
Trung Quốc trong đó có 82% gien LMP1 của
những bệnh nhân này có đột biến mất 10 amino
acid ở vị trí 346 - 355 acid amin hoặc đột biến
mất 3bp từ vị trí 168287 - 168256 nucleotid ở
đầu -C tận [10] 100% gien LMP1 tách từ sinh
thiết vòm của bệnh nhân Đài Loan bị UTVMH
có đột biến mất 30bp [4] 93% (34/ 37 ca
dương tính) gien LMP1 tách từ mô sinh thiết
khối u vòm họng của bệnh nhân UTVMH
Hồng Kông bị UTVMH có đột biến mất 10
amino acid từ vị trí 346 - 355 hoặc đột biến mất
30bp từ vị trí 168285 - 168256 nucleotid ở đầu
-C tận [5][6] 76,2% gien LMP1 tách từ mô
sinh thiết khối u vòm họng của bệnh nhân
Guangxi và Shanhai bị UTVMH có đột biến
mất 30bp [10] Khi nghiên cứu chung với số
mẫu lớn ở người Châu á, tỷ lệ đột biến mất
30bp của gien LMP1 là 86% (với số mẫu nghiên cứu là 187 mẫu)
Bảng 4: So sánh tỷ lệ chủng EBV có gien LMP1 đột biến mất khoảng 30bp của bệnh nhân UTVMH Việt Nam so với một số nước
khác trên thế giới
Nước
LMP1 đột biến mất khoảng 30bp
LMP1 không
bị đột biến mất khoảng 30bp
1 Nga 0% (0/ 6 mẫu) 100% (6/ 6
mẫu)
2 Trung Quốc
84% (36/ 47 mẫu)
16% (7/ 47 mẫu)
3 Việt Nam
90% (18/ 20 mẫu)
10% (2/20 mẫu)
4 Hồng Kông
92% (34/ 37 mẫu)
8% (3/37 mẫu)
5 Đài Loan
100% 0%
Những kết quả này cho thấy chủng EBV có gien LMP1 đột biến mất 30bp nhiều nhất là ở
Đài Loan Một điều đặc biệt là không thấy có
đột biến mất 30bp của gien LMP1 ở bệnh nhân UTVMH gốc Nga, tuy nhiên vẫn thấy đột biến này ở bệnh nhân mắc bệnh Hodgkin [9]
Trong 5 mẫu sinh thiết chứng (lấy từ các bệnh nhân ung thư amidan khẩu cái và ung thư hạ họng thanh quản) đều phát hiện thấy ADN - EBV với hàm lượng rất cao, tuy rằng gien LMP1 - EBV không bị đột biến giống như ở bệnh nhân UTVMH Như vậy, phải chăng EBV trong các mẫu sinh thiết này có liên quan với bệnh sinh hay chỉ là từ tế bào máu có trong khối u? Nhận xét này cũng mở ra một nghiên cứu mới có thể tiến hành trong tương lai
Trang 7Như vậy, tiến hành kỹ thuật PCR và PCR
lồng với cặp mồi để nhân đoạn gien LMP1 -
EBV không những phát hiện được sự có mặt
ADN - EBV ở trong cơ thể người khoẻ mạnh, ở
bệnh nhân ung thư vùng đầu, cổ không phải
UTVMH và bệnh nhân UTVMH mà còn phát
hiện được đột biến mất đoạn của gien LMP1 -
EBV xảy ra phổ biến ở bệnh nhân UTVMH
3 Đánh giá mối liên quan giữa đột biến
mất đoạn của gien LMP1 trong định hướng
chẩn đoán sớm và tiên lượng UTVMH
Kiểu hình nhiễm EBV ở thể tiềm ẩn được
chia làm 3 nhóm (týp I, II và III) tuỳ theo sự
biểu lộ của 10 gien tiềm ẩn Thể tiềm ẩn của
týp I chỉ có EBER và EBNA1 được biểu lộ như
ở u lympho Burkitt ở týp III, toàn bộ gien tiềm
ẩn được biểu lộ như ở trong tế bào biến chuyển
(LCL) ở týp II, LMP1, LMP2A và LMP2B
cộng thêm EBER và EBNA1 của týp I được
biểu lộ như trong UTVMH và bệnh Hodgkin
Người ta biết rõ là thể không biệt hoá (UCNT)
và ít biệt hoá của UTVMH thường có liên quan
với vai trò của LMP1
Theo nghiên cứu của Đỗ Hoà Bình và cộng
sự (số liệu đã gửi trên tạp chí Nghiên cứu y
học, 2002): bằng phương pháp hoá miễn dịch
mô và miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, tác giả
thấy rằng protein LMP1 được biểu lộ ở 53/ 80
trường hợp (66%), trong khi đó có 27/ 80
(37%) trường hợp không biểu lộ LMP1 Hơn
nữa, trong 44 trường hợp biểu lộ LMP1 có tới
33 trường hợp (75%) đã đáp ứng rất tốt sau xạ
trị (u tan, hết hạch), mặc dù trước đó hạch lan
rộng Tỷ lệ tái phát sớm và di căn của nhóm
này là 14/ 44 (25%) Ngược lại, trong số 21
trường hợp không biểu lộ LMP1, chỉ có 7
trường hợp có dấu hiệu tiên lượng tốt như nhóm
có LMP1 dương tính, còn lại 14/ 21 trường hợp
(67%) có tiên lượng xấu, với đáp ứng sau xạ trị
kém (u thu nhỏ một phần, hạch còn tồn tại), có
biểu hiện tái phát sớm sau < 6 tháng và di căn
nhiều nơi, mặc dù trước đó u và hạch không lan
rộng như nhóm LMP1 dương tính Như vậy,
những trường hợp có LMP1 dương tính thì
cùng với u, hạch có xu hướng lan rộng hơn
những trường hợp âm tính với LMP1, nhưng
tiên lượng vẫn tốt hơn Nhận xét này gợi ý có
thể xem protein LMP1 như là một dấu ấn EBV
có giá trị, góp phần tiên lượng UTVMH
Kết quả của chúng tôi cho thấy 100% bệnh nhân UTVMH đều có gien LMP1 trong đó 90% có đột biến mất đoạn; nhưng tác giả Đỗ Hoà Bình khi nghiên cứu 80 trường hợp thì sản phẩm chỉ biểu lộ protein LMP1 ở 66% trường hợp Như vậy rõ ràng rằng từ gien đến sản phẩm gien còn có nhiều cơ chế khác chi phối Không những thế, theo tác giả Đỗ Hoà Bình, 75% bệnh nhân biểu lộ protein LMP1 có tiên lượng tốt, 25% là tiên lượng xấu Còn theo kết quả của chúng tôi chỉ có 10% gien LMP1 không đột biến, còn 90% gien LMP1 là đột biến Như vậy, dù là gien LMP1 có đột biến nhỏ hay không đột biến thì có lẽ nó vẫn có tính sinh miễn dịch và được nhận biết bởi tế bào T diệt đặc hiệu khối u (cytotoxic T - lymphocyte
- CTL)
V Kết luận Bằng kỹ thuật PCR và PCR lồng, sử dụng hai cặp mồi đặc hiệu cho gien LMP1, chúng tôi không những phát hiện được sự có mặt của gien LMP1 ở máu ngoại vi người khoẻ mạnh; máu ngoại vi và tổ chức sinh thiết bệnh nhân UTVMH; tổ chức sinh thiết bệnh nhân ung thư vùng đầu, cổ không phải UTVMH mà còn phát hiện được đột biến mất đoạn gien LMP1 – EBV
ở bệnh nhân UTVMH, do đó loại tế bào u khỏi cơ thể
Tài liệu tham khảo
1 Phan Thu Anh, Đỗ Hoà Bình, Phan Thị Phi Phi và cs.: Huyết thanh học chống VCA,
EA ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng, Y học
Việt Nam 1991, 158: 129 - 132
2 Phan Thu Anh, Phan Thị Phi Phi, Đỗ Hoà Bình và cs.: Góp phần nghiên cứu ung thư vòm mũi họng ở Việt Nam Tình hình nhiễm
EBV ở một số lứa tuổi người dân Việt Nam, Y
học thực hành 1987, 5- 6: 41 - 42
3 Nghiêm Đức Thuận : Nghiên cứu đặc
điểm lâm sàng, mô bệnh học ung thư vòm mũi họng và hoạt tính của gen virút Epstein - Barr trong UTVMH, Luận văn Tiến sỹ Y học 2001
4 Chang Y S., Su I J., Chung P J., Shu
C H., Ng C K., Wu S J., Liu S T.: Deletion
Trang 8of an Epstein - Barr virus variant in T - cell
lymphoma tissues identical to the distinct strain
observed in nasopharyngeal carcinoma in the
Taiwanese population, Int J Cancer 1995, 62:
673 - 677
5 Cheung S T., Lo K W., Leung S F.,
Chan W Y., Choi P H., Johnson P J., Lee J
C., Huang D P.:Prevalance of LMP1 deletion
variant of Epstein-Barr virus in nasopharyngeal
carcinoma and gastric tumor in Hong Kong,
Int J Cancer 1996, 66: 711 - 712
6 Cheung Siu - Tim, Leung Sing - Fai,
Lo Kwok - Wai, Chui K W., Tam J S L., Fok
T F., Johnson Philip J.: Specific latent
membrane protein 1 gene sequences in type 1
and type 2 Epstein-Barr virus from
nasopharyngeal, Int J Cancer.1998, 76: 399 -
406
7 Hu Lifu : Nasopharyngeal carcinoma
and Epstein - Barr virus, LuËn ¸n TiÕn sü
1996
8 Kee-Ching G.Jeng, Chen-Yi Hsu, Ming-Tsung Liu, Tsung-Te Chung, Shih-Tung Liu: Prevalence of Taiwan variant of Epstein-Barr virus in throat washings from patients with
head and neck tumors in Taiwan, Journal of
Clinical microbiology, Vol.32, No.1: 28-31
9 Peter Hahn, Elena Novikova, Liana Scherback, Constatin Janik, Oleg Pavlish, Viktor Arkhipov, John Nicholis, Nikolaus Muller - Lantzsch, Vladimir Gurtsevitch and Friendrich A Grasser ; The LMP1 gene isolated from Russian nasopharyngeal carcinoma has no 30bp deletion, Int J Cancer
2001, 91: 815 - 821
10 Xiao - Shi Zhang, Kun - Hua Song, Hai
- Quiang Mai, Wei - Hua Jia et al: The 30 - bp deletion variant: a polymorphism of latent membrane protein 1 prevalent in endemic and non - endemic areas of nasopharyngeal
carcinoma in China, Cancer Letters 2002, 176:
65 - 73
Summary
The prevelance and deleted mutations of LMP1 - EVB
gene in UCNT - NPC patients The aim of this study is to investigate the prevalence of LMP1 gene We have studied on 20 couple samples of nasopharyngeal carcinoma patients (included blood and biopsy); 5 patients with other head and neck tumor and 30 blood samples of healthy persons The primers located from position 168592 to 168174 and from 168373 to 168174 of the strain HEHS B95 – 8 were used Our finding indicated that:
1 The prevalence of LMP1 - EBV gene in peripheral blood of healthy persons are 96.7% (29/ 30 positive cases)
2 Prevalent LMP1 - EBV gene in 20 UCNT nasopharyngeal carcinoma patients are 100% (20/
20 positive cases)
3 Prevalence LMP1 - EBV gene in patients with other head and neck tumor are 100% (5/ 5 positive cases)
4 On the electrophoresis showed that 90% biopsies of nasopharyngeal carcinoma patients having deletion in LMP1 gene