Mối liên quan giữa một số yếu tố văn hoá, xã hội và ý tưởng tự tử tại cộng đồng dân cư quận Đống Đa, Hà Nội Trần Thị Thanh Hương, Hoàng Hoa Sơn, Phạm Thị Minh Đức, Nguyễn Văn Tường Trư
Trang 1Mối liên quan giữa một số yếu tố văn hoá, xã hội và ý tưởng tự tử tại cộng đồng dân cư quận Đống Đa, Hà Nội
Trần Thị Thanh Hương, Hoàng Hoa Sơn, Phạm Thị Minh Đức, Nguyễn Văn Tường
Trường Đại học Y Hà Nội
2280 người bình thường sống tại địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội được chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn
về sự xuất hiện ý tưởng tự tử trong cuộc đời cũng như trong 12 tháng vừa qua Tỷ lệ những người có ý định
tự tử nhỏ hơn so với ở Trung Quốc và các nước Tây Âu Kết quả cho thấy có sự tương quan có ý nghĩa thống kế giữa ý tưởng tự tử và giới nữ (p < 0,001), tình trạng hôn nhân (ly dị/ly thân hay chưa lập gia đình) với p < 0,001, lối sống (đã từng sống với các bạn tình khác nhau) với p < 0,001, nghề nghiệp (học sinh, sinh viên) với p < 0,001 Nhưng ý tưởng tự tử không có tương quan với tôn giáo và số năm đi học
I Đặt vấn đề
Hành động tự tử thường là hậu quả của
một quá trình: từ ý tưởng tự tử, đến việc lập kế
hoạch tự tử, và cuối cùng là dẫn tới hành vi tự
tử [1] Các ý tưởng tự tử có thể chỉ là các ý
định nông nổi, nhất thời nhưng cũng có thể
nhanh chóng chuyến sang hành vi tự tử
ý tưởng tự tử là một yếu tố nguy cơ quan
trọng dẫn tới hành vi tự tử đã được chứng
minh trong một số các nghiên cứu [1] Sự hiểu
biết các yếu tố nguy cơ liên quan tới ý tưởng
tự tử có thể gợi ý cho chúng ta những giải
pháp can thiệp sớm và thích hợp [2]
Trên thế giới, hầu hết các nghiên cứu về ý
tưởng tự tử thường chỉ nghiên cứu trên các đối
tượng là sinh viên, các bệnh nhân bị các bệnh
mạn tính hay các bệnh nhân tâm thần [3] Rất
ít các nghiên cứu được tiến hành trên cộng
đồng dân cư, và đặc biệt là các nghiên cứu ở
cộng đồng châu á
Nghiên cứu này là một trong những nghiên
cứu đầu tiên về ý tưởng tự tử ở cộng đồng
người Việt Nam Đây cũng là một phần trong
nghiên cứu can thiệp đa quốc gia về hành vi
tự tử (SUPRE-MISS) trong chiến lược phòng
chống hành vi tự tử của Tổ chức Y tế thế giới
Nghiên cứu này nhằm mục đích:
1 Xác định một số yếu tố về văn hoá, xã hội có ảnh hưởng tới sự xuất hiện ý tưởng tự
tử tại cộng đồng dân cư quận Đống Đa, Hà Nội
2 Xác định tỷ lệ phân bổ về ý tưởng tự tử,
kế hoạch tự tử và hành vi tự tử tại cộng đồng dân cư quận Đống Đa, Hà Nội
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Địa điểm nghiên cứu
Quận Đống Đa là một trong số 7 quận nội thành Hà Nội, với số dân là
350 000 người Với mức dân số này, ước tính tỷ lệ có ý tưởng tự tử là 10%, khoảng tin cậy 95% thì 2280 người là cỡ mẫu thích hợp cho nghiên cứu này Các đối tượng nghiên cứu được lựa chọn ngẫu nhiên dựa theo số nhà
2 Công cụ và phương pháp nghiên cứu
Bộ câu hỏi phỏng vấn SUPRE-MISS được dịch và hiệu đính bởi các chuyên gia về tâm thần, tâm lý, y tế công cộng của Trường Đại học Y Hà Nội và Viện sức khoẻ tâm thần Do
đặc điểm của người Việt Nam cũng như số hộ gia đình có điện thoại còn hạn chế, nên việc phỏng vấn được tiến hành tại nhà của đối
Trang 2Một nhóm các cử nhân chuyên ngành y tế
công cộng được tập huấn về bộ câu hỏi
phỏng vấn Sau đó, mỗi điều tra viên tiến
hành phỏng vấn thử 2 đối tượng bất kỳ Sau
khi phỏng vấn thử, nhóm nghiên cứu lại tập
hợp nhau lại cùng chia sẻ kinh nghiệm để có
thể thu thập được các thông tin chính xác
nhất, đặc biệt đối với những câu hỏi có tính
chất nhạy cảm
Quá trình phỏng vấn được kiểm tra, giám
sát bởi các tác giả Khoảng 10% số phiếu
được chọn ngẫu nhiên để kiểm tra lại
Bộ câu hỏi nghiên cứu bao gồm các biến
số về các yếu tố văn hoá, xã hội cũng như ý
tưởng tự tử của đối tượng nghiên cứu
3 Xử lý số liệu
Các đối tượng tham gia nghiên cứu, khi
phân tích được chia thành 2 nhóm: nhóm
những người đã từng có ý nghĩ tự tử trong
cuộc đời và nhóm những người chưa từng có
ý nghĩ tự tử Các biến số về văn hoá, xã hội
và bản thân được phân tích theo 2 nhóm này
Số liệu được phân tích bằng phần mềm
thống kê SPSS 10.0 Test x2 , Fisher's exact
test hay test t được sử dụng tuỳ thuộc vào đặc
điểm của các biến số
4 Các vấn đề liên quan tới đạo đức
trong nghiên cứu
Nghiên cứu được chấp thuận về Đạo đức
trong nghiên cứu bởi Hội đồng đạo đức trong
nghiên cứu của Viện Karolinska Các đối
tượng đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ ký vào
phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu
III Kết quả
1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Có 2280 người tham gia nghiên cứu, trong
đó có 1101 nam (48,3%) và 1178 nữ (51,7%)
và 1 người là lưỡng giới Đặc điểm của các đối
tượng này được trình bày ở bảng 1
Bảng 1: Một số đặc điểm của mẫu nghiên cứu
n % n %
Nhóm tuổi
< 15 2 0.2 10 0.9
15 - 24 271 24.8 279 24.0
25 - 34 246 22.5 247 21.2
35 - 44 160 14.7 195 16.8
45 - 54 151 13.8 184 15.8
55 - 64 117 10.7 132 11.3
>=65 145 13.3 117 10.1
Tình trạng hôn nhân
Chưa lập gia đình 430 39.3 348 30.5
Đã lập gia đình 654 59.8 779 68.3
Ly dị hoặc ly thân 9 0.8 13 1.1
Trình độ học vấn cao nhất
Mù chữ hoặc cấp I 76 6.9 135 11.5 Cấp II 225 20.5 252 21.4 Cấp III/trung cấp/cao đẳng 538 49.1 591 50.2
Đại học 228 20.8 177 15.0 Trên đại học 28 2.6 22 1.9
Tôn giáo
Không 1019 93.1 1053 89.9 Thiên chúa giáo 18 1.6 22 1.9
Đạo Phật 45 4.1 83 7.1 Khác 13 1.2 13 1.1
2 Mối tương quan giữa ý tưởng tự tử và các đặc điểm về x∙ hội và nhân khẩu
Trong số 2280 đối tượng tham gia nghiên cứu, có 201 người đã từng có ý nghĩ tự tử trong cuộc đời và 14 người từ chối trả lời câu hỏi liên quan tới vấn đề trên 14 người này và
1 người lưỡng giới sẽ không nằm trong các kết
Trang 3Bảng 2: Mối tương quan giữa ý tưởng tự tử và các đặc điểm về xã hội và nhân khẩu
Không có ý nghĩ tự tử Có ý nghĩ tự tử p
Tổng số năm đi học 11.5 ± 4.2 11.4 ± 4.3 ns
Tổng số Có ý tưởng tự tử p
Giới
Tình trạng hôn nhân
Chưa lập gia đình1 772 103 < 0.001
Đã lập gia đình2 1425 87 P 1-2 < 0.001
Ly dị/ly thân3 65 11 P 3-2 < 0.001
Đ∙ từng sống với bạn tình khác nhau
Tôn giáo
Tính chất nghề nghiệp
Có nghề nghiệp1 1170 89 < 0.01
Thất nghiệp (không kể nghỉ hưu, nội trợ)2 24 3 P 1-4 <0.01
Bảng 2 cho thấy các yếu tố: tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, lối sống (đã từng sống với các bạn
tình khác) có liên quan tới ý tưởng tự tử của đối tượng nghiên cứu Trong khi đó, các yếu tố về tôn
giáo, số năm đi học không có mối tương quan với sự xuất hiện của ý tưởng tự tử
3 ý nghĩ tự tử, kế hoạch tự tử và hành vi doạ tự tử trong cuộc đời và trong 12 tháng
vừa qua
Trang 4Bảng 3: Sự phân bố về ý nghĩ tự tử, kế hoạch tự tử và hành vi doạ tự tử trong cuộc đời và
trong 12 tháng trước theo giới
ý nghĩ tự tử
Trong cuộc đời 61 (5.6) 140 (11.9) 2.3 1.7-3.1 < 0.05
Trong 12 tháng vừa qua 21 (1.9) 53 (4.5) 1 0.5-2.0 > 0,05
Kế hoạch tự tử
Trong cuộc đời 11 (1.0) 14 (1.2) 1.2 0.5-2.6 > 0,05
Trong 12 tháng vừa qua 4 (0.4) 8 (0.7) 1.7 0.3-8.7 > 0,05
Doạ tự tử
Trong cuộc đời 5 (0.4) 4 (0.3) 0.7 0.2-2.8 > 0,05
Trong 12 tháng vừa qua 2 (0.2) 1 (0.1) 0.2 0.01-4.7 > 0,05
Bảng 3 cho thấy:
- Tỷ lệ nữ có ý nghĩ tự tử trong cuộc đời
(11,9%) nhiều hơn so với nam giới (5,6%) và
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kế với p
<0,05
- Không có sự khác biệt về giới giữa ý nghĩ
tự tử trong 12 tháng trước, về kế hoạch tự tử
cũng như hành vi doạ tự tử trong cuộc đời
cũng như trong 12 tháng trước
IV Bàn luận
1 Một số vấn đề về phương pháp
Trong nghiên cứu này, việc tiến hành điều
tra theo cách phỏng vấn tại gia đình đối tượng
đã làm giảm đi tỷ lệ từ chối tham gia nghiên
cứu Quy trình nghiên cứu bao gồm việc đào
tạo, nghiên cứu thử, giám sát kỹ lưỡng khiến
cho nghiên cứu có tính tin cậy Một số các
nghiên cứu khác được thực hiện tại các nước
khác theo cách phỏng vấn qua điện thoại hay
gửi thư đều cho thấy tỷ lệ bỏ cuộc khá cao [4]
Tỷ lệ những người có ý tưởng tự tử ở
nghiên cứu này chiếm 8,8%, có thể chưa phải
là con số chính xác Tỷ lệ thật sự có thể phải
kiện quan trọng khiến cho họ cần phải nhớ tới, đặc biệt khi những ý nghĩ tự tử này lại chỉ xuất hiện một cách thoáng qua Hơn nữa, với
đặc điểm của truyền thống văn hoá phương
Đông, con người thường không muốn nói cho người khác biết rằng họ đã có những lúc có ý
định tự tử
Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu ngang nên các kết quả đưa ra chưa thể khẳng định
được mối liên quan có tính nhân - quả giữa ý nghĩ tự tử và các biến số về văn hoá, xã hội Tuy nhiên đây cũng là những gợi ý quan trọng cho việc tiến hành các nghiên cứu can thiệp ở các mức độ sâu hơn
2 Mối liên quan giữa ý nghĩ tự tử và các yếu tố về văn hoá, x∙ hội
ý nghĩ tự tử được thấy là gặp ở nữ nhiều hơn ở nam Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự như kết quả thu được từ một số các nghiên cứu khác (3)
ý tưởng tự tử có mối tương quan với các sự kiện lớn trong cuộc đời như ly dị/ly thân cũng như liên quan với các lối sống như " có quan
hệ bạn tình với các đối tác khác nhau" Mối
Trang 5Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng
cho thấy rằng ý tưởng tự tử không liên quan
tới tôn giáo Kết quả này thực sự khác biệt so
với một số nghiên cứu của các nước châu á
khác
Sinh viên, học sinh là những đối tượng có
ý tưởng tự tử khá cao Nhóm đối tượng này
thường ở độ tuổi đang có sự biến đổi về tâm
lý, lại đang ở trong thời kỳ học tập căng thẳng
và thường xuyên đối mặt với thi cử Do vậy, tài
liệu hướng dẫn về phòng chống hành vi tự tử
của Tổ chức y tế thế giới cho nhóm đối tượng
là học sinh, sinh viên có thể trở nên hữu ích
khi được sử dụng ở Việt Nam [6] Kết quả
nghiên cứu này cũng phù hợp với một nghiên
cứu trước đây của chúng tôi về những người
có hành vi doạ tự tử vào điều trị tại bệnh viện
Bạch Mai [7]
3 ý nghĩ tự tử, kế hoạch tự tử và hành
vi doạ tự tử trong cuộc đời và trong 12
tháng trước
Tỷ lệ có ý tưởng tự tử rất khác nhau giữa
các quốc gia Tỷ lệ này được xác định trong
khoảng từ 5,3% đến 18,5% trong một nghiên
cứu được tiến hành trên 9 quốc gia [8] Kết
quả về tỷ lệ có ý tưởng tự tử, có kế hoạch tự tử
cũng như có hành vi doạ tự tử trong nghiên
cứu của chúng tôi thấp hơn so với các quốc
gia khác ở Tây Âu [8] và Trung Quốc [9] Sự
khác biệt này có thể do sự khác biệt về văn
hoá giữa các quốc gia, cũng có thể do việc sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cũng như
các công cụ nghiên cứu khác nhau để xác
định ý tưởng tự tử
V Kết luận
- ý tưởng tự tử có mối tương quan với một
loạt các yếu tố về giới tính (nữ gặp nhiều hơn
nam), tuổi trẻ, tình trạng hôn nhân (chưa lập
gia đình, ly dị/ly thân), lối sống (sống với các
bạn tình khác nhau), nghề nghiệp (gặp nhiều
ở sinh viên, học sinh) cũng như tiền sử có
hành vi doạ tự tử của gia đình Nhưng ý tưởng
tự tử ở người dân thành thị Việt Nam không
- Tỷ lệ nữ có ý nghĩ tự tử trong cuộc đời cao hơn nam giới Không có sự khác biệt về ý nghĩ tự tử trong 12 tháng vừa qua, về kế hoạch tự tử cũng như dọa tự tử giữa nam và nữ
Kết quả nghiên cứu này có thể góp phần gợi ý đưa ra các giải pháp góp phần cho việc xây dựng kế hoạch phòng ngừa hành vi doạ
tự tử ở Việt Nam
Lời cảm ơn:
Nghiên cứu này được sự hỗ trợ một phần kinh phí của Quỹ hỗ trợ nghiên cứu quốc tế SAREC/Sida, hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật của
Tổ chức y tế thế giới trong khuôn khổ nghiên cứu can thiệp đa quốc gia về hành vi tự tử Các tác giả xin chân thành cảm ơn
Tài liệu tham khảo
1 Wasserman, D (2001): Suicide: an unnecessary death London Martin Dunitz
2 Goldney R, Fisher L, Wilson D and Cheok F (2001) Suicidal ideation and health-related quality of life in the community Med J Aus 175: 553 - 554
3 Mutsuhiro N, Gaku Y and Tomifusa K (2002) Suicidal ideation and somatic symptoms of patients with mind/body distress
in a Japanese Psychosomatic clinic Suicide Life threatening Behavior 32 (1)
4 Etzersdorfer E., Vijayakumar L Schony
W et al (1998) Attitudes towards suicide among medical students: comparison between Madras (India) and Vienna (Austria) Soc Psychiatry Psychiatr Epidemiol.33: 104 -
110
5 Wasserman D (1988) Separation: An important factor in suicidal actions Crisis 9/1:
49 - 63
6 World Health Organization 2000 Preventing suicide: a resource for teachers in school Geneva
7 Huong TTT, Guo Xin Jiang et al 2003 Attempted suicide in Hanoi, Vietnam
Trang 68 Weissman MM, Bland RC, Canina GJ et
al (1999) Prevalence of suicide ideation and
suicide attempts in nine countries
Psychological Medicine, 29: 9 - 17
9 Stravynski A and Boyer R (2001) Loneliness in relation to suicide ideation and
parasuicide: a population wide study Suicide
and life-threatening behavior 31 (1) Spring.
Summary
Association between socio-demographic factors and suicidal thoughts in general population in dongda, hanoi
2280 people in DongDa, Hanoi was randomly seleted for interviewing on suicidal thoughts in whole life as well as in 12 past months The prevalence on suicidal thoughts is smaller than results from China and Westren countries
The results also show that there is statistic significantly association between suicidal thoughts and female (p < 0,001), marital status (divorce/separate) with p < 0,001, life style (ever have lived with different partners) with p < 0,001, occupation (students and pupils) with p < 0,001
But suicidal thoughts are not associated with religion and years of education