pylori, CagA, VacA ở các bệnh nhân có bệnh dạ dày - tá tràng và người bình thường không triệu chứng Nguyễn Thái Sơn 1 , Phùng Đắc Cam 2 , Åsa Ljungh 3 1 Học viện quân y 2 Viện vệ si
Trang 1Lưu hành kháng thể kháng H pylori, CagA, VacA
ở các bệnh nhân có bệnh dạ dày - tá tràng
và người bình thường không triệu chứng
Nguyễn Thái Sơn 1 , Phùng Đắc Cam 2 ,
Åsa Ljungh 3
1 Học viện quân y
2 Viện vệ sinh dịch tễ trung ương
3 Khoa vi khuẩn học, Đại học Lund, Thụy Điển
Xét nghiệm 110 mẫu huyết thanh bệnh nhân có bệnh dạ dày-tá tràng và 31 mẫu từ người bình thường bằng kỹ thuật immunoblot cho thấy, tỷ lệ nhiễm H pylori cao ở cả hai nhóm Tỷ lệ H pylori dương tính ở các bệnh nhân loét dạ dày, loét tá tràng và viêm dạ dày lần lượt là 76,5; 95,8 và 73%
Tỷ lệ huyết thanh học dương tính với H pylori ở người lành là 64,5% Tỷ lệ kháng thể kháng cagA
và VacA là 86.2% và 60.6% ở người bệnh và 70% và 40.0% ở người lành
i Đặt vấn đề
Sự phát hiện ra Helicobacter pylori (H
pylori) và vai trò của nó trong các bệnh về dạ
dày - tá tràng là một trong những phát hiện có
ý nghĩa nhất trong lĩnh vực vi khuẩn học và hệ
thống tiêu hóa cuối thế kỷ 20 Tiếp sau phát
hiện của Marshall và Warren năm 1983 [8], rất
nhiều nghiên cứu đã được công bố Ngày nay
H pylori đã được thừa nhận là nguyên nhân
chủ yếu gây viêm, loét dạ dày - tá tràng, có vai
trò quan trọng trong bệnh sinh của ung thư dạ
dày [9] Khả năng gây bệnh của H pylori có
liên quan đến hai yếu tố độc tính quan trọng
của chúng là CagA và VacA [5] Mức độ lưu
hành của H pylori qua các nghiên cứu cho thấy
khác nhau giữa các quốc gia, khu vực và sắc
tộc [10] Nhìn chung, tỉ lệ nhiễm H pylori ở
các nước đang phát triển cao hơn hẳn ở các
nước phát triển [10] Việt Nam là một nước
đang phát triển, tỉ lệ nhiễm H pylori tương đối
cao qua một số nghiên cứu được công bố [1];
tuy nhiên các yếu tố CagA và VacA vẫn chưa
tiêu tìm hiểu thêm về tỉ lệ lưu hành kháng thể
kháng H pylori, và tỉ lệ mang CagA, VacA ở
các bệnh nhân có bệnh dạ dày – tá tràng và người bình thường không triệu chứng bằng kỹ thuật Immunoblot
ii Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng
1.1 Bệnh nhân
110 bệnh nhân (tuổi từ 15 đến 70, trung bình 39) có viêm hoặc loét dạ dày, tá tràng
được chẩn đoán qua nội soi tại Bệnh viện 103, Học viện quân y từ 3/1998 đến 6/2000, gồm:
- Loét dạ dày: 17 bệnh nhân
- Loét tá tràng: 24 bệnh nhân
- Loét dạ dày kèm loét tá tràng: 20 bệnh nhân
- Viêm dạ dày: 26 bệnh nhân
Trang 2nhân
1.2 Người khoẻ mạnh
31 người bình thường khoẻ mạnh (tuổi từ 19
đến 60, trung bình 32), không có tiền sử và
triệu chứng dạ dày- tá tràng tính đến thời điểm
nghiên cứu
ắ Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều
được lấy máu tĩnh mạch dùng cho xét nghiệm
H pylori
2 Vật liệu
- Kháng nguyên tách chiết bằng phương
pháp glycine từ chủng chuẩn H pylori CCUG
17874 (Lund University, Sweden)
- SDS - PAGE (sodium dodecylsulfate
polyacrylamide gel electrophoresis) với Precast
gradient gel 10- 20% Tris-HCl (catalog
345-0045, Bio-Rad, CA, USA)
- Bộ điện di thấm (electroblotter equipment,
Ancos, Vig, Denmark)
- Màng PVDF (polyvinylidene difluoride,
Micron Separation Inc,Westborough, MA,
USA)
- Kháng thể kháng người gắn men
[horse-radish-peroxidase conjugated anti-IgG
antibodies (Dako, Glostrup, Denmark)]
3 Phương pháp
Kháng nguyên của vi khuẩn H pylori được
tách chiết bằng phương pháp glycine axit từ
chủng chuẩn CCUG 17874 (Lund University,
PAGE (Precast gradient gel 10-20% Tris-HCl, catalog 345-0045, Bio - Rad, CA, USA) với bộ
điện di gel (Bio - Rad, Richmond, CA, USA) Tiếp theo các kháng nguyên lại được điện di chuyển sang màng PVDF Sau khi điện di, phần màng chứa các marker mẫu được cắt riêng, nhuộm Amidoblack Phần màng đã phủ kháng nguyên được đánh dấu, cắt thành các dải 3mm chiều rộng, đặt vào khay ủ, phủ huyết thanh bệnh nhân pha loãng 1:100, 1 ml/ dải, để qua đêm ở 8oC Hôm sau, các dải màng được lấy ra rửa sạch huyết thanh thừa, rồi sau đó
được ủ tiếp với kháng thể kháng IgG người gắn
peroxidase (Dako, Glostrup, Denmark) pha
loãng 1/600, ủ trong 2 giờ, sau đó rửa sạch kháng thể thừa Các vị trí kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể trên màng được phát hiện sau khi ủ 30 phút với đệm cơ chất (gồm sodium acetate buffer, 1% 3-amino-9-ethyl Carbazole, H202 30%) [4]
Kết quả dương tính khi có một trong ba dải trọng lượng phân tử cao (120, 94 và 85 kDa) kèm với hai trong bốn dải trọng lượng phân tử
thấp (33, 30, 29, 26 kDa) đặc hiệu của H pylori xuất hiện trên cột kháng nguyên [4]
iii Kết quả
Trong 110 mẫu huyết thanh của bệnh nhân
có bệnh dạ dày - tá tràng và 31 mẫu huyết thanh của người bình thường không triệu
chứng, tỉ lệ H pylori dương tính, CagA, VacA
tìm được thể hiện trong bảng sau:
Trang 3H pylori CagA * VacA * Bệnh nhân:
Số mẫu
+ % + % + %
LDD + LTT 20 18 90,0 15 83,3 11 61,1
VDD + VTT 23 21 91,3 15 71,4 12 57,1
Người khỏe mạnh 31 20 64,5 14 70,0 8 40,0
LDD = Loét dạ dày LTT = Loét tá tràng
VDD = Viêm dạ dày VTT = Viêm tá tràng
* Tỉ lệ % của CagA và VacA được thống kê trong số trường hợp dương tính với H pylori
120 kDa
94 kDa
87 kDa
33 kDa
30 kDa
29 kDa
26 kDa
Các kháng nguyên đặc hiệu của H pylori sau khi điện di gradient SDS - PAGE
Trang 4Trong nhóm các phương pháp không xâm
phạm sử dụng huyết thanh học chẩn đoán H
pylori, Immunoblot được coi là phương pháp có
độ tin cậy cao với độ đặc hiệu gần như 100%,
độ nhậy trên 90% Ngoài ra, phương pháp này
còn có thể phát hiện những marker gây bệnh
quan trọng như CagA, VacA [2] Những trường
hợp dương tính với H pylori có thể được khẳng
định thông qua những vị trí kháng nguyên đặc
hiệu của H pylori xuất hiện trên cột kháng
nguyên (ảnh) Để tránh những trường hợp
dương tính giả xảy ra sau khi H pylori đã được
điều trị diệt trừ, kết quả dương tính trong
Immunoblot được qui ước khi có ít nhất một
dải kháng nguyên ở khu vực trọng lượng phân
tử cao kèm theo hai dải ở khu vực trọng lượng
phân tử thấp đặc hiệu của H pylori xuất hiện
trên cột kháng nguyên [4] Kết quả của
Immunoblot trên các đối tượng bệnh nhân và
người khoẻ mạnh trong nghiên cứu của chúng
tôi cho thấy: Tỉ lệ dương tính với H pylori ở
nhóm bệnh nhân là 85,5%; ở nhóm người khoẻ
mạnh không triệu chứng là 64,5% (p < 0,05%)
Tỉ lệ H pylori dương tính phân bố giữa các thể
bệnh trong nhóm bệnh nhân cũng hoàn toàn
phù hợp với những nghiên cứu về H pylori đã
được công bố trên thế giới và trong nước [1],
[7] Đặc biệt, hai marker gây bệnh quan trọng
của H pylori là CagA và VacA có tỉ lệ cao
trong số các trường hợp dương tính với H
pylori: CagA dương tính 86,2% trong nhóm
bệnh và 70% trong nhóm người khoẻ không
triệu chứng nhiễm H pylori VacA dương tính
60,6% trong nhóm bệnh nhân và 40% trong
nhóm người khoẻ mạnh không triệu chứng
nhiễm H pylori qua nghiên cứu Các nghiên
cứu về CagA và VacA trên thế giới cho biết tỉ
lệ dương tính của hai marker này khoảng 40% -
của chúng tôi nếu tính riêng trong số bệnh
nhân loét tá tràng có H pylori dương tính thì
CagA là 95,8%, các thể bệnh còn lại cũng đều
ở mức cao (71,4% đến 95,6%) Còn về VacA, trước đây chưa có nghiên cứu trong nước thống
kê về marker này Yếu tố VacA (liên quan trực tiếp đến gây loét ở dạ dày - tá tràng) tới 60 % ở nhóm bệnh, 40 % ở nhóm lành Yếu tố CagA làm tăng tính độc của VacA và còn liên quan
đến một số biểu hiện khác (ung thư dạ dày, các bệnh ngoài dạ dày), tới 86 % ở nhóm bệnh và
70 % ở nhóm lành trong những trường hợp H pylori dương tính Như vậy, nghiên cứu này
góp phần giúp thêm nhận định rằng, các bệnh nhân người Việt Nam và cả người khỏe mạnh không triệu chứng có tỉ lệ các marker CagA và VacA ở mức cao trong số các trường hợp
nhiễm H pylori, đặc biệt là yếu tố CagA Điều này cảnh báo rằng, các chủng H pylori đang
lưu hành ở Việt Nam có tiềm năng gây loét cao
và nguy cơ cao của các trường hợp nhiễm H pylori với các bệnh lý của dạ dày- tá tràng (ung
thư dạ dày, viêm dạ dày- tá tràng v.v.)
v Kết luận
Tỉ lệ lưu hành cao của nhiễm trùng H pylori ở cả hai nhóm bệnh nhân và người khỏe
mạnh: 85,5% trong nhóm bệnh dạ dày – tá tràng; 64,5% trong nhóm người khỏe mạnh không triệu chứng
Tỉ lệ xuất hiện CagA và VacA cao trong
những trường hợp dương tính với H pylori:
86,2 % với CagA và 60,6 % với VacA ở nhóm bệnh dạ dày – tá tràng; 70 % với với CagA và
40 % với VacA ở nhóm người khỏe mạnh không triệu chứng
Tài liệu tham khảo
1 Tạ Long: Helicobacter pylori và bệnh
Trang 52 Bee Ling Ng, Han Chong Ng, Kee Tai
Goh, Bow Ho: Helicobacter pylori in familial
clusters based on antibody profile, FEMS
Immunology and Microbiology 2001, 30:
139-142
3 Bruce E Dunn, Hartley Cohen, and
Martin J Blaser: Helicobacter pylori, Clinical
Microbiology Reviews 1997: 720-741
4 Ingrid Nilsson, Åsa Ljungh, Pär
Aleljungh, and Torkel Wadström: Immunoblot
Assay for Serodiagnosis of H pylori
Infections, Journal of Clinical Microbiology
1997: 427-432
5 Leen-Jan van Doorn, Ceu Figueiredo,
and Wim Quint : Molecular Typing of
Helicobacter pylori, Helicobacter pylori:
Molecular and Cellular Biology, Horizon
Scientific Press 2001: 293-310
6 Mao H.V, Lak B.V, Long T et al :
Omeprazole or ranitidine bismuth citrate triple
therapy to treat H pylori infection: a
randomized, controlled trial in Vietnamese
patients with duodenal ulcer”, Aliment Pharmacol Ther 1999, 13: 1 – 5
7 Marshall BJ et al : Helicobacter pylori,
Am J Gastroenterol 1994, 89(8): S116-S126
8 Marshall BJ, Warren JR : Unidentified curved bacilli in the stomach of patients with
gastritis and peptic ulceration, Lancet 1984,
(1) : 1311 - 1315
9 Military Medicine : Association of Helicobacter pylori infection with gastric cancer 2000, 165-1(021) : 21-27
10 Pradip K.Bardhan: Epidemiological Features of Helicobacter pylori infection in
Developing countries, Clinical Infectious
Diseases 1997, 25: 973-978
Summary
Antibodies to Helicobacter pylori, CagA, VacA in the
patients with gastroenteropathy and in healthy persons
The results of study from the sera of 110 patients with gastro-duodenal diseases and 31 healthy persons by Immunoblot assay show that: The prevalence of H pylori infections is high level in both patients and healthy persons The proportion of H pylori positive in patients with gastric ulcer, duodenal ulcer and gastritis were found 76.5%, 95.8% and 73% respectively H pylori seropositive was found 64.5% in healthy persons The prevalence of anti-CagA and anti-VacA antibodies in patients who have H pylori positive were found 86.2% and 60.6% respectively Those prevalence were found 70% and 40.0% (respectively) in heathy persons with H pylori seropositivity