1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA ( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG" pptx

34 536 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Phương Pháp Cho Ăn Gián Đoạn Lên Sự Tăng Trưởng Của Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) Giống
Tác giả Lê Thị Tiểu Mi
Người hướng dẫn Nguyễn Thanh Phương, Nguyễn Hương Thùy
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 682,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cho cá ăn với khối lượng thức ăn nhiều hay tần số cho ăn quá dày trong ngày không đồng nghĩa với vịêc cá sẽ tăng trọng nhanh, ngược lại khi cá ăn một khối lượng lớn thức ăn cá

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

LÊ THỊ TIỂU MI

ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN

LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA

( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2009

Trang 2

LỜI CẢM TẠ

Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Thanh Phương và chị Nguyễn Hương

Thùy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện thí nghiệm và hoàn

thành báo cáo

Xin cảm ơn quý Thầy Cô, Cán bộ Khoa Thuỷ sản, Bộ môn Dinh Dưỡng và Chế

Biến Thủy Sản đã giúp đỡ động viên em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này

Cuối cùng xin cảm ơn đến gia đình, người thân, các anh chị và các bạn đã tạo mọi

điều kiện để em có thể hoàn thành tốt đề tài

Lê Thị Tiểu MiXin chân thành cảm ơn!

Trang 3

TÓM TẮT

Thí nghiệm đựơc tiến hành trong thời gian 12 tuần, nghiên cứu ảnh hư

sự cho ăn gián đọan lên tăng trưởng của cá tra giống (Pangasianodon hypophthalmus

Trong suốt thời gian thí nghiệm cho ăn gián đọan, ở nghiệm thức đối chứng (NT1)

ăn theo nhu cầu (ăn đên no) với chế độ 2lần/ngày Các nghiệm thức còn lại cho ăn v

độ: cho ăn 7 ngày: gián đọan 2 ngày (NT2); cho ăn 7ngày: gián đọan 3ngày (NT3); cho ăn

7ngày: gián đọan 4 ngày (NT4) Tất cả các nghiệm thức đều được cho ăn giống như nghi

thức đối chứng (ăn đến no, 2lần/ngày, cho ăn 3-5% trọng lượng thân)

Kết thúc thí nghiệm, cá được cho ăn gián đọan ở chế độ cho ăn 7 ngày: gián

đọan 3 ngày (NT3) có trọng luợng cơ thể cao hơn (67,13± 4,8) và FCR nhỏ hơn

(1,32±0,07) cá đựơc cho ăn hàng ngày (65,08±5,94 và 1,62± 0,14) (NT1), và sự khác bi

này có nghĩa thống kê (p>0,05) Không có sự khác biệt về thành phần hóa học củ

cá như độ ẩm, tro, lipid, NFE, Prorein, năng lượng giữa các nghiệm thức (p>0,05)

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Phần 1 1

Đặt vấn đề 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu 2

1 3 Nôi dung thực hiện 2

1.4 Thời gian nghiên cứu 2

1.5 Địa điểm nghiên cứu 2

Phần 2 3

Tổng quan tài liệu 3

2.1 Tình hình nghiên cứu, phát triển và việc sử dụng thức ăn trong nuôi cá tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) 3

2.2 Đặc điểm sinh học cá tra 4

2.2.1 Hệ thống phân loại 4

2.2.2 Đặc điểm phân bố 5

2.2.3 Đăc điểm dinh dưỡng 5

2.2.4 Đặc điểm sinh trưởng 5

2.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cá 6

2.3.1 Nhu cầu về protein (Nhu cầu về chất đạm) 6

2.3.2 Nhu cầu về năng lượng 6

2.3.3 Nhu cầu về lipid 7

2.3.4 Nhu cầu về carbohydrate 7

2.4 Một số nghiên cứu về phương thức cho ăn đối với sự tăng trưởng của cá 7

Phần 3 12

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 3.1 Chuẩn bị thí nghiệm 12

3.1.1 Cá thí nghiệm 12

3.1.2 Quá trình thuần hóa trước thí nghiệm 12

3.1.3 Bể thí nghiệm 12

3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 13

3.1.5 Các vật liệu thí nghiệm khác 13

3.2 Bố trí thí nhiệm 14

3.3 Chăm sóc theo dõi 14

3.4 Phương pháp thu mẫu và ghi nhận kết quả 15

3.5 Tính tóan một số chỉ tiêu 16

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 16

Phần 4 17

Kết quả và thảo luận 17

Trang 5

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Giới thiệu

Ngành thủy sản Việt Nam được xem là ngành kinh tế mũi nhọn so với các

ngành kinh tế khác Mỗi năm ngành thủy sản đem lại thu nhập cho nền kinh tế với

giá trị rất cao Thực vậy, tại nghị Quyết đại hội đại biểu Đảng toàn Quốc lần thứ

IX một lần nữa khẳng định thủy sản là một trong những mũi nhọn trong chiến

lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2001 – 2020 Nghị Quyết nêu “Phát huy lợi

thế lớn của ngành thủy sản tạo thành một ngành xuất khẩu mũi nhọn, vươn lên

hàng đầu trong khu vực”

Chính vì vậy mà sản lượng và diện tích nuôi thủy sản tăng liên tục trong

những năm qua Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là một trong những lòai

cá da trơn góp phần làm tăng sản lượng thủy sản xuất khẩu Theo VASEP, trong

7 tháng đầu năm 2008, giá trị xuất khẩu cá tra mới đạt khoảng trên dưới 750 triệu

USD Dự kiến trong 5 tháng còn lại của năm 2008, mỗi tháng ngành thủy sản sẽ

xuất khẩu được khỏang 100 triệu USD cá tra Như vậy năm 2008, kim ngạch xuất

khẩu cá tra đạt 1,2 tỷ USD cao hơn 200 triệu USD so với năm 2007

(www.kinhtenongthon.com.vn)

Cá tra được nuôi từ lâu và rất phổ biến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, bởi

những ưu điểm như lớn nhanh, nuôi được ở mật độ cao và nuôi ở nhiều loại hình

mặt nước khác nhau Đặc biệt là chất lượng thịt ngon, tỷ lệ fillet cao, đang được

thị trường thế giới ưa chuộng

Nghề nuôi cá tra thâm canh đã gây không ít những khó khăn cho các hộ

nuôi cá tra, mà nhất là về thức ăn Theo Trần Thị Thanh Hiền và ctv., (2004),

trong điều kiện nuôi thủy sản nói chung, thức ăn chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi

phí chung (50–75%) Tuy nhiên, cho cá ăn với khối lượng thức ăn nhiều hay tần

số cho ăn quá dày trong ngày không đồng nghĩa với vịêc cá sẽ tăng trọng nhanh,

ngược lại khi cá ăn một khối lượng lớn thức ăn cá sẽ tiêu hóa chậm, thức ăn

không sử dụng triệt để và làm giảm sự hấp thụ chất dinh dưỡng (Trần Thị Thanh

Hiền và ctv., 2004) Bên cạnh đó, thức ăn không được cá sử dụng hết sẽ dẫn đến

ô nhiểm môi trường và kéo theo nhiều bệnh nguy hiểm xảy ra, mang lại hiệu quả

kinh tế thấp Để góp phần khắc phục tình trạng trên, đề tài “Ảnh hưởng của cho

ăn gián đọan lên tăng trưởng của cá tra (Pangasianodon hypophthalms) gi

ống” được thực hiện

Trang 6

1.2 Mục tiêu

Nhằm tìm ra phương pháp cho ăn hữu hiệu để tăng hiệu quả sử dụng thức

ăn và giảm chi phí thức ăn trong nuôi cá tra thâm canh

1 3 Nôi dung thực hiện

So sánh tăng trưởng, tỉ lệ sống, thành phần hóa học, của cá khi cho ăn

gián đọan khác nhau Bên cạnh, theo dõi các chỉ tiêu về môi trường trong hệ

thống bể nuôi

1.4 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 02/2009 đến tháng 06/2009

1.5 Địa điểm nghiên cứu

Thí nghiệm được bố trí tại Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ

Trang 7

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nghiên cứu, phát triển và việc sử dụng thức ăn trong nuôi cá

tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)

Trong những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL phát triển mạnh

ĐBSCL là nơi đóng góp một sản lượng thủy sản lớn trong tổng sản lượng cả

nước Chỉ riêng với nghề cá da trơn diện tích lên trên 3.600 ha gấp đôi so với

cách đây 5 năm, với sản lượng mỗi năm đạt nửa triệu tấn cá thương phẩm phục

vụ chế biến xuất khẩu (www.thuonghieunongsan.org.vn) Cuối tháng 10 năm

2008, ĐBSCL có 5.102 ha diện tích nuôi, tăng 11% so với năm 2007, với sản

lượng trên 1 triệu tấn, xuất khẩu trên 535.000 tấn qua 117 Quốc Gia, kim ngạch

xuất khẩu đạt 1250 tỷ USD (www.agriviet.com )

Nghề nuôi cá tra phát triển mạnh cả về diện tích lẫn sản lượng Trong vòng

10 năm từ 1997 đến 2006, diện tích cá tra tăng 7 lần, năng suất tăng 3,6 lần từ

225000 tấn đến 825000 tấn (VASHEP, 2007) Theo hiệp hội chế biến và xuất

khẩu Việt Nam (Vashep) cá tra là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2

của thủy sản Việt Nam sau mặt hang tôm, và đến cuối năm 2007 xuất khẩu cá tra,

cá basa đạt kỷ lục 1 tỷ USD (www.hptrad.com.vn)

ĐBSCL có truyền thống nuôi cá tra phổ biến trong bè, nuôi cá bè chiếm

phân nửa số tỉnh của vùng nhưng tập trung nhất ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp,

chiếm tới 60% số bè nuôi Nghề nuôi cá tra hiện đã chủ động hòan tòan về con

giống, 100% giống cá tra cung cấp cho nuôi là từ sinh sản nhân tạo Với sự phát

triển lâu đời và ngày càng phổ biến, kỹ thuật nuôi cá tra, ba sa rất đa dạng và

không ngừng được cải tiến để thích ứng với thực tế sản xuất Loại thức ăn sử

dụng, phương pháp cho ăn và quản lý thức ăn cũng thay đổi nhiều tùy theo điều

kiện nuôi ở các vùng khác nhau

Nuôi cá ao thì khoảng 76% số hộ nuôi ao ở khu vực Cần Thơ – Vĩnh Long

sử dụng thức ăn viên công nghiệp, cao hơn hơn kết quả báo cáo của Trương Quốc

Phú và Trần Thị Thanh Hiền (2003) với khoảng 46% hộ nuôi ao ở Cần Thơ sử

dụng thức ăn viên công nghiệp Điều này cho thấy thức ăn viên ngày càng được

áp dụng rộng rãi hơn trong nuôi ao cá tra, basa Sự khác biệt trong sử dụng thức

ăn giữa 2 hình thức nuôi được thể hiện rất rõ ở Long Xuyên Ở hình thức nuôi ao,

tỷ lệ hộ nuôi sử dụng thức ăn tự chế và thức ăn viên công nghiệp là tương đương

Trong khi đó, thức ăn tự chế với phương thức cho ăn phối hợp được áp dụng hết

sức phổ biến trong nuôi cá Mặc dù thức ăn viên công nghiệp được chứng minh là

có những ưu điểm và được khuyến cáo sử dụng trong nuôi cá bè, thức ăn tự chế

Trang 8

sử dụng các nguyên liệu tươi sống vẫn đang là loại thức ăn phổ biến nhất ở

ĐBSCL Việc sử dụng rộng rãi thức ăn loại thức ăn tự chế này đã và đang gây ra

những hậu quả nhất định cho môi trường nuôi và do đó cũng ảnh hưởng đến

chính điều kiện nuôi cá của người dân

Khi ương nuôi cá tra thâm canh thì mật độ khỏang 60– 80 con/m2/ao, từ

100- 150 con/m3/lồng bè Năng suất đạt rất cao, từ 80- 100 tấn/ha/ao, nuôi trong

lồng bè đạt tới 100–300kg/m3 Theo công ty Cửu Long feed, khi nuôi cá tra nếu

sử dụng thức ăn tự chế 5–8%, thì thức ăn viên chỉ cần 2–3% trọng lượng thân

(cùng hàm lượng đạm 30%) , sau 6–7 tháng nuôi cá đạt 1–1,5 kg/con Thức ăn tự

chế được sử dụng rất phổ biến ở khu vực Long Xuyên và Châu Đốc Ở khu vực

Cần Thơ – Vĩnh Long thì hầu hết hộ nuôi sử dụng thức ăn viên công nghiệp, một

số ít hộ nuôi cá ao (khoảng 24%) vẫn đang sử dụng thức ăn tự chế Tuy nhiên, dù

sử dụng thức ăn tự chế là chính, người nuôi vẫn sử dụng thức ăn viên công nghiệp

trong 1–1,5 tháng đầu khi cá còn nhỏ Ngoài ra, một số hộ còn sử dụng thức ăn

viên công nghiệp trong khoảng thời gian 1 tháng cuối vụ nuôi nhằm cải thiện chất

lượng sản phẩm Tỷ lệ người dân áp dụng phương thức phối hợp cho ăn này khá

cao, đặc biệt là những hộ nuôi bè ở Châu Đốc và Long Xuyên Đối với hình thức

nuôi, loại thức ăn sử dụng cho hình thức nuôi bè và nuôi ao khác nhau rõ rệt

Trong khi thức ăn tự chế được sử dụng rộng rãi trong nuôi cá bè thì thức ăn viên

công nghiệp là loại thức ăn chính trong bè (86,7%)

Tương tự, 100% hộ nuôi bè ở Châu Đốc sử dụng thức ăn tự chế trong đó

93% số hộ áp dụng phương thức cho ăn phối hợp Như vậy, thức ăn tự chế đóng

vai trò chủ đạo trong nuôi cá tra, basa trong bè Thức ăn viên ngày càng được sử

dụng rộng rãi trong nuôi cá ao Thức ăn viên cũng quan trọng trong sử dụng thức

ăn tự chế theo phương thức phối hợp

Tóm lại thức ăn viên được sử dụng rộng rãi hơn trong nuôi cá tra trong ao

Hầu hết người dân sử dụng thức ăn tự chế theo hướng phối hợp Sử dụng thức ăn

viên trong tháng đầu, thức ăn tự chế trong các tháng giữa vụ và có thể bổ sung

thức ăn tự chế vào tháng cuối vụ FCR trong nuôi cá ao nằm trong khoảng 2,0 –

3,5 nếu thức ăn tự chế và 1,5 – 1,7 nếu sử dụng thức ăn viên (Lê Thanh Hùng và

Hùynh Phạm Việt Huy, 2006)

2.2 Đặc điểm sinh học cá tra

Trang 9

Họ: Pangasiidae

Giống: Pangasianodon

Lòai: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)

2.2.2 Đặc điểm phân bố

Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mekong, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt

Nam, Capuchia và Thái Lan Ở Việt Nam, cá tra phân bố trên sông Tiền, sông

Hậu và nhiều nhất là vùng hạ lưu Theo Nguyễn Văn Trọng và ctv., (1992) cho

biết trong bộ cá da trơn có 72 lòai, nhưng Phạm Văn Khánh (1996) cho biết riêng

họ Pangasiidae ở Châu Á có 2 giống và 21 loài Riêng giống cá Tra có 19 loài

trong đó 9 loài phát hiện ở Việt Nam Cacot (1999), cho biết ở hạ lưu sông Cửu

Long có 11 loài chủ yếu thuộc giống Pangasius trong đó có 2 loài nuôi rất phổ

biến ở ĐBSCL là cá tra và cá basa

2.2.3 Đăc điểm dinh dưỡng

Cá tra là loài ăn tạp Trong tự nhiên cá có thể ăn được mùn bã hữu cơ, rể

cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, côn trùng, ốc và cá Cá nuôi trong ao sử sụng

được các loại thức ăn khác nhau như cá tạp, thức ăn nguyên, cám, tấm, rau

muống,…Thức ăn có nguồn gốc động vật sẽ giúp cá lớn nhanh hơn

Tính ăn của cá ổn định khi cá có hình dạng và cấu tạo như cá trưởng thành

(khỏang 3 tuần tuổi) Hệ tiêu hóa của cá đã hòan chỉnh, dạ dày đã có đủ các hệ

men tiêu hóa do đó cá sử dụng được nhiều loại thức ăn khác nhau Nhưng những

lọai thức ăn có nguồn gốc động vật vẫn đươc cá ưa thích hơn, đặc biệt những lọai

thức ăn là các xác chết động vật đang thối rữa

Tuy nhiên, những lọai thức ăn có nguồn gốc thực vật như các lọai bèo, rau

muống cá vẫn có khả năng sử dụng tốt nhưng sinh trưởng của cá chậm hơn so với

những cá sử dụng thức ăn có sử dụng thức ăn có nguồn gốc động vật Ngòai ra, cá

tra còn sử dụng rất tốt những loại thức ăn do con người cung cấp

2.2.4 Đặc điểm sinh trưởng

Cá còn nhỏ tăng nhanh về chiều dài, cá sẽ bước vào thời kỳ tích lũy mỡ

khi đạt 2,5 kg Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng của cá tra phụ thuộc nhiều vào

điều kiện môi trường, mật độ thả nuôi, đặc biệt là chất lượng của thức ăn sử dụng

(theo Dương Nhựt Long, 2003)

Cá lớn nhanh khi nuôi trong ao, sau một năm nuôi cá đạt trọng lượng 1 –

1,5kg /con, trong những năm sau cá lớn nhanh hơn Cá nuôi trong ao có thể đạt

đến 25kg/con ở cá mười tuổi Sau khỏang 3 – 4 năm nuôi cá có thể đạt tới trọng

lượng 2,5 – 3,5 kg/con Và lúc này sự sinh trưởng về chiều dài có sự giảm xuống

do cá bắt đầu có sự tích lũy cho quá trình thành thục sinh dục

Trang 10

Một điều khá đặc biệt ở cá tra là hầu như cá không có hiện tượng bị chai,

tức là còi Trong trường hợp cá có thể trọng nhỏ do thiếu thức ăn trong thời gian

dài, nhưng nếu cung cấp thức ăn đủ trở lại cá vẫn sinh trưởng bình thường

(Nguyễn Văn Kiểm, 1999)

2.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cá

2.3.1 Nhu cầu về chất đạm (protein)

Chất đạm là chất dinh dưỡng được đặc biệt chú ý trong thức ăn Nó là

thành phần chủ yếu cấu tạo nên cơ thể động vật

Chất đạm là một chất hữu cơ chính chiếm khoảng 65-75% khối lượng khô

của cơ thể (Halver, 1989, trích bởi Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2004) Nhiệm vụ

chính của chất đạm chính là xây dựng cấu trúc cơ thể Chất đạm trong thức ăn

cung cấp các amino acid qua quá trình tiêu hóa và thủy phân Trong ống tiêu hóa,

các amino acid được hấp thụ vào máu và đi đến các mô, cơ quan, tham gia vào

quá trình sinh tổng hợp chất đạm của cơ thể phục vụ cho quá trình sinh trưởng,

sinh sản và duy trì cơ thể Nếu thức ăn không cung cấp đầy đủ nhu cầu chất đạm

cá sẽ chậm hoặc ngừng tăng trưởng, thậm chí có thể giảm khối lượng Mặt khác,

nếu hàm lượng chất đạm trong thức ăn vượt quá nhu cầu thì chỉ một phần được sử

dụng để tạo thành chất đạm mới, phần còn lại sẽ được chuyển hóa dạng năng

lượng, điều này làm giá thành thức ăn tăng lên là không cần thiết (Trần Thị Thanh

Hiền và ctv., 2004)

Nhu cầu chất đạm là lượng chất đạm tối thiểu có trong thức ăn nhằm

thỏa mãn nhu yêu cầu các amino acid để đạt tăng trưởng tối đa (NRC, 1993)

Theo Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2004 cá tra giống (2 – 3 gam) nhu cầu chất

đạm tối ưu là 38%

2.3.2 Nhu cầu về năng lượng (energy)

Mọi họat động sống của một động vật đều cần năng lượng Nhu cầu năng

lượng thực sự của cá rất khó xác định mà người ta dựa vào tỷ lệ và chất đạm tối

ưu Tỷ lệ tối ưu này rất quan trọng bởi vì thức ăn vượt quá nhu cầu năng lượng sẽ

giảm sự bắt mồi của cá, ngược lại nếu thức ăn thiếu năng lượng thì chất đạm

trước tiên sẽ được dùng để cung cấp năng lượng thỏa mản nhu cầu của cơ thể

(Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2003)

Nhu cầu năng lượng (thô) trong thức ăn cho cá Trơn là 2750 – 3100

kcal/kg Ở cá Trơn, 1kg thức ăn cho 12,2 Mj thì cho cá tăng trọng 22,7 Mj (Trần

Thị Thanh Hiền và ctv., 2004)

Trang 11

2.3.3 Nhu cầu về chất béo (lipid)

Chất béo là nguồn dinh dưỡng cung cấp năng lượng tốt nhất cho động vật

thủy sản Việc bổ sung chất béo thích hợp sẽ giảm nhu cầu cầu chất đạm Ngòai

ra, chất béo còn tham gia vào cấu trúc của màng tế bào, cung cấp các acid béo

thiết yếu Đối với cá, hàm lượng chất béo thay đổi theo lòai, tuy nhiên mức độ đề

nghị từ 6 – 10% Ở cá tra, mức độ sử dụng tối đa chất béo trong thức ăn là 4 – 8%

(Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2004)

2.3.4 Nhu cầu về chất bột đường (carbohydrate)

Carbohydrate được xem là nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng rẻ tiền

nhất cho động vật thủy sản Carbohydrate chiếm tỷ lệ trên 75% ở thực vật trong

khi ở động vật hiện diện với số lượng nhỏ và tồn tại chủ yếu dưới dạng glucogen

(Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2004)

Ở cá da trơn, trong việc phối chế thức ăn thì carbohydrat được sử dụng để

làm nguồn cung cấp năng lượng và bổ sung một tỷ lệ nhỏ chất béo vừa cung cấp

năng lượng vừa cung cấp axit béo thiết yếu (Trần Thanh Hùng, 2000)

Theo Hùynh Thị Tú và Nguyễn Thanh Phương (2000), thức ăn chứa 26%

chất bột đường cho sinh trưởng tốt nhất ở cá tra bần (Pansasius kynyit), còn cá

basa (Pangasius bocourti) là 35,5% Đối với cá tra (2,9g) thì khả năng sử dụng

chất bột đường nằm trong khỏang 30-45% thì cho tăng trưởng tốt (Trần Thị

Thanh Hiền và ctv., 2004)

2.4 Một số nghiên cứu về phương pháp cho ăn và tăng trưởng của cá

Thức ăn là vật chất cơ bản cung cấp năng lượng giúp cho động vật nuôi

sinh trưởng, phát triển, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

Nhưng quyết định năng suất và hiệu quả kinh tế của việc nuôi cá phần lớn

phụ thuộc vào kỹ thuật cho ăn có hợp lý hay không Cách cho ăn hợp lý tức là

trong các điều kiện ngọai cảnh khác nhau, vừa thỏa mản đều đặn nhu cầu dinh

dưỡng của vật nuôi vừa đạt được sự chuyển hóa thức ăn cao nhất

Theo Võ Thị Cúc Hoa (1997), nhiều kinh nghiệm cho thấy nếu cho cá ăn

với số lượng bằng 13,5% trọng lượng thân, sau đó nếu đột nhiên giảm thấp còn

10% thì thể trọng cá giảm không giữ được trọng lượng như trước Điều đó cho

thấy thể trọng của cá thay đổi theo sự biến động của số lượng thức ăn

Đặng Đình Tám (1995) đã nghiên cứu về nhịp cho ăn của cá bống tượng

(Oxyeleotris marmoratus), thí nghiệm được tiến hành với nhịp cho ăn như sau:

cho cá ăn từ 6 đến 18 giờ, 18giờ đến 8 giờ sáng hôm sau, cho cá ăn cả ngày và

đêm Kết quả cho thấy cá ăn cả ngày và đêm cho tăng trưởng cao nhất

Trang 12

Phạm Văn Huy (1996) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của khẩu phần ăn lên

sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá basa giống (Pangasius bocourti)

với bố trí với 5 nghịêm thức tương đương với các khẩu phần ăn theo trọng lượng

thân 1%, 3%, 6%, 9%, 12% Kết quả là cá tăng trưởng cao nhất với khẩu phần

9%

Trần Bình Tuyên (2000), nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các phương

thức và tần số cho ăn đối với sự tăng trưởng của cá tra bần (Pangasius kunyit) Về

phương pháp cho ăn, thí nghiệm được bố trí như sau: cá được cho ăn theo ban

ngày (từ 6 giờ sáng đến 18 giờ chiều cùng ngày), ban đêm (từ 18 giờ chiều đến 6

giờ sáng hôm sau), cả ngày và đêm Kết quả cho thấy, phương thức cho ăn ban

đêm và ngày đêm cho cá tăng trưởng cao nhất Về tần số cho ăn với nhịp 2, 3 và 4

lần/ngày cho kết quả nghiệm thức 3 lần/ngày cho cá tăng trưởng cao nhất

Nguyễn Kim Thùy (2008) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của tần số cho

ăn lên sự tăng trọng của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giai đọan giống,

thí nghịệm được tiến hành với 4 nghiệm thức với tần số cho ăn 2, 3, 4, 8 lần/ngày

Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng cao nhất ở nghiệm thức 3lần/ngày Tuy

nhiên, tốc độ tăng trưởng ở nghiệm thức cho ăn 2 và 3 lần/ngày không có ý nghĩa

về mặt thống kê, vì vậy cho ăn 2 lần/ ngày có hiệu quả kinh tế nhất

Cá được cho ăn dưới nước Nếu thức ăn không được sử dụng trong một

khỏang thời gian nào đó không chỉ có nghĩa là hao tốn chi phí mà còn giảm chất

lượng nước (Tom Levell, 1989) Vì vậy, khẩu phần ăn, phương thức cho ăn là

những yếu tố mà người nuôi cần chú ý để đầu tư thức ăn đúng mức mang lại hiệu

quả kinh tế, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường Hiện nay, đã có nhiều

nghiên cứu về tần số cho ăn, khẩu phần ăn theo trọng lượng Nhưng phương pháp

cho ăn gián đọan chưa được nghiên cứu nhiều

Theo Davies el at., (2006) tần số cho ăn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng

đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và thành phần filê Cho ăn tối ưu ở một tần số

nhất định sẽ tiết kiệm được chi phí Chi phí thức ăn chiếm 30-70% tổng chi phí

điều hành của một doanh nghiệp, khi cho ăn quá mức sẽ không mang lại hiệu quả

kinh tế, còn gây ảnh hưởng đến chất lượng nước Xác định tần xuất cho ăn thích

hợp là cần thiết để tối ưu cho tăng trưởng, và tỷ lệ sống tốt hơn Giảm mức độ cho

ăn nhưng v ẫn đãm bảo tốc độ tăng trưởng của cá điều đó chỉ thực hiện ở việc cho

ăn gián đọan

Theo Lê Thanh Hùng (2008), số lần cho ăn trong ngày ảnh hưởng đến

tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn Để đạt tăng trưởng tối ưu, số lần cho ăn

thay đổi theo giống loài thủy sản, trọng lượng cá, môi trường nuôi và chất lượng

thức ăn Và khi cho cá ăn gián đoạn trong khoảng thời gian giới hạn, liệu có ảnh

hưởng đến tăng trưởng và sự thay đổi thành phần hoá học bên trong cơ thể cá

Trang 13

Theo Wootton, (2003), khi cho cá ăn gián đọan thì tốc độ tăng trưởng

của cá sẽ có 4 khả năng xảy ra Một là tăng trưởng của cá có thể phục hồi lại đầy

đủ như tăng trưởng bình thường Hai là tăng trưởng của cá có thể tăng trưởng

nhanh hơn tăng trưởng lúc đầu Ba là tăng trưởng của cá chỉ phục hồi lại một

phần so với tăng trưởng lúc đầu Và cuối cùng là cá không có khả năng phục hồi

tăng trưởng khi cho ăn gián đọan một thời gian

Theo Amin et al, (2005) trọng lượng mất đi trong khỏang thời gian

gián đọan đó sẽ tăng cân trở lại hay có khả năng phục hồi tăng trưởng sau khi

bị giới hạn nguồn thức ăn ăn vào

Singh and Balange (2005) thí nghiệm trong 8 tuần trên cá chép Ấn Độ

(Cirrhinus mrigala) ở giai đoạn giống, so sánh tăng trưởng và thành phần cơ thể

của cá giữa các chế độ cho ăn: cá được cho ăn hằng ngày (2 lần) và cá cho ăn

gián đoạn 1, 2 hoặc 4 tuần sau đó được cho ăn trở lại theo nhu cầu của cá Kết quả

cho thấy, cá cho ăn gián đoạn 2 tuần có trọng lượng cơ thể cao hơn và FCR thấp

hơn cá được cho ăn hằng ngày Các thành phần chất đạm, chất béo, tro, độ ẩm sau

khi kết thúc thí nghiệm không có sự khác nhau giữa các chế độ cho ăn (trừ thành

phần chất đạm trong cá cho ăn gián đoạn 4 tuần thì thấp hơn)

Theo kết quả nghiên cứu của Wang et al., (2008) khi nghiên cứu cho ăn

gián đọan ở cá rô phi (Oreochromis niloticus) có trọng lượng trung bình 6,6g sau

12 tuần thí nghiệm cá được cho ăn 2 lần một ngày ở các chế độ cho ăn: 1 tuần

không cho cá ăn: 2 tuần cho ăn trở lại, 2 tuần không cho cá ăn: 4 tuần cho ăn trở

lại, 4 tuần không cho cá ăn: 8 tuần cho ăn trở lại thì trọng lượng cơ thể thấp hơn

cá được cho ăn hằng ngày nhưng có SGR cao hơn Không có sự khác biệt về hiệu

quả sử dụng chất đạm và thành phần hóa học trong cơ thể cá giữa các chế độ cho

ăn so với các được cho ăn hằng ngày

Nghiên cứu về cho cá ăn gián đoạn trên bể được thực hiện bởi Chatakondi

et al , (2001) với cá nheo Mỹ (I punctatus) giai đoạn giống, cá được cho ăn hằng

ngày (đối chứng) theo nhu cầu và so sánh tăng trưởng với cá được cho ăn gián

đoạn 1, 2 và 3 ngày sau đó cho ăn trở lại thì tiêu thụ thức ăn cao hơn cá được cho

ăn hằng ngày Sau 10 tuần thí nghiệm, nhịp độ tăng trưởng trung bình của cá ở

các nghiệm thức cho ăn gián đoạn là 40%, 180% và 191% tương ứng với các

nghiệm thức cho ăn gián đoạn 1, 2 và 3 ngày, cao hơn cá trong nghiệm thức đối

chứng Hơn nữa, khối lượng cuối của cá chu kì gián đoạn cho ăn 3 ngày cao hơn

so với các nghiệm thức khác và các nghiệm thức có hiệu quả sử dụng thức ăn cao

hơn nghiệm thức đối chứng Như vậy, thí nghiệm cho cá ăn gián đoạn trong ao

làm gia tăng sản lượng, hiệu quả sử dụng thức ăn tăng thì người nuôi cá có thể

giảm chi phí thức ăn và những vấn đề về chất lượng nước

Wu et al., (2004) nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cho cá nheo Mỹ

(Ictalurus punctatus) trong ao đất, cá được ăn 1 lần/ngày, 2 lần/ ngày, cho ăn 1

Trang 14

lần/ ngày liên tục 6 ngày sau đó bỏ đói cá 1 ngày, khẩu phần ăn là 5% khối lượng

thân thì sau 5 tháng kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng, hệ số thức ăn, tỉ lệ sống

không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức

Kim and Lovell (1995) khi nghiên cứu trên cá nheo Mỹ (I punctatus) thì

khi không cho cá ăn 0, 3, 6, 9 tuần sau đó tiếp tục cho cá ăn trở lại hằng ngày theo

nhu cầu thì sau 18 tuần thí nghiệm, cá ở nghiệm thức không cho ăn 3 tuần cho kết

quả khối lượng như cá ở nghiệm thức được cho ăn hằng ngày và tăng trưởng cao

hơn các nghiệm thức còn lại

Nghiên cứu của Li et al., (2005) cho thấy không có sự khác nhau về năng

suất nuôi cá nheo Mỹ (I punctatus) giai đoạn giống giữa các chế độ cho ăn theo

chu kì 1: 6, 1: 4 và 2:5 (ngày không cho cá ăn: ngày cho cá ăn) so với cá đối

chứng được cho ăn hằng ngày thì thấy không có sự khác biệt về các thông số môi

trường nước giữa các nghiệm thức và điều này cho thấy cho ăn gián đoạn không

ảnh hưởng đến tăng trưởng và góp phần giảm chi phí sản xuất và ô nhiễm môi

trường

Ali el at.,(2006) thí nghiệm trên cá Labeo rohita giống trong thời gian 90

ngày với chế độ cho ăn như sau cho ăn hàng ngày (1lần/1ngày, với 3% trọng

lượng thân); 5 ngày cho ăn: 5 ngày không cho ăn; 10 ngày cho ăn và 10 ngày

không cho ăn Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về thành phần hóa học của

cơ thể cá giữa các chế độ cho ăn khác nhau Nghiên cứu này khẳng định có sự

phục hồi trăng trưởng ở cá Labeo rohita

Thí nghiệm của Amin et al., (2005) kéo dài 18 tuần được thực hiện trên cá

tra (Pangasius hypophthalmus) So sánh tăng trưởng, nhu cầu thức ăn hằng ngày,

hệ số thức ăn của cá được cho ăn hằng ngày theo nhu cầu với nhóm cá được cho

ăn gián đoạn theo chu kì: 1 ngày cho ăn:1 ngày không cho ăn, 2 ngày cho ăn:2

ngày không cho ăn, 5 ngày cho ăn/5 ngày không cho ăn Kết quả cho thấy trọng

lượng cơ thể, tốc độ tăng trưởng của cá ở chế độ cho ăn 1 ngày cho ăn:1 ngày

không cho ăn không có khác biệt so với cá được cho ăn hằng ngày và lớn hơn các

chế độ cho ăn còn lại trong thí nghiệm Hơn nửa, cá được cho ăn hằng ngày có

FCR lớn nhất Từ kết quả thí nghiệm cho thấy nuôi cá tra có thể giảm được chi

phí thức ăn với chế độ cho ăn 1 ngày cho ăn:1 ngày không cho ăn nhưng vẫn đảm

bảo tăng trưởng, hạn chế ô nhiễm môi trường

Nghiên cứu của Eroldogan et al., (2008) về ảnh hưởng của các chế độ cho

ăn khác nhau trên cá Trác vàng (Sparus aurata) giai đoạn giống Sau 48 ngày thí

nghiệm kết quả cho thấy với các chế độ cho cá ăn như: cho cá ăn 2 ngày:nghỉ 1

ngày, giảm 50% lượng thức ăn 2 ngày:2 ngày cho ăn bình thường theo nhu cầu,

giảm 50% lượng thức ăn 6 ngày:6 ngày cho ăn bình thường theo nhu cầu thì tăng

trưởng và tốc độ tăng trưởng đặt biệt của cá thấp hơn cá được cho ăn hằng ngày

theo nhu cầu Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng chất đạm và hệ số thức ăn của cá được

Trang 15

cho ăn giảm 50% lượng thức ăn 2 ngày:2 ngày cho ăn bình thường là tốt nhất

Thành phần chất đạm của cá cho ăn chế độ giảm 50% lượng thức ăn 6 ngày:6

ngày cho ăn bình thường, ít hơn các chế độ cho ăn khác, trong khi các thành phần

lipit, tro, độ ẩm không có sự khác nhau giữa các chế độ cho ăn so với đối chứng

Theo báo cáo của Li và Robinson (2006) trong mùa vụ sinh trưởng của cá

nheo Mỹ Ictalurus punctatus, người nuôi cá cho cá ăn 7 ngày trong tuần, nhưng

cũng có một số người họ thường cho cá ăn 6 ngày (ngày chủ nhật cá không được

cho ăn) hoặc 5 ngày trong tuần (ngày thứ 7 và ngày chủ nhật cá không được cho

ăn) Những tài liệu cho thấy, cá được cho ăn 6 ngày một tuần giảm 3,3% sản

lượng, và cá được ăn 5 ngày một tuần giảm 6,9% sản lượng so với cá được cho ăn

7 ngày một tuần trong mùa vụ tăng trưởng Hệ số thức ăn giảm 4,8% và 7,9%

tương ứng cho cá được cho ăn 6 ngày và 5 ngày mỗi tuần so với cá được cho ăn

7 ngày mỗi tuần Tuy nhiên, sản lượng cá cho ăn gián đoạn 1, 2 ngày/tuần và 1

ngày không cho ăn/5 ngày cho ăn không có sự khác nhau so với cá được cho ăn

hằng ngày Tương tự khi tác giả thí nghiệm trên bể với các chế độ cho cá ăn gián

đoạn 0, 1, 2, 3, 4 ngày/tuần, 1:4, 3:7 (không cho ăn: cho ăn), cho thấy cá không

được cho ăn 1 ngày trong tuần tăng trưởng như cá được cho ăn hằng ngày, FCR

thấp nhất khi cá được cho ăn gián đoạn 2 ngày trong tuần Kết quả này cho thấy

nuôi cá nheo Mỹ có thể cho cá ăn 5 hoặc 6 ngày trong tuần nhất là trong giai đoạn

kinh tế khó khăn có thể giảm được chi phi sản xuất

Với những kết quả nghiên cứu trên cho thấy, phương thức cho ăn gián

đọan làm tăng hiệu quả khả năng sử dụng thức ăn, có sự đền bù hay phục hồi tăng

trưởng sau một khỏang thời gian ngắn gián đọan, góp phần giảm chi phí thức ăn

trong sản xuất và giảm sự biến động chất lượng nước môi trường ao nuôi

Trang 16

Phần 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Chuẩn bị thí nghiệm

3.1.1 Cá thí nghiệm

Cá thí nghiệm có nguồn gốc sinh sản nhân tạo Kích cỡ cá được chọn đồng

đều với khối lượng ban đầu 26-27 (g/con) Các không có dấu hiệu nhiễm bệnh

hay dị tật, xây xát,

Hình 3.1 Cá tra thí nghiệm

3.1.2 Thuần cá trước thí nghiệm

Cá được thuần trong bể thí nghiệm một tuần trước khi thí nghiệm chính

thức được tiến hành để cá quen với môi trường sống mới Trước khi thí nghiệm

thì xác định lại trọng lượng cá thí nghiệm

3.1.3 Bể thí nghiệm

Bể thí nghiệm là 12 bể nhựa có thể tích tổng là 500 lít/bể, mỗi bể chứa 400

lít nước với chiều cao cột nước là 700 cm Các bể được đánh số từ 1 đến 12 để bố

trí thí nghiệm và tiện theo dõi Trước thí nghiệm bể được vệ sinh sạch bằng

chlorine và xà phòng rồi rửa lại bằng nước sạch Bể sau đó được lắp đặt sục khí

Trang 17

và cho nước vào và sục khí liên tục một tuần cho bay hết chlorine Nước cấp cho

bể là nước giếng

3.1.4 Thức ăn thí nghiệm

Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn viên nổi phổ hiệu Cargill, đây

là một trong những lọai thức ăn được sử dụng phổ biến trong nuôi cá tra Thức ăn

30 2,5

6 2.800

Hình 3.3 Thức ăn thí nghiệm (trên) và hệ thống bể thí nghiệm (dưới)

Ngày đăng: 26/02/2014, 02:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Amin, A.K.M Rohul, M.A.J. Bapary, M.S. Islam, M. Shajahan and M.A.R. Hossain., 2005. The inpacts of compensatory growth on food intake, growth rate and efficiency of feed utilization in Thai pangas (Pangasius hypophthalmus). Pakistan Journal of Biological Sciences 8, 766-770, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius hypophthalmus)
3. Bilton, H.T and G.L Robins. 1973. The effect of stvartion and subsequent feeding on survival and growth of Fulton Chanel sockeye salmon fry (Oncorhynchus nerka). J. Fish Res Bd Can. 3:1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oncorhynchus nerka
4. Chatakondi, N.G., and Yant, R.D. 2001. Application of compensatory growth to enhance production in channel catfish Ictalurus punctatus. Journal of World Aquaculture Society of 32, 278-285 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ictalurus punctatus
5. Đào Thanh Phú và Trần Thị Tuyết Hoa, 1997. Ảnh hưởng của thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau lên sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần hóa học cơ thể cá basa giống (Pangasius bocourti). Luận văn tốt nghiệp Đại Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius bocourti
6. Dobson, H.S and R.M Holmes. 1984. Compensatory growth in the rainbow trout, salmo gairdneri Richardson . J. Fish. Biol, 25:649-656 Sách, tạp chí
Tiêu đề: salmo gairdneri
9. Davies OA, Inko -Tariah MB, Amachree D. 2006. Compensatory growth and feed cyclings of Heterobranchus longifilis fingerlings Afr. J. Biotechnol.5:778-780 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Heterobranchus longifilis
10. Wu Guangbing, I. Patrick Saoud, ChristianMiller, and D. Allen Davis, Department of Fisheries and Allied Aquacultures, Swingle Hall 203, Auburn University, Auburn, AL 36849-5419. Journal of Applied Aquaculture, Vol.15(3/4) 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Applied Aquaculture
Tác giả: Wu Guangbing, I. Patrick Saoud, Christian Miller, D. Allen Davis
Năm: 2004
11. Gaylord, T.G and D.M Gatlin, 2000. Assesment of compensatory growth in Chanel catfish (Ictalurus punctatus). J. World. Aqualt. Soc., 31:326-336 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ictalurus punctatus
18. Hùynh hị Tú và Nguyễn Thanh Phương, 2000. Dictary carbohydratutilization by Pangasius Kkynyit. The proceeding of the mi- term workshop of the“Catfish Asian Profeet”. May 15-20.2002, Indonesia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius Kkynyit". The proceeding of the mi- term workshop of the “Catfish Asian Profeet
25. Nguyễn Kim Thùy, 2008. Ảnh hưởng của tần số cho ăn lên sự tăng trưởng của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giai đoạn giống. Luận văn tốt nghiệp Đại học ngành quản lý nghề cá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasianodon hypophthalmus
26. Nguyễn Tân Định, 2000. Ảnh hưởng của thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau lên sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần sinh hóa cá tra bần giống (Pangasius kunyit). Luận văn tốt nghiệp Đại Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius kunyit
28. Orhan Tufan Eroldogan, O. Taşbozan, S. Tabakoglu, 2008. Effects of Restricted Feeding Regimes on Growth and Feed Utilization of Juvenile Gilthead Sea Bream, Sparus aurata. Department of Aquaculture, Faculty of Fisheries, Cukurova University, Adana 01330, Turkey, Pages 267 – 274 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sparus aurata
29. Ravendra Kumar Singh and Amjad Balange., 2005. Effect of restricted feeding regimes on compensatory weight gain and body tissue in fry of the Indian major Carp Cirrhinus mrigala (Hamilton, 1822). The Israeli Journal of Aquaculture – Bamidgeh 57(4), 2005, 250-254 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cirrhinus mrigala
32. Trần Bình Tuyên, 2000. Ảnh hưởng của các phương thức và tần số cho ăn đối với sự tăng trưởng của cá tra bần (Pangasius kunyit). Luận văn tốt nghiệp Đại Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius kunyit
34. Trần Thị Bé, 2006. Ảnh hưởng của nhiệt độ lên hiệu quả sử dụng chất đạm và năng lượng từ thức ăn của cá tra (Pangasius hypophthalmus) giai đoạn cá giống. Luận văn tốt nghiệp Đại học ngành nuôi trồng thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius hypophthalmus
36. Trần Thị Thanh Hiền, Dương Thuý Yên và Nguyễn Thanh Phương, 2003. Nghiên cứu nhu cầu chất đạm, chất bột đường và phát triển thức ăn cho 3 loài cá trơn nuôi phổ biến cá basa (Pangasius bocourti), cá hú (P. conchophilus) và cá tra (P. hypophthalmus) giai đoạn giống. Đề tài cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius bocourti"), cá hú ("P. conchophilus") và cá tra ("P. hypophthalmus
40. Weatherley, A.H and H.S. Gill. 1981. Recovery growth following period restricted ration and stavartion in rainbow trout ( salmo gairdneri ) Richardson. J. Fish. Biol, 18: 195-208 Sách, tạp chí
Tiêu đề: salmo gairdneri
41. Yan Wang, Cui Li, Jian G Qin and Hua Han., 2008. Cyclical feed deprivation and refeeding fails to enhance compensatory growth in Nile tilapia, Oreochromis niloticus L. College of Animal Sciences, Zhejiang University, Hangzhou 310029, Zhejiang Province, China, 204 – 210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oreochromis niloticus
1. Ali. M. Nicieza and A., Wootton. R.J. 2003. Compensatory growth in fishes: a response to growth depression. Fish and Fisheries 4, 147-190 Khác
7. Dương Nhựt Long, 2004. Giáo trình kỹ thuật nuôi thủy sản nướcc ngọt. Khoa thủy sản _ ĐHCT Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Cá tra thí nghiệm. - Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA ( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG" pptx
Hình 3.1. Cá tra thí nghiệm (Trang 16)
Bảng 3.1. Thành phần hố học của thức ăn thí nghiệm (theo nhà sản xuất). - Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA ( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG" pptx
Bảng 3.1. Thành phần hố học của thức ăn thí nghiệm (theo nhà sản xuất) (Trang 17)
Bảng 4.1. Sự biến động của yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm - Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA ( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG" pptx
Bảng 4.1. Sự biến động của yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm (Trang 22)
Bảng 4.2. Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm - Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA ( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG" pptx
Bảng 4.2. Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm (Trang 22)
Bảng 4.3. Khối lượng ban đầu (Wi), khối lượng cuối (Wf), tăng khối - Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA ( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG" pptx
Bảng 4.3. Khối lượng ban đầu (Wi), khối lượng cuối (Wf), tăng khối (Trang 23)
Hình 4.1. Khối lượng của cá thí nghiệm (NT1: cho ăn liên tục; NT2 gián đoạn 2 ngày, NT3: gián đoạn 3 ngày và NT4: gián đoạn 4 ngày) - Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA ( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG" pptx
Hình 4.1. Khối lượng của cá thí nghiệm (NT1: cho ăn liên tục; NT2 gián đoạn 2 ngày, NT3: gián đoạn 3 ngày và NT4: gián đoạn 4 ngày) (Trang 24)
Bảng 4.4. Hệ số thức ăn (FCR), hiệu quả sử dụng thức ăn (PCE) - Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA ( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG" pptx
Bảng 4.4. Hệ số thức ăn (FCR), hiệu quả sử dụng thức ăn (PCE) (Trang 27)
Bảng 4.6. Thành phần hoá học của cá trước và sau thí nghiệm - Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA ( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG" pptx
Bảng 4.6. Thành phần hoá học của cá trước và sau thí nghiệm (Trang 29)
Qua bảng 4.7 cho thấy, chi phí thức ăn (đ/kg cá) dao động từ 14,53 – 18,43 (đ), cao nhất ở nghiệm thức cho ăn gi án đo ạn 2 ng ày (18,43), thấp nhất ở nghiệm  thức cho ăn gián đoạn 3 ng ày (14,53) - Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA ( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG" pptx
ua bảng 4.7 cho thấy, chi phí thức ăn (đ/kg cá) dao động từ 14,53 – 18,43 (đ), cao nhất ở nghiệm thức cho ăn gi án đo ạn 2 ng ày (18,43), thấp nhất ở nghiệm thức cho ăn gián đoạn 3 ng ày (14,53) (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w