Như vậy có một mối quan hệ giữa người và động vật theo nhiều dạng thức khác nhau: Một số ký sinh trùng n h ất th iết phải phát triển cả trên động vật và trên người và sự phát triển của c
Trang 1KÝ SINH TRÙNG
CỦA VẬT NUÔI VÀ THÚ HOANG
LÂY SANG NGƯỜITẶPI
)NG LÂNI
Trang 2NGUYỄN PHƯỚC TƯƠNG
BỆNH KÝ SINH TRÙNG
CỦA VẬT NUÔI VÀ THỨ HOANG
LÂY SANG NGƯÒĨ
( T ậ p l )
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2002
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn sách "Các bệnh k ý sinh trùng cứa vật
nuôi và thú hoang lây sang nguứi" của chúng tôi
nhằm cung cấp cho cán bộ nông nghiệp và cấn bộ
y tế cùng các bạn đọc quan tâm đến vấn đề này những hiểu biết về mối quan hệ bệnh lý giữa động vật và con người trong lĩnh vực k ý sinh trùng học.
K ý sinh trùng học thú y là một khoa học hết sức phong phú và khá phức tạp, nhất là về sự phát triển, vòng đời của các k ý sinh trùng thông qua các
k ý chủ trung gian của chúng Việc lây truyền các bệnh k ý sinh trùng có nguồn gốc động vật sang người còn phức tạp hơn nhiều, trong đó có sự hình thành các bệnh ký sinh chung giữa người và động vật gọi là zoonosis.
Đê tiện cho việc nắm vững việc lây truyền của cấc bệnh k ý sinh trùng của vật nuôi và thú hoang lây sang người, chúng tôi cố gắng viết theo từng loài động vật Cũng chính vì vậy mà chúng tôi buộc nhắc lại, với mức độ cần thiết, sự phát triển
Trang 4vòng đời của một số ký sihh trùng lây bệnh cho người thông qua các k ý chủ trung gian bắt buộc của chúng.
về việc điều trị các bệnh ký sinh trùng ở người
do động vật lây truyền là thuộc lĩnh vực chuyên sâu của ngành y học, nên chúng tôi không đề cập đến trong cuốn sách này.
Tác giả
Trang 5NHỮNG KHÁI NIỆM ĐẠI CƯƠNG
VỀ CÁC BỆNH KÝ SINH TRÙNG CỦA ĐỘNG VẬT LÂY SANG NGƯỜI
L KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA
Ngoài những bệnh ký sinh trùng riêng của người,
người còn có thể mắc những bệnh ký sinh trùng có nguồn gốc động vật (các vật nuôi và các thú hoang) Như vậy có một mối quan hệ giữa người và động vật theo nhiều dạng thức khác nhau:
Một số ký sinh trùng n h ất th iết phải phát triển
cả trên động vật và trên người và sự phát triển của chúng bao gồm một cách bắt buộc sự hình thành một 8Ố của chu kỳ sinh học (vòng đời) trên động vật và sự hình thành của một sô yếu tố khác trên người: nếu một trong các yếu tố đó bị thiếu đi thì sự phát triển của ký sinh trùng bị ngừng lại, chẳng hạn như trường hợp của
phức hợp bệnh sán dây trên người do Taenia spp và
Trang 6nang sán (gạo sán) ở lợn, bò và phức hợp bệnh nhục bào
tử trùng do Sarcocystic spp ở bò và lợn
Người có thể xen lồng vào một cách ngẫu nhiên trong một chu kỳ ký sinh mà nó chỉ có thể xảy ra giữa các loài động vật mà thôi, trong trường hợp này có hai khả năng có thể xảy ra:
* Người bị lây nhiễm k ý sinh trùng cho phép sự
tiếp diễn của chu k ỳ phát triển: mầm ký sinh trùng
được hình thành trên người có khả năng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các ký chủ trung gian truyền bệnh
để tái xen lồng vào chu kỳ phát triển bình thường giữa động vật - động vật Đó là trường hợp của bệnh sán lá
ruột do Opistorchidae và bệnh tiên mao trùng do
Trypanosoma rhodiense, v.v
* Người bị lây nhiễm k ý sinh trùng tạo cho k ý sinh
trùng m ột thời gian cho sự phát triển sinh học: hoặc là
dạng ký sinh lạc vào người không đạt tới được, hoặc là trên người, giai đoạn phát triển đó của ký sinh trùng chỉ đạt tới những tiềm năng phát triển giảm sút: chẳng
hạn như bệnh sán lá gan do Fasciola hepatica ở người
Mặc dù đảm bảo sự phát triển bình thường của ký sinh trùng trên cơ thê mình, người không thể đặt lại cho ký sinh trùng này vào chu kỳ phát triển bình thường bởi vì việc đặt lại vào chu kỳ đó bắt buộc giữa người và động vật phải có một quan hệ giữa con mồi và kẻ ăn mồi (như người ăn thịt động vật chẳng hạn)
Trang 7Các loài ký sinh trùng của người khác nhau có nguồn gốc động vật đó có được xem như những tác nhân gây ra các zoonosis được không?
2 Zoonosis thực và zoonosis giả
Như thế nào là một zoonosis? Năm 1967, Tổ chức
Y tế th ế giới đã định nghĩa: "các zoonosis là những bệnh
và những sự nhiễm ký sinh trùng có thể lây truyền tự nhiên giữa các động vật có xưong sống và người và ngược lại"
Theo nhà ký sinh học Pháp Jaques Euzeby (1984) cần hiểu cho đúng rằng bệnh ký sinh trùng và sự nhiễm
ký sinh trùng (infection) là sự ký sinh th ậ t sự kèm theo
sự nhân lên và phát triển của ký sinh trùng trên ký chủ
và sự xâm nhiễm ký sinh trùng (infestation) chỉ giành cho sự lây truyền ký sinh trùng mà các tác nhân ký sinh không nhân lên cũng như không sinh sản trên ký chủ.Cũng không nên lầm lần các zoonosis thực sự với các bệnh chung giữa người và động vật trong đó các bệnh mà hai bên cùng bị mắc có từ một nguồn ký sinh trùng: đó là trường hợp của nhiều loài nấm (trừ một số nấm da lông v.v )
Cần thẩm định các bệnh ký sinh trùng ở người và
động vật từ một tác nhân gây bệnh mà người ta gọi là
các pseudozoonosis, các zoonosis giả để phân biệt được vởi các zoonosis thực theo định nghĩa đã nêu ở trên và chúng được gọi là cốc alêthêzoonosis (alêthês = thật).
Trang 8Trong các alêthêzoonosis có thể gồm 3 nhóm:
- Các anthropozoonosis là các bệnh lây truyền cho người bỏi các loài động vật có xương sống khác (như bệnh sán lá, bệnh giun đũa )
- Các zooanthroponosis là các bệnh lây truyền bởi người cho các loài động vật có xương sống khác (bệnh amíp, bệnh giun lươn )
- Các amphixenosis là các bệnh lây truyền cùng một lúc giữa người và các động vật có xương sống khác
và lây truyền theo hai chiều: bởi hệ thống ký chủ cuối cùng, ký chủ trung gian (như bệnh sán dây - gạo sán
những nguồn ký sinh trùng qua lại (như bệnh sán do Praragominus spp.)
3 Zoonosis hoàn toàn và zoonosis không hoàn toàn
Căn cứ vào tính chát của các zoonosis mà người
ta còn chia ra các bệnh ký sinh trùng lây truyền tự nhiên từ động vật sang người làm hai loại:
* Các zoonosis được đặc trưng bởi khả năng lây truyền qua lại thường xuyên từ động vật sang người
và ngược lại thì gọi là các zoonosis hoàn toàn hay
holozoonosis (holos = toàn bộ, hoàn toàn).
Trong trường hợp này, khi người là một yếu tố bắt buộc của chu kỳ phát triển thì Garnham đề nghị gọi
Trang 9với cái tên là euzoonosis, chẳng hạn như bệnh sán dây
ờ người và gạo sán ở lợn, bò; ngược lại, nếu người chỉ
là một yếu tố ngẫu nhiên tham dự vào chu kỳ đó thì
gọi với cái tên là parazoonosis, chẳng hạn như bệnh sán lá Nhưng có điều không nên lầm lẫn parazoonosis với pseudozoonosis đã nêu ở trên.
* Các zoonosis được đặc trưng bởi sự thiếu tính
chất qua lại giữa người và động vật như trong trường hợp các bệnh mà trong đó các ký sinh trùng có nguồn gốc động vật lây truyền sang người nhưng lại không
có sự quay trở lại lây truyền từ người sang động vật
thì được gọi là các zoonosis không hoàn toàn hay
bemizoonosis (hemi = một nửa).
Sự thiếu tính chất tương hỗ đó có thể do hai
nguyên nhân:
- Các ký sinh trùng có nguồn gốc động vật lạc vào
người mà không phát triển được trên người và không dạt tới giai đoạn phát triển cho phép chúng tiếp tục chu kỳ phát triển của mình; trong trường hợp này, ký
sinh trùng ở vào tình trạng của một ngõ cụt phát triển (chảng hạn như giun đũa Toxocara canis).
- Các ký sinh trùng có nguồn gốc động vật lạc vào
người mà phát triển một cách bình thường, mặc dù
▼ậy, chúng không thể tái gây bệnh hay tái xâm nhiễm cho các động vật bởi vì các quá trình đòi hỏi phải thực hiện là người phải ăn th ịt con vật (chẳng hạn như giun
Trang 10quân Trichinella spiralis, sán đầu gai Echinococcus
granulosus ) Trong trường hợp này, ký sinh trùng đã
rơi vào tình trạng một ngõ cụt phát triển
II NHỮNG YẾU TỐ KHÁI QUÁT CỦA s ự LÂY TRUYỀN VÀ NƠI KHU TRÚ TRÊN NGUỜI CỦA CÁC KÝ SINH TRÙNG CÓ NGUỒN G ố c ĐỘNG VẬT
1 Tính đặc h iệu
Điều kiện đầu tiên của sự lây truyền sang người
của các ký sinh trùng có nguồn gốc động vật là sự thiếu
tính đặc hiệu khá hẹp của các ký sinh trùng đó Tính
đặc hiệu được định nghĩa như đặc tính có được ở một
số loài ký sinh trùng mà chúng chỉ có thể thích nghi trên một số ký chủ nào đó hết sức xác định và chọn lựa và chỉ trên các ký chủ đó chúng mới có thể sống
và nhân lên
Tầm quan trọng của tính đặc hiệu ký sinh đó là
rất lớn cả về quan điểm sinh học đại cương cũng như
quan điểm truyền nhiễm học và căn bệnh học của các bệnh ký sinh trùng ở động vật và người Dù sao, tính đặc hiệu là ít nhiều kém rõ nét ở các ký sinh trùng khác nhau: rấ t hẹp ở một sô ký sinh trùng mà người
ta gọi là "stenoxen" (steno = hẹp) và chúng chỉ sống
trên một ký chủ xác định chặt chẽ hay trên một nhóm
ký chủ rấ t gần gũi nhau về m ặt động vật; còn ở một
Trang 11sô ký sinh trùng khác mà người ta-igọi là "euryxen"
(eurus hay eurys = rộng) thì có thể thích nghi rộng rãi trên các cá thể trong phạm vi một họ hay một lớp.Thường thường, các ký sinh trùng là rấ t euryxen
trong giai đoạn tiền thành trùng, trong khi đó các dạng trưởng thành thì quay trở lại với tính đặc hiệu hẹp Bởi vậy mà nhiều dạng ấu trùng của các ký sinh trùng
có nguồn gốc động vật có thể bị lạc sang người và tồn tại ở đó mà không biến đổi th àn h dạng trưởng thành
và gây ra những rốỉ loạn cho người đôi khi trầm trọng
(như dạng ấu trùng larva migrans di hành).
Về m ặt này, các âu trũng của một số giun sán đã giữ một vai trò đặc biệt: ấu trùng của giun đũa
Toxocara canis có nguồn gốc chó, ấu trùng giun xoắn Angiostrongyỉus cantonensis có nguồn gốc chuột, vĩ ấu Schistosoma spp có nguồn gốc bò hay chuột thường
gây bệnh cho người dưới dạng ấu trùng di hành khu trú trong các phủ tạng, cơ
Có khi đi đến trường hợp các dạng tiền thành trùng của một kỹ sinh trùng, phát triển trên một ký chủ trung gian, lạc vào một động vật không thuộc vào
loài của ký chủ cuối cùng; điều này xảy ra khí ký chủ
trung gian là nạn nhân của việc ăn th ịt bởi một động vật không cảm nhiễm đối với ký sinh trùng trưởng thành Trong trường hợp này, dạng tiền thành trùng cùa ký sinh trùng không nhất th iết bị huỷ diệt trên ký
Trang 12chủ mà nó đã lạc vào: nó có thể tái tạo kén trên ký chủ này và sau đó nếu nó được ký chủ cuối cùng nuốt vào thì sự phát triển của nó đảm bảo đạt tới giai đoạn trưởng thành Đó là hiện tượng dự trữ ký sinh trùng Các ký chủ dự trữ, hay các ký chủ ngẫu nhiên, hay ký chủ đan xen có một vai trò rấ t lớn trong các chu kỳ phát triển của ký sinh trùng: chúng tạo điều kiện thuận lợỉ cho sự gặp gỡ giữa các dạng tiền thành trùng của các ký sinh trùng với các ký chủ cuối cùng và đôi khi với người, chúng bảo vệ và phát tán các dạng gây nhiễm; khi là con vật ăn nhiều loại mồi thì các ký chủ
dự trữ càng tập trung được trên chúng nhiều dạng gây nhiễm và từ đó gây ra sự nhiễm bệnh cho các ký chủ cuối cùng Người đôi khi cũng trở thành là một ký chủ
dự trữ mà ở đó ký sinh trùng bị rơi vào một ngõ cụt,
chẳng hạn đối với loài giun quấn Trỉchinelỉa spiraỉis
có nguồn gốc gậm nhấm
2 Nơi khu trú
Một yếu tố khác phụ thuộc ít nhiều vào khả năng của một ký sinh trùng đi đến chỗ lây sang người là nơi khu trú của ký sinh trùng đó trên ký chủ của nó: các ngoại ký sinh trùng, về m ặt này, có khả năng nhiều hơn
so với các nội ký sinh trùng; ở các ký sinh trùng sau như các loài sống trong các xoang, ống tiêu hoá, hay ở dưới
da và niêm mạc mở (loét) dễ phát tán hơn so với các loài sống trong máu hay các nhu mô của các nội quan
Trang 133 Tính cảm nhiễm
Sự lây truyền của các bệnh ký sinh trùng còn có
sự tham dự của một yếu tố nội tại của chính con người:
đó là tính cảm nhiễm của một cá nhân đôi với sự tồn
tại của các ký sinh trùng có nguồn gốc động vật trên
cơ thể con người Tính cảm nhiễm đó phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của đối tượng đối m ặt với sự ký sinh của các ký sinh trùng:
- Sự thiếu dinh dưỡng làm giảm sút sức đề kháng của cơ thể con người khi tiếp xúc đối với các ký sinh trùng, đặc biệt là sự thiếu hụt protein và vitamin A
- Các suy giảm phản ứng của các hệ thực bào đơn
nhân mà chúng cũng là những yếu tố rấ t tích cực trong tính cảm nhiễm của người đôi với một số bệnh do nguyên trùng có nguồn gốc động vật Một ví dụ điển hình là sự diễn tiến của các lê dạng trùng lây truyền
bời các loài ve trên người bởi Babesia divergens có
nguồn gôc bò trên những bệnh nhân trước đó đã bị cắt
bỏ lách hay được trị liệu bằng thuốc làm suy giảm miễn dịch.
r a s ự TRỞ THÀNH KÝ SINH TRÙNG CÓ NGUỒN GỐC ĐỘNG VẬT Ở NGƯỜI
Những đánh giá trên đây đã cho thây rằng các ký
sình trùng có nguồn gốc động vật khi lạc vào người, có
thể chịu hai sô phận:
13
Trang 14- Hoặc tiếp tục phát triển cho đến giai đoạn cuối cùng của chu kỳ phát triển (vòng đời): trường hợp này hiếm;
- Hoặc sống sót trong một thời gian, kéo theo những sự di hành khác nhau trước khi thoái hoá Trong thời gian tồn tại, các yếu tô ký sinh sẽ có khả
năng gây ra những rối loạn ở các cá nhân bị mắc bệnh
đó trên người có sự khu trú tương tự như khi chúng gây bệnh trên động vật và ở các noi khu trú đó, gây ra những
triệu chứng giống như các triệu chứng của các bệnh tương ứng trên động vật Rất hiếm trường hợp trên
người, các giun sán trưởng thành khu trú ở những vị trí lạc lõng (ví dụ như Largochilascaris minor) Trong
mọi trường hợp, khi đến độ trưởng thành và chín muồi sinh dục, chúng có thể tạo thành ở người những yếu tố
phát tán cho phép chúng bắt đầu lại một chu kỳ mói ở
các động vật là ký chủ quen thuộc của chúng Tuy nhiên, khả năng để các ký sinh trùng đạt tới độ chín mùi và sản sinh các yếu tố phát tán trên người lại không
Trang 15bao hàm tấ t yếu sự tạo ra lại hoàn toàn chu kỳ người -
động vật Vì vậy mà các trứng của sán lá gan Fasciola
hepatica bài xuất bởi người có sức sống kém và thường
không tạo ra ấu trùng miracidium có khả năng gây
nhiễm cho loài ốc vặn ký chủ trung gian
2 Các bệnh ký sinh trùng do ấu trùng
Chính các bệnh ký sinh trùng do ấu trùng đã biểu
hiện hai dạng thức:
* Các bệnh ký sinh trùng do sự xâm nhập ngẫu
nhiên và do sự di hành trên người các dạng gây nhiễm
có nguồn gốc động vật không có khả năng đạt được sự phát triển hoàn toàn của chúng trên ký chủ không bình thường đó Thường các ấu trùng chiếm các vị trí khu trú rấ t lệch lạc và gây nên những phản ứng tế bào
và thể dịch đôi lúc m ạnh mẽ gắn liền với trạng thái
tảng dị ứng Chúng là những tác nhân của các biểu
hiện lâm sàng và giải phẫu đã được A rthur và ctv
(1952) gọi dười cái tên là larva currens, một khi chúng
không vượt qua kết mạc dưới da (như các bệnh giun
móc ) hay larva migrans một khi chúng có khả năng phân tán trong khắp cơ thể (như giun đũa Toxocara
canis).
* Các bệnh ký sinh trùng do ấu trùng gây ra bởi
sự xâm nhập trên người của các ấu trùng mà đôi với các bệnh đó người có thể giữ vai trò của một ký chủ
trung gian và các âu trùng chiếm các vị trí khu trú
Trang 16như ở trên các ký chủ trung gian động vật; sự xâm nhập bình thường đó về m ặt ký sinh trùng học nhưng lại không bình thường về m ặt tập tính học Những rối loạn gây ra trên người bởi sự phát triển của các ấu trùng đó không phải là trùng khớp chính xác với
những rối loạn gây ra bởi các larva migrans Đôi lúc
chúng không kém phần trầm trọng (như các sán đầu gai ấu trùng v.v )
Trong hai trường hợp sau cùng này, các ký sinh trùng lạc vào người không thể trở thành ký sinh trùng trưởng thành, chu kỳ phát triển của chúng bị cắt đứt
và người đôi với chúng là một túi cụt phát triển hoặc một ngõ cụt ký sinh
IV TRUYỀN NHIỄM HỌC VÀ CĂN BỆNH HỌC
1 Truyền nhiễm học
Truyền nhiễm học là việc nghiên cứu các yếu tố quyết định sự khu trú, sự duy trì và sự phát triển của một bệnh trên các cá thể của một quần cư Được định nghĩa như vậy, truyền nhiễm học không được hiểu lầm vói căn bệnh học của một bệnh mà nó là việc nghiên cứu các nguyên nhân của bệnh đó
Trong phạm vi truyền nhiễm học, chúng ta sẽ đi vào các vấn đề như đã nhận thức về:
* Vùng địa lý của các bệnh ký sinh trùng được xem
xét.
16
Trang 17* Các kho dự trữ ký sinh trùng: chúng đồng thời là các ký chủ cuối cùng của các ký sinh trùng gây bệnh vừa phát tán các dạng sinh sản và khi có dịp, chúng là những ký chủ trung gian vừa vận chuyển vừa phân tán các dạng gây nhiễm hay xâm nhiễm Các ký chủ trung gian đôi khi được xem là có thể hoàn thành trên chúng
sự nhân lên vô tính của các ký sinh trùng, làm cho các yếu tố lây truyền dồi dào hon v ề các ký chủ cuối cùng hay các ký chủ trung gian thì truyền nhiễm học của các bệnh ký sinh trùng cần phải coi trọng đến sinh học, sinh thái học và tập tính học của động vật đó
* Các phương thức lây truyền của các ký sinh trùng gắn liền m ật thiết với sinh học và chu kỳ phát triển của các tác nhân gây bệnh; với lôi sống, với thói quen và cả nghề nghiệp của đôi tượng (con người) sông
ờ giữa một cộng đồng ít nhiều chịu nguy cơ bị xâm
nhiễm và bị gây nhiễm bởi các ký sinh trùng
* Sự mô tả các ổ bệnh mà ở đó đã gây hại bởi bệnh
ký sinh trùng: vùng nông thôn, đô thị, rừng núi; phân
Trang 18trung gian; sinh học và sinh thái của các ký sinh trùng này cũng cần được nghiên cứu); tuổi thọ của các ký chủ cuối cùng và tấ t nhiên của các ký chủ trung gian; sức đề kháng của các dạng tự do của các ký sinh trung
* Việc nghiên cứu tính cảm nhiễm của các ký chủ phụ thuộc vào tuổi, giới, tình trạng dinh dưỡng của chúng
V CÁC DẠNG THỨC CỦA s ự LÂY TRUYỀN BỆNH KÝ SINH TRÙNG ĐỘNG VẬT SANG NGƯỜI
Sự lây nhiễm bệnh các bệnh ký sinh trùng có nguồn gốc động vật sang người thực hiện được tuỳ theo hai dạng thức lém:
- Lây truyền trực tiếp như tiếp xúc với các độngvật;
- Lây truyền gián tiếp thông qua ký chủ trung gian, qua các môi trường, đồ vật bị ô nhiễm bởi ký sinh trùng v.v
Trang 19s ự LÂY TRUYỀN TRỰC TIẾP
VÀ CÁC EUTHYZOONOSIS
Quá trình lây truyền này hoàn thành được là do
sự tiếp xúc trực tiếp của người vói động vật thực sự bị nhiễm ký sinh trùng
Dạng thức lan sang người của các ký sinh trùng
có nguồn gốc động vật đòi hỏi sự có m ặt của các yếu
tố vật lây ở bề m ặt da hay niêm mạc bên ngoài (các
ngoại ký sinh trùng) hoặc một sự thoát ra tương đối
dễ dàng của các ký sinh trùng ở bên trong cơ thể (các nội ký sinh trùng)
Các bệnh lây truyền trực tiếp từ động vật sang
người được gọi là euthyzoonosis (euthus hoặc euthys =
da lông của người Sự lan truyền đó có thể xảy ra trong
các hoàn cảnh sau đây:
- Khi săn sóc các con vật bị ốm đau, tắm chải vệ sinh cho con vật;
Trang 20- Khi vắt sữa cho bò cái, trâu cái, dê cái;
- Khi biểu hiện tình cảm không đúng lôi, như đối vói các gia súc gần gũi (như chó, mèo) có khi cho chúng ngủ chung cùng giường, củng ăn
Các ngoại ký sinh trùng có nguồn gốc động vật lây truyền sang người thường là các loài nấm và các loài chân khớp là các côn trùng và ve ghẻ
1 Sự lây tru yền trực tiếp các zoonosis gây ra bởi nấm
Các bệnh nấm chủ yếu của động vật lây sang
người thường là do các loài nấm túi Ascomycetes và các loài nấm da lông Dermaphytes, phân bô rộng rãi
khắp trên th ế giới
Các bệnh nấm da lông: Đây là những bệnh nấm
da lông bề mặt, có tính lây nhiễm, có thể cấy truyền, gây ra bởi các tác nhân gây bệnh là các loài nấm có
hướng da, ưa keratin và phân giải keratin: các nấm da
lông Chúng có khả năng sống sót lâu dài trẽn bề m ặt
da người là nhờ có đời sống hoại sinh hoàn toàn ở môi trường bên ngoài Chúng thường tác động đến các bao lông, gây ra những đám rụng lông có đường viền đều đặn, không gây ngứa nhưng bên trên xảy ra quá trình sừng hoá sinh vảy và một phản ứng viêm ít nhiều
m ạnh mẽ biểu hiện từ ban đỏ đến viêm bao lỗng mưng mủ
Trang 21Các bệnh nấm da lông của động vật lây truyền sang người gồm các dạng khác nhau:
Bệnh nâm gây trụi lông, thường gây ra bởi
Các bệnh nấm da lông của động vật lây truyền
trực tiếp qua người cụ thể gây ra bởi những loài nâm sau đây ký sinh trên các loài động vật khác nhau:
Microsporum canis thường ký sinh trên chó, mèo; Microsporum pensicolor thường ký sinh trên chuột
nhắt rừng, chuột hoang;
Microsporum nanum thường ký sinh trên lợn
(hiếm thấy);
Tricophyton verrucosum thường ký sinh trên bò
trâu, cừu, dê;
Tricophyton quinckeanum thường ký sinh trên
chuột, khỉ;
Tricophyton mentagrophytes ký sinh trên trâu bò,
chuột ;
Trang 22Trícophyton gallinae thường ký sinh trên gà và cac
Các bệnh nấm da lông từ động vật lây sang người
có nguồn gốc chó, mèo và ngựa thấy có m ặt cả ở đô thị
lẫn nông thôn; các bệnh có nguồn gốc trâu bò, dê cừu thường mang tính chất nông thôn; một số bệnh lại mang tính chất nghề nghiệp thường gây bệnh cho các thầy thuốc thú y, người chăn gia súc, người đi săn,
người nghiên cứu ở phòng thí nghiệm v.v
Các bệnh tích gây ra bởi các loài nấm da lông của động vật lây truyền sang người có chiều hướng kéo dài,
dù không bị lây truyền tiếp, nếu bệnh không được điều trị và các nấm da lông phát triển Cuối cùng, các bệnh nấm da lông có nguồn gốc động vật trên người, thường gây ra tăng dị ứng muộn cho người
2 Sự lây tru yền trực tiếp các zoonosis gây ra bởi ve ghẻ
Các bệnh gây ra bởi ve ghẻ gồm có hai loại:
Các bệnh ve ghẻ gây ngứa hay là các bệnh ghẻ, gây
ra bởi các loài ngoại ký sinh trùng dạng ghẻ, thuộc chi
Sarcoptoidea, họ Sarcoptidae và họ Epidermoptidae.
22
Trang 23Các bệnh ve ghẻ thường gây ra bởi nhiều nhóm ve ghẻ khác nhau: có khu trú bề mặt, không gây ra trên
động vật bệnh ghẻ, hoặc khu trú ở bao lông gây ra tổn
thương làm rụng lông
sa n g n gư ờ i
Các bệnh ghẻ của các động vật là những bệnh ngoài da do nhiều ngoại ký sinh trùng có tính lây
truyền, gây ra bởi loài ghẻ thuộc chi Sarcoptoidea và các họ Sarcoptidae và Epidermoptidae, hoặc sống dưới lớp sừng của biểu bì tiếp xúc với thể Malpighi hoặc ở
trên bề m ặt sinh ra trên biểu bì do phản ứng của da Các dạng lâm sàng có thể thay đổi tuỳ theo các ngoại
ký sinh trùng có liên quan và tính cảm thụ của cơ thể, nhưng luôn luôn chúng gây ra ngứa đôi khi rấ t dữ dội
và gây ra các tổn thương làm sản sinh vảy - vảy kết hoặc á sừng
Các bệnh ghẻ là những bệnh ngoài da thấy ở khắp
noi trên th ế giới
Các bệnh ghẻ lây truyền sang người có nguồn gốc động vật thường do các loài ghẻ ký sinh trên nhiều loài vật nuôi và thú hoang sau đây:
Sarcoptes scabiei ký sinh trên các loài gia súc trừ
k>ài mèo (trong đó gồm có trâu bò, dê cừu, lợn, chó mèo
và lạc đà) không gây ra bệnh ghẻ thực trên người;
Trang 24Notoedres cati ký sinh ở loài mèo (bệnh ghẻ đầu và
chi);
Notoedres muris ký sinh trên các loài chuột;
Octodectes cyntis ký sinh ở loài mèo (bệnh ghẻ ống
tai);
Psoroptes cuniculi ký sinh ở loài thỏ (bệnh ghẻ tai);
Trixancarus diversus, Sarcoptes anacanthos,
Trixancarus cavie ký sinh trên chuột lang;
Sự tiếp xúc trực tiếp giữa người và các động vật
bị ghẻ thường là điều kiện làm bệnh lây truyền sang người
Các loài ghẻ Sarcoptes không có khả năng gây
trên người, một ký chủ không bình thường, một bệnh ghẻ thực: không có các con ghẻ cái đẻ trứng mà chỉ tạo
ra các mẩn đỏ ngứa khác với bệnh ghẻ điển hình là không tạo ra các đường hầm dưới da
ngứa từ đ ộ n g v ậ t sa n g ngư ời
Đây là các bệnh gây ra bởi các ve ghẻ đốt người, hút
máu thuộc các chi Gamasiĩormes, Th rom bi diĩorm es và
Trang 25cũng kém rõ nét hơn so với các loài ve ghẻ gây ngứa nhưng lại rấ t dai dẳng.
Các loài ve ghẻ gây bệnh trên nhiều loài động vật lây truyền sang người gồm có:
Cheyletiellia blakei kỷ sinh trên các loài chó và
mèo;
Cheyìetiellia prasitivorax ký sinh trên loài thỏ;
Myocoptes musculinus và Myobia muscuỉi ký sinh
trên các loài chuột;
Psorergates simplex gây bệnh trên loài chuột và
loài khỉ macac;
Ixodes hexagonus gây bệnh cho loài mèo;
Ophionyssus nataicis ký sinh trên loài rắn (hoi
hiếm);
Raillietia auris ký sinh trên các loài bò, cừu.
v ậ t sa n g n gư ời
Các bệnh ghẻ bao lông của động vật lây sang người
là do các loài Demodex gây ra trên hầu hết các loài gia
súc có vú và các động vật thí nghiệm Các Demodexthấy
có m ặt ở khắp nơi trên th ế giới.
3 Sự lây truyền trực tiếp các zoonosis gây ra
bở i côn trùng
Các bệnh ngoại ký sinh trùng gây ra bởi các loài eõn trùng khác nhau có thể lây truyền sang người do
Trang 26các loài rận, bọ chét, mạt, rận-giả, côn trùng hai cánh (với ấu trùng là giòi)
Các loài rận ký sinh trên các loài động vật có ít cơ
may lây truyền sang người Tuy nhiên, người ta cũng
đã thông báo trường hợp loài khỉ, nhện mắc bệnh rận
Pedicuỉus mjobergi lây truyền sang người và gây ra
các tổn thương nổi mẩn ngứa có tính chất tăng dị ứng
ở người
Các loài gà và chim bị ký sinh trên bộ lông bởi loài
m ạt Ceratophyllus gallinae cũng làm lây truyền côn
trùng gây bệnh này cho người
Các loài bọ chét thường là nguyên nhân của các zoonosis gây ra bởi các côn trùng lây từ động vật sang người Các loài bọ chét đó đã được biết gồm có:
Ctenocephalides canis ký sinh trên chó (bọ chó), lợn; Ctenocephalides cati ký sinh trên mèo;
Ctenocephalides felis ký sinh trên loài gấu mèo ở
Mỹ;
Tunga penetrans ký sinh trên loài khỉ, lợn, chó
vùng nhiệt đới;
Xenopsylla cheopsis ký sinh trên các loài chuột v.v
Trên người, cũng như các ký chủ quen thuộc của chúng, các loài bọ chét nói trên gây tổn thương trên
bề m ặt da như nổi mẩn đỏ, ngứa khoanh vùng, gắn
Trang 27liền với hiện tượng tăng dị ứng do vết đốt và nước bọt của các loài côn trùng đó.
Đặc biệt, loài bọ chét Xenopsylla cheopsis ký sinh
trên chuột, có thể lây truyền cho người bệnh dịch hạch
(bệnh dịch chuột) và bệnh rickettsia do Rickettsia
mooseri Loài bọ chết Tunga penetrans ký sinh trên
linh trưởng gây ra những chấn thương trên da, tạo điều kiện cho sự nẩy mầm của bào tử trực khuẩn uốn ván và làm thuận lợi cho sự nhiễm độc uốn ván
Cũng cần nói thêm rằng loài rận-giả Melophagus
ovinus ký sinh trên loài cừu và có m ặt ở khắp nơi trên
thế giới khi lây truyền sang người hình như có khả năng lây nhiễm cho người một bệnh virut hướng thần kinh.Các loài côn trùng hai cánh như ruồi, mòng mang trên mình chúng nhiều trứng và chúng thường ký sinh
trên các động vật và để lại ở đấy các trứng của chúng
Khi người tiếp xúc với các con vật này thì có thể bị lây truyền bởi trứng của các côn trùng đó
Trên da người, trứng sẽ nở thành ấu trùng gọi là giòi và chúng có khả năng xuyên qua da người tại các
lỗ chân lông và gây ra bệnh giòi da ở người.
n s ự LÂY TRUYỀN TRỰC T IẾ P CỦA CÁC NỘI
KỶ SINH TRÙNG
Chính vì do sự khu trú của chúng mà các nội ký sinh trùng th ậ t hiếm để có thể lây truyền sang người
Trang 28bởi tiếp xúc trực tiếp Tuy nhiên, khả năng có thể xảy
ra đó được thực hiện trong ba hoàn cảnh:
- Bài xuất qua đường tự nhiên các dạng phát tán gây nhiễm trực tiếp của các ký sinh trùng mang trong mỗi cá thể động vật;
- Sự tồn tại các bệnh tích hở mà qua đó bài xuất các kỷ sinh trùng lây nhiễm;
- Đôi với các embryophores (trứng) của các sán dây
Cyclophyllidea ký sinh trên ruột non của chó và mèo
và các tác nhân của các sán dây Teania, các "trứng"
đó là gốc của các bệnh sán dây do metacestoda ở người;
- Đối với các trứng ấu trùng hoá của các bệnh do
Pentasoma;
- Đối với các Sporocytes bào tử hoá gây nhiễm của
một sô' loài nhục bào tử trùng Sarcocystis và các kén
sinh dưỡng của các loài nguyên trùng; tiên mao trùng
và roi trùng;
Trang 29- Đối với các trứng của ve ghẻ ký sinh trong bộ máy hô hấp khạc ra bởi các ký chủ của chúng.
m eta cesto d a
Các bệnh do các metacestoda là các bệnh gây ra bởi sự phát triển trên mọi tổ chức và nội quan của các
ấu trùng của các loài sán dây cestoda (hay thường được gọi một cách ưa thích là metacestoda) Trong số các bệnh do metacestoda của người có nguồn gốc
zoonosis trực tiếp, các sán dây ký sinh trong ruột non
ờ các loài có vú ăn th ịt (chó và mèo) gây ra bệnh này trên người
* Bệnh sán dây do Taenia
Bệnh sán dây do Taenia ở chó mèo, ngoài những
rối loạn kín đáo, sán dây trưởng thành còn gây ra những cơn ngứa đít do sự ứ dịch của các hạch hậu môn mà trong các hạch đó có thể xâm nhập vào một đô't trứng sán trong quá trình bài xuất của sán dây mà trong đó
chứa nhiều "trứng" hay embryophores Các trứng
thường được phóng thích trong các hạch hậu môn Chó
■lèo thường liếm hậu môn bị ngứa và lưỡi của chúng bị
■idem các emhryophores và chúng phát tán các "trứng"
ềó trẽn bộ lông của chúng Người bị lây truyền bệnh sán
ầ iy có nguồn gốc chó mèo là do tiếp xúc trực tiếp với
chứng hay để cho chúng liếm vào tay vào mặt khi âu
jếm chúng
Trang 30* Bệnh gạo sán
Các bệnh nang sán là các bệnh gây ra bởi các
metacestoda thông qua các nang sán của chúng phát
triển, khu trú trên những vị trí khác nhau trên cơ thể tuỳ theo loài sán dây có liên quan
Ớ người, người ta biết có ba bệnh nang sán có nguồn gốc động vật lây sang người
Bệnh nang sán (gạo sán) do Cysticercus ỉongicollis
Đây là một bệnh sán mắt, khu trú trong nhãn cầu
của Certicercus longicollis lạc vào người Bệnh này có tính chất rừng núi, thây ở Bắc Mỹ, châu Âu (Đức) và
châu Phi
Nang sán này là ấu trùng loài sán dây Taenia
crassiceps ký sinh trên các loài cáo sống trong vùng
rừng núi Người có thể lây bệnh trực tiếp qua cáo
Bệnh nang sán (gạo sán) do Cysticercus fasciolaris
Bệnh do metacestoda này có khu trú ở gan, thấy
có m ặt ở khắp nơi trên th ế giới, nhưng hiếm thấy gây
bệnh trên người
Nang sán này là ấu trùng của loài sán dây Taenia
crassicollis ký sinh trên mèo và ấu trùng này có thể
phát triển trong gan các loài chuột
Bệnh nang sán (gạo sán) do Cysticercus ovis Bệnh nang sán này gây ra bởi sán dây Taenia ovis
của cừu và chu kỳ phát triển của nó hoàn thành giữa
Trang 31chó và cừu và được phát hiện một lần ở Liên Xô cũ trong
các cơ lưng của một phụ nữ
Ngoài ra, ở những, vùng có bệnh, người còn có thể
mắc bệnh nang sán do Cysticercus cellulosae, ấu trùng
của sán dây lợn Taenia solium Cùng một nhận xét như vậy đối với bệnh nang sán Cysticersus bovis, ấu
trùng của sán dây có nguồn gốc bò Taenia saginata.
Còn hiếm hơn, người ta đã mô tả ở châu Phi những
bệnh nang sán dưới da, bệnh nang sán não (A Bullock,
1979).
* Bệnh sán não
Những bệnh sán não là các bệnh do sán dây
metacestoda gây ra bởi ấu trùng của chúng, do sự ký
sinh của ấu sán não của chi phụ Multicep trong não tuỷ, nhưng tuỳ loài có thể khu trú ở tổ chức liên kết.
Bệnh sán não các trung tâm thẩn kinh
Au trùng sán não Coenurus cerebralis là dạng
đang phát triển của loài sán dây Muỉticeps multiceps
có ký chủ cuối cùng là các loài chó, cáo V V và lây truyền sang người, làm cho người trở thành ký chủ
tn m g gian Ký chủ trung gian bình thường của loài sán dảy này là tấ t cả loài ăn cỏ, nhất là cừu rồi bò, hiếm
thày hơn là lợn, ngựa.
Bệnh sán não thấy có m ặt ở khắp nơi trên th ế giới,
é mõi trường nông thôn.
Trang 32Bệnh sán não có khu trú ở tổ chức liên k ế t
Trước hết là Coenurus serialis thấy ở khắp noi
vùng nông thôn gây bệnh cho các loài chó, cáo v.v là
âu sán của sán dây Multiceps serialis serialis, lây
truyền sang người
Sau đó là Coenurus glomeratus, ấu sán của sán dây Multiceps serialis brauni gây bệnh trên các loài chó, chó rừng thấy ở các vùng ở châu Phi, mang tính
chất rừng núi, lây truyền sang người
Tất cả các loài sán dây thuộc chi phụ Multiceps
đều có thể phát triển trên người ở trạng thái nang sán
(gạo sán) và gây ra những loại rối loạn khác nhau gắn liền với nori khu trú của các gạo sán
- Hội chứng thần kinh, liên quan đến viêm não tuỷ
sang chấn như trường hợp Coenurus cerebralis;
- "Khối u" dưới da, u không đau, co giãn, không
kèm theo các hiện tượng viêm, như trường hợp
Coenurus serialis và Coenurus brauni.
* Bệnh sán đầu gai â'u trùng
Các bệnh sán đầu gai ấu trùng là các bệnh sán
dây Metacestoda gây ra bởi các sán đầu gai
Echinococcus spp
Các ký sinh trùng này phát triển trên hai nhóm
ký chủ: ký chủ trung gian mang ấu sán của ký sinh trùng (nang sán) là một loài ăn cỏ hay ăn tạp và ký
Trang 33chủ cuối cùng tiếp nhận các sán dây đó là một loài ăn
th ịt (họ Chó hay họ Mèo)
Người có thể bị lây truyền bệnh từ các loài ăn thịt mắc bệnh và sán dây này sẽ tạo cho người một nang sán của sán đầu gai và trở thành ký chủ trung gian của loài sán này
Có ba dạng giải phẫu của các bệnh sán đầu gai ấu trùng trên người, tương ứng với 4 loài sán đầu gai
Bệnh sán đầu gai nang sán (hay bệnh kén nang sán)
Bệnh này gây ra bởi sự ký sinh của các ấu trùng
Echinococus granulosus mà nang sán khu trú ở nhiều
nơi, nhưng chủ yếu là ở gan và phổi Chỉ có ấu sán có đầu sán non (protoscoỉex) cho phép xâm nhiễm các
động vật họ Chó
Bệnh metacestoda này tháy ờ khắp nơi trên thế
giới, ký chủ cuối cùng là chó nhà, chó rừng, chó sói đôi lúc là cáo Ký chủ trung gian trâu bò nhà hay trâu bò rừng, lợn nhà hay lợn rừng, lạc đà, Känguru đôi lúc là khỉ, từ đó lây sang người
Bệnh sán đầu gai nhiều ngăn ô
Bệnh này gây ra do các sán dây metacestoda
Echinococcus multilocularis, có nang sán khu trú chủ
yếu ở gan với tổn thương phân tán: bệnh thấy ở châu
Ầu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Australia
Trang 34Ký chủ cuối cùng là loài chồn từ đó bệnh lây sang người.
Bệnh sán đầu gai nang sán có vách ngăn
Chịu trách nhiệm gây ra bệnh sán dây này là ấu sán của:
Echinococcus vogeli khu trú ưu tiên ở gan;
Echinococcus oỉigarthrus khu trú ưu tiên ở lách,
màng bụng, các cơ
Hai bệnh sán dây này được phân bố ở Trung Mỹ và
Nam Mỹ
Đối với Echinococcus vogeli các ký chủ cuối cùng
của nó là các loài thuộc họ Chó hoang dã và giai đoạn
ấu sán sống trên các loài thỏ hoang dã
Đối với Echinococcus oligarthrus, chúng hoàn
thành chu kỳ phát triển trên động vật hoang dã thuộc
họ Mèo và trên các ký chủ trung gian là các loài gậm nhấm hoang dã
p en ta sto m a
Các bệnh này gây ra bởi một nhóm ký sinh trùng chưa được xác định trong sự phân loại, gọi là các pentastoma mà ngày nay người ta có xu hướng xếp chúng vào một ngành riêng ở bên cạnh ngành chân khớp với tên gọi là "pararthropoda"
Trang 35Các ký sinh trùng này còn được gọi là các "thiệt
trùng" vì loài điển hình là Linguatula rhinaria (ký
sinh trên xoang mủi chó) có hình dạng như cái lười
Nó còn có tên là Linguatuỉa serrata.
Các loài gia súc gồm bò, dê cừu và chó thường
bị mắc bệnh th iệt trùng này và lây truyền sang người Người mắc bệnh do tiếp xúc trực tiếp với chó,
ăn thực vật bị nhiễm trứng của sán do các gia súc trên bài xuất Nhộng của thiệt trùng ký sinh trên thanh quản và hầu của người
tiêu boá
Các bệnh nguyên trùng đường ruột (động vật đơn bào) của động vật có thể lây truyền cho người được biết cho đến nay gồm các bệnh nhục bào tử trùng,
bệnh viêm ruột do Giardia (còn gọi là Lamblia), bệnh
cầu ký trùng do Cryptosporidium.
Bệnh nhục bào tử trùng
Bệnh nhục bào tử trùng gây ra bởi Sarcocystis
lừidemanni là một bệnh ký sinh trùng của tổ chức cơ
vân do sự ký sinh trong sợi cơ của một loài "cầu ký
trùng", thấy ở khắp nơi trên th ế giói nhưng thấy nhiều
ờ các vùng châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ.
Trang 36Nhục bào tử trùng này gây bệnh trên loài chó (ký chủ cuối cùng) và phát triển trên các ký chủ trung gian
là bò và lợn
Người mắc bệnh do tiếp xúc trực tiếp với chó mắc
bệnh hoặc ăn thực vật sống bị lây nhiễm các sporocyst
của ký sinh trùng hoặc ăn thịt bò và lợn chứa các kén
chứa ầu trùng bradyzoit của ký sinh trùng.
Bệnh viêm ruột do Giardia
Bệnh này gây ra bởi một loại tiên mao trùng là
Giardia intestinalis, sống trong ruột của nhiều loài
động vật như chó, mèo, cừu, khỉ, chuột và ở người, và bệnh trên động vật dễ dàng lây sang người Bệnh thấy
ở khắp noi trên thê giới
Người mắc bệnh do tiếp xúe trực tiếp với các con vật mắc bệnh hoặc ăn thực vật nhiễm kén của loài động vật đon bào này, gây viêm ruột ỉa chảy
Bệnh cầu k ý trùng do Cryptosporidium
Bệnh zoonosis thường gặp trong nhân y học, gây
ra bởi một cầu ký trùng là Cryptosporidium spp có nguồn gốc trâu bò, dê cừu, lợn các loài chim
Người bị nhiễm bệnh do nuốt phải các kén trứng
ấu trùng hoá của cầu trùng bài xuất làm ô nhiễm môi trường ngoại cảnh như rau xanh, gây viêm ruột ỉa
Trang 37chảy, có khi rấ t nặng dẫn tới tử vong Bệnh phân bố
ở khắp nơi trên th ế giới.
d L â y tru yề n trự c tiế p các bệhh g h ẻ đư ờ n g
hô h ấ p
Động vật có thể lây truyền một số bệnh ghẻ đường
hô hấp cho người
Bệnh ghẻ đường hô hấp có nguồn gốc k h ỉ
Bệnh ghẻ ở loài khỉ gây ra bởi loài ghẻ
Pneumonyssus simicola thấy có m ặt ở Đông Nam châu
A và Trung Mỹ Bệnh có thể lây truyền cho người do tiếp xúc trực tiếp và các ký sinh trùng có thể lan sang người do chất bài xuất đường hô hấp
Bệnh ghẻ đường hô hấp có nguồn gốc chó
Bệnh ghẻ đường hô hấp của chó gây ra bởi loài
ghẻ Pneumonyssus caninum thây ở khắp nơi trên th ế
giới Bệnh này có khả năng lây truyền trực tiếp từ chó sang người như bệnh ở trên, tuy vậy đến nay chưa được thông báo
Bệnh ghẻ đường hô hấp có nguồn gốc chim
Loài chim hoàng yến cũng mắc một bệnh ghẻ
đường hô hấp gây ra bởi loài ghẻ Sternosoma
trachaeocolum Bệnh này lan truyền qua các lục địa
khác do nhập khẩu loài chim này cùng ký sinh trùng của nó Cũng như bệnh ghẻ đường hô hấp có nguồn gốc chó ở trên, bệnh này cũng chưa được thông báo.
Trang 382 Sự bài xu ất các dạn g gây nhiễm của ký sin h trùng ra môi trường b ên ngoài
Sự bài xuất các dạng gây nhiễm của ký sinh trùng
có thể thực hiện dưới dạng phát tán các ký sinh trùng qua đường tiêu hoá, đường hô hấp và đường niêm mạc
da, trong đó con đường đầu tiên là quan trọng nhất
a Các y ế u tô' g â y n h iễm ph ần lớn b à i x u ấ t
qua đư ờ n g tiêu hoá
- Các embryophores ("trứng") của các sán dây Cyclophyllidea ký sinh trên ruột non của chó mèo, của
các sán dây Taenia;
- Các trứng phôi hoá của các th iệt trùng;
- Các sporocyst bào tử hoá của một số nhục bào tử trùng và các kén sinh dưỡng của động vật đơn bào, tiên mao trùng và trùng roi
b Các y ế u tô' g â y n h iễm bài x u ấ t qua đư ờn g
Trang 39Leishmania brasilienisis, Leishmania infantum của
gậm nhấm hoang dã, chó
- Các nấm men của bệnh nấm cúc Histoplasma
fareiminosum có m ặt trong các ổ áp xe và có mủ ở ngựa
bài xuât qua da
- Các nấm men của bệnh nâm cúc Histoplasma
capsulata có m ặt các ổ áp xe mủ trên da chó và mèo.
- Các nấm men của bệnh nấm Sporothrỉcosis gây
ra bởi Sporothríx schenckii gây bệnh cho ngựa, chó mèo có m ặt ở dưới da các con vật có thể lây truyền
qua da
3 Thao tác, tiếp xúc xác ch ết động vật chứa các yếu tố lây nhiễm trực tiếp
Ngoài những trường hợp đã nêu ở trên, thường
thấy nhất loài sán, xin nêu ở dưới đây hai quá trình
ngoài sự lây truyền gián hiếp có thể xảy ra sự lây
truyền trực tiếp do tiếp xúc với các động vật mắc bệnh
Bệnh Chagas gây bởi tiên mao trùng máu
Bệnh này xảy ra ở Trung Mỹ và Nam Mỹ do một
tiên mao trùng ký sinh trong máu là Trypanosoma
cruzi mà kho dự trữ ký sinh trùng là các thú có lông
cũng như chó và bệnh có thể lây truyền sang người bởi vết đốt của một loài ruồi ngủ Tuy nhiên bệnh cũng có thể lây trực tiếp cho người khi cầm nắm bộ lông của
Trang 40các con thú bị nhiễm dạng tiên mao trùng có sức gây nhiễm mà chúng xâm nhập qua vết sướt trên da tay.
Bệnh giun tóc do larva migrans }
Theo những nghiên cứu thực nghiệm tiến hành trên các gậm nhấm phòng thí nghiệm, các ấu trùng L3
của giun tóc Gnathosthoma spinigerum phân bô ở
vùng Đông Nam châu Á có thể xâm nhập qua da người
bị sướt hay nguyên vẹn
(* *) Cần hiếu các thuật ngữ la rva m ìg ra n s và la rv a currens.
• Larva migrans là ấu trùng di hành Có hai loại ỉa rv a m igrans:
- Loại ấu trùng di hành trong da thường gây ra những thương tốn da quanh co và ngứa, có dạng rãnh màu đỏ do thâm nhiễm và ban đỏ, gây ra bởi sự di chuyên dưới da của một ấu trùng của ký sinh trùng mà ký chủ đặc hiệu là động vật và nó bị một ngõ cụt trên người, nên không bài xuất ra ngoài được.
- Loại ấu trùng di hành trong phủ tạng gây ra hội chứng trên các phủ tạng dưới dạng tôn thương tăng bạch cầu ưa eosin, gây ra bởi ấu trùng ký sinh trùng trong ngõ cụt trên người.
• L a rva cu rren s là ấu trùng di hành dưới da, có đặc điểm là có
sự di động nhanh của ấu trùng và đặc điểm cửa tôn thương và đường
đi của nó hầu như thành một đường thẳng trong da người.