1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Nghiên cứu tác dụng bảo vệ của củ Tam Thất (Radix Nôtginseng) trên chuột cống trắng gây viêm gan thực nghiệm docx

7 671 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 575,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tác dụng bảo vệ của củ tam thất Radix Notoginseng trên chuột cống trắng gây viêm gan thực nghiệm Dương Thị Ly Hương 1 , Nguyễn Trần Giáng Hương 2 , Phạm Xuân Sinh 1 1 Đại họ

Trang 1

Nghiên cứu tác dụng bảo vệ của củ tam thất (Radix Notoginseng) trên chuột cống trắng

gây viêm gan thực nghiệm

Dương Thị Ly Hương 1

, Nguyễn Trần Giáng Hương 2

, Phạm Xuân Sinh 1

1

Đại học Dược Hà Nội, 2

Đại học Y Hà Nội

Để đánh giá tác dụng bảo vệ gan của củ tam thất, chúng tôi sử dụng hai mô hình gây viêm gan bằng đường carbon tetrachlorid (CCl4) và paracetamol (PAR) liều cao trên chuột cống trắng thực nghiệm Kết quả cho thấy:

ư CCl4 (50% trong dầu oliu) với liều 1,4 ml/kg, tiêm màng bụng hai lần cách nhau 48 giờ đã làm tăng nồng độ enzym lên 173,2% và SGPT lên 234,6% một cách rõ rệt so với lô chứng (p < 0,001) Chỉ số De Ritis bằng 3,6 - ít thay đổi so với bình thường

ư PAR với liều 2 g/kg, đường uống đã làm tăng một cách rõ rệt nồng độ enzym SGOT lên 6458,5% và SGPT lên 837,5% so với lô chứng (p < 0,001) Chỉ số DE Ritis tăng rất cao bằng 30,7 - trong khi bình thường là 4,4

ư Tam thất với liều 5g/kg thân trọng đã làm giảm rõ rệt sự tăng nồng độ enzym SGOT

và SPGT trong huyết thanh chuột xuống 29,1% và 43,1% tương ứng so với lô gây độc bằng CCl4 (p < 0,05) So với lô gây độc bằng PAR liều cao, tam thất cũng làm giảm đáng

kể nồng độ enzym SGOT và SGPT xuống 97,0% và 75,5% tương ứng (p < 0,001) Tác dụng của tam thất và Silimarin ở cả hai mô hình là tương đương nhau (p > 0,05)

ư Hình ảnh vi thể mô bệnh học trên cả hai mô hình cho thấy tam thất có tác dụng bảo

vệ gan rõ

I Đặt vấn đề

Bệnh lý gan mật là một trong những

bệnh khá phổ biến, chiếm 29,9% tổng số

bệnh lý lâm sàng Trong số đó viêm gan

do virus lại là bệnh hay gặp nhất, chiếm

16,7% các bệnh lý về gan mật [3] Viêm

gan do virus là vấn đề y tế mang tính toàn

cầu và là mối quan tâm hàng đầu của

nhiều quốc gia trên thế giới Điều trị bệnh

viêm gan hiện nay vẫn còn nhiều nan giải

và chủ yếu là điều trị triệu chứng Do tiếp

tục nghiên cứu các thuốc có tác dụng bảo

vệ gan là một vấn đề cấp thiết Tam thất

(Radix Notoginseng) là một vị thuốc quý

đã được dùng nhiều trong các trường hợp

té ngã, ứ huyết sưng đau và được dùng để

điều trị các khối u, ung thư … ở Trung Quốc, tam thất được dùng để điều trị viêm gan và viêm gan mạn thể huyết ứ thấy có kết quả tốt [2] Để góp phần khẳng định tác dụng của vị thuốc và làm tiền đề cho những ứng dụng trên lâm sàng, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này với mục tiêu:

Đánh giá tác dụng bảo vệ gan của củ tam thất (Radix Notoginseng) thông qua sự thay đổi nồng độ enzym SGOT, SGPT trong huyết thanh chuột và sự thay đổi hình ảnh mô bệnh học gan chuột trên hai mô hình gây viêm gan bằng CCl 4 và PAR liều cao ở chuột cống trắng thực nghiệm

Trang 2

TCNCYH 27 (1) - 2004

II Chất liệu, đối tượng và phương

pháp nghiên cứu

1 Chất liệu:

Tam thất do công ty cổ phần Traphaco

cung cấp, loại 6 củ/100 gram

Sắc theo phương pháp sắc đông y được

dịch chiết toàn phần trong nước tỷ lệ 1: 2

(100 gram dược liệu tương ứng với 200 ml

dịch chiết)

2 Đối tượng:

Chuột cống trắng khoẻ mạnh cả hai

giống, trọng lượng trung bình từ 120 - 150

gram, và từ 160 - 180 gram, được nuôi tại

bộ môn Dược lý trường Đại học Y Hà Nội

trong điều kiện đầy đủ thức ăn và nước

uống

3 Hoá chất xét nghiệm:

Paracetamol, Silymarin, Carboxyl methyl

cullulose (CMC) do bộ môn Dược lý trường

Đại học Y Hà Nội cung cấp

- Các hoá chất định lượng enzym

SGOT, SGPT do hãng Hospitex - Italy

cung cấp

4 Dụng cụ, máy móc:

- Bộ dụng cụ cho chuột uống thuốc, pha

thuốc, dụng cụ mổ

- Máy xét nghiệm sinh hoá máu của

hãng Hospitex - Italy

5 Phương pháp xét nghiệm:

Định lượng enzym Transaminase huyết thanh theo phương pháp của Bergmeyer 1986: đo độ giảm hấp thụ quang của NAD

ở bước sóng λ = 340nm trên máy quang phổ Screem master của hãng Hospitex Diagnostic [5]

6 Phương pháp nghiên cứu:

1 Mô hình gây viêm gan thực nghiệm bằng CCl 4 :

Chuột cống trắng 160- 180g, được chia thành 4 lô, mỗi lô 10 con

Lô 1 (chứng): uống NaCl 0,9% - 1 ml/100g

Lô 2: uống NaCl 0,9% - 1 ml/100g Lô 3: uống Silymarin 25 mg/kg pha trong CMC 1% - 1 ml/100 g

Lô 4: uống tam thất với liều 5g/kg - 1ml/100g

Chuột được uống thuốc 5 ngày trước khi gây độc Ngày thứ 6, tiêm màng bụng

ml/kg cho tất cả chuột ở các lô 2, 3, 4 tiêm

2 lần cách nhau 48 giờ 24 giờ sau lần gây

độc cuối, giết chuột lấy máu định lượng enzym SGOT và SGPT, lấy gan làm tiêu bản mô bệnh học

uống thuốc hoặc uống NaCl 0,9%

1 2 3 4 5 6 7 8 9

ngày

tiêm CCl4 tiêm CCl4 giết chuột lấy máu

Sơ đồ nghiên cứu

2 Mô hình gây viêm gan thực nghiệm

bằng PAR liều cao

Chuột cống trắng 120 - 150g, được chia

thành 4 lô, mỗi

Lô 1 (chứng): uống NaCl 0,9% - 1

ml/100g

Lô 2: uống NaCl 0,9% - 1 ml/100g Lô 3: uống Silymarin 25 mg/kg pha trong CMC 1% - 1 ml/100 g

Lô 4: uống tam thất với liều 5g/kg - 1ml/100g

Trang 3

Chuột được uống thuốc 5 ngày trước khi

gây độc Ngày thứ 6, cho tất cả chuột ở

các lô 2, 3, 4 uống PAR 2 g/kg pha trong

CMC 2% 48 giờ sau khi gây độc, giết chuột lấy máu định lượng enzym SGOT và SGPT, lấy gan làm tiêu bản mô bệnh học

uống thuốc hoặc uống NaCl 0,9%

1 2 3 4 5 6 7 8

ngày

uống PAR giết chuột lấy máu

Sơ đồ nghiên cứu

Kết quả được xử lý bằng phương pháp thống kê y học, sử dụng 2t test Studen

III Kết quả

1 Tác dụng bảo vệ gan của tam thất trên mô hình gây viêm gan bằng CCl4 Kết quả được thể hiện ở bảng 1

Bảng 1: ảnh hưởng của tam thất trên sự thay đổi nồng độ SGOT, SGPT

đổi

SGPT (UI/l)

% thay

đổi

De Ritis

***

172,3 (↑)

90,0± 10,2

***

234,6 (↑)

3,6

a*

28,4 (↓)

46,5± 15,6 a*

48,3 (↓)

4,95

a*,b

29,1 (↓)

51,1±15,4 a*,b

43,1 (↓)

4,5

() Tăng so với lô 1 (lô chứng) (): giảm so với lô 2 (lô gây độc)

***: p, 0,001 so với lô 1 (lô chứng) a*

: p < 0,05 so với lô 2 (lô gây độc) b

; p > 0,05 so với lô uống Silymarin

2 Tác dụng bảo vệ gan của tam thất trên mô hình gây viêm gan bằng CCl4 Kết quả được thể hiện ở bảng 2

Bảng 2: ảnh hưởng của tam thất trên sự thay đổi nồng độ SGOT, SGPT

trong huyết thanh chuột gây viêm gan bằng PAR (n= 10)

***

6458,5 (↑)

252,2± 34,6

***

837,5 (↑)

30,7

a***

97,1 (↓)

48,0± 16,2 a***

80,97 (↓)

4,8

a***,b

97,0 (↓)

61,8±12,4 a***,b

75,5 (↓)

3,8

Trang 4

TCNCYH 27 (1) - 2004

() Tăng so với lô 1 (lô chứng)

(): giảm so với lô 2 (lô gây độc)

***: p, 0,001 so với lô 1 (lô chứng)

a***

: p < 0,001 so với lô 2 (lô gây độc)

b ; p > 0,05 so với lô uống Silymarin

3 ảnh hưởng của tam thất lên hình

ảnh mô bệnh học của gan chuột cống trắng gây nhiễm độ bằng CCl4

Kiểm tra hình ảnh mô bệnh học gan chuột tại bộ môn Giải phẫu trường Đại học

Y Hà Nội, kết quả như sau:

Hình 1 (x 200) - Lô uống NaCl 0,9%:

Cấu trúc các tiểu thuỳ gan rõ Tĩnh mạch

trung tâm và các xoang tĩnh mạch không

giãn, không xung huyết, khoảng cửa

không có xâm nhập viêm

Hình 2 (x 200) - Lô uống NaCl 0,9% +

hoá thũng đục và thoái hoá hạt diện rộng

quanh tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ

Khoảng cửa có xâm nhập tế bào viêm

Hình 3 (x 200) - Lô uống Silymarin +

mỡ nhỏ, không gây biến dạng tế bào

Không có hoại tử tế bào gan cũng như

hoại tử mối gặm Khoảng cửa có xâm nhập

viêm nhẹ

Hình 4 (x 200) - Lô uống tam thất + CCl4: Các tế bào gan có tổn thương thoái hoá nhẹ, không gây biến dạng tế bào Khoảng cửa có xâm nhập tế bào viêm nhẹ Không có ổ hoại tử tế bào gan

4 ảnh hưởng của tam thất lên hình

ảnh mô bệnh học của gan chuột cống trắng gây nhiễm độc bằng PAR

Kiểm tra hình ảnh mô bệnh học gan chuột tại bộ môn Giải phẫu bệnh trường

Đại học Y Hà Nội, kết quả như sau:

Trang 5

Hình 5 (x 200) - Lô uống NaCl 0,9%:

Cấu trúc các tiểu thuỳ gan rõ Tĩnh mạch

trung tâm và các xoang tĩnh mạch không

rãn, không xung huyết, khoảng cửa không

có xâm nhập viêm

Hình 6 (x 200) - Lô uống NaCl 0,9% +

PAR: Mô gan có hoại tử ổ nặng, chủ yếu ở

quanh các tiểu thuỳ, hoại tử bắc cầu Một

số tiểu thuỳ có hoại tử ở trung tâm tiểu

thuỳ Các xoang tĩnh mạch giãn và xung

huyết Vùng hoại tử có chảy máu và thâm

nhiễm BCĐN

Hình 7 (x 200) - Lô uống Silymarin +

PAR: Nhu mô gan tương đối bình thường

Không thấy có các hình ảnh tổn thương

Hình 8 (x 200) - Lô uống tam thất +

PAR: Các tế bào gan có thoái hoá thũng

đục và thoái hoá hạt nhẹ Các xoang mạch

trung tâm không giãn, tế bào quanh tĩnh

mạch trung tâm không bị tổn thương Rải

rác có ổ hoại tử nhỏ và xâm nhập tế bào

viêm Có tăng sinh, tái tạo tế bào gan

IV Bàn luận

• Chính

có hoạt tính cao là tác nhân gây tổn thương tế bào gan thông qua

sự peroxy hoá các acid béo chưa bão hoà [9]

CCl4 đã được dùng nhiều trong các mô hình gây tổn thương gan để nghiên cứu các thuốc có tác dụng bảo vệ gan [6, 8] Trong kết quả nghiên cứu chúng tôi, CCl4

đã làm tăng nồng độ SGOT và SGPT lên 172,3% và 234,6% tương ứng một cách rõ rệt so với lô chứng (p < 0,01) cho thấy tác dụng độc của CCl4 trên gan Silymarin ức chế 28,4% sự tăng SGOT và 48,3% sự

(p<0,05), điều này chứng tỏ Silymarin có tác dụng bảo vệ gan rõ rệt Tam thất với liều 5g/kg cũng ức chế rõ sự tăng SGOT 29,1% và SGPT 43,1% (p <0,05%) so với lô gây độc, tác dụng này là tương đương

Trang 6

TCNCYH 27 (1) - 2004

với Silymarin liều 25 mg/kg (p >0,05) Kết

quả nghiên cứu của chúng tôi cũng trùng

với nghiên cứu của Lại Thị Vân về tác

dụng bảo vệ gan của Silymarin [3]

PAR là một thuốc hạ sốt, giảm đau

đang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế

giới Trong cơ thể, PAR được chuyển hoá

qua hệ thống Cyt P450 ở gan để tạo thành

Nacetyl P - benzoquioneimine (NAPQI)

NAPQI là một chất độc đối với tế bào Tuy

nhiên nếu sử dụng PAR ở liều điều trị thì

lượng NAPQI sinh ra thấp sẽ được trung

hoà ngay bởi GSH của gan và do đó

không gây độc cho gan Khi dùng PAR liều

cao, lượng NAPQI được sinh ra nhiều,

lượng GSH trong gan không đủ để trung

hoà hết chất độc, khi ấy tế bào gan sẽ bị

tổn thương [9]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, PAR

với liều 2g/kg đã làm tăng nồng độ SGOT

và SGPT lên 6458,5% và 837,5% tương

ứng một cách rõ rệt so với lô chứng (p <

0,001) cho thấy tác dụng độc của PAR liều

cao trên gan Chỉ số De Ritis tăng rất cao,

tới 30,7% (trong khi bình thường chỉ là 4,4),

điều này chứng tỏ PAR đã làm tổn thương

tế bào gan ở mức ty thể So sánh với tác

liều cao đã gây tổn thương gan nghiêm

trọng hơn Hình ảnh mô bệnh học (hình 6)

cũng cho thấy PAR liều cao gây tổn

thương gan rất nặng nề

Silymarin với liều 25 mg/kg đã ức chế

97,1% sự tăng SGOT và 80,9% sự tăng

SGPT so với lô dùng PAR đơn độc (p <

0,001) Tam thất với liều 5g/kg cũng ức

chế rõ sự tăng SGOT và SGPT (97,0% và

75,5% tương ứng) so với lô gây độc bằng

PAR (p < 0,001) So với Silymarin, tác

dụng của tam thất là tương đương Cả

Silymarin và tam thất đều làm giảm chỉ số

De Ritis, đưa chỉ số này về gần bình

thường, điều này chứng tỏ Silymarin và

tam thất đã bảo vệ được tế bào gan ở mức

ty thể

Trên hình ảnh mô bệnh học, ở cả hai mô hình, Silymarin và tam thất đều có tác dụng bảo vệ gan rõ rệt

Silymarin có nguồn gốc từ thực vật, là hoạt chất chiết xuất từ quả của cây cúc gai (Silybum marianum L Asteraceae) đã

được nghiên cứu nhiều chứng minh là có tác dụng bảo vệ gan tốt và được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng [2] Vì thế chúng tôi chọn làm thuốc chuẩn để nghiên cứu so sánh với tam thất Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy Tam thất với liều 5g/kg

có tác dụng bảo vệ gan rõ rệt trên cả hai

PAR liều cao, tác dụng này tương đương với Silymarin liều 25 mg/kg Điều này cho phép mở ra một hướng điều trị mới đối với tam thất: điều trị các bệnh gan Tuy nhiên

để khẳng định kết quả cần có những nghiên cứu sâu hơn

V Kết luận Qua nghiên cứu nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1 CCl4 50% trong dầu oliu với liều 1,4 ml/kg, tiêm màng bụng hai lần - cách nhau

48h

đã làm tăng nồng độ enzym SGOT và SGPT trong huyết thanh chuột cống trắng lên 172,3% và 234,6% một cách rõ rệt so với lô chứng (p<0,001)

2 Paracetamol với liều 2g/kg thể trọng

đã làm tăng đáng kể nồng độ enzym SGOT và SGPT trong huyết thanh chuột cống trắng lên 6458,5% và 837,5% so với lô chứng (p < 0,001) Chỉ số De Ritis tăng rất cao, bằng 30,7 (trong khi bình thường

là 4,4)

3 Silymarin với liều 25 mg/kg đã làm giảm đáng kể sự tăng SGOT và SGPT xuống 28,4% và 48,3% tương ứng so với lô

Trang 7

97,1% và 80,97% tương ứng so với lô

gây độc bằng PAR liều cao (p < 0,001)

4 Tam thất với liều 5g/kg đã làm giảm

nồng độ enzym SGOT 29,1% và SGPT

(p<0,05) So với lô gây độc bằng PAR liều

cao, tam thất đã làm giảm một cách rõ rệt

nồng độ enzym SGOT xuống 97,0% và

SGPT xuống 75,5% (p<0,001) Cả

Silymarin và tam thất đều đưa chỉ số De

Ritis trở về bình thường trong mô hình gây

độc bằng PAR liều cao Trên cả hai mô

hình, tác dụng của tam thất với liều 5g/kg

đều tương đương với tác dụng của

Silymarin liều 25 mg/kg (p > 0,05)

Tài liệu tham khảo

1 Trần Văn Kỳ (1993) "Sâm tam thất " -

Thuốc bổ đông y, nghiên cứu và ứng dụng

lâm sàng Hội Y học cổ truyền thành phố

Hồ Chí Minh, 32-42

2 Đào Văn Phan (2000) "Silymarin

(Legalon) - Đặc điểm dược lý và các ứng

dụng trong lâm sàng" - Hội thảo khoa học

Legalon và ứng dụng Hà Nội, 12-15

3 Lại Thị Vân (2003) "Nghiên cứu ứng

dụng bảo vệ gan và một số tác dụng dược

lý có liên quan của cây nhó đông

(Psychotria morindoidess hutch - Rubiaceae)" - Luận văn thạc sĩ y học,

trường Đại học Y Hà Nội

4 Vũ Đình Vinh (2001) "Hướng dẫn sử

dụng các xét nghiệm sinh hoá" Nhà xuất

bản Y học, 251-252

5 Bermeyer H V (1986) J Clin Chem Biochem 24, 497

6 Chun-Ching Lin et al (2000)

"Antioxidant and hepatoprotectve effects of

Anoectochilus formosanus and Gynostemma pentaphyllum" - Am J Chin

Med 28 (1), 87-96

7 Dhawan B N (1997)

"Hepatoprotective activity of natural

products experimental evaluation" -

International workshop medicinal plants their bioactivity Screening and evaluation lucknow, L15

8 Jung-Chou Chen et al (2000)

"Therapeutic effect of Gypenoside on

chronic liver injury and fibrosis induced by CCl 4 , in rats" - Am.J Chin Med, 28 (2),

175-185

9 Lester M Haddad et al (1998)

"Clinical management of posoning and

drug overdose", 664-674; 934-938.

Summary

Study the hepatoprotective effect of Panax

To evaluate the hepatoprotective effect of Panax Notoginseng, two rat hepatic intoxication models by high dose CCl4 and PAR were utilised The experimental results showed that the oral administration of Panax Notoginseng (aqueous extract) with the dose of 5g/kg body weight has significantly reduced the serum concentrations of SGOT and SGPT with 29,1% and 43,1% respectively in comparison with that of CCl4-treated control (p < 0,05) In PAR - intoxicated group, Panax Notoginseng with the dose of 5g/kg body weight resulted in a marked decrease of SGOT and SGPT serum concentrations 97,0% and 75,5%, respectively, which were significantly diffenrent from that of group without Panax Notoginseng The hepatoprotective effect of Panax Notoginseng with the dose of 5g/kg and Silymarin with the dose of 25mg/kg on both CCl4 and PAR hepatic-intoxication modesl is the same (p>0,05) In histopathological examinations, Panax Notoginseng has improved CCl4- and PAR induced hepatic infuries

Ngày đăng: 26/02/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ nghiên cứu - Tài liệu Nghiên cứu tác dụng bảo vệ của củ Tam Thất (Radix Nôtginseng) trên chuột cống trắng gây viêm gan thực nghiệm docx
Sơ đồ nghi ên cứu (Trang 3)
Hình 1 (x 200) - Lô uống NaCl 0,9%: - Tài liệu Nghiên cứu tác dụng bảo vệ của củ Tam Thất (Radix Nôtginseng) trên chuột cống trắng gây viêm gan thực nghiệm docx
Hình 1 (x 200) - Lô uống NaCl 0,9%: (Trang 4)
Hình 5 (x 200) - Lô uống NaCl 0,9%: - Tài liệu Nghiên cứu tác dụng bảo vệ của củ Tam Thất (Radix Nôtginseng) trên chuột cống trắng gây viêm gan thực nghiệm docx
Hình 5 (x 200) - Lô uống NaCl 0,9%: (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w