1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Hiệu quả của tẩy giun lên tình trạng dinh dưỡng thiếu máu ở trẻ em 36 - 60 tháng tuổi pdf

5 438 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 220,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tẩy giun là biện pháp cần được phối hợp trong các chương trình phòng chống suy dinh dưỡng SDD và thiếu máu ở trẻ em.. Một trong những nguyên nhân của SDD và thiếu máu là nhiễm giun sán,

Trang 1

Hiệu quả của tẩy giun lên tình trạng dinh dưỡng,

thiếu máu ở trẻ em 36-60 tháng tuổi

Lê Minh Uy 1 , Nguyễn Xuân Ninh 2 ,

Phạm Duy Tường 3

1 Sở Y tế An Giang, 2 Viện Dinh dưỡng;

3

Đại học Y Hà Nội

Hiệu quả của tẩy giun đến thay đổi về tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu được đánh giá trên 277 trẻ em từ 36- 60 tháng tuổi tại 3 phường nông thôn thuộc tỉnh An giang, Đồng bằng sông Mêkong, trong vòng 6 tháng, năm 2001 Kết quả cho thấy, tẩy giun bằng Mebendazol, 1 liều 500mg, có tác dụng cải thiện rõ rệt chiều cao và cân nặng của trẻ Sau 6 tháng tẩy giun, cân nặng, chiều cao của nhóm trẻ được tẩy giun tăng nhiều hơn nhóm đối chứng là 0.3 kg và 0.8 cm Tương tự, Z score về cân nặng/ tuổi, chiều cao/ tuổi của nhóm can thiệp cũng tốt hơn nhóm đối chứng là 0.13 và 0.17

đơn vị Tỷ lệ thiếu máu giảm 12.1%, nhóm chứng chỉ giảm 5.6%, nồng độ Hemoglobin (Hb) trung bình của nhóm trẻ tẩy giun cao hơn 0.4 g/dL so với nhóm đối chứng Tẩy giun là biện pháp cần

được phối hợp trong các chương trình phòng chống suy dinh dưỡng (SDD) và thiếu máu ở trẻ em

I Đặt vấn đề

Trẻ em dưới 5 tuổi là đối tượng có cơ nguy

cơ cao bị SDD và thiếu máu ở Việt Nam và các

nước đang phát triển [1-4] Một trong những

nguyên nhân của SDD và thiếu máu là nhiễm

giun sán, do điều kiện môi trường sống không

đảm bảo vệ sinh, chế độ ăn hàng ngày thiếu về

số lượng và chất lượng

Trong những năm qua, đồng bằng sông

Mêkong là một vùng chịu nhiều biến đổi bất lợi

về thời tiết, lũ lụt, ảnh hưởng đến nguồn cung

cấp thực phẩm, điều kiện sống của người dân,

nhất là trẻ em… những yếu tố này có thể là

những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tình trạng

dinh dưỡng và thiếu máu của trẻ em dưới 5 tuổi

[3,4]

Nhiễm giun là nguyên nhân làm cho trẻ

chán ăn, kém tiêu hoá, hấp thu các chất dinh

dưỡng Ngoài ra giun có thể gây một số biến

chứng như tắc ruột ở trẻ em, giun chui ống mật,

dị ứng, chậm phát triển thể chất và tinh thần

[5] Một số nghiên cứu cho thấy phòng chống

nhiễm giun là một biện pháp hiệu quả nhằm cải

thiện tình trạng dinh dưỡng, giảm thiếu máu

[6,9] Tuy nhiên đa số các nghiên cứu tập trung

vào lứa tuổi trẻ em tiểu học, những nghiên cứu

về phòng chống nhiễm giun trên trẻ nhỏ trước tuổi đi học còn ít

Nghiên cứu này nhằm:

- Đánh giá hiệu quả của biện pháp tẩy giun tới cải thiện tình trạng dinh dưỡng qua các chỉ tiêu nhân trắc cân nặng/ tuổi, chiều cao/ tuổi

- Hiệu quả của tẩy giun tới tình trạng thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ em 36 tháng - 60 tháng tuổi

II- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp can thiệp, mù đơn, có đối chứng trên cộng

đồng

2 Đối tượng nghiên cứu

Trẻ em lứa tuổi 36 đến 60 tháng tuổi, tại 3 phường thuộc thành phố Long An tỉnh An giang, Đồng bằng sông Mêkong có điều kiện sống tương tự nhau Đây là ba phường nghèo, người dân sinh sống chủ yếu là làm ruộng (85%), hàng năm thường bị lũ lụt khoảng 2 tháng Điều kiện sống chưa đảm bảo về mặt vệ sinh, phần lớn người dân còn đi cầu tiêu xuống sông ngòi, ao cá, chưa có ý thức xử lý rác thải,

Trang 2

đây là những điều kiện rất thuận lợi cho lây

nhiễm ký sinh trùng

Mẫu nghiên cứu được tính toán theo công

thức tính cỡ mẫu cho thử nghiệm can thiệp

cộng đồng

δ2 (Z1-α /2 + Z 1-β)2

n =

(à1-à2)2

Số trẻ được chọn ước tính cho sự khác biệt

giữa hai nhóm về nồng độ Hb (4.5g/L), cân

nặng (0.25kg), chiều cao (0.4cm) sau 6 tháng

nghiên cứu Số trẻ cần cho nghiên cứu là 280

trẻ, 25 trẻ được chọn thêm cho dự kiến số trẻ

bỏ cuộc

Tiêu chuẩn chọn trẻ: độ tuổi 36-60 tháng,

không bị mắc các bệnh về bẩm sinh, qua xét

nghiệm sàng lọc được đánh giá là có nhiễm

giun, gia đình nhất trí tham gia nghiên cứu

3 Các kĩ thuật

Xét nghiệm phân sàng lọc bằng phương

pháp Willis trên 898 trẻ cho thấy 363 trẻ bị

nhiễm giun các loại, có 308 trẻ được gia đình

đồng ý tham gia nghiên cứu Lập danh sách,

phân chia ngẫu nhiên trẻ thành 2 nhóm: nhóm

can thiệp (CT, n=153), nhóm đối chứng (ĐC,

n=155)

Trước nghiên cứu, gia đình của trẻ, cán bộ

y tế địa phương được giải thích về nghiên cứu,

đồng ý tham gia nghiên cứu Khi kết thúc theo

dõi 6 tháng, toàn bộ trẻ của hai nhóm đều được

tẩy giun một liều bằng mebeldazol bằng

Mebendazol, 500mg

Các dụng cụ xét nghiệm đảm bảo vô trùng,

dùng 1 lần

Số liệu về nhân trắc được đánh giá 2

tháng/lần: cân nặng được xác định bằng cân

điện tử SECA (độ chính xác 0,1 kg) Chiều cao

đứng được đo với trẻ trên 3 tuổi và chiều dài

nằm với trẻ dưới 3 tuổi (độ chính xác 0,1 cm) Các chỉ số cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, cân nặng/chiều cao được tính theo quần thể tham khảo NCHS

Xét nghiệm Hb khi bắt đầu và kết thúc nghiên cứu bằng phương pháp Cyanmethemoglobin; đánh giá thiếu máu theo hướng dẫn của WHO [4]: Hb<11 g/dL được coi

là thiếu máu; thiếu nhẹ (Hb từ 9-11g/dL); thiếu vừa (Hb:7-9g/dL); thiếu nặng khi Hb<7g/dL Những trẻ có Hb<7 g/dL được điều trị ngay theo phác đồ thiếu máu và loại khỏi nghiên cứu

Số liệu được phân tích theo chương trình EPI-INFO 6.04 và SPSS 10.05 Các kết quả

được trình bày theo các số trung bình, tỷ lệ % Các test Student, χ2 được sử dụng để kiểm định

sự khác biệt giữa 2 nhóm nghiên cứu

III Kết quả

1 Một số đặc điểm trẻ khi bắt đầu nghiên cứu

Xét nghiệm sàng lọc cho thấy có 363/898 trường hợp (40,2%) có trứng giun trong phân Trong đó giun đũa là 40,43%, giun móc là 2,2% Có 38,2% nhiễm giun đơn, và 2,2% nhiễm phối hợp 2 loại giun Sau 10 ngày dùng thuốc tẩy giun cho 153 trẻ, đánh giá hiệu quả của thuốc giun bằng xét nghiệm lại trứng giun trong phân, kết quả cho thấy 92,9% trường hợp không còn bị nhiễm, có 7,1% vẫn còn nhiễm trứng giun

Sau 6 tháng nghiên cứu, có 31 trẻ bỏ cuộc (chiếm 10,1%), các lý do bao gồm: bố mẹ không cho lấy máu xét nghiệm lần 2 (18 trẻ), vắng nhà vào thời điểm điều tra kết thúc: 12 trẻ, 1 trẻ bị ốm đi bệnh viện xa Còn lại 136 trẻ thuộc nhóm can thiệp, và 141 trẻ thuộc nhóm

đối chứng được đưa vào phân tích thống kê về hiệu quả can thiệp

Trang 3

Bảng 1 Đặc điểm ban đầu của 2 nhóm

nghiên cứu*

(n= 141) X± SD

Can thiệp (n=136)

X ± SD

* P>0,05 giữa 2 nhóm nghiên cứu

WAZ, HAZ, WHZ: chỉ số Z-score cân nặng

/tuổi, chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao

Bảng 1 cho thấy không có sự khác biệt ý

nghĩa (P>0,05) về các chỉ số giữa 2 nhóm

nghiên cứu Có 40,8% trẻ bị SDD thể thiếu cân

(nặng/tuổi thấp), 31,8% trẻ có chiều cao thấp

(cao/tuổi thấp) và 10,8% trẻ gầy còm (cân/cao

thấp), thuộc vùng có tỷ lệ SDD cao Tỷ lệ thiếu

máu là 32,1%, trong đó 28,4% là thiếu máu

nhẹ (Hb: 9-11g/dL), và 3,7% thiếu máu vừa

(Hb: 7-9g/dL), thuộc vùng có tỷ lệ thiếu máu

cao

2 Hiệu quả của tẩy giun đến tình trạng

dinh dưỡng

Bảng 2 Gia tăng cân nặng, chiều cao của

2 nhóm tại các thời điểm khác nhau

(n= 141) X± SD

Can thiệp (n=136)

X ± SD Tăng cân nặng (kg)*

Tăng chiều cao (cm)*

1

P<0,05; 2 P<0,001 so với nhóm đối chứng cùng thời điểm, t- test

* Sau 2 tháng, 4 tháng, 6 tháng = số đo tại thời điểm 2, 4, 6 tháng trừ đi số đo ban đầu

Bảng 2 cho thấy, tại thời điểm sau 2 tháng nghiên cứu, cả cân nặng và chiều cao của nhóm

CT đều tăng hơn có ý nghĩa (P<0,05 cho cân nặng và <0,001 cho chiều cao) so với nhóm

ĐC Càng những tháng sau, sự cách biệt về chiều cao và cân nặng giữa hai nhóm càng lớn, sau 6 tháng nhóm CT có cân nặng và chiều cao tăng hơn nhóm ĐC là 300g (P<0,001) và 3,2cm 0,8cm (P<0,001), chứng minh hiệu quả tích cực của tẩy giun đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ

3 Hiệu quả của tẩy giun đến tình trạng thiếu máu của trẻ

Bảng 3 Thay đổi nồng độ Hb (g/dL) của 2 nhóm nghiên cứu tại các thời điểm khác nhau

(n= 141) X± SD

Can thiệp (n=136)

X ± SD

Chênh sau 6 tháng*

0,1 ± 0,42 0,6 ± 0,61,2

1. P<0,001 so với nhóm đối chứng;

2 P<0,001 so với bắt đầu nghiên cứu

* Chênh sau 6 tháng = số đo tại thời điểm 6 tháng trừ đi số đo ban đầu

Bảng 3 cho thấy sau 6 tháng can thiệp, nồng

độ Hb của nhóm tẩy giun tăng cao hơn có ý nghĩa so với nhóm ĐC (0,6g/dL so với 0,1 g/dL, P<0,001) Tương tự, tỷ lệ thiếu máu cũng giảm được 12,1% ở nhóm CT so với giảm 5,6%

ở nhóm ĐC

iV Bàn luận

ở Việt Nam điều kiện khí hậu nóng ẩm,

điều kiện vệ sinh môi trường kém thuận lợi cho

sự tồn tại và lây nhiễm giun, kết quả xét nghiệm trứng giun ở trẻ em ở 3 phường của Long Xuyên, An Giang cho thấy trẻ trước tuổi

đến trường có tỷ lệ nhiễm giun cao tới 40,4%

Trang 4

Sau 10 ngày dùng thuốc tẩy giun Mebendazole

cho 153 trẻ, đánh giá hiệu quả của thuốc giun

bằng xét nghiệm lại trứng giun trong phân, kết

quả cho thấy 92,9% trường hợp không còn bị

nhiễm, có 7,1% vẫn còn nhiễm trứng giun Kết

quả này cũng tương tự với nghiên cứu của

Nguyễn Công Khanh năm 1996 cho hiệu quả

tẩy giun là 93,9%

So sánh với tỷ lệ SDD chung của trẻ em

vùng đồng bằng sông Mêkong năm 2000

(32.3%), thì tỷ lệ SDD thuộc 3 phừơng cao hơn

8,5%, chứng tỏ ở đây trẻ vẫn còn nguy cơ cao

của thiếu dinh dưỡng Cũng tại thời gian này tỷ

lệ SDD của trẻ em thành phố Hồ Chí Minh chỉ

còn 14.5% (năm 2000) và 14% (năm 2001) [2]

Tương tự, tỷ lệ thiếu máu cũng cao hơn các

vùng khác cùng thời điểm [10] Nhiễm kí trùng

nhất là các kí sinh trùng đường ruột, nhất là

nhiễm giun một bệnh phổ biến ở các nước đang

phát triển khu vực khí hậu nhiệt đới Nhiễm

giun có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của trẻ

trước hết giun kí sinh ở đường ruột chúng lấy đi

một lượng đáng kể các chất dinh dưỡng của trẻ

Không chỉ lấy chất dinh dưỡng cần thiết mà

giun móc khi kí sinh trong ruột bám vào niêm

mạc ruột hút một lượng máu đồng thời dẫn tới

hiện tượng chảy máu đường ruột Cùng với

hiện tượng mất các chất dinh dưỡng nhiễm giun

đã dẫn tới hiện tượng trẻ chán ăn, và các rối

loạn lâm sàng khác mà nặng nề hơn khi trẻ bị

nhiễm nhiều loại và số lượng giun ở đường ruột

trẻ nhiều Chính vì vậy mà biện pháp tẩy giun

trong điều trị đã được thực hiện từ lâu và những

năm gần đây biện pháp đồng loạt cho trẻ tẩy

giun để cải thiện tình trạng dinh dưỡng chung

trong đó có thiếu máu đã được áp dụng Biện

pháp này dựa trên cơ sở khi tẩy giun cho trẻ

cùng với các biện pháp phòng nhiễm giun đã

hạn chế mất mát các chất dinh dưỡng không

chỉ các chất sinh năng lượng mà còn cả các vi

chất dinh dưỡng như vitamin và các chất

khoáng đặc biệt là sắt Khi hạn chế nhiễm giun

đường ruột còn góp phần cải thiện đáng kể quá

trình hấp thu tiêu hoá và cả làm tăng mức độ

thèm ăn của trẻ, chính vì vậy mà nhiều tác giả

cho rằng tẩy giun là một trong những biện pháp

trực tiếp cải thiện tình trạng dinh dưỡng ở trẻ

em [6,7,8]

Về kết quả của tẩy giun đến tình trạng dinh dưỡng, Khái & CS 1999 [6], Khanh & CS

2000 [7] cũng cho thấy tẩy giun ở trẻ em tiểu học (8 tuổi), giúp cho trẻ tăng cân nhanh hơn nhóm không được tẩy giun một cách có ý nghĩa Một số nghiên cứu khác tại Băngladesh (1995), Kenya (1989), cũng cho thấy những kết quả dương tính tương tự như nghiên cứu của chúng tôi [8,9] Tuy nhiên cũng có những nghiên cứu khác không thấy hiệu quả rõ rệt của tẩy giun do sự khác nhau về thời gian, lứa tuổi can thiệp, đặc biệt là điều kiện môi trường sống

và chế độ ăn kèm theo

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Khái & CS 1999[6] tại Thái Bình, cho thấy tẩy giun có hiệu quả rõ rệt làm tăng nồng độ

Hb và giảm tỷ lệ thiếu máu Tuy nhiên giảm tỷ

lệ thiếu máu trong nghiên cứu của chúng tôi chưa nhiều bằng nghiên cứu trên, cũng như một

số nghiên cứu nước ngoài khác, do đặc điểm của nhiễm giun, thời gian theo dõi và khẩu phần ăn có thể khác nhau giữa các vùng Nhưng nghiên cứu đã cho thấy hiệu quả của tẩy giun tới sự phát triển chiều cao, cân nặng và giảm tỷ lệ thiếu máu ở trẻ

V Kết luận và kiến nghị Sau 6 tháng can thiệp tẩy giun bằng Mebendazol, 1 liều 500mg, trên trẻ em nhiễm giun, lứa tuổi 36-60 tháng tại 3 phường thuộc

An Giang, đồng bằng sông Mêkong, kết quả cho thấy:

1- Tẩy giun có tác dụng cải thiện rõ rệt chiều cao và cân nặng của trẻ Sau 6 tháng tẩy giun, cân nặng, chiều cao của trẻ tăng nhiều hơn nhóm đối chứng là 0,3 kg và 0,8 cm Tương tự, Z score về cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi của nhóm can thiệp cũng tốt hơn nhóm

đối chứng là 0,13 và 0,17 đơn vị

2- Tẩy giun có tác dụng làm giảm 12,1% tỷ

lệ thiếu máu, trong khi nhóm đối chứng giảm 5.6% Nồng độ Hb trung bình của nhóm trẻ tẩy giun cao hơn một cách có ý nghĩa (+0.4 g/dL; P<0,05) so với nhóm không được tẩy giun

Trang 5

3- Tẩy giun cần được quan tâm phối hợp

trong các chương trình phòng chống SDD và

thiếu máu ở trẻ em, đặc biệt là ở những vùng

nghèo, khi điều kiện môi trường sống kém

Tài liệu tham khảo

1 WHO 1997 Global database on child

growth and malnutrition Geneva; pp 47-63

2 Viện Dinh dưỡng Quốc gia/ Tổng cục

Thống kê 2001 Tình trạng dinh dưỡng trẻ em

và bà mẹ Việt Nam năm 2000 NXBYhọc Hà

Nội; tr 12-70

3 Hà Huy Khôi, Hoàng Thị Vân, Lê Bạch

Mai và cs 1996 Tình trạng thiếu máu dinh

dưỡng và các nguy cơ của thiếu máu dinh

dưỡng ở Việt Nam Báo cáo khoa học viện

Dinh dưỡng; tr 12-18

4 WHO/UNICEF/UNU (1997) Indicators

and strategies for iron deficiency control

programs WHO/NUT/96.12, Geneva

Switzerland

5 Scrimshaw NS, Tayloz CE, Gordjon et al

(1968) Interaction of nutrition and infection

WHO monograph 57: 5-50

6 Phạm Ngọc Khái & CS (1999) Nghiên

cứu một số biện pháp y tế góp phần nâng cao

tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em 6-15 tuổi tại

trường học nông thôn Thái Bình Đề tài khoa

học cấp nhà nước KHCN-11.09.05A

(1997-1998)

7 Lê Nguyễn Bảo Khanh (2000) Hiệu quả của tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần đối với sự phát triển thể lực của học sinh tiểu học Luận văn Thạc sỹ Dinh dưỡng Cộng đồng, Đại học Y Hà nội

8 Rousham EK, Mascie-Taylor CGN (1995) A 18 month study of the effect of pediodic anthelmintic treatment on the growth and nutritional status of preschool children in Bangladesh Annals of Human Biology

21:315-324

9 Stephenson LS, Latham MC, Kurz KM (1989) Treatment with a single dose of Albendazole improves growth of Kenyan schoole children with hookworm, trichuris trichura and ascaris lumbricoides infection American journal of Clinical Nutrition

41:78-84

10 NIN/UNICEF 2001 Báo cáo về thiếu máu dinh dưỡng tại Việt Nam năm (2000) tr 10-30

.Summary effects of deworming on nutritional status, anemia

in children 36 to 60 month olds The effects of deworming on nutritional status, anemia was carrying out in 277 children aged from 36 -60 month olds belong 3 rural communes in Angiang province, Mekong River Delta, during 6 month-2001 The results showed that deworming by using Mebeldazol, one dose of 500mg, increased significantly weight and height of the children After deworming for 6-month period, the gain in weight and height of the deworming group were 0.3 kg and 0.8 cm higher than that of Control group Similarly, the change in WAZ and HAZ were also higher (0,13 and 0,17 respectively), intervention group compared with control group Deworming reduced by 12.1% anemia in intervention group, while only 5,6% was reduced incontrol group after 6 month Change

of Hb concentrations in control group was also higher by 0,4 g/dL compared with cotrol group Deworming should be integrated with the against-protein energy malnutriton and anemia program

in Vietnam

Ngày đăng: 26/02/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đặc điểm ban đầu của 2 nhóm - Tài liệu Hiệu quả của tẩy giun lên tình trạng dinh dưỡng thiếu máu ở trẻ em 36 - 60 tháng tuổi pdf
Bảng 1. Đặc điểm ban đầu của 2 nhóm (Trang 3)
Bảng 2 cho thấy, tại thời điểm sau 2 tháng  nghiên cứu, cả cân nặng và chiều cao của nhóm - Tài liệu Hiệu quả của tẩy giun lên tình trạng dinh dưỡng thiếu máu ở trẻ em 36 - 60 tháng tuổi pdf
Bảng 2 cho thấy, tại thời điểm sau 2 tháng nghiên cứu, cả cân nặng và chiều cao của nhóm (Trang 3)
Bảng 2. Gia tăng cân nặng, chiều cao của - Tài liệu Hiệu quả của tẩy giun lên tình trạng dinh dưỡng thiếu máu ở trẻ em 36 - 60 tháng tuổi pdf
Bảng 2. Gia tăng cân nặng, chiều cao của (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w