1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức liên hệ với vai trò của tri thức, tình cảm, niềm tin trong cuộc sống

15 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức liên hệ với vai trò của tri thức, tình cảm, niềm tin trong cuộc sống
Người hướng dẫn PTS. Đào Thị Hữu
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Triết học Mác - Lênin
Thể loại Báo cáo luận văn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 289,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa: V.I.Lenin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm g

Trang 1

Học phần: Triết học Mác - Lênin

Đ

Ề TÀI : Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

liên hệ với vai trò của tri thức, tình cảm, niềm tin

trong cuộc sống.

Giảng viên hướng dẫn : Đào Thị Hữu

Hà nội, ngày 12 tháng 01 năm 2022

Trang 2

Phần 1 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức: 2

1.1 Vật chất và ý thức: 2

1.1.1 Vật chất: 2

1.1.1.1 Định nghĩa: 2

1.1.1.2 Phương thức tồn tại: 2

1.1.2 Ý thức: 4

1.1.2.1 Kết cấu của ý thức: 4

1.1.2.2 Các đặc tính của ý thức 5

1.1.2.3 Bản chất của ý thức 6

1.2 Mối quan hệ biện chúng giữa vật chất và ý thức: 7

1.2.1 Vật chất có vai trò quyết định ý thức: 7

1.2.2 Ý thức tác động trở lại vật chất: 8

Phần 2 Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân 9

2.1 Liên hệ thực tế: vai trò của tri thức, tình cảm, niềm tin trong trong cuộc sống 9

2.1.1 Vai trò của tri thức: 9

2.1.1.1 Với chính trị: 9

2.1.1.2 Với kinh tế: 10

2.1.1.3 Với văn hóa giáo dục: 10

2.1.2 Vai trò của tình cảm: 10

2.1.2.1 Với Chính trị: 10

2.1.2.2 Với kinh tế: 11

2.1.2.3 Với giáo dục văn hóa: 11

2.1.3 Vai trò của niềm tin: 11

2.1.3.1 Với chính trị: 11

2.1.3.2 Với kinh tế: 11

2.1.3.3 Với văn hóa giáo dục: 11

2.2 Liên hệ bản thân: 12

KẾT LUẬN 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Vật chất và ý thức là hai phạm trù trong nội dung vấn đề cơ bản của triết học Chúng có mối quan hệ biện chúng với nhau Trong đó tri thức, tình cảm, niềm tin là ba yếu tố cấu thành nên ý thức con người Chúng là các yếu tố có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời, chúng tách động qua lại và tác động đến xã hội

Sự thành công hay thất bại của con người, sự phát triển của đời sống xã hội phụ thuộc vào vai trò của tri thức, tình cảm và niềm tin

Hoạt động nghiên cứu và học tập của sinh viên cũng là một trong những thành phần của đời sống xã hội và sự thành, bại của nó cũng góp phần vào công cuộc phát triển đời sống xã hội Giống như những lĩnh vực khác, tri thức, tình cảm và niềm tin cũng vừa là kim chỉ nam vừa là động lực của hoạt động nghiên cứu và học tập của sinh viên

Như vậy, đối với sự phát triển đời sống xã hội nói chung cũng như trong nghiên cứu và học tập của sinh viên nói riêng, tri thức, tình cảm và niềm tin có vai trò chủ chốt, không thể thiếu

Trang 4

NỘI DUNG:

Phần 1 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:

1.1 Vật chất và ý thức:

1.1.1 Vật chất:

1.1.1.1 Định nghĩa:

V.I.Lenin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”

Định nghĩa đã chỉ ra: vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thứcvà không phụ thuộc vào ý thức Nó là cái gây lên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó (trực tiếp hay gián tiếp) tác động lên các giác quan của con người; cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó

Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất, không thể làm theo cách thông thường là chuyển một khái niệm cần định nghĩa sang một khái niệm khác rộng hơn vì khái niệm vật chất là khái niệm rộng nhất Để định nghĩa vật chất, Lênin

đã để vật chất đối lập với ý thức, hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, vất chất tồn tại độc lập đối với cảm giác, với ý thức, còn cảm giác, ý thức phụ thuộc vào vật chất, phản ánh vật chất

1.1.1.2 Phương thức tồn tại:

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất Phương thức tồn tại của vật chất bao gồm cách thức tồn tại và hình thức tồn tại Chủ nghĩa duy vật biện chúng khẳng định: Vận động là cách thức tồn tại, dòng thời là hình thức tồn tại của vật chất; không gian, thời gian là hình thức tồn tại của vật chất Anghen cho rằng“Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”

Trang 5

Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất bởi không ở đâu và ở nơi nào lại có thể có vật chất không vận động Nó tồn tại bằng cách vận động, luôn luôn trong quá trình biến đổi không ngừng Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong thế giới vi mô đến các hệ thống hành tinh khổng lồ trong thế giới vĩ mô, từ

vô cơ đến hữu cơ, từ hiện tượng tự nhiên đến xã hội loài người, tất cả luôn ở trạng thái vận động Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những nhân tố, những bộ phận, những xu hướng khác nhau, cùng tồn tại, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau

Nguồn gốc của vận động là do những nguyên nhân bên trong, vận động của vật chất là tự thân vận động Nhận thức sự vận động của một sự vật, một hiện tượng chính là nhận thức bản thân sự vật hiện tượng đó Nhiệm vụ của mọi khoa học, suy cho cùng là nghiên cứu sự vận động của các vật chất trong các phạm vi, lĩnh vực, trình độ, kết cấu khác nhau Vận động có nhiều hình thức trong đó có 5 hình thức vận động cơ bản: cơ học; vật lý; hoá học; sinh học; xã hội Chúng đều quan hệ chặt chẽ với nhau Một hình thức vận động nào đó được thực hiện là do sự tác động qua lại với các hình thức vận động khác trong đó những hình thức vận động cao bao giờ cũng bao hàm những hình thức vận động thấp hơn, nhưng cũng không thể coi hình thức vận động cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp Mỗi sự vật, hiện tượng có thể gắn với nhiều hình thức vận động nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hình thức vận động

cơ bản

Mặc dù vật chất luôn ở trong quá trình vận động không ngừng nhưng điều

đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối Nếu vận động là sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng thì sự đứng im là sự ổn định, là sự bảo toàn tính qui định của các sự vật hiện tượng Đứng im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động, vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối,chưa biến đổi Đứng im chỉ là tạm thời vì nó chỉ xảy ra trong một thời gian nhất định Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng nhưng vận động toàn thể lại phân loại sự cân bằng riêng biệt thành các sự vật, hiện tượng luôn thay đổi chuyển hoá cho nhau

Trang 6

Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, trong đó không gian là hình tức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính, sự cùng tồn tại, trật tự, kết cấu và sự tác đọng lẫn nhau; thời gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp của cách quá tình Chúng là hai tồn tại khác nhau của vật chất vận động nhưng chúng không tách rời nhau Tính chất và

sự biến đổi của không gian gắn liền với tính chất và sự biến đổi của thời gian

Do đó chúng là một thể thống nhất và vô tận

1.1.2 Ý thức:

1.1.2.1 Kết cấu của ý thức:

Cũng như vật chất, có rất nhiều các quan niệm về ý thức theo các trường phái khác nhau Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật ở đây khẳng định rằng ý thức là đặc tính là sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con người thông qua lao động và ngôn ngữ Mác nhấn mạnh rằng tinh thần, ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc của con người và được cải biến ở trong đó

Ý thức là một hiện tượng xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm ý thức, tri thức, tìm cảm, niềm tin trong đó tri thức là quan trong nhất là phương thức tồn tại của ý thức

Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức vì sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với nhau trong quá trình nhận thức của con người và cải biến thế giới tự nhiên Tri thức càng được tích lũy nhiều, con người ngày càng đi sâu vào bản chất sự vật, sự việc và cải tạo sự vật, sự việc đó có hiệu quả hơn, qua đó tăng tính năng động của ý thức Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của ý thức có ý nghĩa phản bác lại quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình cảm niềm tin, ý chí Tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận và coi nhẹ vai trò của các nhân tố tình cảm ý chí

Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng của ý thức Chủ nghĩa duy tâm coi tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện quan hệ xã hội Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tự ý thức là ý

Trang 7

thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ thế giới bên ngoài Khi phản ánh thế giới khách quan, con người tự phân biệt mình, đối lập mình với thế giới đó và tự nhận thức mình như là một thực thể hoạt động, có cảm giác, có tư duy, có các hành vi đạo đức và có vị trí xã hội Mặt khác sự giao tiếp

xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người phải nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh bản thân mình theo các qui tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội

đề ra

Vô thức là một hiện tượng tâm lí nhưng có liên quan đến những hoạt động xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người Trong những hoàn cảnh nào đó nó có thể giúp con người bớt sự căng thẳng trong hoạt động Việc tăng cường rèn luyện để biến những hành vi tích cực thành thói quen và có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người Trong con người ý thức vẫn là cái chủ đạo quyết định trong hành vi

cá nhân

1.1.2.2 Các đặc tính của ý thức.

Nguồn gốc tự nhiên: Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vất chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động ý thức của con người diễn

ra trên cơ sở hoạt động sinh lí thần kinh của của bộ não con người Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người Sự xuất hiện của ý thức gắn liền với sự phát triển đặc tính của phản ánh, đặc tính này phát triển cùng với sự phát triển của thế giới tự nhiên Sự xuất hiện của con người và xã hội loài người đưa lại hình thức của sự phản ánh, đó là sự phản ánh ý thức Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội

Nguồn gốc xã hội: Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành

và phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội

Trang 8

Từ lao động- phương thức tồn tại đầu tiên mà con người dần liên kết, tạo mối quan hệ mà sinh ra tiếng nói nhằm phục vụ nhu cầu trao đổi Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy Với sự xuất hiện ngôn ngữ, tư tưởng của con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp, trở thành tính hiệu vật chất tác động đến giác quan con người và gây ra cảm giác, qua đó tạo dựng niềm tin, tình thương yêu, gắn bó giữa con người Thông qua đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lai, ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân Ngôn ngữ đóng vai trò chủ chốt trong quá trình hình thành và phát triển của loài người nhờ đó mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng, đồng thời tổng kết được hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử

1.1.2.3 Bản chất của ý thức

Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức, có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội

Bản tính phản ánh thể hiện thông tin về thế giới bên ngoài là biểu thị nội dung nhân được từ vật gây ra tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh Bản tính của phản ánh qui định mặt khách quan của ý thức, tức là ý thức phải lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan qui định và có nội dung phản ánh là thế giới khách quan

Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, hoạt động sáng tạo và thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể thiếu được của hoạt động đó Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động, nguyên xi sự vật mà phản ánh gắn liền với cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với xử lí thông tin Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan, quá trình chủ động tác động vào thế giới để phản ánh thế giới đó

Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời Không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở sáng tạo Ngược lại không có sự sáng tạo thì không phải là phản ánh ý thức Đó

Trang 9

là mối quan hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhập và xử lí thông tin, là sự thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan trong ý thức

Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người Hoạt động đó không phải là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội Do ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội Ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội và hoàn cảnh, về những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan, về mối liên hệ giưa người và người trong xã hội Do đó ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội cùng các qui luật tồn tại của xã hội đó…và ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng của ý thức xã hội Bản thống nhất nó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức, ở mối quan hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tao thế giới của con người

1.2 Mối quan hệ biện chúng giữa vật chất và ý thức:

Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất có trước còn ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của

ý thức quyết định ý thức,ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

1.2.1 Vật chất có vai trò quyết định ý thức:

Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất,vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức.

Thứ hai,vật chất quyết định nội dung của ý thức.

Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức

Thứ tư, vật cất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức.

Qua đó, ta có thể khẳng định rằng, trong nhận thức luận, vật chất luôn mang tính thứ nhất, là cái quyết định và nó còn là điều kiện để hiện thực hoá ý thức

Các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh rằng, giới tự nhiên có trước con người; vật chất là cái có trước; ý thức là cái có sau;vật chất là

Trang 10

tính thứ nhất; ý thức là tính thứ hai Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức Con người là kết quả của một quá trình phát triển, tiến hóa lâu dài, phức tạp của giới tự nhiên, của thế giới vật chất nên lẽ tất nhiên ý thức- thuộc tính của bộ óc con người cũng do giới tự nhiện,vật chất sinh

ra Bộ óc người là một dạng vật chất có tổ chức, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan Sự vận động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tư duy là bộ óc người

Dưới bất kì hình thức nào, ý thức đều là phản ánh hiện thực khách quan

Ý thức mà trong nội dung của nó chẳng qua là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đàu óc con người Chính vì vậy mà thế giới khách quan như thế nào thì ý thức phản ánh như thế ấy, không nên phản ánh một cách xuyên tạc, hư ảo, bóp méo sự thật về thế giới khách quan như việc tô vẽ hình tượng các vị thần linh Nói cách khác, nội dung phản ánh của ý thức phải lấy cái khách quan làm tiền đề và bị cái khách quan quy định

Phản ánh và sáng tạo và sáng tạo là hai thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức Khác với chủ nghĩa duy vật cũ, chủ nghĩa biện chứng xem xét thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới con người- là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức, trong đó ý thức con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đỏi của vật chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng thay đổi theo Con người- một sinh vật có tính xã hội ngày càng phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, thì dĩ nhiên ý thức- một hình thức phản ánh của óc người cũng phát triển

cả về nội dung và hình thức phản ánh Đời sóng xã hội ngày càng văn minh và khoa học ngày càng phát triển đã chứng minh điều đó

1.2.2 Ý thức tác động trở lại vật chất:

Trong khi đó, vai trò của ý thức với vật chất thể hiện ở các khía cạnh:

Ngày đăng: 12/07/2022, 20:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w