1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Ảnh hưởng của Thổ Phục Linh (Smilax Glabra Roxb trên nồng độ Glucose và Insulin máu ở chuột cống đái tháo đường di chủng GK và trên đảo tụy cô lập docx

5 466 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 175,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ảnh hưởng của thổ phục linh Smilax glabra Roxb trên nồng độ glucose và insulin máu ở chuột cống đái tháo đường di truyền chủng GK và trên đảo tụy cô lập Nguyễn Ngọc Xuân1 , Đào Văn Ph

Trang 1

ảnh hưởng của thổ phục linh (Smilax glabra Roxb) trên nồng độ glucose và insulin máu ở chuột cống

đái tháo đường di truyền chủng GK

và trên đảo tụy cô lập

Nguyễn Ngọc Xuân1

, Đào Văn Phan2

, Ostenson C G 3

, Nguyễn Khánh Hòa 2

1

Trường Đại học Tây nguyên

2

Bộ môn Dược lý trường Đại học Y Hà Nội

3

Khoa Y học phân tử viện Karolinska Thụy Điển

Dạng bột đông khô chiết ethanol của thổ phục linh (SG) liều 100mg/kg- tiêm màng bụng có tác dụng hạ đường huyết (HĐH) trên chuột cống đái tháo đường di truyền chủng

GK Tác dụng HĐH mạnh nhất vào giờ thứ 4 sau tiêm (-27,46%; p<0,01) và kéo dài trên 6 giờ Cùng với tác dụng HĐH, mức insulin máu cũng giảm mạnh ở giờ thứ 2 và giờ thứ 4 (-42,74%) sau tiêm SG với nồng độ 2mg và 4mg/1ml không làm ảnh hưởng đến sự bài tiết insulin của đảo tụy cô lập

Tác dụng HĐH của SG là làm tăng nhạy cảm của mô đích với insulin

I Đặt vấn đề

Trong các nghiên cứu trước [1, 2] chúng

tôi đã phát hiện tác dụng hạ đường huyết

của thổ phục linh (Smilax glabra Roxb -

SG) trên chuột nhắt và đã thăm dò cơ chế

hạ đường huyết trên chuột gây tăng đường

huyết bằng streptozôtcin, trên khả năng

dung nạp glucose Nghiên cứu này nhằm

mục tiêu tiếp tục tìm hiểu sâu thêm về cơ

chế tác dụng HĐH của SG, thông qua mô

hình chuột đái tháo đường (ĐTĐ) di truyền

GK và trên đảo tụy cô lập

II Chất liệu và phương pháp

nghiên cứu

1 Chất liệu nghiên cứu

Thân rễ của SG được phơi khô và chiết

trong ethanol thu được dạng bột đông khô;

100g dược liệu khô tương đương 3,5 g bột

đông khô (chi tiết xin xem [1,2])

Chuột cống ĐTĐ di truyền chủng GK có

đặc điểm: Tăng đường huyết vừa phải, rối

loạn bài tiết insulin ở cả 2 pha sớm và muộn, kháng insulin mức độ nhẹ và không cần bồi phụ insulin để duy trì sự sống [3,4] Chuột cống chủng Wistar cả 2 giống khỏe mạnh

Chuột cống cả 2 giống (chủng GK và chủng Wistar) cân nặng 180-220g, do phòng chăn nuôi viện Karolinska cung cấp Thí nghiệm được tiến hành tại khoa Y học phân tử, viện Karolinska, Thuỵ Điển

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Đánh giá tác dụng của SG trên nồng độ glucose và insulin máu ở chuột cống ĐTĐ di truyền chủng GK và chuột cống bình thường chủng Wistar

Với mỗi chủng chuột, dùng 2 lô, lô 1 tmb NaCl 0,9% (dùng làm lô chứng), lô 2 tmb SG 100mg/kg Xác định đồng thời nồng độ glucose và insulin máu vào thời

điểm trước lúc tiêm thuốc (0 giờ), 2, 4 (và 6 giờ chỉ riêng với glucose) sau tiêm thuốc

Trang 2

2.2 So sánh mức insulin máu giữa

chuột cống ĐTĐ GK và chuột cống chủng

Wistar

Các chuột Wistar và chuột ĐTĐ chủng

GK được lấy máu ở 3 thời điểm khác nhau

để xác định nồng độ insulin máu

2.3 Đánh giá ảnh hưởng của SG trên

bài tiết insulin của đảo tụy cô lập

Chuột cống chủng Wistar khỏe mạnh,

cân nặng 180-200g, Sau khi giết(bằng

tuyến tụy, tách các đảo tụy và nuôi cấy

theo phương pháp Langerhans [6]

Các đảo tụy đã cô lập được chia thành

4 nhóm Nhóm 1 (chứng) được ủ trong

dung dịch KRB (Kreb-Ringer Buffer) với

3,3mM glucose, nhóm 2, 3 và nhóm 4

được ủ trong điều kiện tương tự nhóm

chứng nhưng cho thêm SG 2mg/ml,

4mg/ml và tolbutmid 100àM/l lần lượt cho các lô 2, 3 và 4 Sau 1 giờ ủ ở nhiệt độ

insulin có trong dịch ủ

STAT theo nguyên lý đếm số electron sinh

ra khi glucose bị oxy hóa bởi enzyme glucose oxidase

Định lượng insulin máu bằng phương pháp miễn dịch phóng xạ [5] Nghiên cứu

được tiến hành tại Labô trung tâm Y học

phân tử Viện Karolinska Thụy Điển

III Kết quả

1 Tác dụng của SG trên nồng độ glucose máu ở chuột cống ĐTĐ GK

Bảng 1 ảnh hưởng của SG trên nồng độ glucose máu ở chuột GK (n=6/lô)

Nồng độ glucose máu sau tiêm thuốc (mg/dl)

SG100mg

(-20,86%) (1)

* (-27,00%) (2)

119,34 ± 23,4

(-27,46%) (1)

**

(-40,10%) (-2)

190,62 ± 42,3

(-20,13%) (1) (-4,33%) (2)

% hạ đường huyết so với

% HĐH so với lúc chưa tiêm thuốc (0 giờ)

Nhận xét: SG 100mg-tmb tác dụng HĐH xuất hiện ở giờ thứ 2 mạnh nhất giờ thứ 4 và

kéo dài trên 6 giờ

2 ảnh hưởng của SG trên nồng độ insulin máu ở chuột cống ĐTĐ GK

Cùng với định lượng glucose máu, các chuột ở thực nghiệm 1 cũng được xác định insulin máu vào các thời điểm 0 giờ (chưa tiêm thuốc), 2 và 4 giờ sau tiêm thuốc Kết quả

được trình bày ở bảng2

Trang 3

Bảng 2 ảnh hưởng của SG trên nồng độ insulin máu ở chuột GK (n=6)

Nồng độ insulin máu sau tiêm thuốc (mic UI/ml)

(41,17%) ** (1) (-37,32%) (2)

12,73 ± 4,51

(42,74%)** (1) (-52,48%) (2)

% mức insulin giảm so với chứng,

Nhận xét: SG 100mg/kg-tmb, làm hạ thấp mức insulin máu, mức insulin hạ mạnh ở giờ thứ 2 và giờ thứ 4

3 ảnh hưởng của SG trên nồng độ glucose máu ở chuột Wistar

Bảng 3 ảnh hưởng của SG trên nồng độ glucose máu ở chuột Wistar (n=5/lô)

Nồng độ glucose máu sau tiêm thuốc (mg/dl)

SG

84,24 ± 6,66 (- 18,18%) (1)

* (-11,36%) (2)

79,2 ± 6,3 (- 22,80%) (1)

**

(-16,66%) (2)

80,64 ± 8,64 (- 12,84%) (1) (-15,15%)

(1)

% HĐH so với lúc chưa tiêm thuốc (0 giờ) * p< 0,0, **p<0,01

Nhận xét: SG1 100mg-tmb có tác dụng HĐH, mức HĐH xuất hiện ở giờ thứ 2, mạnh nhất ở giờ thứ 4 và kéo dài trên 6 giờ

4 ảnh hưởng của SG trên nồng độ insulin máu ở chuột cống wistar

Cùng với định lượng glucose máu, các chuột ở thực nghiệm 3 cũng được xác định insulin máu vào các thời điểm 0 giờ (chưa tiêm thuốc), 2 và 4 giờ sau tiêm thuốc Kết quả

được trình bày ở bảng 4

Bảng 4 ảnh hưởng của SG trên nồng độ insulin máu ở chuột cống Wistar (n=5/lô)

Nồng độ insulin máu sau tiêm thuốc (micUI/ml)

Nhận xét: SG 100mg-tmb không làm thay đổi mức insulin máu so với chứng

5 So sánh mức insulin máu ở chuột cống GK và chuột Wistar

Xác định insulin máu của nhóm chuột GK và chuột Wistar ở các thời điểm 0 giờ bắt đầu lấy máu, 2 và 4 giờ sau lấy máu Kết quả được trình bày ở bảng 5

Trang 4

Bảng 5 So sánh mức insulin máu ở chuột cống GK và chuột Wistar (n=5/lô)

Nồng độ insulin máu (mic UI/ml)

*

p<0,05 (giá trị p so giữa chuột GK và

chuột Wistar)

Nhận xét Chuột GK có nồng độ insulin

máu cao xấp xỉ gấp 2 lần chuột Wistar

6 Đánh giá ảnh hưởng của SG trên

bài tiết insulin của đảo tụy cô lập

Các đảo tụy đã cô lập được ủ với SG (2

hoặc 4mg/ml) hoặc tolbutamid 100àM/l

Sau 1 giờ ủ, xác định nồng độ insulin có

trong dịch ủ Kết quả được trình bày ở

bảng 6

Bảng 6 ảnh hưởng của SG trên bài tiết

insulin ở đảo tụy cô lập

Nồng độ insulin máu (mic UI/đảo tụy/giờ)

Tolbutamid

100àM/l (n=10)

24,6 ± 11,49*

p<0,05

Nhận xét: SG 2mg, 4mg/ml không làm

thay đổi bài tiết insulin ở đảo tụy cô lập

IV Bàn luận

Trên chuột ĐTĐ GK, SG 100-tmb có tác

dụng HĐH, mức HĐH bắt đầu ở giờ thứ 2

(20,86%) và mạnh nhất ở giờ thứ 4

(27,46%); Cùng với tác dụng HĐH, mức

insulin máu cũng giảm, sau 2, 4 giờ tiêm

SG, mức insulin máu giảm lần lượt 41,17%

và 42,74% so với chứng (p<0,01)

Trên chuột Wistar, với cùng liều SG

100mg-tmb, mặc dù đường huyết giảm

(22,8%) nhưng mức insulin máu thì lại

không thay đổi (p>0,05) Nguyên nhân nào dẫn đến sự khác biệt về ảnh hưởng của

SG đối với insulin trên 2 giống chuột trên ?

Về lý thuyết, để có tác dụng HĐH, SG

có thể kích thích tế bào β tụy bài tiết insulin hoặc/và tăng nhậy cảm của mô đích với insulin, 2 khả năng này đều có thể xẩy ra Khả năng kích thích bài tiết insulin đã

được loại trừ vì cả trên chuột ĐTĐ GK và chuột Wistar mức insulin máu sau tiêm SG

đều không tăng; mặt khác kết quả nuôi cấy đảo tụy cho thấy không có sự khác biệt mức bài tiết insulin giữa lô trị và lô chứng (bảng 6)

Như vậy chỉ còn khả năng là SG đã làm tăng nhậy cảm của mô đích với insulin, hay nói cách khác, SG giúp insulin gắn vào receptor nhiều hơn và phát huy tác dụng sinh học mạnh hơn Chính khả năng này giúp lý giải sự khác biệt tác dụng của

SG trên mức insulin máu giữa chuột ĐTĐ

GK và chuột Wistar Chuột ĐTĐ GK với

đặc điểm rối loạn bài tiết insulin và kháng insulin [3, 4], còn chuột Wistar không có biểu hiện kháng insulin Với cơ chế tăng nhậy cảm của insulin với mô đích, SG đã giúp insulin gắn vào receptor nhiều hơn và kết quả là mức insulin ở chuột GK hạ thấp (giảm 42,74% so với chứng); còn ở chuột Wistar thì mức insulin máu không đổi (bảng 4) Để khẳng định đặc điểm kháng insulin ở chuột GK chúng tôi cũng đã so sánh mức insulin máu ở cả 3 thời điểm khác nhau giữa chuột GK và chuột Wistar Kết quả cho thấy ở cả 3 thời điểm, mức insulin máu ở chuột GK cao xấp xỉ gấp 2 lần chuột Wistar (bảng 5) Như vậy chính

Trang 5

sự khác biệt đặc điểm kháng insulin giữa

chuột GK và chuột Wistar đã lý giải sự

khác biệt tác dụng của SG trên mức insulin

máu và khẳng định cơ chế tác dụng của

SG chính là làm tăng nhậy cảm của mô

đích với insulin

V Kết luận

Trên chuột cống ĐTĐ di truyền chủng

GK, SG liều 100mg/kg tmb có tác dụng

HĐH, mức HĐH bắt đầu ở giờ thứ 2, mạnh

nhất ở giờ thứ 4 và kéo dài trên 6 giờ

Cùng với tác dụng HĐH, mức insulin máu

cũng giảm đáng kể so với chứng

Tác dụng HĐH của SG là do cơ chế:

- Không kích thích tế bào β tuyến tụy

bài tiết insulin

- Làm tăng nhậy cảm của mô đích với

insulin Như vậy SG có thể sử dụng cho

điều trị ĐTĐ typ 2

Tài liệu tham khảo

1 Đào Văn Phan, Nguyễn Ngọc

Xuân, Nguyễn Duy Thuần (2000), Bước

đầu tìm hiểu cơ chế tác dụng hạ đường

huyết của thổ phục linh (Smilax glabra

Roxb-Liliaceae) Tạp chí nghiên cứu Y học,

1, Bộ Y tế, Đại học Y Hà Nội, Tr

37-42

2 Nguyễn Ngọc Xuân, Đào Văn Phan, Nguyễn Duy Thuần (2000), Bước

đầu nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của thổ phục linh (Smilax glabra Roxb)

trên chuột nhắt Tạp chí Dược lý học, số 4,

Tr 12-13

3 Amel Guenifi (1999), Mechanisms

of impaired insulin release in type-2 diabetes: Studies in the GK rat model, Stockholm

4 Goto Y, Kakizaki M, Masaki N

(1975), Spontaneous diabetes produced

by repeated selective breeding of normal

Wistar rats Proc Japan Acad, Pp 80-85

5 Herbert V., Lau K S, Gottlier CW, Bleicher S J (1965), Coated charcoal

immunoassay of insulin j Clin Endocrinol Metab Pp 1375 - 1384

6 Lacy PE, Kostianovsky M (1967), Method for the isolation of intac islets of Langerhans from the rat pancrease

Diabetes, 16, Pp 35-39

Summary

Effect of Smilax glabra Roxb on blood glucose of diabetic GK rat and on the isolated pancreas islets

of normal rat

The hypoglycemic effect of rhizomes of Smilax glabra Roxb (SG) was investigated in

GK rat, one of the animal model of non-insulin-dependent diabetes mellitus The ethanol extract of SG (100mg/kg of body weight) reduced the blood glucose and plasma insulin levels of GK rat 4 h after intraperitoneal administration (p<0.01), while on the normal Wistar rat, it reduced only the glycemia

On the isolated pancreas islets, SG with the concentration of 2mg or 4mg/1ml/h was no effect on insulin secretion

From this finding, we suggest that the hypoglycemic effect of SG is due to increase the sesibility of target tissue to insulin

Ngày đăng: 26/02/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.  ả nh hưởng của SG trên nồng độ glucose máu ở chuột GK (n=6/lô). - Tài liệu Ảnh hưởng của Thổ Phục Linh (Smilax Glabra Roxb trên nồng độ Glucose và Insulin máu ở chuột cống đái tháo đường di chủng GK và trên đảo tụy cô lập docx
Bảng 1. ả nh hưởng của SG trên nồng độ glucose máu ở chuột GK (n=6/lô) (Trang 2)
Bảng 2.  ả nh hưởng của SG trên nồng độ insulin máu ở chuột GK (n=6). - Tài liệu Ảnh hưởng của Thổ Phục Linh (Smilax Glabra Roxb trên nồng độ Glucose và Insulin máu ở chuột cống đái tháo đường di chủng GK và trên đảo tụy cô lập docx
Bảng 2. ả nh hưởng của SG trên nồng độ insulin máu ở chuột GK (n=6) (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w