ứng dựng kỹ thuật MAC-ELISA chẩn đoán viêm n∙o nhật bản tại bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm 1997- 2001 Nguyễn Thị Hạnh, Vũ Tường Vân, Nguyễn Xuân Quang, Lê Khánh Trâm, Nguyễn Ngọc Điệp
Trang 1ứng dựng kỹ thuật MAC-ELISA chẩn đoán viêm n∙o nhật bản tại bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm (1997- 2001)
Nguyễn Thị Hạnh, Vũ Tường Vân, Nguyễn Xuân Quang, Lê Khánh Trâm,
Nguyễn Ngọc Điệp
Khoa Vi sinh bệnh viện Bạch Mai
Trong thời gian từ 1/1997 đến 12/2001 chúng tôi làm xét nghiệm MAC-ELISA chẩn đoán viêm não Nhật Bản với 1405 mẫu huyết thanh của 1159 bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng là viêm não điều trị tại các khoa Thần kinh, khoa Nhi, khoa Cấp cứu và viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt
đới Kết quả như sau:
1 Bằng kỹ thuật MAC-ELISA đã xác định 16,64% trường hợp dương tính viêm não Nhật Bản
2 Tỷ lệ mắc viêm não Nhật Bản (VNNB) ở nam là 58,55%, ở nữ là 41,44%
3 Tỷ lệ mắc VNNB ở lứa tuổi trẻ em (1-15) là: 38,85%
4 Tỷ lệ mắc VNNB ở người lớn (16 tuổi trở lên) là : 61,15%
5 Tỷ lệ VNNB bằng kỹ thuật MAC-ELISA trong dịch não tuỷ của 71 bệnh nhân là 12,67%
I Đặt vấn đề
Viêm não Nhật Bản (VNNB) là một bệnh
nhiễm trùng thần kinh do virút viêm não gây
ra Virút viêm não gây nên những vụ dịch có
chu kỳ với tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong và di
chứng khá cao Bệnh xảy ra theo mùa khá rõ
rệt, chủ yếu là mùa hè Bệnh viêm não do virút
VNNB lưu hành ở các nước thuộc khu vực
Châu á và Tây Thái Bình Dương Hàng năm
Châu á có khoảng 50.000 trường hợp mắc
bệnh viêm não Nhật Bản [10]
ở Nhật bản từ năm 1970 đã thanh toán được
bệnh VNNB do việc sử dụng tiêm chủng rộng
rãi vácxin viêm não cho trẻ em Hàng năm chỉ
có khoảng dưới 20 trường hợp mắc bệnh [1] ở
Hàn Quốc, số trường hợp mắc bệnh VNNB
giảm có ý nghĩa từ sau năm 1983 cũng do kết
quả tiêm chủng rộng rãi vácxin VNNB [10]
Thái Lan đang là một vùng dịch VNNB lưu
hành nghiêm trọng [10] ở ấn Độ tại vùng
Uttarpradesh, từ năm 1997- 2001 số trường hợp
mắc VNNB là 4566, trong đó có 931 trường hợp tử vong [10]
ở Việt Nam, vụ dịch viêm não mùa hè năm
1959 ở miền Bắc đã được xác định là do virút VNNB Từ đó cho đến nay, dịch viêm não thường xảy ra hàng năm dưới dạng tản phát hoặc ồ ạt và ngày càng có khuynh hướng lan rộng Theo thông kê của viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương Hà Nội thì VNNB là một trong 5 bệnh truyền nhiễm nguy hiểu có tỷ lệ mắc và tử vong khá cao Bệnh viêm não Nhật Bản chủ yếu gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi
Theo Lê Đức Hinh (khoa Thần kinh bệnh viện Bạch Mai) từ năm 1960 - 1980 ở miền Bắc thường gặp VNNB ở trẻ em, nhưng từ năm
1980 trở lại đây VNNB ở người lớn tăng dần theo thời gian [2]
Sử dụng vácxin VNNB phòng bệnh là biện pháp phòng chống có hiệu quả nhất Sau những kết quả thử nghiệm vácxin VNNB trên thực địa
đạt kết quả tốt, vácxin VNNB do viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội sản xuất đã được
Trang 2đưa vào “Chương trình tiêm chủng mở rộng” để
phòng bệnh cho trẻ em từ 1 - 5 tuổi ở một số
vùng trọng điểm từ năm 1997 Kết quả cho
thấy việc sử dụng vácxin VNNB phòng bệnh
cho trẻ em đã làm thay đổi tỷ lệ mắc VNNB
theo chẩn đoán huyết thanh học trong nhóm
tuổi được sử dụng vácxin [5]
Việc chẩn đoán virút học gồm 2 phương
pháp: Phân lập virút và chẩn đoán huyết thanh
Phân lập virút chỉ tiến hành ở phòng xét
nghiệm có trang thiết bị hiện đại, tốn kém, thời
gian quá lâu và nhiều khi không đạt kết quả do
đó phải dựa vào chẩn đoán huyết thanh
Trước năm 1997 chúng tôi thường sử dụng
kỹ thuật ức chế ngưng kết hồng cầu
(UCNKHC) để chẩn đoán nhiễm virút viêm
não Nhật Bản nên việc chẩn đoán kết quả gặp
rất nhiều khó khăn nếu lần trước bị nhiễm một
loại virut khác trong nhóm Arbo hay trong
cùng một vùng lưu hành từ 2 loại virút trở lên
(ví dụ Dengue xuất) và VNNB và phải lấy mẫu
2 lần để tìm động lực KT Từ tháng 5/1996 cho
đến nay chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật
MAC-ELISA để phát hiện kháng thể IgM kháng virut
VNNB trong huyết thanh và dịch não tuỷ của
bệnh nhân
Kỹ thuật MAC-ELISA có độ chính xác cao,
cho kết quả nhanh hơn, nhạy hơn và đặc hiệu
hơn và có thể chỉ cần lấy máu hoặc dịch não
tuỷ một lần Tuy nhiên nếu lấy máu được 2 lần
thì tỷ lệ dương tính cao hơn Mục đích nghiên
cứu của chúng tôi nhằm:
1 Đánh giá tình hình mắc VNNB bằng kỹ
thuật MAC-ELISA trên những bệnh nhân được
chẩn đoán lâm sàng là viêm não nằm điều trị
tại bệnh viện Bạch Mai từ 1997 - 2001
2 Xác định lỷ lệ mắc VNNB theo giới và
các nhóm tuổi
II đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng:
Chúng tôi tiến hành xét nghiệm 1405 mẫu huyết thanh (HT) của 1159 bệnh nhân (trong
đó 913 bệnh nhân có một mẫu huyết thanh đơn
và 246 bệnh nhân có mẫu huyết thanh kép Những bệnh nhân này được chẩn đoán lâm sàng là viêm não và hội chứng não cấp nằm
điều trị tại khoa Thần kinh, khoa Cấp cứu, khoa Nhi, viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới (chủ yếu là bệnh nhân của khoa Thần kinh) trong thời gian từ tháng 1/1997-12/2001
2 Phương pháp:
2.1 Huyết thanh bệnh nhân: lấy 2ml máu
tĩnh mạch không chống đông, ly tâm lấy huyết thanh và bảo quản ở -20oC cho đến khi làm xét nghiệm
2.2 Sử dụng bộ sinh phẩm MAC-ELISA chẩn đoán viêm não Nhật Bản do viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội sản xuất
2.3 Phương pháp: Theo thường quy làm
phản ứng ELISA
- Kết quả đọc trên máy đọc ELISA ở bước sóng 492-620 nm
- Xử lý số liệu theo chương trình Epiinfo 6.0 của Tổ chức Y tế thế giới
III Kết quả
1 Số bệnh nhân mắc VNNB có kết quả MAC-ELISA dương tính
Bảng 1: Số bệnh nhân mắc VNNB có kết quả MAC-ELISA dương tính trong 5 năm:
Tổng số bệnh nhân XN
Số bệnh nhân (+)
Tỷ lệ %
1159 152 13,11
Trang 32 Số bệnh nhân mắc VNNB có kết quả MAC-ELISA (+) dương tính
Bảng 2: Số bệnh nhân mắc VNNB có kết quả MAC-ELISA (+) dương tính theo từng năm:
Năm Tổng số bệnh nhân XN Số bệnh nhân (+) Tỷ lệ %
3 So sánh tỷ lệ phát hiện VNNB trong các bệnh nhân có mẫu huyết thanh đơn và kép làm
xét nghiệm
Bảng 3: So sánh tỷ lệ phát hiện VNNB trong các bệnh nhân có máu huyết thanh đơn
và kép làm xét nghiệm theo từng năm
Năm Số BN có mẫu HT kép (+) Tỷ lệ % Số BN có mẫu HT đơn (+) Tỷ lệ %
Tỷ lệ phát hiện VNNB trong nhóm bệnh nhân có mẫu HT kép là 21,95% trong nhóm bệnh nhân
có mẫu HT đơn là 11,71%, sự khác biệt 2 nhóm có ý nghĩa thống kê với P< 0,001
4 Phân bố bệnh nhân mắc VNNB theo giới
Bảng 4: Phân bố bệnh nhân mắc VNNB theo giới trong từng năm
Năm Tổng số BN (+) Nam Tỷ lệ % Nữ Tỷ lệ %
Trang 4Tổng số 152 89 58,55 63 41,44
Tỉ lệ mắc bệnh VNNB ở nam giới là 58,55% ở nữ giới là 41,44% Sự khác biệt về giới có ý nghĩa
thống kê với P<0,05
5 Phân bố bệnh nhân mắc VNNB theo lứa tuổi
Bảng 5: Phân bố bệnh nhân mắc VNNB lứa tuổi trong 5 năm
Nhóm tuổi
Năm
1- 15 16- 30 31- 45 46- 60
1998 13 9 10 1
1999 6 8 2 2
Bệnh nhân mắc VNNB gặp ở mỗi lứa tuổi từ 1- 60 tuổi
6 Số bệnh nhân mắcVNNB mà xét nghiệm dịch não tủy có kết quả MAC-ELISA(+)
Bảng 6: Số bệnh nhân mắcVNNB mà xét nghiệm dịch não tủy có kết quả MAC-ELISA(+):Từ
năm 2000 chúng tôi có phối hợp với khoa Thần kinh bệnh viện Bạch Mai sử dụng kỹ thuật
MAC-ELISA phát hiện kháng thể IgM trong dịch não tuỷ của một số bệnh nhân Kết quả như sau:
Năm Số mẫu DNT làm xét nghiệm Số mẫu (+) MAC ELISA Tỷ lệ (+) %
Như vậy trong tổng số 71 mẫu dịch não tuỷ
của bệnh nhân chúng tôi phát hiện được 9
trường hợp (+)MAC-ELISA chiếm tỷ lệ
12,67% Tất cả 9 trường hợp (+)với
MAC-ELISA đều trùng với kết quả xét nghiệm huyết
thanh MAC-ELISA (+)
IV bàn luận
1 Số bệnh nhân mắc VNNB có kết quả
MAC-ELISA dương tính
Kết quả ở bảng 1 cho thấy tỷ lệ dương tính với viêm não Nhật Bản B ở bệnh nhân có chẩn
đoán viêm não Nhật Bản trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn một số tác giả khác nguyên nhân ở đây có thể do bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đa khoa trung ương Do đó số bệnh nhân viêm não vào điều trị gặp ở mọi lứa tuổi chứ không tập trung vào lứa tuổi trẻ em (như
viện Bảo vệ sức khoẻ trẻ em Việt Nam - Thuỵ
Điển)
Trang 5Theo Hoàng Kim Tuyến (viện Bảo vệ sức
khoẻ trẻ em Việt Nam - Thụy Điển) tỷ lệ mắc
VNNB là 75,60% [6]
Đánh giá tình hình mắc VNNB qua các năm
từ 1997 đến 2001 chúng tôi nhận thấy tỷ lệ
mắc VNNB trong 5 năm là 13,11 Tỷ lệ mắc
VNNB giữa các năm khác nhau không có ý
nghĩa thống kê với P>0,05 Như vậy, tỷ lệ mắc
VNNB trong năm 1997 chiếm tỷ lệ cao nhất là
16,54%, sau đó đến năm 2000 là 14,01% và
thấp nhất là năm 1999 là 7,00%
Số bệnh nhân mắc VNNB thay đổi theo
từng năm có thể do ảnh hưởng của thời tiết, khí
hậu và đặc biệt mùa thu hoạch vải, chim liếu
điếu là ổ chứa virút viêm não bay về nhiều,
muỗi Culex đốt chim có chứa virút và sau đó
đốt và truyền virút sang người Điều quan trọng
là việc sử dụng vacxin VNNB đề phòng cho trẻ
em ở một số vùng trọng điểm dịch của viện Vệ
sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội cũng làm
giảm tỷ lệ số bệnh nhân mắc VNNB
2 So sánh tỷ lệ phát hiện VNNB trong
các bệnh nhân có mẫu huyết thanh đơn và
kép làm xét nghiệm
Tỷ lệ mắc VNNB trong nhóm bệnh nhân có
mẫu HT kép là 21,95% trong nhóm bệnh nhân
có mẫu HT đơn là 11,71% sự khác biệt 2 nhóm
có ý nghĩa thống kê với P< 0,001
Bằng kỹ thuật MAC-ELISA phát hiện kháng
thể IgM kháng vi rút VNNB có thể chỉ cần lấy
một mẫu huyết thanh hoặc dịch não tuỷ của
bệnh nhân để làm xét nghiệm chẩn đoán Tuy
vậy, trong thực tế nếu có điều kiện lấy 2 mẫu
huyết thanh theo tỷ lệ (+) cũng cao hơn, vì
trong nghiên cứu của chúng tôi có rất nhiều
bệnh nhân mẫu huyết thanh đầu cho kết quả
âm tính (-), nhưng mẫu huyết thanh lần thứ 2
(cách 7-10 ngày) cho kết quả dương tính (+)
3 Phân bố bệnh nhân mắc VNNB theo
lứa tuổi
Về phân bố bệnh nhân mắc VNNB theo lứa tuổi chúng tôi nhận thấy bệnh nhân mắc VNNB gặp ở mỗi lứa tuổi từ 1- 60 tuổi
- Lứa tuổi 16- 30 chiếm tỷ lệ cao nhất 42,10% có thể do số bệnh nhân VNNB người lớn tập trung vào bệnh viện Bạch Mai cao
- Nhóm tuổi 1- 15 là 36,84% cũng chiếm tỷ
lệ khá cao Theo Phan Thị Ngà [4] tỷ lệ mắc VNNB trong giai đoạn 1989- 1995 tỷ lệ mắc VNNB ở nhóm 1- 14 là 64,18% - 75,68%; nhóm ≥ 15 tuổi là 11,38% Nhưng đến năm
1998 tỷ lệ mắc VNNB ở nhóm tuổi từ 1- 14 là 33,00 - 42,10%; nhóm ≥ 15 tuổi là 12,19% kết quả này cho thấy việc sử dụng vacxin VNNB phòng bệnh cho trẻ đã làm thay đổi tỷ lệ mắc VNNB theo chẩn đoán huyết thanh học trong nhóm tuổi sử dụng vacxin
Như vậy nhìn chung trong 5 năm lứa tuổi từ 1- 15 cũng khá cao: 36,84% Điều này cho thấy rằng việc đưa vacxin VNNB vào chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em là rất cần thiết
để giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cũng như sẽ tránh được những di chứng nặng nề do bệnh viêm não Nhật Bản để lại
- Tỷ lệ mắc VNNB ở người lớn (16 tuổi trở lên) cũng khá cao: 63,16% Đây là lứa tuổi trong học tập và công tác do đó ảnh hưởng đến sức lao động của xã hội
- Theo Nguyễn Chương [2] (khoa Thần kinh bệnh viện Bạch Mai) trong 10 năm nghiên cứu VNNB người lớn có 23 trường hợp VNNB ở lứa tuổi 46- 60, trong nghiên cứu của chúng tôi gặp 3 trường hợp, chiếm tỷ lệ 5,76% viêm não người lớn không xảy ra thành dịch, biểu hiện nhiều thể lâm sàng đa dạng và phức tạp
Theo Lê Đức Hinh (1992) nhận xét VNNB
ở trẻ em dưới 15 chiếm tỷ lệ 88,3%; VNNB ở người lớn 11,7% Tác giả kết luận tuổi 16-45 chiếm tỷ lệ đáng kể trong VNNB ở người lớn Kết luận này cũng phù hợp với nghiên cứu của
Trang 6chúng tôi, tỷ lệ mắc VNNB ở lứa tuổi 16-45 là:
60, 52%
- Theo Phan Thị Ngà [3] viện Vệ sinh dịch
tễ Trung ương, tỷ lệ mắc VNNB tập trung chủ
yếu ở nhóm trẻ 1-14 tuổi(2000-2001) chiếm
83,54% so tổng số mắc, tỷ lệ này cao hơn
nghiên cứu của chúng tôi Điều này có thể giải
thích do bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đa
khoa nên số bệnh nhân mắc VNNB gặp ở mọi
lứa tuổi
V Kết Luận
1 Bằng kỹ thuật MAC-ELISA đã xác định
16,64% trường hợp VNNB trong tổng số 1405
mẫu huyết thanh của 1159 bệnh nhân được
chẩn đoán lâm sàng là viêm não tại bệnh viện
Bạch Mai trong 5 năm (từ 1997- 2001)
2 Tỷ lệ phát hiện bệnh nhân mắc VNNB có
kết quả MAC-ELISA (+) trong các bệnh nhân
có mẫu huyết thanh đơn là 11,71%; trong các
bệnh nhân có mẫu huyết thanh kép là 21,95%
3 Tỷ lệ mắc VNNB ở nam giới là 58,55%;
ở nữ giới là 41,44%
4 Tỷ lệ mắc VNNB ở lứa tuổi trẻ em (1- 15)
trong 5 năm là 36,84%
5 Tỷ lệ mắc VNNB ở người lớn (16- 60)
trong 5 năm là 63,16%
6 Bằng kỹ thuật MAC-ELISA đã phát hiện
12,67% trường hợp (+) VNNB trong dịch não
tuỷ của bệnh nhân được chẩn đoán là viêm não
Kết quả này cũng phù hợp với xét nghiệm
huyết thanh (+) trên những bệnh nhân này
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Hồng Hạnh và cộng sự: Đánh
giá đáp ứng kháng thể đối với chủng viêm não
Nhật Bản phân lập ở Việt Nam Tạp chí Y học
dự phòng 2002, Tập XII, số 3 (54): 23
2 Nguyễn Thị Hoàng Hải (1995): Một số
đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm viêm não
Nhật Bản ở người lớn Luận văn thạc sỹ Y học: 51-55
3 Phan Thị Ngà, Vũ Sinh Nam, Trần Văn Tiến và cộng sự (2002): Giám sát, chẩn đoán viêm não Nhật Bản ở Việt Nam 2000- 2001 Tạp chí Y học dự phòng Tập XII, số 3: 36
4 Phan Thị Ngà và cộng sự (1996): Nghiên cứu dịch tễ huyết thanh học sự nhiễm virus viêm não Nhật Bản ở Việt Nam bằng kỹ thuật MAC - ELISA từ 1989-1995 Ngày gặp mặt liên Viện hàng năm về giảng dạy và nghiên cứu miễn dịch học Tóm tắt báo cáo khoa học
127
5 Phan Thị Ngà, Huỳnh Phương Liên và cộng sự (1999): Sự thay đổi giảm kết quả tỷ lệ mắc bệnh VNNB qua chẩn đoán huyết thanh ở miền Bắc Việt Nam 1998, Tạp chí Y học dự phòng Tập IX (2): 40
6 Hoàng Kim Tuyến và cộng sự (1994): Tìm hiểu căn nguyên VNNB ở những bệnh nhi
có hội chứng não cấp bằng kỹ thuật MAC-ELISA Ngày gặp mặt liên viện hàng năm về giảng dạy và nghiên cứu miễn dịch học” Tóm tắt nghiên cứu khoa học tr 125
7 Hoàng Thuỷ Nguyên, Ninh Đức Dự, Nguyễn Hồng Điệt, Lê Thị Oanh (1975): Các virus arbo Vi sinh Y học tập II, Nhà xuất bản
Y học Tr: 69-85
8 Innis B.L Nisalak A, N Manitya et al (1989): An enzyme-liked immunosorbent assay co-characterize dengue infection where dengue and Japanese encephalitis co- circulate
Am J.Trop Med, Hyg 40 (4): 418-427
9 P Nagabhushana Rao (2002): Clinical expert on Japanese encephalitis: Japanese Encephalitis, 34th Edition Tr : 8-24
10 Theo Dore - F.Tsai (1995): Arboviruses, Manual of clinical microbiology Sixth edition: 980
Trang 7Summary
Serodiagnosis of Japanese Encephalitis (JE) by MAC-ELISA
in Bach Mai hospital from 1997 - 2001
From January 1997 to December 2001, 1405 sera were collected from 1159 patients (male: 58,55%; female: 41,44%) with encephalitis syndromes to estimate antibody titer for Japanese encephalitis (JE) virus by MAC-ELISA The results were as following:
1 The general positive rate is 16,64%
2 The positive rate divided by the age: group from 1-15 years old, 36,84%; from 16-60 years old, 63,16%
3 The positive rate with JE by MAC-ELISA in cerebrospinal fluid is 12,67%