KHẨU QUYẾT MANH PHÁI MỆNH LÝ HIỆP HÔN 1 Tổng luận hôn nhân Nam nữ trắc hôn đều giống nhau, Đầu tiên tất phải luận đề cương Trụ tháng vốn là cung hôn nhân, Chi ngày phối ngẫu rất chính thường Tiếp theo lại nắm Tài Quan xem, Sinh khắc chế hóa phải xem kĩ Hình xung xuyên tuyệt hôn bất ổn, Tình cảm không chân tháng Không Vong Tháng thấy Thương Sát thường tranh cải, Nguyệt lệnh Tỉ Kiếp thường cải nhau Nguyệt lệnh gặp hợp hôn nhân tốt, Tài Quan Ấn tinh cảm tình vượng Chi ngày gặp hợp có ngoại tình, Ch.
Trang 1KHẨU QUYẾT MANH PHÁI MỆNH LÝ HIỆP HÔN
1- Tổng luận hôn nhân
Nam nữ trắc hôn đều giống nhau,
Đầu tiên tất phải luận đề cương
Trụ tháng vốn là cung hôn nhân,
Chi ngày phối ngẫu rất chính thường
Tiếp theo lại nắm Tài Quan xem,
Sinh khắc chế hóa phải xem kĩ
Hình xung xuyên tuyệt hôn bất ổn,
Tình cảm không chân tháng Không Vong
Tháng thấy Thương Sát thường tranh cải,
Nguyệt lệnh Tỉ Kiếp thường cải nhau
Nguyệt lệnh gặp hợp hôn nhân tốt,
Tài Quan Ấn tinh cảm tình vượng
Chi ngày gặp hợp có ngoại tình,
Chi là Quan Sát quản thúc mạnh
Nhật tọa Chính Tài vợ giúp đỡ,
Vợ giữ nhà tất có diệu pháp
Chính Tài nếu có toạ Tướng tinh,
Tất có vợ đẹp giỏi tài năng
Nhật tọa Chính Ấn vợ lương thiện,
Về già tất nhiên bái Phật đường
Nhật can vượng tướng Thiên Tài vượng,
Thê thiếp thành bầy một bang lớn
Nam mệnh Thê tinh bị tranh hợp,
Là cưới hai lần mang ba nơi
Nữ mệnh Phu tinh bị tranh hợp,
Là lấy hai chồng mang ba nơi
Nam mệnh Tài tinh tranh hợp nhật,
Là có ba góc nuôi hôn ngoại
Trang 2Nữ mệnh Quan tinh tranh hợp nhật,
Ba lần luyến ái mang ngoại hôn
Nhật kiến Chính tinh phối ngẫu tốt, Kiêu Thương Kiếp Sát ngẫu bất lương Chi ngày tháng giờ có phục ngâm,
Tình cảm phong ba liên miên dài
Bính Ngọ Đinh Mùi thấy nhiều thủy, Tuất Hợi thủy nhiều khó cùng giường Tam Viên hợp nhật hôn nhân đẹp,
Xung xuyên chi ngày hôn không bền Can nhập thê mộ nam sợ vợ,
Thân nhược Tài đa sợ tân nương
Thê tòng Phu hóa nam được hiền,
Nữ mệnh hóa phu nắm giúp chồng
Nữ mệnh Quan vượng nhập nhật chủ, Tình cảm vợ chồng sâu lại bền
Sa vào tha hương có ngoại ngộ,
Tình cảm không nên nói với người Tài tinh hư thấu tình không chuyên, Chỉ có âm thầm trong tư tưởng
Muốn nói tướng mạo như thế nào,
Bên trong chi ngày luận cát lành
Dần Thân Tị Hợi một cao trung,
Tý Ngọ Mão Dậu chiều cao lớn
Thìn Tuất Sửu Mùi một lớn bé,
Nói đến tướng mạo rất bình thường Nam hành Tài hương tam hợp địa,
Ở trong mệnh liền kết hôn sớm
Thương quan nếu phải bị khắc chế, Tất cưới nghĩa nữ làm phòng vợ
Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
Trang 3Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung
2- Bí quyết hợp hôn (một)
Nam nữ hợp hôn việc đại sự,
Nạp âm năm mệnh xem ngũ hành
Năm mệnh tương sinh là tốt nhất,
Thứ hai Tỉ hợp là trung đẳng
Lại xem chính ngũ hành trụ năm,
Tương sinh tương hợp là thành hôn
Tương khắc tương chiến hôn không bền, Hình xung lục hại không thể hợp
Năm mệnh tương sinh không thể tán,
Hình xung tranh cải qua cả đời
Hai, xem chi giờ chính ngũ hành,
Tốt nhất tương hợp lại tương sinh
Hình xung khắc hại thường tranh cải,
Không tranh không cải nắm bệnh sinh
Ba, xem trụ ngày song ngũ hành,
Tài Quan chính hợp rất hữu tình
Những can chi khác không phải luận,
Tốt nhất đối phương có chính tinh
Ngũ hành vinh khô cũng bổ sung,
Nếu có tương chiến giữ thông quan
Tương phối tuyệt đối trên đời hiếm,
Không phạm đại kị nắm phối hôn
Phụ: Bí quyết năm mệnh nạp âm tương khắc Thiên Thượng Hỏa không sợ Giản Hạ Thủy Đại Lâm Mộc không sợ Kim Bạc Kim
Đại Lâm Mộc không sợ Xoa Xuyến Kim Đại Khê Thủy không sợ Sa Trung Thổ
Hải Trung Kim không sợ Phúc Đăng Hỏa
Trang 4(Bên trên nếu hai bên gặp nhau, ít tình cảm, thân thể không tốt ) Tang Chá Mộc rất sợ Kiếm Phong Kim
Sơn Đầu Hỏa rất sợ Thiên Hà Thủy
Bạch Chá Kim rất sợ Lô Trung Hỏa
Hải Trung Kim rất sợ Phích Lịch Hỏa
Sa Trung Thổ rất sợ Đại Lâm Mộc
Tuyền Trung Thủy rất sợ Đại Dịch Thổ
(Bên trên nếu cả hai gặp nhau, có dấu hiệu sinh tử ly biệt)
3- Quyết Năm mệnh hợp hôn
Nam kim nữ kim nhiều ân ái,
Nam kim nữ mộc nhiều vui vẻ
Trang 5Nam kim nữ thủy vợ chồng bền,
Nam kim nữ thổ hợp nhau nhất
Nam kim nữ hỏa không hợp nhau,
Nam thủy nữ thổ rất lắm điều
Nam thủy nữ hỏa không thành đôi,
Nam hỏa nữ thủy cũng không vui
Nam thủy nữ thủy nguy thủ tài,
Nam thủy nữ kim nhiều phú quý
Nam thủy nữ mộc chung sống tốt,
Nam mộc nữ hỏa chung một lòng
Nam mộc nữ mộc có khắc thương,
Nam mộc nữ kim gây bất hòa
Nam mộc nữ thổ sinh khẩu thiệt,
Nam hỏa nữ kim có hợp tan
Nam mộc nữ thủy thành đôi tốt,
Nam hỏa nữ hỏa cũng không tệ
Nam hỏa nữ thổ thanh mai trúc,
Nam hỏa nữ mộc phúc thọ nhiều
Nam hỏa nữ thủy tương đối tốt,
Nam thổ nữ thổ hợp trăm năm
Nam thổ nữ kim lương duyên tốt,
Nam thổ nữ hỏa nhiều kim ngân
Nam thổ nữ thủy thường tranh cải,
Ảnh hưởng con cái thiếu vui cười
Nam thổ nữ mộc không thích hợp,
Tài đến tài đi có tương khắc
Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung
4- Quyết Giang hồ Manh Phái mệnh lý cầm tinh phạm Xuyên
Bạch Mã sợ Thanh Ngưu,
Trang 6Dương Thử đuổi mỗi ngày;
Xà Hổ như đao đè,
Long Thỏ rơi nước mắt;
Kim Kê sợ Ngọc Khuyển,
Trư Hầu không tới đầu
( Mã là Ngọ, Ngưu là Sửu, Dương là Mùi, Thử là Tý, Xà là Tị,
Hổ là Dần, Long là Thìn, Thỏ là Mão, Kê là Dậu, Khuyển là Tuất, Trư là Hợi, Hầu là Thân)
Chỗ này là nói vị trí địa chi tương xuyên ( phá):
+ Ngọ xuyên Sửu, Mùi xuyên Tý
+ Dần xuyên Tị, Thìn xuyên Mão;
+ Dậu xuyên Tuất, Hợi xuyên Thân
Năm, Quyết Động hôn
Nam nữ trước hôn xem nguyệt lệnh,
Gặp hợp gặp xung động cảm tình
Lưu niên lục hợp đền xuyến cung,
Cũng là năm đó hôn nhân động
Thân vượng tuế vận kiến Tài tinh,
Nữ mệnh kiến Quan hôn tất thành
Nam mệnh Tài nhược Tài lâm vượng,
Nữ mệnh Quan nhược lâm vượng thành
Quan tinh Tài tinh bị xung động,
Phối ngẫu bị xung nếu gặp hợp,
Phối ngẫu bị hợp nếu gặp xung
Lưu niên Đào Hoa hợp nhập mệnh,
Trang 7Tất nhiên sống chung định kết hôn
6- Quyết kết hôn sớm hay muộn
Quyết Kết hôn sớm.
Năm tháng Tài Quan không có phá,
Can chi tứ trụ tam lục hợp
Nhật can vượng tướng Tài Quan nhiều,
Tiêu chí tảo hôn không cần nói
Quyết Kết hôn muộn
Ngày giờ Tài Quan có hình khắc,
Tài Quan không hiện vận phí hoài
Tài Quan có Thương quan thụ hại,
Nam nữ đại vận Tỉ Kiếp nhiều
(Tảo hôn: là kết hôn sớm; Vãn hộn: Là kết hôn muộn)
7- Quyết có mang trước khi kết hôn
Trên năm tháng ngày Tài không hiển,
Nam mệnh trụ giờ Chính Tài hoạt
Trụ giờ thê tử đồng thời có,
Khẳng định trước mang sau kết hôn
Tài Quan không ở cung phu thê,
Chi khác có hợp nhiều bằng hữu
Thê cung cùng tàng Chính Tài Kiếp,
Hình xung phá hại là mất trinh
Nữ mệnh Thất Sát hiện năm tháng,
Tiết thao khó giữ qua công thân
Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung
8- Quyết phối ngẫu gần hay xa
Thê tinh ở năm không xung khắc,
Nữ ở phương xa không cần nói
Năm tháng tương xung Tài Quan xa,
Trang 8Dịch Mã Tài Quan cự ly lớn
Thê tinh ở tháng không xung khắc,
Nữ ở gần bên là Kiều Nga
Trụ ngày Tài Quan không xung khắc,
Đồng sự đồng hương hoặc đồng học
Trụ giờ Tài Quan là vãn hôn,
Tuổi so với mình nhỏ hơn nhiều
Trên trụ năm ngày có tương hợp,
Phần đa vợ chồng gặp nhau ở trong thôn
Chín, Quyết phương hướng phối ngẫu
Chi tháng khởi ngày phải nhớ rõ,
Đếm đến ngày sinh thì phải dừng;
Lạc chi địa chi tìm đối xung,
Hai điểm mốt đường định phương hướng
Mười, Quyết cầm tinh phối ngẫu
Cầm tinh Phối ngẫu tìm nơi nào,
Gần chi xung ngày xem tử tế
Bị xung bản thân là cầm tinh,
Hợp trụ bị xung cũng có thể
Chi kề chi ngày nếu có hợp,
Phá hợp tức là xem cầm tinh
Nếu cùng chi năm hợp xung Tỉ,
Cầm tinh bản thân cũng cần xem
Trang 9(1) Đóng gọi lại kĩ thuật cung - tinh, vốn là một kĩ thuật cơ bản của Tử Bình, gọi bằng
mỹ danh "cung tinh đồng tham"
(2) Đề cập không đủ các trường hợp của "cung tinh đồng tham"
(3) Từ (2): nghi án giấu nghề để bán sách hoặc không biết thật sự
(4) Đánh đồng "nội cung, ngoại cung" với "cung tinh đồng tham" Nội cung, ngoại cung là tượng thuộc hệ thống "tiểu thời không định vị", không thuộc "cung tinh đồng tham" Tuy nhiên, có thể kết hợp "tiểu thời không định vị" với "cung tinh đồng tham"
vô tư công khai, để trợ chúng duyên
Bình Phái “Bát tự Cửu Cung Phi Tinh Quyết” là khấu quyết bát tự trọng yếu để luận đoán cát sắc nét cát hung lục thân, càng là bí quyết mệnh lý dân gian có thể giải quyết một trong những vấn đề trọng đại là làm sao luận đoán lục thân nếu không xuất hiện trong mệnh cục Việc công khai Bình Phái “Cửu Cung Phi Tinh Quyết”, không phải chỉ là lần đầu giới thiệu khái niệm “nội cung, ngoại cung”, “bản cung, tha cung”, “phi cung, lạc cung, “bát cung, cửu cung” và các khái niệm trọng yếu khác trong mệnh lý học bát tự Bình Môn, mà còn đem nội dung “Tinh Cung Đồng Tham” trong sách
“Bình Sách Mệnh Lý Bí Tung” xuất bản đầu năm 2003 cùng một chỗ giảng giải Sau
Trang 10này các nhà các phái, khi bàn đến Cửu cung phi tinh, đều khó vượt qua nội dung đề cập tại đây
Khâu Bình Sách “Bát tự cửu cung phi tinh quyết”
Một, nội cung ngoại cung
Bình môn phi cung có chính luận, lấy nhật làm chủ biện lục thân
Tứ trụ bát tự phân nội ngoại, nội ngoại không thấy, tìm tại cửu cung
Hai, bản cung tha cung
Lục thân phi tinh lạc chỗ nào, bản cung tha cung cẩn thận tính
Phi tinh định vị lạc cung chuẩn, liền biết thập thần không bay loạn
Ba, phi cung lạc cung
Lục thân chủ tinh có khắc ứng, thuỳ tượng đều tại trong lạc cung
Nguyên cục lục thân tinh không thấy, liền tìm phi cung định cát hung
Bốn, bát tự cửu cung
Lục thân cát hung làm sao tính, tinh cung đồng tham phải hiểu rõ
Bát cung hỷ kỵ có thật giả, cửu cung phân minh, thiên địa tỏ
Giải thích các danh từ dùng trong Bát Tự Cửu Cung Phi Tinh của Khâu Bình Sách:
1 Phi tinh: chỉ lục thân chủ tinh không tại bát cung tứ trụ, mà là phi nhập trong “cửu
cung”
2 Chủ tinh: là lục thân chủ tinh, chỉ thập thần đại biểu lục thân trong mệnh lý học Ví
dụ như nam mệnh, Thiên Tài là chủ tinh của cha, Chính Ấn là chủ tinh của mẹ, Chính tài là chủ tinh của vợ
3 Bản cung: chỉ cung vị sở tại của bản thân lục thân Như niên trụ là phụ mẫu cung,
thì niên can, niên chi phân biệt là bản cung của cha và mẹ Tương tự, nguyệt trụ là huynh đệ tỷ muội cung, nhật trụ là phu thê cung, thời trụ là tử nữ cung
4 Tha cung: chỉ cung vị khác, ngoài bản cung của một lục thân
5 Nội cung: chỉ lục thân tại nội cung của nguyên cục tứ trụ Trong nguyên cục, niên
trụ và nguyệt trụ đại biểu nội cung
6 Ngoại cung: chỉ lục thân tại ngoại cung của nguyên cục tứ trụ Trong nguyên cục,
nhật trụ và thời trụ đại biểu ngoại cung
7 Phi cung: chỉ lục thân chủ tinh không tại bản cung, mà phi tại một cung nào đó bên
ngoài bản cung trong bát tự, hoặc phi tại cửu cung
8 Lạc cung: chỉ cung vị mà lục thân chủ tinh toạ lạc Lạc cung của lục thân chủ tinh
có thể là tại bản cung, có thể là tại tha cung, cũng có thể là tại cửu cung
9 Bát cung: chỉ tám can chi của tứ trụ bát tự, đại biểu tám cung
10 Cửu cung: chỉ cung vị thứ chín, ngoài tám cung trong nguyên cục tứ trụ
Bình Sách chú: Khi Bình môn tiên sinh Bàn Long Chân Nhân truyền quyết có đem
“Cửu Cung” xung là “Cửu Tiêu Cung”, nói rằng bát tự “Cửu cung” giống như Dụng Hào trong hai qủe Càn Khôn trong Dịch Kinh, vốn tồn tại siêu việt sáu hào còn lại
Trang 11“Cửu cung” trong Bình Môn bát tự sở dĩ còn được gọi là “Cửu Tiêu Cung”, áp đảo vượt qua bát cung, vị trí tại chín tầng mây, trong ngân hà
“Tinh cung đồng tham” ý chỉ khi phê đoán cát hung một lục thân nào đó, cùng với những sự việc liên quan đến lục thân đó, nhất định phải tổng hợp thông tin cát hung của cả chủ tinh và cung vị của lục thân đó thì mới có thể luận đoán chính xác Nếu như chỉ xem vượng suy hỷ kỵ của “lục thân tinh” mà không quan tâm đến cung vị, hoặc chỉ xem cung vị của lục thân mà k hông nhìn tác dụng cát hung của “lục thân tinh”, như vậy kết quả phê đoán nào đều sẽ không toàn diện
Ngoài ra, Bình Phái bát tự “Cửu cung phi tinh quyết” còn có cách vận dụng cụ thể kĩ thuật “Tinh cung đồng tham” Khâu Bình Sách tiên sinh đã sớm công khai kĩ thuật này vào năm 2003 khi xuất bản “Bình Sách Mệnh Lý Bí Tung” Trong sách, chương Hôn Nhân, vận dụng Phối ngẫu tinh và Phối ngẫu cung, tinh cung đồng tham phương pháp để đoán tinh chuẩn ứng kì hôn nhân Giảng giải như sau:
Trong bát tự, hôn kỳ mệnh lý bao quát hai phương diện phía dưới:
Một, nguyên cục có phối ngẫu tinh (nữ xem Quan tinh, nam xem Tài tinh) vốn có
bệnh lại gặp được thuốc mà ứng thời điểm Cụ thể giải thích, bất luận mệnh nam nữ, nguyên cục có phối ngẫu tinh là kỵ, hôn kỳ ứng tại năm có tác dụng chế hoá kỵ thần Nguyên cục có phối ngẫu tinh là hỷ dụng, hôn kỳ ứng tại năm sinh vượng hoặc năm trợ giúp hỷ dụng
Hai, nguyên cục có phối ngẫu cung (nhật chi trong nguyên cục) là kỵ, tuế vận nếu chế
phục là đắc nghi Nguyên cục có phối ngẫu cung là hỷ dụng thần, tuế vận nghi sinh trợ
Ví dụ một: Lai Thành khu, Bắc phụ, tiểu Tào
Càn tạo: Đinh Tỵ - Quý Sửu – Quý Dậu – Mậu Ngọ
Đại vận: Nhâm Tý, Tân Hợi, Canh Tuất, Kỷ Dậu, Mậu Thân, Đinh Mùi, Bính Ngọ
Phân tích mệnh cục: Bát tự này nguyên cục thân vượng kỵ Ấn Tỷ Đại vận Canh Tuất, năm Canh Thìn, Thìn xung Tuất mà kích hoả, càng lại hợp trói hôn nhân cung Dậu kim toạ dưới Nhật chủ, kết hôn
Ví dụ hai: Lai Thành khu, đường Bắc Thản, một ông chủ
Càn tạo: Giáp Dần – Kỷ Tỵ - Đinh Mùi – Bính Ngọ
Đại vận: Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý,
Đinh Sửu
Phân tích mệnh cục: Bát tự này tòng cường, Tài tinh là kỵ không hiện, hôn nhân
cung táo thổ trợ thân, hôn nhân tất nhiên tốt mà lại sớm Đại vận Tân Mùi, lưu niên
Trang 12Bính Tý, vận can Tân kim hợp trói Bính hoả, vận chi Mùi thổ khắc tuế chi Tý thuỷ,
Tý thuỷ không khắc Tỵ Ngọ hoả, ứng cát mà kết hôn
Ví dụ ba: Lai Thành khu, một người nữ
Khôn tạo: Quý Sửu – Kỷ Mùi – Bính Dần – Quý Tỵ
Đại vận: Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Giáp Tý, Ất Sửu
Phân tích mệnh cục: Nhật nguyên Bính hoả sinh tại tháng Mùi, vượng Toạ dưới có Dần mộc tương sinh, lại khí quán thời trụ, thế vượng cực Niên can Quý thuỷ bị Kỷ thổ khắc thương mà không thể chế hoả Sửu thổ là căn của Quý cũng bị nguyệt lệnh xung tổn thương, cho nên thời can Quý thuỷ cũng không có lực Hoả vượng cực không hỷ khắc chế, phản cục tòng cường, dụng kỷ thổ Thương Quan chế thuỷ là sáng suốt Vận Nhâm Tuất, lưu niên Mậu Dần, Tuất thổ khắc Nhâm hợp Quý, kết hôn Lưu niên Canh Thìn, Canh sinh Nhâm, Sát công thân mà ngoại tình Năm Quý Mùi ly hôn
Tử Bình Tạp Lục Bài 3: Một lần đi xem thầy Manh Phái
Lớn lên tiếp xúc nhiều tri thức hơn, liền cảm thấy hứng thú với bát tự Trong lĩnh vực bát tự thì thanh danh Manh Phái là nửa xấu nửa tốt, cho nên càng gợi cho tôi tò mò Thẳng đến một ngày tôi gặp được một vị cao nhân
Cùng người thân tổng cộng hơn 20 cái mệnh lệ lấy ra khảo nghiệm, sơ bộ tổng kết được vài đặc điểm đoán mệnh của Manh Phái cao nhân:
1 - Tuyệt đối không thu phí cao Khoảng 5 tệ Thật bất ngờ, bởi vì muốn gia nhập Manh Phái phải lập lời thề An bần lạc đạo cũng là một loại khảo nghiệm phẩm đức
2 - Người đến coi mệnh một bên báo ra bát tự, một bên cao nhân Manh Phái đã bắt đầu giảng giải vận mệnh Bài xong bát tự tối đa 3 giây là bắt đầu giải, tuyệt không có ngưng lại để suy nghĩ Một khi giải mệnh liền là thao thao bất tuyệt, không để cho người đến xem mệnh xen vào
3 - Câu nói đầu tiên là đoán đương số còn sống hay đã mất Câu thứ hai đoán người này có hay không công ăn việc làm ổn định, cùng với trình độ cao hay thấp Cao nhân
Trang 13Manh phái khi giải mệnh em trai tôi, làm cho nó muốn hồ đồ rồi: Đứa nhỏ này 16 tuổi việc học muốn đứt đoạn, vì sao lại có đến học vị tiến sĩ? Tôi đáp: Nó 16 tuổi đi nước ngoài, việc học bị đứt đoạn, sau lại tiếp tục đi học Cao nhân Manh phái: ra là vậy
4 - Câu thứ ba hỏi cầm tinh của cha mẹ Câu thứ tư nói lúc cha hay mẹ tạ thế, em tôi
có ở bên cạnh tống chung hay không
5 - Câu thứ sáu nói về số lượng anh em và thứ bậc trong nhà 27 bát tự chỉ đoán sai một cái Vợ tôi chỉ có hai chị em gái, là chị; cao nhân Manh phái lại nói là chỉ có hai chị em gái, là vai em
6 - Câu thứ bảy đoán đương số kết hôn hay chưa, năm nào kết hôn, năm nào ly hôn Nếu chưa kết hôn thì năm nào có Hồng Loan Nói rất chắc chắn rõ ràng, không mập
mờ Em trai thứ chín của tôi từ Bắc Kinh xuống hỏi bát tự, cao nhân nhàn nhạt một câu: Ông vợ chính thức 3 bà, ngầm thì ít nhất 6 người Đoán đến xém chút em tôi muốn quỳ xuống Nó hiện tại ba vợ, còn tình nhân theo tôi biết có 4 người
7 - Câu thứ tám đoán mệnh chủ đã có con cái hay chưa, đã có mấy con, sẽ còn có mấy đứa Có bát tự nữ mệnh, cao nhân đoán cô đã sinh 4 đứa con gái, hiện tại lại có thai, hẳn là mang thai vào tháng 7, sang năm nhất định sinh con trai, mẹ con bình an; đừng
đi siêu âm làm gì cho tốn tiền, lại không tốt đối với sức khoẻ; như sang năm sinh con không đúng như vậy, có thể quay lại đập bảng hiệu (Cao nhân Manh phái đã ở chỗ nào treo bảng đoán mệnh hơn 40 năm.)
8 - Tiếp theo đoán vận Cao nhân Manh Phái chỉ đoán 5 năm quá khứ và 5 năm tương lai, không đoán nhiều Những năm khác trừ khi có hạn lớn hoặc hỷ sự lớn thì mới đặc biệt nói ra Gặp phải bát tự có cha mẹ lớn tuổi, như trong 10 năm tới cha mẹ tạ thế, sẽ nói thẳng năm nào có tang sự, là tang nam hay là tang nữ, tuyệt không mập mờ
9 - Cao nhân Manh Phái có qui tắc: đương số 13 tuổi trở xuống không coi mệnh, 65 tuổi trở lên có hỏi mới nói cho biết thọ hạn
10 - Sau đó đoán năm nay cát hung thế nào Tháng 11 có một người bà con xa của tôi
có đến xem mệnh, cao nhân bảo năm nay lái xe cẩn thận Hơn 10 ngày sau lái xe nâng trong công trình bị lật xe, bà vợ giả trang đến hỏi mệnh, cao nhân câu đầu tiên đã nói:
“Đứa bè này, nếu như hiện tại bình yên vô sự, vậy thì năm nay tai hoạ gì cũng sẽ không có, nhưng tiền tài hao thì đã hao rồi
11 - Kế tiếp đoán đương số năm nay có thể phát tài ở phương nào, không thể phát tài
ở phương nào
Trang 1412 - Từ đầu đến đây là đoán một mạch, lúc này mới xem như đoán xong, mới để cho đương số xen vao, có việc thì hỏi, có sai lệch thì nói ra, cao nhân lại giúp cân nhắc
13 - Lúc này cao nhân mù sẽ nói 1 câu: “Đương số có thể hỏi một sự kiện, có việc thì hỏi, không có việc thì có thể đi”
14 - Từ lúc báo ngày sinh đến lúc hỏi xong khoảng 8-10 phút Cao nhân mù thu phí 5
Thái Ất Thân Mệnh Thập Nhị Cung (phần 1)
Các trứ tác mệnh lý cổ đại khi thôi diễn vận mệnh cả đời của một người thường đều lấy mệnh vận nhân sinh của người đó phân thành mười hai phương diện: cung mệnh, cung anh em, cung thê thiếp, cung con cái, cung tiền tài, cung điền trạch, cung quan lộc, cung nô bộc, cung tật ách, cung phúc đức, cung tướng mạo, cung phụ mẫu Mười hai phương diện này (mười hai cung) sẽ tổ hợp thành mệnh vận cả đời của một người Mệnh cung làm đầu, cũng là quan trọng nhất, bởi vì từ mệnh cung có thể xem được khái quát vận mệnh cả đời người, còn lại các cung khác, mỗi cung phản ánh một phương diện tình huống khác nhau Như cung anh em có thể tính ra có bao nhiêu anh chị em, anh chị em giàu nghèo, quý tiện; cung tiền tài có thể tính ra tài vận đời người, hoặc giàu hoặc nghèo, hoặc trước nghèo sau giàu, hoặc trước giàu sau nghèo, vân vân Mười hai cung còn gọi chung là Thân Mệnh Thập Nhị Cung
Tại sao cần phải phân thành mười hai cung? Bởi vì cổ nhân cho rằng trời có mười hai tầng (mười hai thiên tướng, còn gọi là nguyệt tướng), đất có mười hai thần (mười hai địa chi), người có mười hai cung, vậy là thiên địa nhân tam vị nhất thể, cảm ứng lẫn
Trang 15nhau, tam tài thống nhất Dùng ngôn ngữ hiện tại mà nói thì là trời đất, giới tự nhiên cùng con người có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, những biến hoá trong giới tự nhiên nhất định sẽ ảnh hưởng đến con người; từ những biến hoá, biến dị trong giới tự nhiên, tương ứng sẽ sinh ra hoạ phúc tai ương trong xã hội loài người Vận mệnh của một người có mối liên hệ chặt chẽ với trời đất và giới tự nhiên Đây chính là quan điểm nhân sinh “Thiên nhân quan” nổi tiếng trong thời cổ đại, hoặc còn gọi là “Thiên nhân cảm ứng quan” Loại quan điểm này hầu như ảnh hướng đến tất cả các lĩnh vực trong hình thái ý thức cổ đại Quan điểm này chính là cơ sở lý luận cho Thân mệnh mười hai cung
Trời đất tự nhiên thay đổi, nhất là thay đổi về khí hậu, đối với tình trạng thân thể của con người, cũng như tình trạng bệnh tật, sinh sản, sinh hoạt đều sẽ có ảnh hưởng Điểm này ai cũng đều có thể hiểu được Nhưng nếu cho rằng những biến hoá trong trời đất, giới tự nhiên có liên hệ với vận mệnh, cát hung hoạ phúc đời người, thì lại vô cùng khó hiểu Chúng ta có thể dùng lí luận kết hợp với thực tiễn nghiên cứu vấn đề này, nhằm giải thích vấn đề thiên cổ này
Bây giờ quay lại vấn đề Thân mệnh mười hai cung Phương pháp đoán mệnh cổ đại bằng tứ trụ bình thường đều dùng Thân mệnh mười hai cung để tiến hành thôi diễn, thuật đoán mệnh Thái Ất cũng cơ bản giống vậy Nhưng theo thuật Thái Ất mệnh pháp, ngoài trừ thân mệnh mười hai cung, còn có thân cung, nhật cung, và thời cung, thực thế thành Thân mệnh mười lăm cung Tuy nhiên về mặt tên gọi, vẫn thống nhất gọi là Thân mệnh mười hai cung
Thái Ất mệnh pháp so với Tứ trụ mệnh pháp tại sao lại có thêm ba cung là thân cung, nhật cung, và thời cung? Nguyên nhân là từ những công cụ và phương pháp suy tính đặc biệt của bộ môn Thái Ất Cũng chính là nói bởi vì phải thích ứng với phương pháp suy tính của Thái Ất mà mới cần thêm vào thân cung, nhật cung, và thời cung; thực tế dùng thân mệnh mười lăm cung Vấn đề này thực chất không có gì là lạ
Phía dưới giới thiệu chi tiết và cụ thể phương pháp suy tính và nội dung phân biệt Thân mệnh mười hai cung (thực tế là mười lăm cung)
Một: Mệnh cung
Mệnh cung quyết định vận mệnh cả đời người, là quan trọng nhất Mệnh cung là thủ lĩnh của mười hai cung Mười hai cung sắp xếp theo thứ tự là: mệnh cung, huynh đệ cung, thê thiếp cung, tử tôn cung, tài bạch cung, điền trạch cung, quan lộc cung, nô bộc cung, tật ách cung, phúc đức cung, tướng mạo cung, phụ mẫu cung Mười hai cung phối mười hai địa chi, trước xác định vị trí mệnh cung, còn các cung khác sắp xếp theo thứ tự thuận hay nghịch
Trang 161 Cách an mệnh cung
Cách khởi mệnh cung là lấy địa chi của tháng sinh chồng niên chi, sau đó theo thứ tự mười hai chi, lấy địa chi giờ sinh định mệnh cung Nam sinh năm dương và nữ sinh năm âm thì xếp thuận, nam sinh năm âm và nữ sinh năm dương thì xếp nghịch
Niên chi, nguyệt chi, nhật chi, thời chi là gì?
Thời cổ đại nước ta sử dụng mười thiên can (Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý) cùng mười hai địa chi (Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi) phối hợp với nhau để ghi nhớ năm, tháng, ngày, giờ Mười thiên can và mười hai địa chi có bội số chung nhỏ nhất là 60, cho nên mười thiên can phối mười hai địa chi thành 60 cái đơn vị, gọi là Lục thập giáp tý Lục thập giáp tý theo thứ tự thuận như sau:
1 Giáp Tý, 2 Ất Sửu, 3 Bính Dần, 4 Đinh Mão, 5 Mậu THìn, 6 Kỷ Tỵ, 7 Canh Ngọ, 8 Tân Mùi, 9 Nhâm Thân, 10 Quý Dậu, 11 Giáp Tuất, 12 Ất Hợi, 3 Bính Tý,
14 Đinh Sửu, 15 Mậu Dần, 16 Kỷ Mão, 17 Canh Thìn, 18 Tân Tỵ, 19 Nhâm Ngọ,
20 Quý Mùi, 21 Giáp Thân, 22 Ất Dậu, 23 Bính Tuất, 24 Đinh Hợi, 25 Mậu Tý,
26 Kỷ Sửu, 27 Canh Dần, 28 Tân Mão, 29 Nhâm Thìn, 30 Quý Tỵ, 31 Giáp Ngọ,
32 Ất Mùi, 33 Bính Thân, 34 Đinh Dậu, 35 Mậu Tuất, 36 Kỷ Hợi, 37 Canh Tý,
38 Tân Sửu, 39 Nhâm Dầm, 40 Quý Mão, 41 Giáp Thìn, 42 Ất Tỵ, 43 Bính Ngọ,
44 Đinh Mùi, 45 Mậu Thân, 46 Kỷ Dậu, 47 Canh Tuất, 48 Tân Hợi, 49 Nhâm Tý,
50 Quý Sửu, 51 Giáp Dần, 52 Ất Mão, 53 Bính Thìn, 54 Đinh Tỵ, 55 Mậu Ngọ,
56 Kỷ Mùi, 57 Canh Thân, 58 Tân Dậu, 59 Nhâm Tuất, 60 Quý Hợi
Dùng Lục thập giáp tý để ghi năm, tháng, ngày, giờ thì bắt đầu khởi từ Giáp Tý, đến Quý Hợi thì ngừng, sau đó tuần hoàn lặp lại Lấy việc ghi năm làm ví dụ, như năm Giáp Tý, Giáp là niên can, Tý là niên chi Năm Ất sửu thì Ất là niên can, Sửu là niên chi Ghi tháng, ghi ngày, ghi giờ cũng tương tự Trong thực tế thì thường muốn biết niên can chi, nguyệt can chi, nhật can chi, thời can chi có thể dùng lịch vạn niên để tìm
Cần nói thêm, nguyệt chi còn gọi là nguyệt kiến Một năm có mười hai tháng, các nguyệt chi cho từng tháng đều là cố định như sau: tháng Giêng Dần, tháng hai Mão, tháng ba Thìn, tháng tư Tỵ, tháng năm Ngọ, tháng sáu Mùi, tháng bảy Thân, tháng tám Dậu, tháng chín Tuất, tháng mười Hợi, tháng mười một Tý, tháng Chạp Sửu Mười thiên can và mười hai địa chi cũng có thuộc tính âm dương, cũng có thuộc tính ngũ hành kim, mộc, thuỷ, hỏa, thổ Giáp Bính Mậu Canh Nhâm thuộc dương, là
Trang 17dương can Ất Đinh Kỷ Tân Quý thuộc âm, là âm can Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất thuộc dương, là dương chi Sửu Mão Tỵ Mùi Dậu Hợi thuộc âm, là âm chi Giáp Ất Dần Mão thuộc mộc, Bính Đinh Tỵ Ngọ thuộc hoả, Canh Tân Thân Dậu thuộc kim, Nhâm Quý Hợi Tý thuộc thuỷ, Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc thổ
Phương vị cũng có thuộc tính ngũ hành: phương Bắc thuộc thuỷ, phương Đông thuộc mộc, phương Nam thuộc hoả, phương Tây thuộc kim, trung ương thuộc thổ
Mười hai địa chi cũng phân chia theo phương vị: Tý là Bắc, Ngọ là Nam, Mão là Đông, Dậu là Tây, Sửu Dần là Đông Bắc, Thìn Tỵ là Đông Nam, Mùi Thân là Tây Nam, Tuất Hợi là Tây Bắc
(lược bỏ đồ hình an mười hai địa chi trên bàn tay trái)
Trong mười hai địa chi, Dần Thân Tỵ Hợi là tứ mạnh, Tý Ngọ Mão Dậu là tứ trọng, Thìn Tuất Sửu Mùi vì tứ quý Tứ quý còn gọi là tứ mộ Ba tháng mùa xuân, tháng Giêng tại tháng Dần, còn gọi là mạnh xuân Tháng hai là tháng Mão, còn gọi là trọng xuân Tháng ba là tháng Thìn, còn gọi là quý xuân Hạ, thu, đông tính tương tự
Sau khi biết các kiến thức cơ bản, hiện tại chúng ta lại nói đến phương pháp khởi mệnh cung Nam mệnh sinh năm dương gọi là dương nam, nam mệnh sinh năm âm gọi là âm nam, nữ mệnh sinh năm dương gọi là dương nữ, nữ mệnh sinh năm âm gọi
là âm nữ Đối với phương pháp khởi mệnh cung, không luận mệnh nam hay mệnh nữ, đều là từ địa chi tháng sinh chồng lên địa chi năm sinh, dương nam và âm nữ theo thứ
tự xếp thuận mười hai chi, âm nam và dương nữ theo thứ tự xếp nghịch mười hai chi Lại lấy địa chi giờ sinh định mệnh cung Sau khi định được mệnh cung, hương nam
âm nữ theo thứ tự sắp xếp thuận các cung huynh đệ, thê thiếp, tử tôn, tài bạch, điền trạch, quan lộc, nô bộc, tật ách, phúc đức, tướng mạo, phụ mẫu Âm nam và dương nữ theo thứ tự xắp xếp nghịch cách cung huynh đệ, thê thiếp, tử tôn, tài bạch, điền trạch, quan lộc, nô bộc, tật ách, phúc đức, tướng mạo, phụ mẫu
Ví dụ 1: Dương nam sinh vào năm Giáp Tý, tháng Bính Dần, ngày Ất Sửu, giờ Giáp Thân, xem mệnh cung an ở đâu Lấy nguyệt chi Dần chồng lên niên chi Tý (TK: tức
là bấm vào vị ví Tý trên lòng bàn tay trái đọc Dần, thay vì đọc Tý) Theo thứ tự sắp xếp thuận mười hai chi, ta có đồ hình:
Mùi Thân Dậu Tuất
Ngọ Hợi
Tỵ Tý
Thìn Mão Dần Sửu
Trang 18Để thuận tiện, Thiên Khánh giải thích đồ hình bằng lời văn: Dần (vị trí cũ là Tý), Mão (vị trí cũ là Sửu), Thìn (vị trí cũ là Dần), Tỵ (vị trí cũ là Mão), Ngọ (vị trí cũ là Thìn), Mùi (vị trí cũ là Tỵ), Thân (vị trí cũ là Ngọ), Dậu (vị trí cũ là Mùi), Tuất (vị trí cũ là Thân), Hợi (vị trí cũ là Dậu), Tý (vị trí cũ là Tuất), Sửu (vị trí cũ là Hợi)
Người này sinh vào giờ Thân, trên đồ hình, cung Thân đang ở vị trí của Ngọ trên bàn tay trái Người này mệnh cung bày như sau (TK: lúc này vị trí các cung tính theo vị trí mười hai địa chi trên lòng bàn tay trái theo kiểu cũ, tức cung Tý ở vị trí chính Bắc): một, mệnh cung Ngọ; hai, huynh đệ cung Mùi; ba, thê thiếp cung Thân; bốn, tử tôn cung ; năm, tài bạch cung Tuất; sáu, điền trạch cung Hợi; bảy, quan lộc cung Tý; tám,
nô bộc cung Sửu; chín, tật ách cung Dần; mười, phúc đức cung Mão; mười một, tướng mạo cung Thìn; mười hai, phụ mẫu cung Tỵ
Ví dụ 2: Âm nam sinh vào năm Ất Sửu, tháng Mậu Dần, ngày Bính Ngọ, giờ Bính Thân, xem mệnh cung an ở vị trí nào Lấy nguyệt chi Dần chồng lên niên chi Sửu, theo thứ tự sắp xếp nghịch mười hai địa chi được đồ hình:
Tuất Dậu Thân Mùi
2 Phương pháp an thân cung
Thân cung và mệnh cung có ý nghĩa đại khái giống nhau, đều là tổng quát về vận mệnh cả đời người, có tác dụng bổ sung và tham khảo cho mệnh cung Phương pháp định thân cung, trước lấy địa chi tháng sinh chồng lên địa chi năm sinh, dương nam
âm nữ sắp xếp thuận, âm nam dương nữ sắp xếp nghịch Sau đó lấy vị trí mà địa chi ngày sinh chồng lên làm thân cung
Ví dụ 1: Năm Giáp Tý, tháng Bính Dần, ngày Ất Sửu, giờ Giáp Thân (dương nam), cần xác định vị trí thân cung
Trang 19Đầu tiên lấy địa chi tháng sinh chồng lên địa chi năm sinh Sau đó sắp xếp thuận mười hai chi Tức là lấy địa chi Dần của tháng Bính Dần chồng lên địa chi Tý của năm Giáp
Tý, sau đó sắp xếp thuận mười hai chi Lại xem địa chi Sửu của ngày sinh Ất Sửu chồng lên cung nào thì lấy cung đó làm thân cung Phía dưới có đồ hình:
Mùi Thân Dậu Tuất
Ngọ Hợi
Tỵ Tý
Thìn Mão Dần Sửu
Người này sinh ngày Ất Sửu, Sửu hiện chồng lên cung Hợi, thì Hợi là thân cung
Ví dụ 2: Năm Ất Sửu, tháng Mậu Dần, ngày Bính Ngọ, giờ Bính Thân (âm nam), tìm
Người này sinh vào ngày Bính Ngọ Trên đồ hình, Ngọ chồng lên cung Dậu, cho nên
vị trí của Dậu trên địa bàn là thân cung
3 Phương pháp an nhật cung
Phương pháp khởi nhật cung rất đơn giản, không tính dương nam âm nữ, âm nam dương nữ, sinh vào ngày có địa chi gì thì cung đó trên địa bàn chính là nhật cung Như người sinh ngày Giáp Tý, thì cung Tý trên địa bàn chính là nhật cung Người sinh ngày Ất Sửu, thì cung Sửu tên địa bàn chính là nhật cung Người sinh ngày Bính Dần, thì cung Dần trên địa bàn là nhật cung
4 Phương pháp an thời cung
Phương pháp khởi thời cung cũng giống như khởi nhật cung Không tính dương nam
âm nữ, hay âm nam dương nữ, sinh vào giờ có địa chi gì thì cung đó trên địa bàn chính là thời cung Như người sinh giờ Giáp Tý thì cung Tý trên địa bàn chính là thời cung Người sinh giờ Ất Sửu thì cung Sửu trên địa bàn là thời cung Người sinh giờ Bính Dần thì cung Dần trên địa bàn là thời cung
Trang 205 Xem cát hung mệnh cung
Mệnh cung như gặp cát tinh thì chủ cát, như gặp hung tinh thì chủ hung Nếu mệnh cung gặp cả cát tinh lẫn hung tinh, nếu cát tinh thắng hung tinh thì luận cát, nếu hung tinh thắng cát tinh thì luận hung Nếu gặp toàn cát tinh hoặc gặp toàn hung tinh thì độ
số cát hung có khác
Mệnh cung lạc Không là điềm xấu Vậy mệnh cung lạc Không là gì?
Mệnh cung lạc không là chỉ mệnh cung gặp vị trí Không Vong Ở đây cần biết nội dung Lục giáp không vong “Lục giáp” là chỉ “Tuần Lục giáp” Trong 60 ngày Lục thập Giáp Tý, phân làm tuần Giáp Tý, tuần Giáp Tuất, tuần Giáp Thân, tuần Giáp Ngọ, tuần Giáp Thìn, tuần Giáp Dần, gọi là Tuần Lục giáp Mỗi tuần có 10 ngày, mà thiên can có 10 vị, địa chi có 12 vị, thiên can và địa chi phối hợp, sẽ dư 2 vị trí địa chi Như vậy hai địa chi không có thiên can để phối hợp này gọi là Không Vong
Tuần Giáp Tý, Tuất Hợi Không Vong
Tuần Giáp Tuất, Thân Dậu Không Vong
Tuần Giáp Thân, Ngọ Mùi Không Vong
Tuần Giáp Ngọ, Thìn Tỵ Không Vong
Tuần Giáp Thìn, Dần Mão Không Vong
Tuần Giáp Dần, Tý Sửu Không Vong
Mệnh cung nếu ở vị trí cung vị Không Vong thì gọi là mệnh cung lạc Không Mệnh cung lạc Không là căn cứ vào can chi Như sinh vào tuần Giáp Tý, mệnh cung an ở Tuất Hợi thì là lạc Không
Tuần Giáp Tý có 10 ngày Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu
Tuần Giáp Tuất có 10 ngày Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi
Tuần Giáp Thân có 10 ngày Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ
Tuần Giáp Thìn có 10 ngày Giáp Thìn, Ất tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Thìn, Tân Hợi, Nhâm tý, Quý Sửu
Tuần Giáp Dần có 10 ngày Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi
Trang 21Thái Ất mệnh thư tổng cộng có 16 sao, khi 16 sao này lâm mệnh cung đều có ý nghĩa riêng Quân Cơ, Thần Cơ, Ngũ Phúc, Tiểu Du, Văn Xương, Kế Thần khi lâm mệnh cung, chủ hiển quý Dân Cơ lâm mệnh chủ đến chỗ cơ quản quản lí dân, tức làm quan, cũng là phát tài, thu hoạch sung túc Chủ Đại Tướng, Chủ Tham Tướng toạ mệnh cung, chủ về võ nghiệp, binh quyền quý hiển, nhậm chức gần thành thị Khách Đại Tướng, Khách Tham Tướng đến mệnh cung, chủ võ nghiệp, binh quyền quý hiển, nhậm chức tại biên ải Mệnh cung lạc Không, chủ hư giả không thực, nhàn cư vi bất thiện, phù phiếm vô định, không thế không thời
6 Cát hung của thân cung, nhật cung và thời cung
Quan Cơ, Thần Cơ, Thuỷ Kích lâm thân cung, nhật cung, thời cung, chủ bệnh tim, bị thương, ngộ độc, mủ nhọt Tiểu Du, Phi Phù lâm thân cung, nhật cung, thời cung chủ bệnh huyết dịch, đau nhức, bệnh tim Thuỷ Kích Thái Ất, Phi Phù đến thân cung, nhật cung, chủ bệnh mắt, hô hấp, bệnh phổi Thái Ất, Phi Phù đến thân cung, nhật cung, thời cung, chủ bệnh ho lao, bệnh đường ruột Thân cung lạc Không, chủ ly hương biệt
xứ, cáo mượn oai hùm, vô pháp vô thiên, lỗ mãng ngỗ ngáo, phiêu du vô định, ăn nhờ
ở đậu nhà chùa đạo quán, đưa thư viết tin (?), ca kĩ tạp hí
Niên nguyệt lạc Không, chủ tuổi thơ không nơi nương tựa, cha mẹ hình thương, không thể tự lập, không nhờ vả được quê quán Nhật trụ lạc Không, chủ hại vợ tổn con, tầm thường tất bật, tiến lùi đều thua, nhiều sầu nhiều lo Thời trụ lạc Không, chủ goá bụa cô độc, nhiều sầu nhiều lo, bệnh lao, suy nhược, tâm thần, vàng da, không thọ, cả đời đau khổ
7 Cát hung huynh đệ cung
Huynh đệ cung lạc Không, chủ hình thương, ghen ghét, keo kiệt, bạn bè bù khú, cà lơ phất phơ, khắc bạc bất nghĩa
8 Cát hung thê thiếp cung
Thê thiếp cung như ngộ cát tinh, vợ chồng không hình khắc; như ngộ hung tinh có hình tổn, hoặc hôn nhân chậm muộn Thê thiếp cung lạc Không, chủ hình khắc quan quả, nửa đường gãy gánh, keo kiệt bủn xỉn, xảo trá thị phi, lừa dối ám muội
9 Cát hung tử tôn cung
Tử tôn cung gặp cát tinh, chủ sinh quý tử; gặp hung tinh, chủ sinh nữ trước nam sau, hoặc chủ tổn thương, con vợ lẻ mới có thể bình an Tử tôn cung gặp Tiểu Du, Ngũ
Trang 22Phúc, Quân Cơ, Thần Cơ, chủ có 3 con trai Tử tôn cung gặp Kế Thần, Khách Đại Tướng, Dân Cơ, chủ 2 có 2 con trai Tử tôn cung gặp Khách Tham Tướng, chủ có 1 con trai Tử Tôn cung gặp Chủ Tham Tướng, chủ có 6 con trai Tử tôn cung gặp Văn Xương, Thiên Ất, chủ có 4 con trai Tử tôn cung gặp Thuỷ Kích, Phi Phù, chủ có 3 con gái Tử Tôn cung gặp Tứ Thần, Địa Ất, chủ có 2 con gái Tử tôn cung lạc Không, chủ con cháu thương yểu, con vợ lẻ, con thừa tự, tàn tật, điên cuồng, bất tài bất nhân
10 Cát hung tài bạch cung
Tài bạch cung gặp cát tinh, tiền tài đủ đầy; gặp hung tinh tán tài ít tụ Tài bạch cung lạc Không, chủ gia sản tiêu điều, tài phú thất tán, đạo tặc cướp bóc, li hương (?) bắt cóc, hoạ nạn bất ngờ, lục súc tổn hại
11 Cát hung điền trạch cung
Điền trạch cung gặp cát tinh, thừa hưởng nhiều tổ nghiệp; gặp hung tinh, không có tổ nghiệp, bạch thủ thành gia, tha hương Điền trạch cung lạc Không, ăn nhờ ở đậu, nhà tranh vách đất, rào thủng tường đổ, lửa đốt thuỷ dìm, tranh đoạt, hoang tàn
12 Cát hung quan lộc cung
Quan lộc cung gặp cát tinh, vinh hoa hiển đạt; gặp hung tinh tiến thối đều dở Quan lộc cung lạc Không, chủ hồ giả hổ uy, có tiếng mà không có miếng, xảo ngôn xảo ngữ, giáng cách chức đến nơi xa xôi
13 Nô bộc cung
Nô bộc cung gặp cát tinh, chủ được nô bộc hỗ trợ; gặp hung tinh không được nô bộc
hỗ trợ Nô bộc cung lạc Không, chủ bệnh, chết, thương tổn, thất bại, cưỡng hiếp, làm nhục, tai hoạ liên miên, điên đảo lẫn lộn
14 Tất ách cung
Tật ách cung gặp cát tinh, chủ một đời ít bệnh; gặp hung tinh chủ bệnh tật quấn thân Tật ách cung lạc Không, chủ hư nhược cực khổ, miệng mắt lệch lạc, tay chân tê cóng, nhiều sẹo, nhiều nốt ruồi, dễ bị phong hàn, si câm điếc hủi, sáu ngón, sứt môi
16 Phúc đức cung
Trang 23Phúc đức cung gặp cát tinh, một đời hưởng phúc; gặp hung tinh, khổ cực bạc phúc Phúc đức cung lạc Không, chủ tăng ni đạo sĩ, ngũ thuật, lang thang, canh cửa, ẩn cư nhàn tản, tiêu dao lánh đời, dựa dẫm quý nhân
17 Cát hung tướng mạo cung
Tướng mạo cung gặp cát tinh, chủ tướng mạo uy nghiêm, ung dung, tao nhã, tú mỹ; gặp hung tinh chủ xấu xí, lụm cụm, lam lũ Tướng mạo cung lạc Không, chủ ăn không nói có, mặt mũi phá xấu, gầy guộc, thấp bé, nhiều lo, thiệt thòi, cả đời gian khó
18 Phụ mẫu cung
Phụ mẫu cung gặp cát tinh, cha mẹ đầy đủ, không mất sớm; gặp hung tinh chủ cha mẹ mất sớm hoặc mẹ mất khi sinh Phụ mẫu cung gặp Tứ Thần, Thiên Ất, Địa Ất, Phi Phù, nhất định chủ cha mẹ mất sớm, hoặc chủ li biệt, làm con thừa tự, hoặc có mẹ kế Phụ mẫu cung gặp Tiểu Du, Văn Xương, Kế Thần, Tam Cơ, Ngũ Phúc, chủ hổ phụ sinh hổ tử, cha con đều hiển đạt Phụ mẫu cung gặp Tứ Thần, hung tinh và Thuỷ Kích, chủ tổ nghiệp hao tổn, cả đời cô khổ Phụ mẫu cung lạc Không, chủ cha mẹ mất sớm, bất lợi cho lục thân, làm con thừa tự hoặc con nuôi khác họ, tha hương, gian trá tà nguỵ, gian xảo bất minh
Lý pháp của mệnh lý tức là nói đến đạo lý của bát tự, điều này là nghĩa làm sao? Xem bát tự thì phải bắt đầu từ đâu? Làm sao để từ bát tự xem ra mệnh phú quý bần tiện? Sau khi học xong phần lý pháp, thì có thể nắm bắt được bát tự, xem ra được cấp bậc phú quý, cũng có thể xem đặc điểm nghề nghiệp Đương nhiên đối với mỗi đại vận cũng có thể phán đoán được cát hung Tổng kết lại, lý pháp thực chất chỉ là 1 câu: tức
là giúp bạn có thể đọc hiểu bát tự
Đối với mệnh lý Manh Phái, tượng pháp là trọng yếu nhất, nhằm giảng giải đầy đủ và chi tiết một bát tự Tượng có tượng can chi, tượng cung vị, tượng thập thần, cùng tượng thần sát Thông qua tượng, chúng ta có thể luận đoán được vô cùng cụ thể một
số sự việc Ví dụ như lý pháp có thể xem ra một năm nào đó không tốt, nhưng không
Trang 24tốt ở chỗ nào? Là bị bệnh, phá tài, hoặc là quan tai lao ngục; đây là vấn đề mà tượng pháp cần phải giải quyết Học tốt tượng pháp, thì suy đoán bát tự có thể đạt đến cảnh giới xuất thần nhập hoá
Kĩ pháp là bộ phận khó nhất của mệnh lý Manh Phái Kĩ pháp là gì? Giống như, bạn muốn xem cha mẹ của một người có còn tại thế hay không, có khắc đương số hay không, thì không phải là phạm trù của lý pháp, mà cần phải sử dụng tượng, sau cùng còn cần sử dụng kĩ pháp đến quyết định Đối với tình huống hôn nhân của một người, cũng có thể luận đoán thông qua kĩ pháp Căn cứ vào nhu cầu của độc giả, quyển sách này đối với lý pháp, tượng pháp, và kĩ pháp đều có đề cập đến, nhưng trọng điểm vẫn
là lý pháp."
(Manh Phái Sơ Cấp Mệnh Lý Học)
Lý pháp, Tượng Pháp, Kĩ pháp chính là biểu hiện của Lý Khí Tượng Số trong Manh Phái Đoàn thị Trong đó, Lý - Khí - Số tạo thành Lý pháp Tượng tạo thành Tượng pháp và Kĩ pháp
Lý pháp chính là phương pháp lý giải, đánh giá sơ bộ một bát tự của từng trường phái Thông tin đầu vào là bát tự trắng Kết quả đầu ra là cách cục và hỷ kỵ Ví dụ như Cách Cục Phái sẽ cho đầu ra là bát tự thuộc cách nào, bát cách hay ngoại cách, thanh hay trọc và thanh chỗ nào, trọc chỗ nào Vượng Suy Phái sẽ cho kết quả đầu ra là nhật chủ vượng hay nhược, ngũ hành cách cục gì, hỷ kỵ là gì và ở đâu Manh Phái Đoàn thị
sẽ có kết quả là bát tự là kết cấu tạo công gì (chế dụng, hoá dụng, mộ dụng chẳng hạn), hiệu suất lớn hay nhỏ, công - phế - nhàn là gì và ở đâu
Lý pháp chính là cách lý giải qui luật tự nhiên của từng trường phái một Thông qua
sự lý giải đó mà đánh giá một bát tự cụ thể phù hợp với qui luật tự nhiên đó ở những mặt nào để tiến hành phân chia các bát tự thành từng nhóm cụ thể, như cách phân chia thành bát cách - ngoại cách, cách cục ngũ hành vượng nhược, và kết cấu - phương thức tạo công Đồng thời cũng đánh giá một bát tự có độ phù hợp với qui luật tự nhiên
là cao hay thấp, cao thì cát, thấp thì hung
Tóm lại, Lý pháp trả lời câu hỏi: bát tự tốt hay xấu?
Tượng pháp là phương pháp sử dụng các tượng để xem cụ thể cát hung Như một bát
tự được đánh giá sơ bộ là tốt, thì nó tốt ở những mặt nào, xấu ở những mặt nào cụ thể Tức là cát hung ứng ở đâu, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái, tài phú, công danh, tâm tính, bạn bè, nhà cửa chẳng hạn Muốn trả lời được như vậy phải sử dụng Tượng
Hệ thống Tượng cơ bản của Tử Bình hiện nay có cung vị, thập thần (cung vị và thập thần hay được gộp lại thành cung tinh), và thần sát
Như muốn xem cha mẹ thì phải xem niên nguyệt trụ, xem tại đó là hỷ hay kỵ, thần sát
là gì Sau đó lại nhìn Tài tinh và Ấn thụ ở đâu, nằm trong mối quan hệ tương tác với những gì Như vậy sẽ đoán được tình hình cha mẹ
Tóm lại, Tượng pháp trả lời câu hỏi: bát tự tốt thì tốt ở đâu, xấu thì xấu ở đâu
Trang 25Kĩ pháp, theo tôi, là phương pháp tác động lên một nhóm tượng để lọc tượng Tại sao cần phải lọc tượng? Bởi vì một bát tự chỉ có tám chữ, mỗi một chữ tuy chỉ đại diện cho một thần (thập thần) nhưng lại đại biểu cho nhiều cung vị, nhiều thần sát Ví dụ,
về cung vị, phức tạp nhất là thời trụ Nó vừa là cung tử nữ (con cái), vừa là thiên di (tiểu thiên di), vừa là cung nô (bề tôi, con cái, học trò), vừa là nơi để xem đồng nghiệp, đồng hương (cùng với nguyệt trụ) Nó cũng vừa là cung tướng mạo (chủ yếu tướng mặt), vừa là nơi để xem phong cách ứng xử (tâm tính bên ngoài) Trong phép tiểu thời không, nó lại là cái cổng nhà, mặt tiền nhà Như vậy nếu kỵ thần ứng vào thời trụ, nó sẽ ứng vào những điều gì trong số những điều trên?
Để trả lời câu hỏi đó, cần có thêm Kĩ pháp để lọc tượng, hoặc có thể nói là để luận chi tiết hơn một bát tự Các kĩ pháp được truyền lưu khá rộng rãi hiện nay có thể lấy ví dụ như thập nhị cung chức (Lý Hậu Khởi, Bành Khang Dân), thái cực cửu cung, xuyến cung áp vận Đó là những Kĩ pháp tôi thấy có tính hệ thống, tức nó là một hệ thống những thao tác lên một nhóm các thần sát cụ thể, để đoán cát hung cho nhiều vấn đề khác nhau Cần nhấn mạnh do nó là một hệ thống, nên có thể luận nhiều vấn đề khác nhau
Ngoài ra còn có những Kĩ pháp riêng lẻ, hoặc có thể cố tình bị cắt rời ra từ một hệ thống hoàn chỉnh, để truyền lưu ra bên ngoài Những Kĩ pháp riêng lẻ này chỉ có thể đoán một khía cạnh, ví dụ như đoán số anh chị em, đoán thai đầu là nam hay nữ, đoán hiện nay đã tạ thế hay chưa
Tóm lại, Kĩ pháp trả lời câu hỏi: Vị dụ như, nếu cha mẹ xấu, thì xấu ở khía cạnh cụ thể nào?
Như vậy có thể thấy, Lý Pháp - Tượng Pháp - Kĩ Pháp thực chất là các bước xem mệnh, tăng tiến dần từ khái quát đến cụ thể Cầm trên tay một bát tự trắng, đầu tiên dùng Lý pháp để đánh giá, tiếp theo dùng Tượng pháp và cuối cùng là Kĩ pháp để tiến đến xem chi tiết từng vấn đề một
Tuy nhiên, Manh Phái Đoàn thị không giữ vững được tính thống nhất ở các bước xem mệnh này
Tôi trích ví dụ phía dưới:
Ví dụ 1:
Càn: Giáp Ngọ - Quý Dậu – Mậu Tý – Đinh Tỵ
Phân tích: Mậu hợp Tài (Tý, Quý là một chữ) Tại thời trụ Mậu thấy Tỵ Lộc, trên Tỵ
thấu Đinh, Đinh Tỵ có thể xem là bản thân đương số Chữ nào toạ lộc thì là chủ vị, là một tượng Đinh và Ngọ là nguyên thân và Lộc, tương đương từ thời trụ chảy đến niên trụ, niên trụ đội Giáp, Giáp Ngọ là một đái tượng Ấn đội mũ Sát Hoán tượng là nhật chủ đội mũ Sát Là mệnh làm quan Đương nhiên nhật chủ hợp Tài cũng là có tài phú, nhật chủ hợp Tài sẽ bàn đến sau Hành vận Mậu Dần, Mậu cũng chính là nhật chủ, Dần là Lộc của Giáp, đồng nghĩa với tự mình toạ Thất Sát, cho nên vận này nhậm chức phó thị trưởng Nhưng Sát này có hoá Dần Ngọ hợp Ấn cục, chủ quyền
Trang 26lực vào tay Cho nên Ngọ muốn khắc Dậu kim, muốn chế kim thuỷ, mà chế lại không tốt Cho nên cần xem đái tượng ở Giáp Ngọ Hoả chế kim thuỷ chế không tốt, cho nên xem như là không tạo công, tức không dùng tạo công đoán mệnh, mà trong trường hợp này dùng tượng Nhật chủ hợp Tài, chứng tỏ người này là quan tham, tham tài
Ví dụ 2:
Khôn: Đinh Mùi – Bính Ngọ - Tân Mùi – Giáp Ngọ
Phân tích: không tạo công, nhưng có tượng, thành ra xem tượng Bát tự này quý, đầu
tiên là nhìn thời trụ, có đái tượng, Quan đội mũ Tài, nên là quan cai quản tài phú Ngọ Mùi hợp, chính là tượng bản thân đương số Mặt khác bản thân mình lại toạ Tài khố, Ngọ với Đinh là một tượng Đinh toạ Mùi, cùng với Mùi tại nhật trụ là một tượng Mùi là Ấn đội mũ Sát, chủ quyền lực Ấn là xí nghiệp, Bính Tân hợp tượng là quản lý, Đinh Ngọ Mùi đều là một đảng Đinh Mùi tại niên trụ chủ nơi xa, thời trụ là môn hộ, đều chủ ra nước ngoài Người này chạy khắp nơi bên ngoài, rất có năng lực, là tổng thanh tra tài chính của tập đoàn đa quốc gia, rất có quyền lực Bát tự này không thể dùng tạo công để phân tích, chỉ có thể phân tích bằng tượng
Cả hai ví dụ phía trên đều bỏ qua Lý pháp, tức là không luận tạo công, mà chỉ luận Tượng pháp, là không phù hợp, đi ngược lại với tiêu chí Lý Khí Tượng Số, cũng như
Lý pháp - Tượng pháp - Kĩ pháp đã được đề cập Luận như vậy sẽ có nghi vấn là gọt
số
Tôi lấy ví dụ Kĩ pháp đoán số anh chị em của ông Bành Khang Dân - Thái Tích Quỳnh Đầu tiên đều phải luận nhật chủ vượng nhược thế nào, như thái nhược, thiên nhược, thiên vượng, thái vượng Sau đó mới dùng kĩ thuật ngũ hành cực số để đoán số anh chị em Nhật chủ vượng nhược là Lý pháp, thập thần là Tượng pháp, ngũ hành cực số là Kĩ pháp (là các thao tác tác động lên thập thần)
Không thể bỏ qua Lý pháp mà chỉ luận Tượng pháp như hai ví dụ phía trên
Phía trên tôi đã trình bày về sự không thống nhất giữa lý luận tam pháp và việc ứng dụng tam pháp trong Manh Phái Đoàn thị.
Thiên Đạo - Nhân Đạo và Vượng Suy - Hiệu Suất
1 Thiên Đạo - Nhân Đạo
Tôi trích lại phần Thiên Đạo - Nhân Đạo trong Ngũ Ngôn Độc Bộ:
"Cách nhìn thứ nhất là thuận theo thiên đạo Tức lấy “tổn hữu dư nhi bổ bất túc” làm tôn chỉ Cách nhìn thứ hai là thuận theo nhận đạo Tức “tổn bất túc nhi phụng hữu dư” làm tôn chỉ
Trang 27Nhân đạo khác với thiên đạo “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu” Thiên địa, trời đất vốn là vô tình, xem con người như chó rơm Bất nhân, vô tình ở đây cần phải hiểu là công bằng, không thiên lệch Muốn công bằng tuyệt đối, muốn xem người người đều như chó rơm, người giàu cũng như người nghèo, quan lại cũng như thường dân, nam cũng như nữ, người khóc cũng như người cười (chó rơm không biết khóc cười), thì thiên địa cần phải vô tình Có vô tình mới có thể đối xử công bằng Thiên địa mà có tình cảm thì chắc chắn sẽ xảy ra thiên lệch, ưu ái người này mà bất công với người kia Như vậy thì thiên địa không thể thực hành cái đạo tổn hữu dư nhi bổ bất túc
Nhân đạo thì ngược lại, nhân đạo có thất tình lục dục, có tham sân si, nên con người không thể “tổn hữu dư nhi bổ bất túc” Người giàu có thì lợi dụng tiền bạc sẵn có để tạo lợi thế kiếm tiền nhiều hơn Người có quyền uy thì dùng quyền uy của mình để tạo điều kiện cho bản thân có được nhiều đặc quyền hơn Mà tiền bạc của cả xã hội thì có hạn Mình lấy thêm được tiền tức là người khác phải bớt đi đúng số tiền đó Vậy người có tiền càng thêm nhiều tiền, người nghèo khổ càng thêm mất tiền Đã có dư còn muốn dư nhiều hơn Đó là nhân đạo: "tổn bất túc nhi phụng hữu dư" (lấy cái không đủ mà nuôi cái đã có thừa)
Cách nhìn thứ nhất về bệnh (mệnh quý trung hoà) lấy thiên đạo làm tôn chỉ Mệnh không có bệnh thì xem như quý Cả đời bình bình an an, an nhàn tự tại, tu tâm dưỡng tính mà sống."
Dễ thấy, Vượng Suy Phái lấy cân bằng nhật chủ làm thái cực, thông qua đó mà gián tiếp cân bằng ngũ hành nguyên cục Nếu nhật chủ và đảng của nhật chủ yếu nhược thì cần dương, phù; ngược lại thì cần ức, chế Đó là vận theo Thiên Đạo "tổn hữu dư nhi
vị (nhật trụ) cùng khí thế là nhất trí với nhau, sau đó thông qua cái “thế” này mà tạo công."
Bát tự chỉ có tám chữ, hành này được khí thế càng lớn, thì hành khác khí thế phải càng nhỏ Đó là vận theo Nhân Đạo "tổn bất túc nhi phụng hữu dư"
Tuy nhiên, Manh Phái Đoàn Thị áp dụng Nhân Đạo không thống nhất Tôi trích ví dụ bên dưới
Ví dụ 3:
Càn: Đinh Hợi – Nhâm Tý – Canh Thìn – Nhâm Ngọ
Trang 28Phân tích: nhật chủ toạ Thực Thần khố, kim thuỷ kết đảng
Thấp thổ và thuỷ là một đảng, kim thuỷ, thấp thổ kết đảng rồi sau đó cần chế hoả Nguyên cục địa chi có Ngọ, thiên can thấu Đinh Đinh - Ngọ là một chữ Trước tiên xem niên can Đinh hoả, Đinh Nhâm hợp, Đinh Hợi tự hợp, Đinh hoả đã bị chế Lại xem Ngọ hoả và Nhâm thuỷ tự hợp (cũng có thể nói là Nhâm thuỷ hư thấu), lại có Tý – Ngọ xung, Thìn cũng tiết hối Ngọ hoả Lại có thêm tượng là Ngọ Hợi ám hợp Chủ yếu là do Tý – Ngọ xung mà tạo công Nguyên cục hoả bị chế tận, chế được vô cùng tốt, cho nên tạo công rất lớn Chế khử Quan và nguyên thần của Quan thì có thể làm quan lớn, cho nên người này thực tế là làm quan lớn Cũng thuộc về bộ thần và tặc thần; hành Đinh, Ngọ đại vận đều không sợ, nếu gặp là đắc Mệnh cục là mệnh đại quan, nhưng không đạt đến cấp độ làm tổng thống, bởi vì đại vận không tốt, cho nên chỉ làm đến cấp thành phố Tức là không gặp hoả vận, chỉ toàn đi gặp vận bộ thần.
Năng lượng chế dụng thấp một chút Kim thuỷ và thấp thổ đành đảng quá mạnh, hoả quá nhược, bởi vì Thìn hoá đi Ngọ hoả, Ngọ lại có sinh dụng, Tý xung Ngọ cho nên xấu một chút
Càn: Mậu Tuất – Giáp Dần – Đinh Mão – Giáp Thìn
Phân tích: mộc, hoả cùng táo thổ thành đảng, chế Thìn thổ (Quan Sát khố) Đầu tiên
có Thìn Mão hại, Thìn Tuất xung, nên Thìn bị chế, tức là bị Ấn và Tỷ Kiếp chế Không có hoả lộ ra, nên Thìn không có nguyên thần Bởi vì Thìn là Quan Sát khố, cho nên lực lượng không yếu, nên làm quan lớn PHÍA TRÊN, TẠO ĐINH HỢI BỞI VÌ HOẢ QUÁ NHƯỢC MÀ CHỨC QUAN NHỎ Tuất Tỷ Kiếp Dương Nhẫn khố, là quyền lực Mão là Ấn, cũng là quyền lực
Ví dụ 4:
Khôn: Nhâm Tý – Kỷ Dậu - Ất Sửu – Đinh Sửu
Phân tích: thấp thổ và kim thuỷ kết thành thế, địa chi không có táo thổ, thiên can thấu
một chút hoả, cho nên có thể đi chế hoả Đinh – Nhâm hợp, toạ dưới có Sửu thổ lại hối hoả, cho nên có thể chế hoả triệt để NHƯNG NĂNG LƯỢNG RẤT NHỎ, BỞI
VÌ THỜI TRỤ CÓ ĐINH HOẢ THỰC THẦN RẤT NHƯỢC LẠI HƯ THẤU, CHO NÊN HIỆU SUẤT KHÔNG CAO Toạ dưới có Sát khố, nguyệt trụ thượng có Thất Sát, nên có tượng mộ và củng cục Phía trên Sát lại thấu Tài, mà Đinh và Kỷ lại cùng
Trang 29một tượng, cho nên có thể nói toạ dưới có Sát khố thì có ý muốn cầu công danh chốn quan trường Củng cục biểu thị tự mình muốn gia nhập quan trường Kỷ Dậu là đái tượng Sát đội mũ Tài Thứ nhất là năng lượng tạo công thấp, thứ hai là Sát Dậu tại khách vị, chỉ có thể đóng vại trò phụ trợ, không thể làm quan lớn Tý – Sửu hợp có ý nghĩa là hợp đoạt lấy Ấn, cho nên không phú cũng không quý, chỉ có một chức quan nhỏ Sửu Dậu bán hợp Sát cục, nhưng trung thần tại khách vị, chính là nói chỉ làm phụ
tá cho người Quan Sát tại nguyệt lệnh chính là công tác, chỉ có một ít chức quyền, thật ra cũng không tính là làm quan Tý Sửu hợp là Ấn hợp Sát khố, tức là đem Ấn từ niên trụ hợp về đến chủ vị Ấn là đơn vị công tác, cho nên nói người này cũng có đơn
vị công tác
Ví dụ 5:
Càn: Nhâm Tý – Bính Ngọ – Nhâm Thìn – Kỷ Dậu
Phân tích: Nhâm toạ Tỷ Kiếp khố Trụ năm Tỷ Kiếp nhập mộ, Thìn – Dậu hợp là hợp
mà kéo Ấn về Thuỷ và thấp thổ có một chút khí thế Trụ năm và trụ tháng là Tỷ Kiếp chế Tài (Tý Ngọ xung), Ấn còn đại diện cho kĩ thuật, tại trụ giờ là làm bên ngành kĩ thuật NHƯNG TÀI CHẾ KHÔNG ĐƯỢC TRIỆT ĐỂ, BỞI VÌ TÀI KHÔNG LỚN
Kỷ Dậu là đái tượng, Ấn đội mũ Quan, đáng lẽ nên làm quan, nhưng người này không làm quan, vì sao? Bởi vì bát tự này có hoán tượng Kỷ là Ngọ, Ngọ tại trụ tháng bị Tý xung, nhưng lại không chế được triệt để, có Ngọ liền không quản chế được Kỷ lộ ra Muốn thấu Kỷ mà tốt thì không nên có thêm Ngọ (Hợp Quan có nghĩa là không thể chế Quan, bởi vì đã phản lại rồi, cho nên không thể đắc Quan)
Ví dụ 6:
Càn: Giáp Thìn – Mậu Thìn – Nhâm Thìn – Giáp Thìn
Phân tích: Nhâm sinh Giáp Thực, Giáp toạ Thìn là có căn, Thực thì lại sinh Tài,
nhưng trong cục không có Tài Có thể xem Thực như Tài mà luận Trụ năm và trụ giờ đều hiện Giáp Thìn; trụ năm đại diện cho tiền bạc trong thuở nhở Trụ năm có Giáp khắc Mậu là Thực chế Sát, thường thì nói Thực chế Sát đại diện cho quyền lực, cho nên có thể làm quan Vậy người này có thể hay không thể làm quan? Có thể làm quan, nhưng quan lớn hay nhỏ thì phải nhìn Giáp có chế Mậu hay không, nếu chế thành công thì Giáp phải vượng NHƯNG MÀ MẬU LÀ SÁT QUÁ NHƯỢC (THÌN KHÔNG GIÚP MẬU), LẠI HƯ Cho nên chỉ có một chức quan nhỏ Nếu mà Sát bị chế tại địa chi nữa thì có thể làm quan lớn Nhưng hành vận toàn kim thuỷ không tốt, bởi vì Thực thì thích thấy Tài, kết quả hành vận không thấy Tặc Thần, Quan cũng không có Vận Tài cũng không tốt, làm quan cũng chỉ được một năm Đây là mệnh phổ thông, đến vận Tuất có thể sẽ tốt lên một chút
Qua các ví dụ 3, 4, 5, và 6, Manh Phái Đoàn Thị vẫn luận có chế, nhưng vẫn không hoàn toàn cát lợi vì phe bị chế quá nhược, tức là sự chênh lệch giữa đảng đi chế và đảng bị chế là quá lớn thì không cát lợi Ở đây lại mẫu thuẫn với nhân đạo "tổn bất túc nhi phụng hữu dư"
Trang 30Cũng chính vì có điểm mâu thuẫn như vậy, nên Manh Phái Đoàn Thị có thêm một khái niệm để bổ sung tính logic cho chỗ này: Hiệu suất
2 Vượng Suy và Hiệu Suất
Tôi trích lại một chút:
"Manh phái xem bát tự khác với mệnh lý truyền thống, không dùng tiêu chuẩn bát tự bình hoà để đoán bát tự là tốt hay xấu Tương phản, manh phái cho rằng bát tự đại phú quý nhất định là không bình hoà, tức là bát tự nghiêng về “thế” của một phương, chủ
vị (nhật trụ) cùng khí thế là nhất trí với nhau, sau đó thông qua cái “thế” này mà tạo công."
Như vậy có thể thấy, một bát tự phú quý lớn theo kết cấu chế dụng, cần hội đủ các tiêu chuẩn:
(1) Bát tự phải hình thành khí thế rõ ràng, nghiêng về một đảng.
(2) Đảng đắc khí thế phải là đảng của nhật chủ Như đã biết, Manh Phái Đoàn Thị luận kết đảng bằng mối liên hệ tương sinh, như mộc - hoả đảng, hoả - táo thổ đảng, kim - thuỷ đảng Như vậy nếu kết hợp (1) và (2), có thể kết luận nhật chủ vượng (3) Chế triệt để
(4) Hiệu suất phải cao Chế triệt để không còn chưa đủ, muốn cát lợi thì hiệu suất tạo công do chế dụng đó phải cao Hiệu suất muốn cao thì Tặc Thần (đảng bị chế) không được quá nhược, không được hư thấu, tức là phải kết đảng, lại cường Bằng chứng: các ví dụ 3, 4, 5, 6
(1) + (2) => (5): nhật chủ thân cường vượng, đắc khí thế.
(3) + (4) => (6): lấy Tài Quan làm dụng Tài Quan nếu cường thì luận đắc Tài Quan, cát lợi
(5) + (6): Vượng Suy Phái
Đã biết tiêu chí luận mệnh phú quý, loại suy bằng cách suy ngược lại sẽ có tiêu chí mệnh bần tiện Ở đây Manh Phái Đoàn thị chỉ chênh lệch với Vượng Suy ở một điểm
đó là "nhật trụ", tức là thay vì xem nhật chi là "bán mệnh cung" (một nửa mệnh cung), thì Manh Phái Đoàn thị xem là mệnh cung
Như vậy, ở đây có nghi vấn Manh Phái Đoàn thị "đóng gói" lại Vượng Suy, bình mới rượu cũ Dĩ nhiên Manh Phái Đoàn Thị cũng có những lý luận đáng suy ngẫm và có giá trị, đây là vấn
đề tôi không phủ nhận.
thực chiến nổi bật trên trang mạng Trung Quốc ở thời điểm hiện tại.
Trang 31Tài liệu này bàn về Tượng Pháp, vốn rất phức tạp Bát tự có tám chữ, mỗi chữ lại có rất nhiều tượng, tượng chồng tượng, tượng trùng tượng, vì vậy cần căn cơ vững, nghiên cứu đến phần Tượng Pháp, mà cụ thể là có khả năng lọc Tượng thì dễ dàng nhập thủ tài liệu này, nếu không dễ bị nhiễu loạn
Ngoài ra, tài liệu còn thích hợp cho việc nghiên cứu "quẻ bát tự" Tức xem bát tự như một tiểu thái cực, một điểm thời không chứa tin tức vạn vật để luận cát hung sự kiện ngắn hạn Đây là cách ứng dụng bát tự theo lối quẻ Dịch, mà cụ thể là Mai Hoa Dịch; tức lấy bát tự tại thời điểm "tâm động" mà giải cát hung Đây cũng là quan điểm trụ cột của hệ thống kĩ pháp Thái Cực Cửu Cung Định Vị Chỉ có điều tài liệu này luận Tượng trên thực bàn là nguyên cục bát tự, chứ không luận trên hư bàn Cửu Cung Như cũ, việc gạn đục khơi trong, chọn lựa cái đúng, cái sai khi đọc là công việc của người đọc
Càn Tạo: Mậu Thìn - Ất Sửu – Quý Dậu – Mậu Ngọ.
1 Người có nhật nguyên Quý thuỷ, thường thận trọng, cân nhắc vấn đề cẩn thận, rất
có hứng thú đối với những việc thần bí
2 Toạ dưới có Dậu kim là Ấn tinh, nói rõ có tư tưởng ỷ lại
3 Niên nguyệt Mậu thổ thấu lộ, là người nhát gan thẩm thận
4 Nguyệt can Ất mộc là Thực Thần, là người có tinh thần hi sinh, cũng tương đối sĩ diện, khó tránh khỏi có chút lòng hư vinh
5 Ất mộc là Thực Thần, đại biểu yêu thích loại hình công việc liên quan đến nghệ thuật, rất nổ lực trong làm việc lĩnh vực này
6 Hôn nhân cung là Ấn tinh, nên hi vọng tìm được vợ có tuổi tác lớn hơn mình
Trang 327 Ất mộc khắc Mậu thổ, khi còn bé bộ mặt có bị thương tổn
8 Mục cục đông hàn, thích ấm sợ lạnh, dễ bị cảm lạnh
Nếu cẩn thận nghiên cứu còn có thể rút ra càng nhiều tin tức Lại có một ví dụ khác như sau:
Khôn tạo: Quý Sửu - Ất Mão – Mậu Thìn – Nhâm Tuất
1 Nhật trụ mậu thổ, là người thành thật, hậu trọng
2 Mậu – Quý hợp chắc chắn có chồng lớn hơn nhiều tuổi
3 Ất mộc là Quan tinh phùng sinh, chồng sẽ có quyền lực
4 Chính Quan trực tiếp khắc mậu thổ, là quan hệ vợ chồng cũng không phải tốt lắm
5 Ất mộc khắc Mậu thổ, trung niên trên mặt sẽ bị tổn thương
6 Ất mộc vượng nói rõ sinh hoạt gia đình gặp áp lực lớn
Mệnh lý tượng số quan trọng nhất là trong phương pháp giải đọc lá số biết lợi dụng tượng, số, lý làm tư tưởng chủ đạo, đồng thời lợi dụng tổng hợp các loại dịch tượng,
lý luận cùng với các kỹ pháp luận mệnh để hoàn thiện them phương pháp phân tích bát tự
2 Khái niệm Manh Phái
Can chi trong bát tự chính là phương thức để chiêm mệnh bằng tượng số, nó phản ánh toàn diện trạng thái của vạn sự vạn vật từ quá khứ, hiện tại đến tương lai Tượng tồn tại khách quan Tượng là phương thức biểu đạt Thiên Ý Về chiều rộng, tượng có thể chia làm bản tượng, vật tượng, sự tượng Về chiều sâu, tượng có thể chia làm hiện tượng, ý tượng, pháp tượng Bản tượng: tượng hào âm dương, tượng lưỡng nghi, tượng tứ tượng, tượng bát quái, tượng 64 quẻ Vật tượng: gần thì lấy tượng lục thân,
xa thì lấy tượng vạn vật, tượng quái diễn Sự tượng: dùng thường thức để hình dung lý của những sự việc diễn ra Hiện tượng: những biểu tượng do con người cảm giác hoặc nhận thức được Ý tượng: hợp ý, ý là tưởng tượng Pháp tượng: mang tính biểu tượng, tức là thủ tượng
Tượng trong phương pháp luận đoán tứ trụ bằng thủ tượng là chỉ tượng loại tổ hợp
Nó chủ yếu chỉ tượng loại âm dương, tượng loại cân bằng, tượng loại lưu thông, tượng loại vượng suy, tượng loại khô ẩm nóng lạnh, tượng loại dụng kỵ thần, tượng loại hư thực, tượng thiên văn thiên can, tượng địa lý địa chi, tượng loại tổ hợp can chi, tượng loại hình xung hợp hại, tượng loại tinh khí thần Thập Thần, tượng loại thanh trọc thuần tạp Sau đó căn cứ vào đặc điểm tổ hợp loại tượng mà xác định chủ yếu ứng với sự tình gì, lại lấy nó làm tiêu chí chủ yếu để lần theo mà xác định ứng kỳ
1.3 Đặc điểm phương pháp luận đoán thủ tượng
a Lấy tượng loại tổ hợp để phân tích mệnh cục
Trang 33b Phân biệt trong tứ trụ đâu là cung vị, bốn hạn, bốn đoạn, chủ thể và khách thể để xác định phạm vi và tính chất của sự tình tương ứng
c Dùng cát hung mệnh cục cùng với thủ tượng ứng sự việc gì mà đoán những thông tin chính yếu trong mệnh cục, lại lần theo tin tức mà tìm ứng kì
d Định tượng Thập Thần, kết luận dứt khoát
e Tượng là sự tình tương ứng, mà tượng cũng là ứng kỳ
Phương pháp thủ tượng Manh Phái chủ yếu ở chỗ can chi, cung vị, Thập Thần và quan hệ hình xung hại, đương nhiên cũng có liên quan đến quan hệ cố định của vị trí thứ tự can chi Cần phải đồng thời vận dụng những loại tượng này một cách tỉ mỉ Nhưng cũng có thể có lúc gượng ép hoặc tình trạng không rõ ràng, thì có thể lấy tượng thoát ý, đồng thời vận dụng lý luận truyền thống về âm dương, cân bằng Căn
cứ vào tổ hợp tượng loại mà đoán tin tức chủ yếu trong bát tự, là quý, là phú, là bần,
là tiện, là thọ là yểu, là mệnh tốt, hay là mệnh xấu, là có thành tựu hay vẫn là không
có thành tựu, là hôn nhân trắc trở, là thị phi kiện tụng tù ngục, là khắc vợ khắc chồng,
là khắc tử khắc mậu, là thích đánh bạc, là háo sắc, là phúc hậu chính phái, là gian hoạt, là kỹ nữ hay vẫn là kẻ trộm Thông qua tượng loại, không chỉ có thể xác định các cục cao thấp, mà còn có thể xác định tình trạng của đương số, cùng với những đại
sự cát hung chủ yếu trong mệnh Tất cả những điều này đều sẽ rõ rang thông qua phân tích tượng loại bát tự
1.4 Phương pháp thủ tượng chủ yếu
a Phương pháp cân bằng: cân bằng chủ yếu chỉ âm dương, vượng suy, hàn noãn táo thấp cũng thập can hỷ kỵ có cân bằng hoặc không cân bằng mà hình thành tượng, qua tượng đó mà biểu hiện cát hung
b Phương pháp lưu thông: tức là thông qua tổ hợp bát tự và ngũ hành sinh khắc mà hình thành một loại lộ tuyến, hình thành một loại chủ tượng hoặc chủ lực Lấy kết quả sinh khắc mà luận tượng, luận cân bằng Đắc cục triều nguyên hoặc ngũ hành tương chiến, hoặc nhật chủ vượng mà vượng lưu thông đến vượng, hoặc nhật chủ suy mà vượng lưu thông đến nhật chủ, hoặc nhật chủ vượng mà lưu thông làm ức chế Lưu thông luận cân bằng, lấy kết quả lưu thông luận nhật chủ cùng với dụng kỵ trong cách cục để đoán cát hug Dụng thần thông quan cũng là một phương pháp ứng dụng tuế vận trong việc luận đoán bằng phương pháp lưu thông Lưu thông nếu thành tượng thì cát hung lớn Tượng lưu thông lại phân làm mệnh cục lưu thông thành tượng, tuế vận lưu thông thành tượng, hoặc tuế vận phá hư lưu thông chẳng hạn
c Tinh khí thần của thập thần: nhật can tại nguyệt lệnh được sinh trợ hoặc toạ căn được sinh trợ, hoặc được can khác làm dụng sinh trợ thì có khí Ngũ hành khắc tiết hao tổn nhật chủ là nơi thể hiện thần thái nhật can Tổng thể lại chính là tinh khí thần của nhật can Tinh khí thần đủ, chỉ ngũ hành thành vượng khí hoặc tự có căn hữu lực Tam giả cũng thành âm dương đối lập, tinh đủ cùng thần đủ hình thành hai loại khí
Trang 34âm dương có lực Phân tích những Lục Thân khác cũng giống như phân tích Nhật Chủ, đều luận tinh khí thần Tinh vượng, khí vượng, thần vượng, tự nhiên là mệnh tốt,
có thành tựu Tinh khí vượng, thần khô, tự nhiên là mệnh không có thành tựu Xét theo trình độ này đó, thì khi kết hợp tinh khí thần vượng suy cùng với tổ hợp lưu thông cân bằng, nếu có tình trạng thái quá hoặc bất cập không đủ đều là thần khô hoặc khí suy, đều là không cân bằng, đều lấy tinh kiệt thần khô mà luận mệnh không có thành tựu Cân bằng chính là căn cứ luận phú quý thọ yểu Luận thập can tinh khí thần chính là căn cứ để luận cái được, cái mất của thập can Nhật can có đủ tinh khí thần tự nhiên là có chỗ thành Nhật can cần luận tinh khí thần, đồng thời dụng thần cũng cần luận tinh khí thần Cũng tức là luận tinh khí thần của chúng hữu lực hay vô lực
d Thanh trọc thuần tạp: bát tự có sinh khắc chế hoá thoả đáng là thanh, là hữu tình, trái lại không thoả đáng là trọc, là vô tình Từ lý luận âm dương có thể thấy, trong bát
tự nếu cùng tồn tại từ hai đối tượng có cùng âm dương ngũ hành trở lên thì là tạp Không hỗn tạp thì thuần Dụng thần được sinh hộ thích hợp mà đắc dụng là thuần Dụng kỵ tác động qua lại lẫn nhau, nếu cái hỷ dung mà có tác dụng không rõ rang, không chương hiển cũng là hỗn tạp
e Tượng tổ hợp thập thần: căn cứ vào mối quan hệ với nhật chủ mà định thập thần Sau đó dựa vào độ vượng suy, đặc tính của thập thần và tác động qua lại với các thần khác trong bát tự mà luận đoán Yêu cầu cần chuẩn xác nắm giữ hàm nghĩa Thập Thần Mỗi bát tự tổ hợp tự mình đã thành một tượng, còn đại vận lưu niên là ứng kỳ hậu thiên
f Tượng minh ám: hiện rõ là minh, không thấy là ám Nên minh mà minh, không nên minh mà không hiện thì cát, không nên hiện mà hiện là không cát, nên hiện mà không hiện cũng không cát Nên hiện mà đã hiện rồi, nhưng lại bị kỵ thần tổn thương thì vì hiện mà hung Chữ nào trong bát tự là hung thì không nên xuất hiện, nay hiện mà bị chế thì thành cát Bát tự củng dao hợp xung đều có ám tượng, như trong cục có 3 Bính thì sẽ ám hợp 1 Tân hoặc ám xung 1 Nhâm, Tân hay Nhâm này sẽ bởi vì ám xung, ám hợp mà động, động thì thể hiện tác dụng lên bát tự
g Tượng loại can chi: can chi phối trí là nói các loại quan hệ giữa can chi, bao gồm: nguyên lý can chi sinh khắc, nguyên lý can chi hỗ tá, nguyên lý can chi hư thực Đó đều là những căn cứ trọng yếu để phân tích bát tự
Còn có nhiều phương pháp thủ tượng khác, ví dụ như tượng loại thập thần, tượng loại hình xung hợp hại không, tượng hỷ kỵ, tượng vượng suy, tượng can chi, tượng bệnh dược, tượng độc vô, tượng hàn táo, tượng thiên khô, tượng phục ngâm, tượng phản ngâm, tượng hợp hội, tượng chế hoá, tượng sinh trợ, tượng xung chiến, v.v…
Chương 2: Tượng loại ngũ hành
2.1 Hình thể
Trang 35Người mệnh mộc: râu dài, râu tóc đẹp, lông mày thanh tú, màu da trắng, đứng ngồi
thẳng thớm, thanh âm vui vẻ, vô tư, âm điệu tương đối cao Mộc khí hưu tù tử tuyệt, dáng người nhỏ gầy, tóc thưa thớt, khô héo, mặt mày bất chính, cổ dài hầu lồi, da khô, giọng nhỏ mềm, nằm ngồi cử chỉ không ổn định
Người mệnh hoả: mặt trên hẹp dưới rộng, thịt nhiều, ấn đường hẹp, lông mày rậm,
mũi lộ khiếu, đầu nhỏ chân dài, lưng dày, phần bụng khá lớn Hoả quá nhiều thì huyết khí vượng, tóc thô dày, sắc mặt đỏ, tốc độ nói chuyện nhanh, hiếu động Hoả nhược thì thân hình gầy nhỏ lệch, da đen, sắc mặt hơi vàng, nói năng lộn xộn
Người mệnh thổ: đầu tròn, mặt rộng, mũi lớn, miệng vuông, sắc mặt hơi vàng, long
mày nhạt mà không dẹp, lưng dày eo thô, thanh âm nặng trọc, thường ít nói, tĩnh nhiều động ít Thổ hưu tù tử tuyệt thì mặt thường ưu sầu, thể trạng đơn bạc, gầy
Người mệnh kim: mặt hình vuông, tròn, màu da trắng nõn, lông mày anh tuấn, mũi
thẳng miệng ngay, thanh âm trong trẻo, thể chất cường tráng Kim quá vượng thì thân thể hơi mập, âm thanh trọc Kim hưu tù tử tuyệt thì gầy nhỏ, mặt xấu
Người mệnh thuỷ: lông mày thanh tú, mặt tròn, vai không rộng, thân thể dễ đung đưa
không ngừng, giọng nói thanh hoà, da trắng Thuỷ quá vượng thì to béo Thuỷ hưu tù
tử tuyệt thì thấp bé, đen xấu
2.2 Tính tình
Người mệnh mộc: nhân từ, trung hậu, lý trí, có chủ kiến, khiêm tốn, cử chỉ ổn thoả
đoan trang, tiêu sái Dần mộc là dương, hướng lên, có lòng tiến thủ, chính trực, phong nhã, có tình nghĩa, có trách nhiệm, nhanh nhẹn, có khả năng ứng biến Mão mộc là
âm, mềm mại, hoà ái, biết thông cảm, bề ngoài khiêm tốn, nội tâm thích chiếm hữu Mộc quá vượng thì táo bạo, lệch lạc, cố chấp, hay ghen ghét, thà gãy không cong, khó hoà đồng, hay phức tạp hoá vấn đề Hưu tù tử tuyệt thì không quả quyết, ý chí yếu kém, gió chiều nào theo chiều nấy, không có chủ kiến, lòng dạ hẹp hòi, tính toán chi
li, làm việc không trật tự
Người mệnh hoả: thích ăn diện, thích quần áo đẹp, tác phong nghiên cẩn, kính trên
nhường dưới, khiêm tốn thuần phác, hào phóng thông minh, có tài văn chương, tinh thần hang hái, có sức sang tạo, không sợ gian khổ Tỵ hoả là dương hoả, tính tình hướng ngoại, hơi có vẻ vội vàng xao động, lòng tự tôn cao, thích biểu hiện bản thân, thích cùng người tranh luận, không đủ tính nhẫn nại Ngọ hoả là âm, tư duy tỉ mỉ, tính tình hoà thuận, thông minh mà giàu lòng cảm thông, đa nghi Hoả quá vượng thì ngang ngược, dễ kích động mà mất lý trí, làm việc bất chấp hậu quả mà hối hận Hoả hưu tù tử tuyệt thì trời sinh thích a dua nịnh nọt, gian trá, giải biện, làm việc đầu voi đuôi chuột, không bền chí, không biết ứng biến linh hoạt, hay làm phiền người khác, không quả đoán
Người mệnh thổ: ổn trọng, trung thành, hiếu thuận, thủ tín, lòng da rộng, độ lượng,
kính thần phật, tự tin, thích yên tĩnh, kiên nhẫn, hiền hoà Dương thổ trầm ổn, âm thổ
Trang 36có nội hàm, tài nghệ Thổ quá vượng thì ngu dốt, cố chấp, phản ứng chậm, thích một mình, kỳ quái, không biết khiêm tốn Hưu tù tử tuyết thì nhát gan sợ phiền phức, ích
kỷ bủn xỉn, không thông tình đạt lý, không được người ưa thích, xảo trá
Người mệnh kim: quyền biến, hiếu học tiến thủ, thích tiệc tùng, uy vũ, kiên định, quả
quyết, có tình nghĩa, trượng nghĩa khinh tài, phân rõ thiện ác, trọng thanh danh, thông tình đạt lý, quang minh chính đại, có tài hoa, giỏi giao tế Thân kim là dương, thô kệch nhưng hào phóng, hiếu thắng Dậu kim là âm, trọng tình cảm, ôn nhuận thanh tú,
tự tôn nhưng thích hư vinh, ý chí không kiên định Kim quá vượng thì hữu dũng vô mưu, trọng nghĩa khí, dễ xúc động làm bậy, thích đánh giết, thích dâm dục Kim hưu
tù tử tuyệt thì ngoài miệng nói nhân nghĩa mà khó hành động thực tế, do dự không quyết, dễ để vuột mất cơ hội tốt, kiệm lời, làm việc thường nản chí khi khặp khó khăn
Người mệnh thuỷ: thông minh, suy nghĩ cẩn thận, lòng dạ rộng rãi, thiện lương, tầm
nhìn rộng, có học vấn tri thức, có đầu óc kinh tế Hợi thuỷ là dương, lạc quan, hướng ngoại, dũng cảm đa trí, túng dục tuỳ hứng, có khuynh hướng hưởng thụ lười biếng Tý thuỷ là âm, hướng nội, mềm mại, hay nghi kỵ, làm việc gì cũng có kế hoạch, suy nghĩ đôi khi không thiết thực, trong lòng hay có bất mãn, trọng tình cảm, cố chấp Thuỷ quá vượng thì quỷ kế đa đoan, dâm dục, hiếu động, không câu nệ tiểu tiết, không tuân thủ lễ giáo, tình cảm không chuyên nhất, bên trong thường u sầu, nhạy cảm, khi thì ăn nói luyên thuyên, khi thì cạy miệng không nói, đa tình, biết cảm thương người Thuỷ hưu tù tử tuyệt thì hay thay đổi thất thường, nhát gan sợ phiền phức, không biết lo xa, thường không tự chủ
2.3: Bộ phân thân thể
Mộc: gan, mắt, lông mày, tóc, lông, chân tay, thần kinh, não, da thịt, gân mạch
Hoả: tim, ruột non, nhiệt độ cơ thể, cơ bắp, con mắt, lưỡi, amiđan
Thổ: bụng, tính khí, ruột, mặt mũi, làn da, môi, sườn, lưng
Kim: phổi, ruột già, xương cốt, miệng, đầu, ngực, khí quản, da lông, não, màng phổi, cột sống
Thuỷ: thận, bang quang, hệ thống tiết niệu, phụ khoa, tai, cốt tuỷ, chân, âm bộ, huyết dịch
2.4 Bệnh tật
Mộc quá nhược hoặc bị khắc thương, váng đầu hoa mắt, tóc thưa thớt, dễ bệnh thần kinh, gân cốt đau đớn, tay chân tê lặng, tay chân thương tổn, bệnh gan mật, tật mắt, hay phát sốt cảm mạo mà toàn thân đau nhức
Hoả quá nhược hoặc bị khắc thương: bệnh tim, tim đập nhanh, nghẽn mạch, thiếu máu, bệnh dạ dày, bệnh thần kinh, đau nhức cơ bắp
Trang 37Thổ quá nhược hoặc bị khắc thương: gầy gò, thân thể yếu nhược, tứ chi không sức lực, bệnh dạ dày, thân thể đau nhức, bệnh ngoài da, bệnh vùng hậu môn
Kim quá nhược hoặc bị khắc thương: da lông nóng khô không nhuận, khí hư, bệnh hô hấp, dễ cảm mạo, bệnh cột sống, bệnh khớp
Thuỷ quá nhược hoặc bị khắc thương: thận, bàng quang, bệnh bí tiểu, bệnh về sinh sản, mộng tinh, mồ hôi trộm, liệt dương, sa tinh hoàn, bệnh tai, bệnh mẩn ngứa, phụ
nữ bệnh huyết trắng, kinh nguyệt không đều, bệnh phụ khoa
Thuỷ mộc tương sinh mà quá vượng: bệnh gan thận, bệnh dạ dày, gan trướng nước, gan trướng, bệnh thần kinh, tứ chi vô lực
Mộc hoả tương sinh mà quá vượng: đau nửa đầu, mắt đỏ, ù tai, mê muội, bệnh tim, táo bón, tứ chi tê dại
Hoả thổ tương sinh mà quá vượng: dạ dày trướng đầy, nôn nóng bất an, buồn nôn, hay nôn mửa, táo bón, tiêu hoá không tốt, ung bứu
Thổ kim tương sinh mà quá vượng: bệnh tật hệ hô hấp, ho lao, ung thư hầu, bệnh gan mật, táo bón, sa dạ dày
Kim thuỷ tương sinh mà quá vượng: thận hư, thận lạnh, thở khò khè, đi tiểu nhiều lần,
có biên chế, từ thiện, nghề mộc, rừng rậm, truyền bá, cảm mạo, bứu vùng thắt lưng, sản phẩm dệt, bệnh truyền nhiễm, thầy cúng hoặc người nhạy cảm với linh giới, nhà ngoại cảm, hô hấp, khí lưu, đạn
Bính Đinh hoả: mặt cười, nụ cười, biểu tình, hương vị (thơm hay thối), vết sẹo, thị lực, lạnh nóng, màu đỏ rực, tia sáng thấy được, hình tròn hoặc hình bầu dục, phương nam, mềm mại, hiền lành, từ thiện
Tỵ Ngọ hoả: lửa, màu đỏ rực, bộ ngực, mặt tròn, tim, mắt, không gian, gặp nước là thị phi khẩu thiệt, thân thể mập gầy tròn dẹt, huyết áp, bực dọc, văn minh, đồ gia dụng dùng để nhìn xem (TV, máy tính), vật tròn, nhà hàng, hoá chất mỹ phẩm (kiểm nghiệm), than đá, hành lý, cũ mới, phóng xạ, giáo dục, văn hoá, văn nhân, dầu đốt dầu hoả, điện, sưng phù, chụp ảnh, quân doanh, vui vẻ, tức giận, phóng viên, biên tập, bị bỏng bị phỏng
Trang 38Mậu Kỷ thổ: làn da, khu vực trung ương hay trung tâm, áp bách, trầm tích, vải bố, gốm sứ, nghề trồng trọt chăn nuôi, thổ sản, một táng, đóng giày, bách hoá
Mùi Tuất thổ hoả: miếu thờ, phòng nung, lò than, thổ chuỳ (?), vùng đồi núi, bạo tạc, thuốc nổ, vật chứa hoặc vật lưu trữ nhiệt độ cao, dốc cao, phòng ốc, phía sau lưng, hơi
ấm, trại chăn nuôi, kho lương thực, vật lồi ra, thập tự, đèn xanh đèn đỏ
Thìn Sửu thổ thuỷ: hố đường, đất trủng, rác rưởi, ao, sương mù, kho, hải dương, hồ nước, hòn đảo, bụng thuyền, tắc máu não, giếng, ngọt, bệnh tiết niệu, bệnh tim, xe cộ, nhà máy nước, kiến trúc cầu đường
Canh Tân kim: hình chữ nhật, không gian, đồ kim khí, trang trí, tính cứng rắn
Thân Dậu kim: sản phẩm kim loại, không gian, xe cộ, đường xá giao thông, đại tràng, phổi, trang trí, rèn đúc, dao kéo, nha khoa, vật dụng trồng trọt, các vật liệu máy móc trong các ngành có liên quan kim loại, khuôn đúc, rắn chắc, đường hành lang, đường nhựa, kim loại, tháp đỡ, lưu trữ, nghề thuê hoặc sửa chữa xe cộ
Nhâm Quý thuỷ: lạnh, lưu động, màu đen, biểu lộ nghiêm túc
Hợi Tý thuỷ: sông hồ, các ngành nghề thuỷ sản hoặc liên quan sông nước, thận, chất lỏng, ẩm ướt, ngư nghiệp, đồ uống lạnh, thuỷ lợi, du lịch, nghề dịch vụ hoặc phục vụ, nơi tắm gội, héo rút
2.6 Tượng vật của tổ hợp ngũ hành
Mộc thượng kiến thuỷ: vật phía trên có sinh ra hoa Mộc thượng kiến hoả: tàn cháy khô héo Mộc thượng kiến mộc: đồ gỗ hoa văn Mộc thượng kiến kim: vật gây ra thương tổn Mộc thượng kiến thổ: quan tài
Hoả thượng kiến thuỷ: tổn hại những vật đã cũ Hoả thượng kiến hoả: động nhiều tĩnh
ít Hoả thượng kiến mộc: hoa cỏ rau củ Hoả thượng kiến kim: vật cần hun đúc Hoả thượng kiến thổ: dụng cụ đất nung, sành sứ
Thổ thượng kiến thuỷ: vật mềm Thổ thượng kiến hoả: vật sáng, quang minh Thổ thượng kiến mộc: vật kiên cố Thổ thượng kiến kim: vật ngói, khoáng thạch Thổ thượng kiến thổ: gạch đá
Kim thượng kiến thuỷ; vật kim loại hoặc gạch đá Kim thượng kiến hoả: lò nung, vật
từ lò nung Kim thượng kiến mộc: vật điêu khác Kim thượng kiến kim: vật kim khí, ngũ kim Kim thượng kiến thổ: đồ đá
Thuỷ thượng kiến thuỷ: vật nhiều chân, vận động Thuỷ thượng kiến hoả: vật có khí hậu, tình trạng xấu, hoặc trong hoàn cảnh xấu.Thuỷ thượng kiến mộc: vật có vòng, bánh xe, bánh răng chuyển động Thuỷ thượng kiến kim: vật có sinh mệt Thuỷ thượng kiến thổ: vật cũ, vật dưới đất, côn trùng
2.7 Cách phân biệt nhanh ngũ hành:
Trang 39Giáp Ất phương Đông hành mộc, màu xanh Dần Mão vị chua, gan mật, mùa xuân, gân, gió, nhân tài, sừng, Tuế tinh, rạng sáng, giếng, Thanh Long Bính Đinh nam phương hoả, chiếu sáng, thiêu đỏ Tỵ Ngọ tim, đắng, ruột non, lưỡi, mùa hạ, nóng, vui, mạch máu, thu tặng quà, quà quý, ngày có Chu Tước hoặc Huỳnh Hoặc Mậu Kỷ trung ương thổ, màu vàng, tỳ vị, vị ngọt, môi, hương làng, ẩm ướt, suy nghĩ, cơ thịt, mùa màng, cung, tin tức Ngày có Câu Trần
Canh Tân tây phương, kim loại, màu trắng Thân Dậu đại tràng, vị cay, mũi, phổi, mùa thu, da khô, ưu thương, sát, nghĩa, hợp ban đêm có Bạch Hổ
Nhâm Quý phương Bắc, nước, màu đen, hương thôn Hợi Tý vị mặn, thận, tai, bàng quang, mùa đông, tuỷ, lạnh, hoảng sợ, trí, dâm, mưa, nửa đêm
Tý: ngũ hành thuộc dương thuỷ, chiếm giữ phương Bắc, chủ hồ nước, sông ngòi, nơi
có liên quan đến nước Chỉ người chủ phụ nữ, đạo tặc Động thực vật là chim én, dơi,
ốc sên, khoai lang, nước củ cải, lục bình Tại sự vật nếu gặp cát thần là thông minh cát tường, nếu gặp hung thần thì dâm dật Diện mạo con người: thuỷ vượng thì cao đen, mặt dài; thuỷ nhược thì mập lùn, mặt chữ quốc Hoàn cảnh: là hỷ thần biểu thị sông ngòi, giếng nước, ao nước, vạc nước sạch, tĩnh lặng; là kỵ thần chỉ loại nước bẩn thối như rãnh nước bẩn, cống thoát nước, hồ nước thối Nhân vật: là hỷ thần là người nam trẻ tuổi, quân cảnh, công chức hoặc những quý nhân cát lợi; là kỵ thần là đạo tặc, thổ phỉ, thiếu nam phạm pháp, hoặc những người mang điềm xấu Thân thể: hệ thống bài tiết, hệ thống sinh sản, dịch thể, bàng quang, niệu đạo, âm bộ, tinh dịch, kinh nguyệt,
lỗ tai Bệnh tật: huyết áp cao, sỏi thận, bệnh lây qua đường tình dục, xuất tinh sớm Cát hung: là hỷ thì biểu thị thông minh, may mắn; là kỵ thì dâm loạn, gặp hoạ sát thân, vật ô uế không may mắn
Sửu: ngũ hành thuần âm thổ, chiếm giữ phía đông bắc Nơi chốn: vườn dâu, cầu nối
cung điện, lễ đường, phần mộ Người: quý nhân, tôn trưởng, Thần Phật Động vật: trâu, lừa, la Tĩnh vật: chìa khoá, đồ trang sức, trân bảo, hộc đấu, giày Sự tình: gặp cát thần chủ vui mừng, thăng quan tiến chức; gặp hung thần chỉ hung, hình phạt lao ngục, kiện tụng, thị phi khẩu thiệt, rời xa nơi chôn rau cắt rốn hoặc bệnh tật Diện mạo con người: vượng thì mặt lớn, làm da tốt; nhược thì thấp xấu, làn da thô ráp Hoàn cảnh:
Trang 40hỷ thần chủ vườn rau, vườn dâu, cấu nối, cung điện, lễ đường; kỵ chỉ nơi ẩm thấp ô trọc như nghĩa địa Nhân vật: hỷ thì chỉ quý nhân, sư trưởng, Thần Phật, cha; kỵ chỉ
bà già, người phụ nữ xấu, xác chết Thân thể: lá lách, bụng, tử cung, âm hành, bờ môi Bệnh tật: cảm mạo, thương hàn, bệnh tiểu đường Cát hung: hỷ thì thăng quan, đạt giải, và các sự việc may mắn; kỵ thì khẩu thiệt thị phi, bệnh tật, bị đe doạ, và các điềm xấu khác
Dần: ngũ hành thuộc dương mộc, chiếm giữ hướng Đông Bắc Nơi chốn: rừng núi,
cầu nối Người: chồng, con rể, quý nhân, thanh quan, người nơi công môn luật pháp Vật: văn thư, biên lai, hoá đơn, lư hương, máy dệt, tài vật, quan tài Động vật: cọp, beo, mèo Sự tình: gặp cát thần chủ văn thư, tiền tài, tin tức; gặp hung thần vì phá tài, bệnh tật, quan phi Diện mạo: vượng thì thân cao, mặt chữ điền hơi dài, sắc mặt thanh bạch, lông mày thô rậm; nhược là vóc người trung bình, gương mặt nhỏ bé, lông mày thưa thớt Hoàn cảnh; hỷ thần là tượng cây cối, công viên, vườn trái cây, bồn cây cảnh; là kỵ chủ cầu gỗ gãy, rừng cây âm trầm Nhân vật: hỷ thì trượng phu, con rể, quý nhân, chủ nhà, khách khứa; kỵ là tham quan, ô lại, khách không mới mà đến, ác quỷ, tiện nhân Thân thể: bất luận hỷ kỵ đều tượng gan, ngực, xương cùng, lông tóc Bệnh tật: tứ chi tàn tật, bệnh gan Cát hung: hỷ thì tài đến, có tin tức tốt; hung thì bệnh tật, thị phi, rủi ro
Mão: ngũ hành thuần âm mộc, chiếm giữ phương đông Nơi chốn: đường cái, con
đường Người: anh em, cô gái trẻ, phụ nữ, đạo tặc, nghệ nhân ngành thủ công nghiệp Vật phẩm: chủ thuyền, xe cổ, cửa, cửa sổ Động vật: con thỏ, dế Sự việc: cát thần chủ
xe cộ, thuyền bè bình an vô sự; hung thần thì kiện cáo, khẩu thiệt, hoặc xe thuyền gặp tai nạn Diện mạo: vượng thì thân cao trung bình, mặt khá tròn, mắt hai mí; nhược thì vóc dáng không cao, mặt xanh đen, lông mày thưa thớt, mặt dài Hoàn cảnh: là hỷ thì chủ đạo đường, cửa, cửa sổ, thuyền nhỏ; là kỵ chủ thuyền hỏng, cây bị huỷ, hoa cỏ bị vứt bỏ Nhân vật: hỷ là huynh đệ, cô; là kỵ chủ bà cô (cô của ba), mẹ vợ, trộm vặt Thân thể: gan, gân cốt, khuỷu tay, thần kinh, lông, mười ngón tay, dưới nách Cát hung: hỷ thì xuất hành may mắn, thuyền xe bình an; hung thì thuyền xe gặp nạn, phạm điện quan can sát (sát khí do trụ điện sinh ra) hoặc thụ mộc sát (sát khi do cây cối sinh ra) Bệnh tật: gan trướng nước, thắt lưng đột xuất, chân gãy
Thìn: ngũ hành thuần dương thổ, chiếm giữ phía đông nam Nơi chốn: đê đập nước,
mộ phần, ruộng lúa, chùa chiền tự quan Nhân vật: tăng nhân, đạo nhân, phụ nữ Đồ vật: đồ sứ, vạc vò,t ro bồn, hương giấy, da lông Sự tình: cát thần chủ bác sĩ, thuốc men; hung thần chủ đồ tể, tranh tụng Diện mạo: vượng thì vóc dáng tương đối cao, mắt to, mặt chữ điền, trán rộng, mặt khá đầy; nhược thì gương mặt nhỏ, vóc dáng trung bình Hoàn cảnh; là hỷ chủ ruộng lúa, điền viên, núi đồi; là kỵ chủ phần mộ, chậu hoa bị bể, đường đầy bùn đất Nhân vật: là hỷ là trưởng nam, bác sĩ, y tá; là kỵ là
ni cô, đạo sĩ, tăng nhân Thân thể: xương, làn da, cổ, yết hầu Bệnh tật: bệnh tiểu đường, bệnh ngoài da, viêm xương, khàn giọng Cát hung: hỷ thì y thuật giỏi, khôn khéo, khoe mạnh, sung sướng; hung thì quái thanh quái khí, rên rỉ thống khổ