1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thử nghiệm áp dụng bộ công cụ phân tích nguồn lực và sơ đồ hóa hệ thống một sức khỏe (OH-SMART) vào mô hình quản lý thịt tại thành phố Hồ Chí Minh, 2021

10 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 9,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Thử nghiệm áp dụng bộ công cụ phân tích nguồn lực và sơ đồ hóa hệ thống một sức khỏe (OH-SMART) vào mô hình quản lý thịt tại thành phố Hồ Chí Minh, 2021 được nghiên cứu nhằm đánh giá hoạt động phối hợp liên ngành giữa các bên liên quan trong việc quản lý thịt sạch tại Tp. HCM thông qua phương pháp OH-SMART. Từ đó, đưa ra những ý tưởng về giải pháp cải thiện quản lý hiện nay, đồng thời kết quả còn là mô hình cho giảng dạy Một sức khỏe tại mạng lưới các trường đại học Việt Nam.

Trang 1

1 Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh;

2 Trung tâm nghiên cứu Y tế công cộng và Hệ sinh thái, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội;

* Tác giả liên hệ: Trần Phạm Tiến Thịnh Email: 15112356@st.hcmuaf.edu.vn; ĐT: 0828876906

THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG BỘ CÔNG CỤ PHÂN TÍCH NGUỒN LỰC VÀ SƠ ĐỒ HÓA HỆ THỐNG MỘT SỨC KHỎE (OH-SMART) VÀO MÔ HÌNH QUẢN LÝ THỊT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2021

Trần Phạm Tiến Thịnh * , Vũ Phương Thảo 1 ,

Phạm Đức Phúc 2 và Lê Thanh Hiền 1

Tóm tắt

Thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM) là thành phố lớn với nguồn cung thịt động vật đa dạng nhằm phục nhu cầu tiêu thụ của người dân Những vấn đề liên quan đến thịt bẩn do vấy nhiễm các mối nguy hại trong an toàn thực phẩm thường xảy ra và cần được quản lý chặt chẽ Mục đích của nghiên cứu này là áp dụng bộ công cụ phân tích nguồn lực và sơ đồ hóa hệ thống Một sức khỏe (OH-SMART) để tìm hiểu sự phối hợp quản lý của các cơ quan nhà nước trong việc đảm bảo chuỗi cung ứng thịt sạch tại Tp HCM Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng, một số khả năng cải thiện được xác định trong hệ thống quản lý, bao gồm việc tạo kênh thông tin trực tiếp kết nối giữa cơ quan quản lý động vật và cơ quan quản lý sản phẩm động vật, thành lập mạng lưới hệ thống phòng lab của các ngành khác nhau trong việc phối hợp phân tích rủi ro trong chuỗi cung ứng động vật và sản phẩm động vật, chuyển đổi mô hình từ “thanh tra - xử phạt” sang “hợp tác - tự kiểm tra”; đào tạo nâng cao năng lực điều tra ngộ độc thực phẩm và các năng lực cốt lõi Một sức khỏe Tóm lại, quản lý chuỗi cung ứng thịt hiện nay giữa các cơ quan chưa có sự kết nối chặt chẽ và công cụ OH-SMART có thể dùng để hỗ trợ cho quá trình phân tích.

Từ khóa: Chuỗi cung ứng thịt; quản lý chuỗi thịt an toàn; OH-SMART.

A PILOT MODEL TO APPLY ONE HEALTH SYSTEMS MAPPING AND ANALYSIS RESOURCE TOOLKIT (OH-SMART) TO REVIEW SAFE MEAT SUPPLY CHAIN MANAGEMENT IN HO CHI MINH CITY, 2021

Abstract

Ho Chi Minh City (HCMC), the largest city in Vietnam, has meat supplies derived from various sources to meet consumers’ needs However, unsafe meat contaminated with hazards such as biological and chemical ones does exist and needs to be well managed This study aimed to review the current food safety management framework and linkages among the agencies in the meat supply chain via application of One Health Systems Mapping and Analysis Resource Toolkit (OH-SMART) The results revealed that main possibilities for further improvement were identified, including: establishing direct communication in the chain of management between the agency monitoring animals and the agency inspecting animal products, optimizing the function of authorized laboratories and laboratory information networks in each chain of meat safety management, specifying a clear responsibility for effectively monitor distribution channels, and developing training courses related to food safety and one health issues In conclusion, the current management of food safety in the meat supply chain was not entirely consistent, and OH-SMARt seems to be useful for this analysis.

Trang 2

1 GIỚI THIỆU

Tại Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh

(Tp HCM) là nơi có mật độ dân số đông

nhất So với các địa phương khác, Tp HCM

đặc thù bởi sự tập trung phát triển các ngành

công nghiệp và dịch vụ hơn là các ngành

nông nghiệp Để đáp ứng được nhu cầu tiêu

thụ thực phẩm của người dân, trong đó có thịt

động vật, Tp HCM có nguồn cung đa dạng

đến từ các tỉnh lân cận và cả từ các quốc gia

khác (Faltman, 2019) Do đó, việc kiểm soát

đảm bảo thịt sạch đòi hỏi sự hợp tác từ nhiều

ban ngành (Hung và cs., 2017) Theo quy

định hiện hành, công tác quản lý nhà nước

về an toàn thực phẩm (ATTP) phân công cho

3 Bộ: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn và Bộ Công thương Theo cấp

bậc, quản lý về ATTP tại các tỉnh sẽ do các

Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn (SNN.PTNT) và Sở Công thương quản

lý Vào năm 2017, sau khi được phê duyệt

bởi chính phủ, Tp HCM thí điểm thành lập

Ban quản lý An toàn thực phẩm (BQLATTP)

nhằm thống nhất việc quản lý an toàn thực

phẩm về một đầu mối (Quyết định

2349/QD-TT, Thí điểm thành lập Ban Quản lý An toàn

thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, 2016)

Theo mô hình này, việc quản lý ATTP tại Tp

HCM sẽ do BQL.ATTP và SNN.PTNT đảm

nhận Bên cạnh đó, theo mô hình chung của

cả nước, Tp HCM có Ban chỉ đạo liên ngành

vệ sinh ATTP cấp thành phố, quận/huyện

cũng có vai trò nhất định Sự chuyển đổi cách

quản lý này mang lại một số hiệu quả nhất

định trong quản lý hành chính nhưng cũng

có nhiều bất cập cần cải thiện Hiện chưa có

một nghiên cứu bài bản nào thật sự đào sâu về

cách quản lý ATTP tại Tp HCM vì sự phức

tạp và thiếu công cụ hữu hiệu hỗ trợ

OH-SMART được viết tắt từ “One

Health Systems Mapping and Analysis

Resource Toolkit”, tạm dịch là Bộ công cụ

phân tích nguồn lực và sơ đồ hóa hệ thống

Một sức khỏe Đây là bộ công cụ được phát

triển bởi tập thể các nhóm, bao gồm Ngân

hàng thế giới (WB), Bộ Nông nghiệp Hoa

Kỳ (USDA) và Đại học Minnesota (UMN)

trong khuôn khổ dự án RESPOND được tài trợ bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) (Errecaborde và cs., 2017) Công

cụ này đã được thử nghiệm tại nhiều quốc gia nhằm đánh giá khả năng kết hợp của các nhóm làm việc trong lĩnh vực một sức khỏe

Cụ thể, OH-SMART đã được ứng dụng trong việc quản lý đợt dịch cúm gia cầm tại Hoa Kỳ vào năm 2013, các kế hoạch hành động hạn chế đề kháng kháng sinh tại Lào, Campuchia

và Myanmar (Vesterinen và cs., 2019) Các lợi ích mà OH-SMART có thể mang lại bao gồm việc hỗ trợ cơ quan quản lý phân tích khả năng làm việc của hệ thống hiện tại và khả năng phối hợp với các bên liên quan trong nỗ lực giám sát và phản ứng khi bắt gặp vấn đề Một sức khỏe Dựa trên bản đồ được phác họa, các bên liên quan có thể hình dung

rõ ràng hơn về các hoạt động giữa các đối tác khác nhau và xác định những khó khăn và cơ hội cải thiện của toàn bộ hệ thống (Rist và cs., 2014) Từ đó, những cải thiện để nâng cao nguồn nhân lực cũng như các giải pháp cho các vấn đề của cộng đồng sẽ được đưa ra cụ thể hơn

Vì vậy, đề tài được tiến hành nhằm đánh giá hoạt động phối hợp liên ngành giữa các bên liên quan trong việc quản lý thịt sạch tại Tp HCM thông qua phương pháp OH-SMART Từ đó, đưa ra những ý tưởng về giải pháp cải thiện quản lý hiện nay, đồng thời kết quả còn

là mô hình cho giảng dạy Một sức khỏe tại mạng lưới các trường đại học Việt Nam

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm thu thập

Nghiên cứu được tiến hành trong 4 tháng tại Tp HCM, từ tháng 10, 2020 đến tháng 1, 2021 Các địa điểm chính để thu thập thông tin bao gồm: Ban Quản lý An toàn thực phẩm Tp HCM, Đội Quản lý An toàn thực phẩm liên quận (Quận 6, Quận 8, Bình Chánh), Chi cục Chăn nuôi Thú y Tp HCM, Trạm Chẩn đoán xét nghiệm và điều trị bệnh động vật, Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm Tp HCM

Trang 3

2.2 Phương pháp tiến hành

Quá trình thu thập thông tin được diễn

ra từ các cuộc phỏng vấn riêng lẻ và phỏng

vấn nhóm các nhân viên chủ chốt tham gia

trong chuỗi quản lý sản phẩm động vật sạch

từ trang trại đến nơi phân phối tại Tp HCM

Bộ câu hỏi trong các buổi phỏng vấn được

xây dựng dựa trên bộ công cụ OH-SMART

Có 8 cuộc phỏng vấn diễn ra tại các nơi khác

nhau nhằm thu thập thông tin cho quá trình

nghiên cứu định tính trên

Bước 1 Xác định mạng lưới các bên

liên quan

Trong bước 1, các cuộc phỏng vấn đã

được thực hiện nhằm phác họa một mạng lưới

liên ngành/xuyên ngành hoàn chỉnh Thông

qua lời của các đối tượng được phỏng vấn từ

nhiều ngành khác nhau mà các bên liên quan

chính đã được bổ sung dần và được xác định

một cách đầy đủ Các bên liên quan này gồm

tất cả các ban ngành thuộc hệ thống quản lí

chuỗi cung ứng thịt sạch và được phân loại

theo từng mức độ liên quan đến vấn đề trên

Các ban ngành bao gồm: SNN.PTNT và

BQL.ATTP

Bước 2 Phỏng vấn các bên liên quan

trong mạng lưới đã xác định

Bước này nhằm tìm hiểu về các đặc

điểm giống và khác nhau của các bên liên

quan, cũng như những yếu tố nào kết nối họ

với vấn đề quản lý chuỗi cung ứng thịt sạch

và những động lực nào khiến họ hợp tác với

nhau Các buổi phỏng vấn này là bán cấu trúc,

sử dụng những câu hỏi mở và thay đổi tùy

theo tình hình nhằm thu thập được thông tin

cần thiết cho những bước tiếp theo (lập bản

đồ và phân tích)

Bước 3 Lập bản đồ hệ thống

Các bên liên quan cùng làm việc và chia

sẻ thông tin để lập bản đồ hệ thống nhằm giải

quyết vấn đề Một sức khỏe được quan tâm, ví

dụ như động vật và sản phẩm động vật không

phù hợp để tiêu thụ hoặc các vụ ngộ độc thực

phẩm, với mục tiêu cuối cùng là tăng cường

hiệu quả hợp tác giữa các cơ quan, ban ngành

Biểu đồ phân làn được sử dụng để biểu thị

tên cơ quan, hoạt động của cơ quan đó, và sự tương tác giữa các cơ quan Điều quan trọng khi lập bản đồ hệ thống là các bên liên quan cần nêu tình hình hiện tại của mình, tức là những gì đang thực sự xảy ra mà không phải những điều đáng lẽ phải xảy ra

Bước 4 Phân tích hệ thống

Trong bước này, dựa vào bản đồ hệ thống vừa được thiết lập, các thảo luận nhằm tìm ra những khác biệt, khó khăn, hay bất đồng quan điểm giữa các bên rồi tiến tới thỏa thuận chung, hướng giải quyết chung cho vấn

đề Một sức khỏe được tiến hành Những điểm khó khăn/khác biệt trên cần được ghi chép cẩn thận (bất đồng của ai, hướng về ai, trong vấn đề nào) và cập nhật liên tục trên bản đồ

hệ thống

Bước 5 Xác định cơ hội cải thiện

Các bên liên quan cần đưa ra giải pháp cho những khác biệt/ khó khăn vừa được xác định Bên cạnh đó, họ cũng cần nêu ra điểm mạnh, điểm yếu và những cơ hội áp dụng hay nhân rộng giải pháp này ra cộng đồng Các giải pháp được nêu ra nên được cân nhắc theo thứ tự ưu tiên và sự lựa chọn nên dựa theo các tiêu chí: tính khả thi, huy động nguồn lực, tính bền vững, tác động

Bước 6 Xây dựng kế hoạch hành động

Các giải pháp được liệt kê và được chọn trong bước 5 cần được cụ thể hóa và hiện thực hóa dựa trên kế hoạch hành động Kế hoạch này bao gồm nhiều bước hành động, hay hoạt động Các hoạt động này cần được mô tả thật cụ thể về: nguồn lực cần thiết, cơ quan chịu trách nhiệm, khung thời gian, người phụ trách

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài này, các thảo luận chỉ dừng lại ở bước số 5 nhằm xác định được các cải thiện tiềm năng

Do việc xây dựng kế hoạch đòi hỏi sự hiểu biết cụ thể về tình hình hiện tại của các cơ quan để đưa ra kế hoạch phù hợp và có tính thực thi nhất Như vậy, sự hợp tác và tham dự của các Ban lãnh đạo trong việc xây dựng kế hoạch ở bước 6 vẫn cần thêm nhiều thời gian để thực hiện

Trang 4

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hệ thống quản lý đảm bảo chuỗi cung

ứng thịt sạch tại Tp HCM

Trên phương diện quản lý từ các cơ

quan nhà nước, chuỗi thịt cung ứng tại

TP.HCM được chia làm hai đối tượng: động

vật sống và sản phẩm động vật Các đối tượng

này được quản lý bởi hai cơ quan riêng biệt

tại Tp HCM Trong đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (SNN.PTNT) sẽ đảm nhiệm phần quản lý động vật từ trang trại đến

cơ sở giết mổ và Ban quản lý An toàn thực phẩm (BQL.ATTP) sẽ phụ trách phần quản

lý sản phẩm động vật sau giết mổ bao gồm sản phẩm có nguồn gốc nội địa và nhập khẩu

Sự liên quan của các cơ quan đơn vị được thể hiện trong sơ đồ của Hình 1

Hình 1 Các cơ quan tham gia quản lý động vật và sản phẩm động vật

được tiêu thụ tại Tp HCM, 2020 Bắt đầu từ việc kiểm soát động vật

sống tại trang trại tại TP.HCM, Chi cục Chăn

nuôi Thú y (CC.CNTY) sẽ trực tiếp quản lý

dịch tễ, các vấn đề về sức khỏe đàn động vật

cũng như cung cấp giấy xuất đàn cho động

vật đạt yêu cầu trong trường hợp vận chuyển

động vật sống đi các tỉnh khác Riêng trường

hợp xuất đàn để vận chuyển trong địa bàn

TP.HCM, giấy xuất đàn sẽ được cung cấp

bởi các Trạm Thú y quận - huyện Có 4 trạm

kiểm dịch động vật tại TP.HCM, nhân viên

thú y sẽ đóng vai trò kiểm tra giấy kiểm dịch

thú y cũng như kiểm tra lâm sàng để đánh

giá sơ bộ sức khỏe đàn động vật Quá trình

này được quy định chi tiết tại Thông tư 25/

TT-BNNPTNT (2016) Đối với các cơ sở giết

mổ gia súc - gia cầm tại TP.HCM, các Trạm

thú y liên quận - huyện sẽ phụ trách kiểm soát

giết mổ (Thông tư 06/TT-BNNPTNT, 2016)

Các quá trình trên đều được nhân viên thú y ghi nhận lại và cập nhật vào phần mềm quản

lý động vật xuất - nhập tỉnh cũng như lượng động vật giết mổ tại các cơ sở giết mổ Phần mềm này được CC.CNTY trực tiếp quản lý

và đánh giá

Thịt và các sản phẩm động vật sau khi rời cơ sở giết mổ tại Tp HCM hoặc được vận chuyển từ các tỉnh khác vào Tp HCM để tiêu thụ sẽ được BQL.ATTP phân công cho các cơ quan nhà nước khác nhau cùng hỗ trợ quản lý Các kênh phân phối các sản phẩm động vật tại Tp HCM bao gồm: chợ đầu mối (chợ sỉ), chợ lẻ, doanh nghiệp và hộ kinh doanh Hai chợ đầu mối (chợ đầu mối Hóc Môn và chợ đầu mối Bình Điền) sẽ được trực tiếp quản lý hàng ngày bởi hai đội quản lý an toàn thực phẩm liên quận huyện Các doanh nghiệp kinh doanh - phân phối sản phẩm thịt sẽ được quản lý bởi 8 đội quản lý an toàn thực phẩm

Trang 5

liên quận huyện còn lại Còn lại, Phòng Y tế

Quận/Huyện sẽ quản lý các hộ kinh doanh và

Ban Quản lý chợ sẽ quản lý các tiểu thương

tại các chợ lẻ Khác với hai chợ đầu mối, các

địa điểm kinh doanh - phân phối sản phẩm

động vật còn lại được giám sát một lần trong

năm Khi các nơi này có dấu hiệu vi phạm,

việc tái giám sát sẽ được tiến hành (Nghị định

15/ND-CP, 2018) So với việc quản lý động

vật sống, các sản phẩm động vật sau giết mổ

được quản lý bởi nhiều cơ quan liên ngành

(các đội quản lý ATTP liên quận trực thuộc

BQL.ATTP, Phòng Y tế Quận/Huyện, Ban

Quản lý chợ thuộc và chưa có sự tập hợp các

dữ liệu từ các cơ quan trực tiếp quản lý

3.2 Sự tương tác giữa các cơ quan khi giải

quyết vấn đề phát sinh

Khi thảo luận các vấn đề đòi hỏi sự phối

hợp giải quyết giữa các cơ quan, hai trường

hợp được đặt ra: khi nghi ngờ hoặc phát hiện

động vật không phù hợp cho việc tiêu thụ

(Hình 2) và khi nghi ngờ hoặc phát hiện bệnh

nhân bị ngộ độc thực phẩm có liên quan đến

sản phẩm động vật (Hình 3)

(a) Đầu tiên là việc xử lý khi phát hiện

động vật và sản phẩm động vật không đạt yêu

cầu cho việc tiêu thụ Vấn đề này có thể được

phát hiện tại chốt kiểm dịch hoặc tại cơ sở

giết mổ Nhân viên thú y tại các nơi này sẽ

ghi nhận các triệu chứng lâm sàng và phối

hợp với Trạm Chẩn đoán xét nghiệm và Điều

trị để tiến hành lấy mẫu xét nghiệm và báo

cáo lên CC.CNTY Nếu phát hiện động vật

nằm trong trường hợp phải tiêu hủy và giá trị

đàn lớn hơn 50 triệu đồng, CC.CNTY phải

báo cáo lên UBND Tp HCM thông qua SNN

PTNT để được phê duyệt Ngược lại, nếu giá

trị đàn dưới 50 triệu đồng, Chi cục trưởng sẽ

ra quyết định tiêu hủy đàn Tuy nhiên, trong

trường hợp phát hiện sản phẩm động vật

không phù hợp hoặc không chứng minh được chứng nhận đạt yêu cầu để tiêu thụ tại các chốt kiểm dịch, việc xử lý đòi hỏi sự phối hợp với BQL.ATTP Khi đó, nhân viên thú y tại chốt kiểm dịch phải báo cáo lên CC.CNTY Sau đó, Ban lãnh đạo Chi cục sau đó sẽ trình báo lên SNN.PTNT để cơ quan này liên hệ với BQL.ATTP Điều này được giải thích do cấp bậc của giữa CC.CNTY và BQL.ATTP

là khác nhau, do đó, Trạm kiểm dịch không

có sự lựa chọn trong việc báo cáo trực tiếp đến BQL.ATTP mà phải báo cáo lên các cơ quan cấp trên Trong khi quá trình báo cáo các vấn đề liên quan đến xử lý đàn động vật diễn ra trong vòng 24 giờ nhằm giảm thiệt hại trong việc phát tán mầm bệnh, chi phí cách ly đàn động vật và các nguy cơ rủi ro khác, việc trình báo liên quan đến sản phẩm động vật diễn ra tốn nhiều thời gian và gặp khó khăn trong quá trình kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan Vì vậy, việc xử lý triệt để các trường hợp phát hiện sản phẩm thịt động vật nghi ngờ không phù hợp để tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn

(b) Trường hợp còn lại được đề cập là cách xử lý khi phát hiện ca nghi ngờ ngộ độc thực phẩm do tiêu thụ thịt Trước hết, các bệnh viện hoặc cơ sở y tế sẽ báo cáo lên Phòng Quản lý Ngộ độc thực phẩm (PQL.NĐTP) (thuộc BQL.ATTP) thông qua Trung tâm y tế quận/huyện Nếu bệnh viện thuộc tuyến quận/ huyện, việc báo cáo trực tiếp không thông qua Trung tâm y tế đều được chấp nhận Khi

đó, nhân viên tại PQL.NĐTP sẽ thu gom các

dữ liệu khai báo từ bệnh nhân và gửi đến các

cơ quan quản lý các nơi này để tiến hành điều tra Ví dụ, các doanh nghiệp sẽ do Đội quản lý ATTP liên quận/huyện, hộ kinh doanh sẽ do Phòng Y tế quản lý và chợ lẻ sẽ do Ban Quản

lý Chợ điều tra Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp đều gặp khó khăn trong quá trình điều tra được nguyên nhân cụ thể gây bệnh

Trang 8

3.3 Những điểm không đồng nhất trong

quá trình quản lý

Khi nhìn tổng thể quá trình quản lý, có

thể thấy có bốn điểm không đồng nhất trong

quá trình phối hợp giữa các cơ quan

(i) Thiếu kênh chia sẻ thông tin Hiện

tại, phần lớn quá trình giao tiếp đều được thực

hiện qua văn bản hành chính và đòi hỏi nhiều

quy trình mới được thông qua Bên cạnh đó,

hầu hết việc chia sẻ hay báo cáo thông đều

được thực hiện thông qua các cấp, từ cấp thấp

nhất mới đến cấp cao nhất Việc thiếu giao

tiếp trực tiếp giữa các cấp mà không qua văn

bản dẫn tới việc sự thiếu hiệu quả trong chia

sẻ thông tin và cuối cùng là chậm trễ trong xử

lý vấn đề Điểm yếu này sẽ bị lộ ra trong khi

điều tra, phát hiện và xử lý các trường hợp

vận chuyển thịt tươi một cách không hợp lệ

hoặc trái phép, cũng như các trường hợp ngộ

độc thực phẩm

(ii) Thiếu phối hợp giữa các cơ quan;

các cơ quan hoạt động riêng lẻ Hiện nay,

phần lớn các cơ sở trực thuộc ban ngành đều

sở hữu cơ quan xét nghiệm riêng để phát hiện

và xử lý các rủi ro, vi phạm của riêng ban

ngành đó Tuy nhiên, trên thực tế, việc xét

nghiệm mẫu từ động vật sống hoặc mẫu thịt

đều có thể được thực hiện bởi mọi ban ngành

và công việc này nên được điều phối đồng

đều đến mọi mắt xích của hệ thống phân phối

Việc thiếu hợp tác và thiếu điều phối khâu

xét nghiệm giữa các cơ quan có thể đặt nhiều

gánh nặng lên một cơ quan xét nghiệm riêng

lẻ (một cơ quan phải làm nhiều khâu), thiếu

chia sẻ thông tin giữa các ban ngành, gây tốn

kém về chi phí và nhân sự

(iii) Việc giám sát chưa đồng đều giữa

các kênh phân phối thịt Việc giám sát tại chợ

lẻ, hộ kinh doanh được thực hiện 1 lần/năm

trong khi tại các chợ đầu mối là hằng ngày

Các rủi ro thịt không đảm bảo an toàn tại

các nơi này vẫn nằm ở mức cao (Hanh và cs,

2015; Dang và cs, 2017) Thêm vào đó, mật

độ của các địa điểm kinh doanh này cũng rất

dày đặc Do đó, việc thanh tra tại các kênh

phân phối này cũng gặp nhiều khó khăn

(iv) Năng lực điều tra ngộ độc thực phẩm còn chưa hiệu quả Hiện nay, lực lượng nhân sự tham gia điều tra ngộ độc thực phẩm chưa có đủ kiến thức chuyên môn để phát hiện

và xử lý các trường hợp ngộ độc thực phẩm Ngoài ra, người dân cũng chưa được tiếp cận

và trang bị kiến thức về ngộ độc thực phẩm để tự phát hiện trong phạm vi gia đình và khu phố Bên cạnh đó, hiện có rất ít trường Đại học cung cấp chương trình học về phân tích rủi ro an toàn thực phẩm (bao gồm đánh giá, quản lý và truyền thông rủi ro an toàn thực phẩm) dẫn tới thiếu hụt lực lượng chuyên gia điều tra ngộ độc thực phẩm

3.4 Các cải thiện tiềm năng

Nhằm giải quyết những điểm không đồng nhất trên, bốn điểm cải thiện tiềm năng tương ứng đã được đề xuất:

(1) Lập kênh trao đổi thông tin giữa CC.CNTY và BQL.ATTP Việc giao tiếp trong ngành và liên/xuyên ngành cần tận dụng tối đa công nghệ 4.0 nói chung và các kênh giao tiếp trực tuyến nói riêng, bao gồm Zalo, Facebook, Skype Việc giao tiếp trực tiếp và cởi mở góp phần thúc đẩy hiệu quả chia sẻ thông tin và tốc độ xử lý vấn đề trong nội bộ ngành và giữa các ngành

(2) Xây dựng kế hoạch hợp tác - kết nối giữa các phòng chẩn đoán - xét nghiệm liên ngành Cần thiết lập mạng lưới các phòng chẩn đoán - xét nghiệm liên/xuyên ngành (cơ sở xét nghiệm thuộc BYT, SNN.PTNT)

và liên tỉnh/thành và điều phối các khâu xét nghiệm mẫu động vật sống, mẫu thịt đồng đều cho các cơ sở nhằm nhanh chóng đánh giá rủi ro về thịt và ngộ độc thực phẩm Việc phân chia các khâu xét nghiệm đến nhiều ban ngành không những làm giảm gánh nặng lên một cơ sở xét nghiệm, mà còn tăng cường chia sẻ thông tin liên ngành/xuyên ngành, từ

đó các ngành có thể phản ứng nhanh chóng và hiệu quả hơn với vấn đề Một sức khỏe (3) Xây dựng kế hoạch phối hợp tự kiểm soát, cho các bên tham gia vào chuỗi cung ứng thịt heo đảm bảo thịt sạch dưới sự hướng dẫn của các cơ quan, bộ ngành Theo đó, các

Trang 9

cán bộ chuyên môn nên hướng dẫn cá nhân,

hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ có

hoạt động kinh doanh thịt thường xuyên tự

giác mang mẫu thịt đến các cơ sở xét nghiệm

trực thuộc ban, ngành; hướng dẫn người dân

thực hiện các thủ tục, giấy tờ cần thiết để

hoàn thành quy trình xét nghiệm thịt, tự mỗi

người, mỗi cơ sở kinh doanh phải đảm bảo

một nguồn cung thịt sạch và an toàn Mô hình

“hợp tác - tự kiểm tra” này tăng tần suất kiểm

định thịt trong năm, cắt giảm chi phí nhân sự

của các ban ngành, cũng như nâng cao tinh

thần tự giác đảm bảo an toàn thực phẩm trong

các bên tham gia chuỗi cung ứng thịt

(4) Tăng cường đào tạo, truyền thông

năng lực Một sức khỏe Đầu tiên, khuyến

khích các trường Đại học, Cao đẳng xây dựng

thêm chương trình và khóa học đào tạo năng

lực Một sức khỏe, cũng như các kỹ năng cần

thiết khác nhằm nâng cao năng lực điều tra,

xử lý ngộ độc thực phẩm Tiếp theo, các ban

ngành và chính quyền địa phương cần thúc

đẩy truyền thông về Một sức khỏe cho người

dân trong tổ dân phố, thôn, xóm, để mỗi cá

nhân đều có kiến thức căn bản trong phát hiện

và xử lý vấn đề Một sức khỏe, đặc biệt là ngộ

độc thực phẩm

4 KẾT LUẬN

Việc quản lý nguồn động vật và các

sản phẩm động vật cho mục đích tiêu thụ tại

Tp HCM được thực hiện bởi nhiều cơ quan

chức năng khác nhau Các cải thiện tiềm năng

nhằm nâng cao hiệu quả trong việc quản lý

của nhiều cơ quan trên trên được đề xuất bao

gồm việc xây dựng một kênh kết nối - chia

sẻ thông tin giữa CC.CNTY và BQL.ATTP;

tận dụng hệ thống phòng xét nghiệm của cách

ngành khác nhau để kết nối lại thành một

mạng lưới phối hợp trong việc phân tích và

xác định rủi ro trong chuỗi cung ứng thịt; thay

đổi mô hình “thanh tra - kiểm soát” sang mô

hình “hợp tác - tự kiểm tra” trong việc quản

lý các kênh phân phối; và nâng cao năng lực

liên quan đến an toàn thực phẩm và các năng

lực cốt lõi Một sức khỏe

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Dang-Xuan, S., Nguyen-Viet, H., Unger, F., Pham-Duc, P., Grace, D., Tran-Thi, N., Barot, M., Pham-Thi, N and Makita, K (2017) Quantitative risk assessment of human salmonellosis in the smallholder pig value chains in urban of Vietnam International Journal of Public Health 62: 93-102

Errecaborde, K.M., Pelican, K.M., Kassenborg, H., Prasarnphanich, O.O., Valeri, L., Yuuzar, E., Fauzi, R.P.S., Budayanti, N.S., Suwandono, A., Artama, W.T., Adisasmito, W and Dutcher, T (2017) Piloting the One Health Systems Mapping and Analysis Resource Toolkit

in Indonesia EcoHealth 14(1): 178-81 Faltmann, N.K (2019) Between Food Safety Concerns and Responsibilisation: Organic Food Consumption in Ho Chi Minh City In: Ehlert, J., Faltmann,

N (eds) Food Anxiety in Globalising Vietnam (167-204) Palgrave Macmillan, Singapore

Hanh, T.T.T., Phuc, P.D., Sinh, D.X., Ngan, T.T ,Tuat, C.V and Hung, N.V (2015) Antibiotic residues, growth promoters and heavy metals in pork at wet markets in vietnam Food Safety Risks Management

in Vietnam: Challenges and Priorities,

Ha Noi

Hung, N.V., Hanh, T.T.T., Unger, F., Dang-Xuan, S and Grace, D (2017) Food safety in Vietnam: where we are at and what we can learn from international experiences Infectious Diseases of Poverty 6(1): 39

Jun, G.T., Ward, J., Morris, Z and Clarkson,

J (2009) Health care process modelling: which method when? International Journal for Quality in Health Care 21(3): 214-24

Rist, C.L., Arriola, C S and Rubin, C (2014) Prioritizing Zoonoses: A Proposed One Health Tool for Collaborative Decision-Making PLoS ONE, 9(10), e109986

Trang 10

Vesterinen, H.M., Dutcher, T.V., Errecaborde,

K M., Mahero, M.W., Macy, K.W.,

Prasarnphanich, O.O., Kassenborg, H.,

Yulizar, E., Fauzi, R.P., Budayanti, N.S.,

Suwandono, A., Artama, W.T., Valeri, L

and Pelican K.M (2019) Strengthening

multi-sectoral collaboration on critical health issues: One Health Systems Mapping and Analysis Resource Toolkit (OH-SMART) for operationalizing One Health PLoS ONE, 14(7), e0219197

Ngày đăng: 12/07/2022, 16:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Các cơ quan tham gia quản lý động vật và sản phẩm động vật được tiêu thụ tại Tp - Thử nghiệm áp dụng bộ công cụ phân tích nguồn lực và sơ đồ hóa hệ thống một sức khỏe (OH-SMART) vào mô hình quản lý thịt tại thành phố Hồ Chí Minh, 2021
Hình 1. Các cơ quan tham gia quản lý động vật và sản phẩm động vật được tiêu thụ tại Tp (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w