Bài viết Xu hướng sử dụng thảo dược thay thế kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi tổng hợp về xu hướng sử dụng thảo dược để thay thế khánh sinh trong thức ăn chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam. Có 6 cơ chế hoạt động của thảo dược trong cơ thể động vật như là chất kháng sinh, thuốc trị cầu trùng, kháng viêm, tăng tính thèm ăn và nâng cao tỷ lệ tiêu hóa, chống oxy hóa, tăng khả năng miễn dịch và một số cơ chế khác.
Trang 11 Trường đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh HUTECH;
* Tác giả liên hệ: Lã Văn Kính; Email: bakinh4@gmail.com
XU HƯỚNG SỬ DỤNG THẢO DƯỢC THAY THẾ KHÁNG SINH TRONG THỨC
ĂN CHĂN NUÔI
Lã Văn Kính 1*
Tóm tắt
Đây là bài báo tổng hợp về xu hướng sử dụng thảo dược để thay thế khánh sinh trong thức ăn chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam Có 6 cơ chế hoạt động của thảo dược trong cơ thể động vật như là chất kháng sinh, thuốc trị cầu trùng, kháng viêm, tăng tính thèm ăn và nâng cao tỷ lệ tiêu hóa, chống oxy hóa, tăng khả năng miễn dịch và một
số cơ chế khác Ưu điểm của thảo dược là thành phần thức ăn tự nhiên, không có tồn dư, thân thiện với môi trường
và không phát hiện thấy hiện tượng kháng thuốc Hạn chế của thảo dược là khó định lượng và tiêu chuẩn hóa vì thành phần phức tạp, chất lượng phụ thuộc vùng, chất đất, khí hậu thời tiết, độ cao, mùa vụ, thời kỳ thu hoạch, bảo quản và tính phụ thuộc ánh sáng Do ưu thế và lợi ích của thảo dược nhiều hơn mặt hạn chế nên xu hướng sử dụng thảo dược để thay thế kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi trở nên phổ biến trên thế giới Việc đầu tư con người, trang thiết bị, các dự án và kinh phí nghiên cứu lĩnh vưc này hết sức cần thiết và sẽ mang lại lợi ích không những cho ngành chăn nuôi mà cho cả xã hội.
Từ khóa: Kháng sinh, kháng thuốc, thảo dược, thức ăn chăn nuôi.
Abstract
This is the overview report on the using of herb in animal feed the world and in Vietnam 6 major modes of action
of herb in animal as antibacterial supplements, coccidiosis, anti-inflammatory, increasing appetite and improve di-gestibility, antioxidant, immunostimulant and other The advantage of using herbs as n atural constituent of feeds, absence of residual effects, non-hazardous eco-friendly, and minimum problem of drug resistance The limitations
of Herbal Feed Additives as not easily quantifiable and standardized due to their complex composition, depend on the location, soil type, weather conditions, altitude, season during which the plant is grown, harvesting procedure and storage conditions may affect the composition of plants and many herd have various constituents which are photo labile thermo labile thus less stable Because many advantages of herb, the tendency of using herd to replace antibiotic in animal feed become worldwide The need to invest in human resources, equipment and research pro-ject and fund is very urgent and will bring benefit to the animal industry and society as well
Keywords: Animal feed, antibiotic, drug resistance, herb.
1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG
SINH TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Việc sử dụng các kháng sinh trong thức
ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm xảy ra một cách
phổ biến từ những năm 1960 do giảm được
bệnh tật, tăng trọng nhanh và hiệu quả kinh
tế cao Song, mặt trái của vấn đề là dễ tạo ra
những dòng vi sinh vật đề kháng thuốc kháng sinh, do bị lạm dụng, sử dụng vượt quá mục tiêu ban đầu là chỉ dùng vào việc phòng chữa bệnh nhiễm khuẩn cho vật nuôi Việc trộn kháng sinh thường xuyên vào thức ăn chăn nuôi đã dẫn tới hiện tượng lờn thuốc - kháng thuốc khá phổ biến và dòng vi sinh vật độc này có nguy cơ gây bệnh cho gia súc và lây
Trang 2lan sang người Theo một số khảo sát thực
hiện năm 2000 - 2002, hầu hết các vi khuẩn,
virus và ký sinh trùng gây bệnh cho người và
gia súc đều trở nên nhờn với các loại thuốc
kháng sinh mà con người dùng trị bệnh hoặc
dùng cho chăn nuôi Có nhiều loại vi sinh vật
nhờn thuốc, song nguy hiểm nhất gồm 5 loại:
tụ cầu khuẩn Staphylococcus aureus, gây bệnh
nhiễm trùng mụn nhọt có mủ, gây bệnh tai
mũi họng, viêm phổi tim, não, Streptococcus
pneumoniae gây viêm màng não, sưng phổi,
vi khuẩn lậu Neiseria gonorrhoeae; vi khuẩn
lao Mycobacterium tuberculosis và virus cúm
gà Campylobacter jejuni Chúng thường dễ
lây từ gia súc sang người qua thực phẩm: thịt
sống, sữa tiệt trùng không đúng quy định,
không khí,… gây ngộ độc, sốt, nôn mửa mất
nước, kiết lỵ đau bụng, nhiễm trùng Tại Mỹ,
số liệu năm 2000 cho biết tới 14% số chủng
vi khuẩn kháng Ciprofloxacin và theo
FDA-USA, năm 2002 tình hình kháng Penicillin và
Cipro tăng khoảng 18 - 20% so với năm 1999
Tại nước ta, theo Bộ Y tế tháng 7/2003, tình
trạng “lờn thuốc (kháng) kháng sinh” trong
trị bệnh cho người rất trầm trọng: 97,9% với
Penicillin G; 71% với Tetracyclin; 61,6% với
Erythromycin, và Ampicillin coi như đã bị đề
kháng hoàn toàn Nhiều vi khuẩn đề kháng đa
kháng sinh: vi khuẩn gây bệnh đường ruột với
Tetracyclin, Tifomycin, Bactrim, vi khuẩn
gây viêm phổi với Ampicillin, Cephalosporin
thế hệ III, IV,… Một nghiên cứu trước đó
(Viện Pasteur TP HCM, 2001) cho thấy 48%
chủng E.coli kháng Cotrimoxazole, 98%
chủng S aureus kháng Penicillin G, 80% với
Erythromycin,… Ngay cả kháng sinh khá mới
Norfloxacin cũng có tới 20% chủng vi khuẩn
lờn, hay Tequin thuộc nhóm Quinolones và
Vancomycin cũng xuất hiện nguy cơ tương tự
Trong lĩnh vực trị bệnh và chăn nuôi gia súc,
số liệu công bố năm 2001 - 2003 của Trường
Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh cho biết
có 65% chủng vi khuẩn E coli gây bệnh tiêu
chảy ở heo con đề kháng đa kháng sinh; số
chủng E coli gây tiêu chảy, làm độc thần
kinh gây phù đầu ở heo sau cai sữa thì 100%
đề kháng Bactrim, Cephalexin và 71,4% đề
kháng Colistine, Cefriaxone
Như vậy, hiện trạng dùng thuốc kháng sinh tràn lan, khó kiểm soát ở nước ta cả trên con người, gia súc, gia cầm, vật nuôi thủy sản, đều là những nguyên nhân tạo ra những chủng vi khuẩn gây bệnh lờn thuốc kháng sinh Ngoài ra, dùng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi không đúng cách, khiến kháng sinh tồn dư trong thịt và nhiều thực phẩm gây mất
an toàn cho người sử dụng cũng được cảnh báo Dư lượng kháng sinh và các chất kích thích - hormone tăng trưởng steroid trong chăn nuôi động vật lấy thịt khiến không đáp ứng được tiêu chuẩn “thịt sạch”, trong đó không đạt giới hạn tồn dư kháng sinh trong thịt phổ biến nhất Tiêu chuẩn tồn dư kháng sinh trong thịt phải ở mức ≤ 0,01 ppm (Úc
& EC) hoặc ≤ 0,1ppm (Hoa Kỳ) Do vậy, việc cấm sử dụng một số loại kháng sinh như Avoparcin, Bacitracin Zin, Carbadox, Spiramycin,… và giảm thiểu dùng một số kháng sinh khác đã được khuyến cáo ở Châu
Âu, Châu Mỹ, Đặc biệt, Thụy Điển ngay từ năm 1986 và Đan Mạch 1999 đã ngừng dùng kháng sinh trộn vào thức ăn chăn nuôi với mục đích tăng trọng Tại Nhật Bản, có tới 29 loại kháng sinh dùng trong chăn nuôi, hiện cũng ghi nhận nhiều bất lợi tương tự, nên nước này cũng đang nghiên cứu những quyết sách đúng đắn để hạn chế dùng kháng sinh trộn vào thức ăn chăn nuôi
Việt Nam là nước sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi nói chung và trong chăn nuôi lợn rất phổ biến, khó kiểm soát nên gây nhiều bất lợi cho ngành này Tồn dư kháng sinh trong thịt lợn chiếm 75%, trong gan lợn chiếm 66,7% số mẫu nghiên cứu, và lượng tồn dư từ 3,67 - 122 ppm, cao gấp hàng chục đến hàng chục nghìn lần tiêu chuẩn quốc
tế Như vậy, thịt lợn tiêu dùng ở TP Hồ Chí Minh và nước ta nhiễm thuốc kháng sinh rất phổ biến Để khắc phục tình trạng này cần phải sử dụng kháng sinh một cách khoa học, đúng quy trình kỹ thuật hoặc có giải pháp thay thế hợp lý Hiện nay có rất nhiều giải pháp hạn chế sử dụng hoặc thay thế sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi như chất kích thích tăng trưởng Có thể kể các giải pháp đó
là tăng cường an toàn sinh học, sử dụng axit
Trang 3hữu cơ, enzyme, probiotic, prebiotic và chất
chiết thảo dược Trong số các giải pháp này,
việc sử dụng chất chiết thảo dược có tính bền
vững, tự nhiên, an toàn và ngày càng được
nhiều người quan tâm sử dụng
2 CHẤT CHIẾT THẢO DƯỢC LÀ GÌ
Chiết xuất thảo dược (hay còn được
gọi là thảo dược) được định nghĩa là các hợp
chất hữu cơ được chiết ra từ thực vật tự nhiên
sử dụng điều trị hay hỗ trợ điều trị bệnh hay
được đưa vào khẩu phần ăn của vật nuôi để
cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm
Chúng được phân loại theo nguồn gốc hay
quy trình sản xuất, được biết dưới các tên gọi:
thảo dược, gia vị, tinh dầu (hợp chất tan trong
dầu được chiết xuất bằng cách chưng cất các
thảo dược) và nhựa dầu (hợp chất chiết xuất
bằng dung môi không chứa nước) (Windisch
và cs., 2007) Kỹ thuật phòng thí nghiệm hiện
đại cho phép phân lập và định tính các chất có
hoạt tính sinh học từ nguồn thảo dược Hoạt
chất sinh học là các hợp chất hóa học có mặt
trong tất cả các bộ phận hay được tìm thấy tại
các vị trí cụ thể của thảo dược Hơn nữa, các
hoạt chất này thường có trọng lượng phân tử
thấp và có nguồn gốc từ sự trao đổi chất trung
gian trong thảo dược Về nguyên tắc, các hoạt
chất sinh học có hoạt tính sinh học rất khác
nhau Các loài thực vật khác nhau chứa hoạt
chất sinh học với nồng độ và hoạt động kháng
khuẩn khác nhau Các hợp chất này, ví dụ:
capsaicin (hạt tiêu), cinnamaldehyde (quế),
eugenol (đinh hương) và carvacrol (oregano
- Rosmarinus officinalis) có các cơ chế phòng
vệ với các yếu tố bên ngoài như stress sinh
lý (như: thiếu nước hoặc chất dinh dưỡng),
các yếu tố môi trường (thay đổi thời tiết) và
bảo vệ khỏi kẻ thù và các mầm bệnh (Oetting
và cs., 2006a) Hàm lượng của các hoạt chất
chiết xuất từ thảo dược khác nhau rất nhiều,
tùy thuộc vào phần thảo dược (hạt, lá, thân,
rễ hoặc vỏ cây), vị trí địa lý, giai đoạn sinh
trưởng, phương pháp và thời gian bảo quản,
lưu trữ và phương pháp khai thác (Windisch
và cs., 2007) Thông thường, các chất này
không có ở dạng tinh khiết trong các tế bào
thảo dược mà ở dạng phức hợp, trong một
số trường hợp có hoạt tính kháng khuẩn tốt trong cơ thể động vật Nghiên cứu gần đây
đã chứng minh sự tồn tại về tác dụng kết hợp giữa các nguyên tắc hoạt động chính và thứ
cấp (phụ) của thảo dược Ví dụ, trong oregano
(Rosmarinus officinalis), các carvacrol có mặt
ở nồng độ cao (hoạt động chính) và thymol có nồng độ thấp hơn (hoạt động thứ cấp) Các thành phần thứ cấp có hoạt động như các chất tăng cường cho các hợp chất chính (Kamel, 2000) Tuy nhiên, tác động đối kháng cũng
đã được tìm thấy khi bổ sung thảo dược và các chất kích thích tăng trưởng khác (Costa
và cs., 2011b) Khi phối hợp các thảo dược cần phải chú ý tính hoạt động đồng bộ và đối kháng, cũng như đảm bảo sức khỏe vật nuôi
và ngộ độc có thể có của các thảo dược thông qua năng suất của con vật (Mellor, 2000)
3 TÌNH HÌNH THAY THẾ KHÁNG SINH BẰNG THẢO DƯỢC
Trong những năm gần đây, chiết xuất thảo dược thay thế kháng sinh kích thích sinh trưởng thu hút sự quan tâm lớn của các nhà khoa học Đặc biệt, từ 2006, Liên minh châu Âu đã cấm sử dụng kháng sinh làm phụ gia trong thức ăn chăn nuôi vì lo ngại sự gia tăng kháng kháng sinh của hệ vi sinh đường ruột Những lợi ích của chiết xuất thảo dược đối với vật nuôi như tăng tiết dịch tiêu hóa, cải thiện tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng, thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột, kích thích hệ miễn dịch và các hoạt động kháng khuẩn, kháng liên cầu, trừ giun sán, kháng virus hoặc chống viêm và tính kháng oxy hóa đã được ghi nhận Các chất kích thích sinh trưởng, tăng khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn, tăng cường sức khỏe của hệ vi sinh vật đường ruột, tăng cường chức năng miễn dịch có nguồn gốc từ thảo mộc tự nhiên mở ra một triển vọng thay thế các hormone tăng trưởng (có thể gây độc hại cho người tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi)
Đã có những nghiên cứu sản xuất các chế phẩm từ thảo mộc ứng dụng ở một số nước tiên tiến như Mỹ, Đan Mạch Các công ty đa quốc gia như Alltech, Biomin đã sản xuất và thương mại hóa một số sản phẩm được chiết
Trang 4xuất từ thảo dược (BiominÒ P.E.P, BiominÒ
C-EX) Nhiều tác giả đã nghiên cứu sử dụng
chế phẩm chiết xuất thảo dược cho thấy tác
dụng kích thích tăng trưởng rõ rệt trên lợn
Một thí nghiệm được tiến hành ở Đan Mạch
bổ sung hỗn hợp chế phẩm thảo dược vào
khẩu phần lợn nuôi thịt đã cải thiện 19% tăng
trọng và 16% chuyển hóa thức ăn so với đối
chứng (Chatterjee và Agrawala, 2004) Cũng
theo các tác giả này, việc sử dụng hỗn hợp các
chế phẩm thảo dược đã cải thiện 24% tăng
trọng, 15% chuyển hóa thức ăn đồng thời rút
ngắn 13% thời gian nuôi lợn thịt trong một
thí nghiệm được tiến hành ở Anh Yuan và cs
(2001), bổ sung các loại vỏ cam, quýt, bột hạt
quả thông trong thức ăn lợn con sau cai sữa
đã cải thiện 15,4% tăng trọng, 4,5% hiệu quả
chuyển hóa thức ăn Gần đây, các nghiên cứu
của nhóm tác giả Brazil (Oetting và cs., 2006)
đã cho thấy hỗn hợp các chất chiết xuất từ
các thảo dược tự nhiên đã cải thiện hệ vi sinh
vật đường ruột, cải thiện khả năng tiêu hóa và
tăng trưởng của lợn sau cai sữa Ở Việt Nam,
việc sử dụng cây thuốc nam để bào chế thuốc
điều trị bệnh tiêu chảy của lợn đã được đề
cập từ nhiều thập kỷ trước (Nguyễn Phước
Tương và cs., 1989; Nguyễn Phước Tương và
Nguyễn Xuân Hải, 1990) Những nghiên cứu
gần đây của Lã Văn Kính và cs (2016) nhận
xét rằng, chế phẩm thảo dược dạng bột thô từ
xuyên tâm liên, dây cóc, gừng hay bọ mắm,
dây cóc, gừng không thể thay thế Colistine
trong khẩu phần ăn của lợn sau cai sữa vì
giảm lượng ăn vào và chưa thể hiện khả năng
phòng được bệnh tiêu chảy; hiệu quả sử dụng
dạng tinh rất rõ trên gà thịt và lợn con nhưng
không rõ ràng trên lợn thịt Mặc dù chiết xuất
thảo dược đã được thử nghiệm bổ sung vào
khẩu phần của lợn có thể thay thế kháng sinh
tăng trưởng Tuy nhiên, nhiều câu hỏi về tính
hiệu quả của việc thay thế kháng sinh như thế
này vẫn cần phải được làm rõ
4 CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA THẢO DƯỢC
4.1 Hoạt tính kháng khuẩn và phòng trị
cầu trùng
Có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra hoạt tính
kháng khuẩn mạnh trong một số chất chiết
thảo dược kháng lại vi khuẩn gram âm và dương Cây trồng luôn sẵn sàng tổng hợp các chất để bảo vệ chúng khỏi côn trùng, động vật
ăn cỏ và vi sinh vật Hơn nữa, chúng có thể sản xuất ra chất trao đổi có tính kháng khuẩn như là một bộ phận của sự phát triển hoặc để chống lại stress Một số thảo dược chứa các
limonene, cinnamaldehyde, carvacrol hoặc eugenol là những thành phần có hoạt tính kháng khuẩn tốt Những loại thảo dược này có hiệu quả chống lại Salmonella spp
hoặc E coli hay vi khuẩn gram dương như
Staphylococcus spp. và Streptococcus spp
Thảo dược và các chất chuyển hóa trung gian
có tác dụng kháng khuẩn trong điều kiện in
vitro, tác động lên giun sán và gây ngộ độc
thực phẩm (Nascimento và cs., 2000; Harris
và cs., 2001; Si và cs., 2006) Nghiên cứu dựa trên phương pháp nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đã chứng minh rằng, thảo dược thể hiện hiệu giá tương tự hầu hết các loại thuốc kháng sinh thương mại (Kamel, 2000); nhưng cần phải được bổ sung nồng độ lớn mới có tác dụng (Burt, 2004) Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thảo dược và các hợp chất có hoạt tính sinh học bị phân lập có một phổ rộng
về hoạt động diệt khuẩn in vitro Cơ chế tác
dụng kháng khuẩn của phần lớn thảo dược là
do hoạt động ở trong cấu trúc vách tế bào vi khuẩn, do làm biến tính và làm đông protein
Cụ thể hơn, các loại tinh dầu hoạt động bằng cách thay đổi tính thấm của màng tế bào chất đối với các ion hydro (H) và kali (K) Sự thay đổi này dẫn đến sự gián đoạn các chu trình chủ yếu ở tế bào như chuyển vận điện tử, chuyển
vị protein, oxy hóa phosphoryl hóa và các phản ứng enzyme khác, dẫn đến sự mất kiểm soát tính thẩm thấu, do đó, vi khuẩn có thể chết (Dorman Deans, 2000) Theo tác giả này,
sự phá vỡ các màng tế bào chất của vi khuẩn
là do tính chất ưa mỡ của các loại tinh dầu tích
tụ trong màng Vi khuẩn Gram âm có một lớp màng bên ngoài chứa lipopolysaccharides, tạo thành bề mặt ưa nước làm rào cản đối với tính thẩm thấu của các chất kỵ nước như các loại tinh dầu Điều này có thể giải thích tại sao vi khuẩn Gram âm đề kháng cao hơn đối
Trang 5với tác dụng một số loại tinh dầu so với vi
khuẩn Gram dương (Oetting và cs., 2006b)
Các cơ chế kháng khuẩn khác của thảo dược
có thể liên quan đến ức chế sự hấp thụ chất
dinh dưỡng, ức chế enzyme, tổng hợp DNA,
RNA và tổng hợp các protein của tế bào vi
khuẩn (Luciano Holley, 2009) Ảnh hưởng
của thảo dược lên vi sinh vật đã được chứng
minh trong điều kiện in vitro Một số kết quả
nghiên cứu in vitro ở lợn (Hagmüller và cs.,
2006; Li và cs., 2012; Yan và cs., 2012) đã
chứng minh tiềm năng kháng khuẩn của các
thảo dược để thay thế kháng sinh trong thức
ăn Tuy nhiên, các số liệu còn hạn chế nhưng
cũng cho phép kết luận đáng tin cậy về hiệu
quả của thảo dược làm chất phụ gia trong
thức ăn chăn nuôi Hoạt tính và thành phần
của kháng sinh thực vật thay đổi nhiều, tùy
thuộc giống cây trồng, vùng địa lý và điều
kiện thu hoạch, phương pháp chế biến (chiết,
cất, ổn định) và điều kiện bảo quản (ánh sáng,
nhiệt độ, mức độ tiếp xúc oxy, thời gian bảo
quản (Huyghebaert và cs., 2011)
4.2 Thảo dược có tác dụng kháng viêm
Chất chiết của nghệ, ớt đỏ, tiêu đen, bột
thì là Ai Cập (cumin), bột quế (cinnamon),
bạc hà, gừng,… có tính kháng viêm Các
phân tử hoạt tính kháng viêm chính là
phenols, terpenoids và flavonoids Các phân
tử này kìm hãm sự trao đổi của Prostaglandin
(là các acid béo không bão hòa ở các mô, có
vai trò như một chất trung gian hóa học của
Flavonoids đã được chứng minh là có hoạt
tính kháng viêm, chống dị ứng, kháng vi rút
và chống tăng sinh (Muanda và cs., 2011) Các
thảo dược có tiềm năng kháng viêm là hoa
cúc, cúc vạn thọ, cam thảo, tiểu hồi cần (Anis
- một loại thảo dược ở Trung đông) (Frankic
và cs., 2009) Các cây cỏ giàu Flavoid là
trà xanh - là chất kháng oxy hóa tự nhiên
Tiêu đen (Piper nigrum), tiêu đỏ (Capsicum
annuum L) ớt đỏ (Capsicum fretuscene) cũng
chứa nhiều chất chống oxy hóa (Nakatani,
1994) Tuy nhiên, rất nhiều trong số các thảo
dược này hoặc có mùi rất thơm hoặc có vị cay
nên là các điểm hạn chế trong việc sử dụng
chúng trong thức ăn chăn nuôi Gần đây, cây
Nha đam (Aloe Vera) được nghiên cứu sử
dụng trong chăn nuôi gia cầm vì nó mang rất nhiều đặc tính có lợi như kháng khuẩn, kháng
vi rút, kháng nấm, điều tiết hệ miễn dịch, giúp mau lành vết thương, chống oxy hóa (Babak
và Nahashon, 2014)
Một số chất chiết thảo dược có hoạt tính chống lại ký sinh trùng đường ruột ở gà, đặc biệt là cầu trùng Betain là phụ phẩm của công nghiệp sản xuất đường củ cải được phát hiện thấy có hoạt tính chống cầu trùng Tuy nhiên, tác dụng bảo vệ tế bào ruột của Betain cũng được thể hiện ở tác dụng bảo vệ tế bào của cầu trùng
4.3 Thảo dược tăng tính ngon miệng và cải thiện chức năng đường ruột
Kể từ khi kháng sinh bị cấm sử dụng làm chất kích thích tăng trưởng trong thức ăn chăn nuôi thì nhiều thảo dược được dùng là chất thay thế (Suganya và cs 2016) Vì có rất nhiều thành phần hoạt tính khác nhau, các thảo dược có ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa khác nhau Đa số chúng kích thích tăng tiết nước bọt Ớt Cayenne, gừng, bạc hà, hành, nghệ, tăng khả năng tổng hợp axit mật và
nó cũng bài tiết ở trong mật và điều này giúp ảnh hưởng có lợi đến việc tiêu hóa và hấp thu lipide Một số thảo dược kích thích chức năng của enzyme tuyến tụy (lipases, amylases and proteases) Một số lại tăng hoạt tính của enzyme tiêu hóa trong chất nhầy dạ dày Ngoài việc ảnh hưởng lên việc tổng hợp axit mật, hoạt tính enzyme thì chất chiết từ thảo dược còn tăng khả năng tiêu hóa và rút ngắn thời gian vận chuyển thức ăn trong đường tiêu hóa (Frankic và cs., 2009) Thảo dược như tỏi (Allium sativum), cỏ chanh (Cymbopogon citrates) bạc hà (Mentha piperita) được dùng rộng rãi như thuốc kháng khuẩn và dùng để duy trì hệ sinh thái vi sinh vật trong đường
dạ dày-ruột, nhất là ở vùng nhiệt đới (Shin và Kim, 2004) Tỏi đã được nhiều nghiên cứu chứng minh trên gia súc gia cầm có tác dụng cải thiện tăng trọng, tỷ lệ tiêu hóa và phẩm chất thịt (Kongmun và cs., 2011) Cỏ chanh
và bạc hà cải thiện kết quả sản xuất của bò thịt
Trang 6và bò sữa (Yang và cs., 2007) Húng cay (bạc
hà nam Mentha arvensis) tăng tỷ lệ tiêu hóa
protein và acid amin hồi tràng nên tăng hiệu
quả sử dụng thức ăn (Maenner và cs., 2011)
tiêu đen cải thiện tăng trọng ở gà thịt (Tazi và
cs., 2014)
Thảo dược thường được sử dụng trong
khẩu phần ăn gia súc để tăng tính ngon miệng
và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn Tuy nhiên,
các nghiên cứu thử nghiệm về tính ngon miệng
của các khẩu phần có bổ sung phytogenics
không nhiều Phần lớn kết quả nghiên cứu cho
thấy phytogenics chỉ có ảnh hưởng đến lượng
ăn vào và tăng trọng so với đối chứng (Biagi
và cs., 2007; Oetting và cs., 2006a; Costa và
cs., 2011) Schöne và cs (2006) và Yan và cs
(2012) thông báo, bổ sung tinh dầu vào khẩu
phần làm giảm tính ngon miệng của lợn con
cai sữa Các tác giả cho biết có sự liên quan
về lượng ăn vào thấp khi bổ sung tinh dầu liều
cao với tính chất cảm quan của hỗn hợp thảo
dược Tinh dầu có thể có mùi mạnh, hương
vị đậm nếu sử dụng ở liều cao Mặt khác, tinh
dầu ở liều thấp hơn có thể cải thiện hương
vị và tính ngon miệng (Costa và cs., 2007),
và vì vậy, tăng lượng ăn vào ở lợn Hiệu quả
ban đầu của việc bổ sung thảo dược để nuôi
lợn là kích thích cảm giác ngon miệng Mùi
thơm của các chất phụ gia có thể kích thích
các dây thần kinh khứu giác và vị giác, dẫn
đến hiệu ứng tích cực đối với lượng ăn vào
Theo Platel Srinivasan (2004), thảo dược có
lợi đáng kể trong đường tiêu hóa của chuột,
sản xuất thuốc nhuận tràng và ngăn ngừa đầy
hơi, kích thích tiết dịch tiêu hóa (mật và chất
nhờn) và tăng cường hoạt động của enzyme
Nhiều thảo dược làm tăng tiết nước bọt, dịch
vị và dịch tụy (Mellor, 2000) Capsaicin,
thành phần hoạt tính của Capsicum 5 (tiêu
cayenne), đã được chứng minh là có hiệu quả
trong việc kích thích tiết nước bọt (amylase)
(Platel Srinivasan, 1996) và gia tăng sự bài tiết
của tuyến tụy cùng các enzyme đường ruột ở
gia súc dạ dày đơn (Costa và cs., 2011a) Hoạt
chất cinnamaldehyde - thành phần chính của
Cinnamomum spp (quế) - có tác dụng kích
thích các enzyme tuyến tụy và tăng thời gian
lưu giữ thức ăn trong dạ dày do làm giảm nhu
động dạ dày ở lợn (Manzanilla và cs., 2004) Nhờ đó, các enzyme tiêu hóa tăng cường hoạt động, cải thiện khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng (Costa và cs., 2011a) Thảo dược thúc đẩy tiết dịch vị do kích hoạt pepsin Ngoài
ra, chúng còn làm tăng tiết dịch tụy, dẫn đến gia tăng hoạt động của các enzyme tiêu hóa (ví dụ: trypsin, chymotrypsin, carboxypeptidase
và lipase) Cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn
là do tác động của các hợp chất phytoactive và
có thể có các cơ chế khác Các thảo dược có thể thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột và duy trì ổn định biểu mô ruột cũng như các kích thích tăng trưởng khác Trong quá trình tiêu hóa, các gốc oxy (các gốc superoxide) có thể được sản sinh
do quá trình tự oxy hóa (autoxidation) Các gốc ôxy phản ứng như vậy có thể tấn công lên các bề mặt niêm mạc ruột, làm giảm sự hấp thu các chất dinh dưỡng Các enzyme như superoxide dismutase, glutathione S-transferase
và catalase có nhiệm vụ chuyển đổi các gốc superoxide thành nước và oxy phân tử, do
đó duy trì sức khỏe đường ruột và các chất dinh dưỡng được hấp thu nhiều hơn từ các microvilli (Costa và cs., 2007) Theo Jamroz
và cs (2006), thảo dược có thể kích thích sự bài tiết chất nhầy trong dạ dày và ruột Hiệu ứng này ngăn cản sự bám dính của các mầm bệnh và góp phần vào sự ổn định của hệ vi sinh vật có lợi, bảo vệ các nhung mao ruột, do
đó, cải thiện tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng
4.4 Thảo dược có hoạt tính chống oxy hóa
Chất chống oxy hóa là hợp chất giúp làm chậm hoặc cản trở quá trình oxy hóa chất béo và khi bổ sung các chất này vào trong thức ăn, nó sẽ giảm tối đa quá trình ôi thiu, giảm sự hình thành các sản phẩm oxy hóa độc hại và giúp duy trì chất lượng dinh dưỡng
(Muanda và cs., 2011) Hiệu quả chống oxy hóa của thực vật được cho là bản năng của thực vật chống lại các tác nhân oxy hóa Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cây trồng giàu chất chống oxy hóa đóng vai trò bảo
vệ sức khỏe chống lại bệnh tật và việc đưa chúng vào cơ thể sẽ giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim mạch, cao huyết áp, đột quỵ Thực
Trang 7vật giàu chất chống oxy hóa có thể liên quan
đến hàm lượng các chất Phenol (flavonoids,
tannins có thể thủy phân, proanthocianidins
(Proanthocyanidin là một loại polyphenol
được tìm thấy trong nhiều loại thực vật như
quả việt quất - tiền chất của tannin), phenolic
acids, phenolic terpenes) và một số vitamin
(E, C, A) Tỏi và hành cũng có tác dụng kháng
oxy hóa chất béo và ức chế quá trình oxy
hóa của Lipoprotein (Ahmed and Bassuony,
2009) Các thảo dược giàu chất phenolics
là: cây mê điệt (rosemary), cây xạ hương
(thyme), rau kinh giới (oregano), trà xanh
(green tea), hoa cúc (chamomile), bồ công
anh (dandelion) và cúc vạn thọ (marigold)
Thảo dược có thể bảo vệ thức ăn khỏi sự oxy
hóa trong quá trình bảo quản
Quá trình oxy hóa lipid của thịt và sản
phẩm thịt dẫn đến sự hình thành các mùi vị
khó chịu, người tiêu dùng giảm chấp nhận
sản phẩm (Lee Shibamoto, 2002) Trong
những năm gần đây, các hoạt động chống
oxy hóa mạnh của dược thảo đã thu hút
được sự quan tâm từ các ngành công nghiệp
thực phẩm (Racanicci và ctv., 2004) Chúng
có thể được thêm vào thịt và sản phẩm thịt
để thay thế các sản phẩm tổng hợp như
BHT (butylated hydroxytoluene) và BHA
(butylated hydroxyanisole) - hai chất chống
oxy hóa được sử dụng rộng rãi trong thức ăn
gia súc Oxy là yếu tố cần thiết trong quá trình
trao đổi chất và sinh trưởng của động vật và
thảo dược Tuy nhiên, nó cũng tham gia vào
phản ứng oxy hóa không kiểm soát, được gọi
là autoxidation (tự oxy hóa) Những phản ứng
này gây ra sự phá hủy của các phân tử thiết
yếu trong khẩu phần và gây hại cho các mô
tế bào trong cơ thể sống Autoxidation cũng
có thể hình thành ROS (Reactive Oxygen
Species), gây ra nhiều loại bệnh (Kamel,
2000) Các hoạt động kháng oxy hóa của các
loại tinh dầu có liên quan chủ yếu đến sự có
mặt của các hợp chất phenolic Tuy nhiên, các
hợp chất khác như flavonoids (được tìm thấy
trong rau oregano và húng tây) và terpenoids
(như thymol, carvacrol và eugenol) bảo vệ
thực phẩm, các mô và tế bào chống lại tác
hại của các phản ứng autoxidation Các hợp
chất này có thể gom và trung hòa các gốc tự
do Hơn nữa, chúng có thể gắn kết (chelate) ion sắt và đồng, ngăn ngừa sự lây lan của quá trình oxy hóa (Kamel, 2000; Oetting và cs., 2006a) Tinh dầu, sau khi đã được hấp thu, được phân bố và giữ lại trong các mô động vật với hàm lượng nhỏ nhưng đã có hoạt tính chống oxy hóa một cách khác biệt (Botsoglou
và cs., 2004) Mặc dù có hoạt tính chống oxy hóa mạnh, một số thảo dược được tạo thành từ các hợp chất với mùi hương đặc trưng, chẳng hạn như eugenol, thymol và carvacrol
Vì vậy, không nên bổ sung vào thức ăn với số lượng lớn, đặc biệt là đối với lợn vì khẩu vị nhạy cảm (Madsen và cs., 1997) Điều này có thể hạn chế việc sử dụng thảo dược làm chất chống oxy hóa trong một số sản phẩm nhất
định Nhiều nghiên cứu in vitro đã chỉ rõ tác
động chống oxy hóa của thảo dược và đạt kết quả mĩ mãn (Racanicci và cs., 2008; Marianne
và cs., 2007) Vì vậy, hướng nghiên cứu mới
là bổ sung vào khẩu phần các thảo dược và tinh dầu để tăng hiệu quả chống oxy hóa trong thịt Thức ăn bổ sung chất chiết từ lá hương
thảo (rosemary - Rosmarinus officinalis) và cây xô thơm (Sage - Salvia officinalis) cho
thấy tác dụng tích cực chống lại sự oxy hóa lipid (Kamel, 2000) Các nghiên cứu với tinh dầu từ cây oregano có hiệu ứng này (Young và cs., 2003), góp phần kéo dài thời hạn sử dụng các sản phẩm thịt Lopez-Bote và cs (1998)
đã nghiên cứu bổ sung chất chiết từ các cây
xô thơm và hương thảo vào khẩu phần của gà thịt Các tác giả thấy rằng việc bổ sung các chiết xuất làm thay đổi thành phần của axit béo trong cơ thể gà Chiết xuất từ Sage và hương thảo làm tăng tỷ lệ các axit béo không
no (PUFA) Mức độ cao hơn của PUFA có thể ảnh hưởng đến các phản ứng oxy hóa ở cơ thể Tuy nhiên, phenol, carotenoids và flavonoids từ các thảo dược có mặt với hàm lượng cao
có thể bảo vệ các tế bào và các mô chống lại các tác hại của ROS ở mức độ tương tự như vitamin E (Kamel, 2000), bù đắp cho sự gia tăng của PUFA trong cơ thể động vật Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chất chiết xuất thảo dược bổ sung vào khẩu phần ăn có thể đóng vai trò như chất chống oxy hóa tự nhiên có
Trang 8mặt trong các phospholipid của màng huyết
tương, nơi đó chúng có thể ức chế các phản
ứng oxy hóa, do đó sản phẩm thịt sẽ được bảo
quản trong thời gian dài hơn (Lauridsen và
cs., 1997; Botsoglou và cs., 2004) Tuy nhiên,
cần có nhiều nghiên cứu để khẳng định thêm
hoạt tính, điều đó có thể rất có lợi cho ngành
công nghiệp chế biến thịt
4.5 Thảo dược hoạt động như chất kích
thích miễn dịch
thảo dược giàu chất flavonoids, vitamin C
và carotenoids Thực vật chứa các phân tử
có hoạt tính kích thích miễn dịch phổ biến
là Echinacea (họ hoa cúc, màu tím phổ biến
ở Bắc mỹ), cam thảo tỏi, cây móng quỷ
(Uncaria tomentosa - Cat’s claw) Các thảo
dược này cải thiện hoạt tính tế bào bạch
huyết, đại thực bào, tế bào bạch huyết NK và
chúng tăng thực bào hoặc kích thích tổng hợp
interpheron (Frankic và cs., 2009) Lavinia và
cs (2009) chứng minh rằng các dầu không
thay thế chiết xuất từ các cây thuốc có thể
cải thiện đáp ứng miễn dịch, gây ra sự thay
đổi chất nhầy tá tràng theo hướng có lợi cho
độngvật
4.6 Các ảnh hưởng khác
Một số bài báo cho thấy sử dụng hỗn hợp
của rau oregano, quế và hạt tiêu Mexico thay
thế kháng sinh trong khẩu phần làm tăng tốc độ
tăng trưởng lợn (Matysiak và cs., 2012) Điều
này có thể được bắt nguồn một phần từ sự ảnh
hưởng của các chất phụ gia vào việc kiểm soát
các vi sinh vật gây bệnh, làm tăng khả năng
chống rối loạn tiêu hóa, đặc biệt là ở lợn con
mới cai sữa Với sức khỏe đường ruột tốt hơn,
các con vật hạn chế được tiếp xúc với độc tố
của vi khuẩn và các chất chuyển hóa trung
gian của vi sinh vật như amoniac và các amin
biogenic Ngoài ra, các chất phụ gia thúc đẩy
tăng trưởng có thể hỗ trợ đáp ứng miễn dịch
trong những tình huống khẩn cấp và cải thiện
sự hấp thu các chất dinh dưỡng, đồng thời sử
dụng tốt hơn các tiềm năng di truyền về tăng
trưởng của vật nuôi (Windisch và cs., 2007)
Ảnh hưởng gián tiếp của chất chiết thảo
dược đến khả năng tiêu hóa ở ruột non đó
là sự ổn định của hệ vi sinh vật đường ruột
Sự gia tăng khả năng tiêu hóa trước-manh tràng làm giảm sự chuyển vận của thức ăn có thể lên men trong ruột và làm giảm sự tăng trưởng của vi sinh vật sau hồi tràng và đào thải của sinh khối vi khuẩn trong phân Do
sự có mặt của protein vi sinh vật trong tổng
số protein thải qua phân và khả năng tiêu hóa trước-manh tràng tăng nên khả năng tiêu hóa protein khẩu phần được cải thiện Kết quả này phù hợp với giả thuyết rằng chất chiết xuất thảo dược làm ổn định các chức năng tiêu hóa (Windisch và cs., 2007; Li và cs., 2012) Các hợp chất Phytogenic điều chỉnh hệ
vi sinh vật đường ruột của lợn đã được tìm thấy (Manzanilla và cs., 2004) Nuôi lợn con cai sữa sớm bởi hỗn hợp các loại tinh dầu và acid formic gây ra các stress từ khẩu phần và từ hệ vi sinh vật Các hợp chất tự nhiên có thể làm giảm tổng số axit béo bay hơi (VFA) trong ruột già VFAs là những sản phẩm cuối cùng của sự trao đổi chất của vi khuẩn trong ruột già của lợn, và các phytogenics tác động lên hệ vi sinh vật, có thể giết chết hay ổn định
sự sinh trưởng của vi sinh vật, giảm quá trình lên men vi sinh vật và có thể giảm VFAs Điều thú vị, các phụ gia thí nghiệm làm tăng
tỷ lệ lactobacilli: enterobacteria trong ruột, nhờ đó có thể làm tăng sức khỏe của con vật, vì rất nhiều mầm bệnh gây nên do nhóm enterobacteria Các hoạt động chính của chiết xuất thảo dược được thể hiện ở Bảng 1 Hiện nay, một số nghiên cứu sử dụng chất chiết xuất thảo dược như chất kích thích tăng trưởng cho lợn đã được tiến hành Những nghiên cứu này, tuy nhiên, chưa đưa ra kết luận và chưa đưa ra minh chứng một cách hiệu quả tác động của chúng Do đó, cần tiến hành nhiều nghiên cứu hơn nữa để chứng tỏ trong thực tế chiết xuất thảo dược có hiệu quả để thay thế các chất kích thích tăng trưởng kháng vi sinh vật
4.7 Một số vấn đề cần tiếp tục quan tâm
Bên cạnh hiệu quả, ứng dụng của chất chiết xuất thảo dược (chủ yếu phytogenic) làm chất bổ sung vào thức ăn chăn nuôi thì
sự an toàn đối với động vật, người sử dụng,
Trang 9người tiêu dùng các sản phẩm động vật và
vấn đề môi trường cần được quan tâm Đối
với vật nuôi, vật nuôi khi dùng quá liều có thể
ảnh hưởng xấu tới sức khỏe Đối với người sử
dụng, việc tinh chế chất phụ gia thức ăn chăn
nuôi đòi hỏi đo lường hàm lượng chính xác để
tránh gây kích thích hay gây viêm da tiếp xúc
dị ứng (Burt, 2004) Với an toàn của người
tiêu dùng, cần coi trọng tồn dư của các chiết
xuất thảo dược trong sản phẩm chăn nuôi Ví
dụ, thông báo rằng, khi cho lợn ăn khẩu phần
có tinh dầu chứa carvacrol và thymol thì phát
hiện các chất chuyển hóa glucuronic và
sul-fate của chúng có trong huyết tương và thận
Tương tự như vậy, nghiên cứu ở người đã
chứng minh rằng sử dụng tinh dầu rosmarinic
thì nước tiểu bài tiết các chất chuyển hóa
glu-curonic và sulfate Một vấn đề khác, đó là sự
tương tác của các chất chiết xuất thảo dược
với chế phẩm enzyme (ví dụ, phytase, các
en-zyme phân hủy NSP,…) là rất hạn chế
Ưu nhược điểm của thảo dược:
Việc sử dụng thảo dược trong thức ăn
chăn nuôi có nhiều ưu điểm như là chất có
nguồn gốc tự nhiên, không có ảnh hưởng tồn
dư, không gây độc, thân thiện với môi trường
và mức độ kháng thuốc rất thấp
Các nhược điểm của việc dùng thảo dược
là không dễ định lượng và chuẩn hóa vì thành
phần phức tạp của chúng, vùng địa lý, chất
đất, thời tiết, độ cao, mùa vụ của cây trồng,
giống và phương pháp bảo quản, thu hoạch có
thể ảnh hưởng đến thành phần của thực vật và
mặc dù rất nhiều thảo dược ổn định nhưng có
có một số thành phần có thể thay đổi vì dễ bị
tác động của ánh sáng, nhiệt độ
5 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SỬ
DỤNG THẢO DƯỢC TRONG THỨC
ĂN CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM
Kế thừa các thành tựu nghiên cứu trong
ngành dược học (Dược điển Việt Nam IV
2009, Võ Văn Chi, 2004; Lê Văn Lăng và Lã
Văn Kính, 2003) đã đưa ra 5 tiêu chí cơ bản
sau để chọn dược liệu nghiên cứu làm thuốc
cho gia súc gia cầm:
(1) Cây thuốc dân gian chữa bệnh cho
người và động vật đã tồn tại lâu đời ở các
địa phương nước ta, qua sưu tầm tại nhiều địa phương trong nước và tài liệu của một số nước lân cận: Trung Quốc, Lào, Campuchia… (2) Cây thuốc phải không độc cho vật nuôi, không để lại dư lượng độc chất khi dùng trộn vào thức ăn chăn nuôi… Do vậy, cần chú
ý sử dụng các cây thuốc được dùng đồng thời làm thuốc - làm rau ăn, nước uống
(3) Các thảo mộc phải là nguyên liệu
dễ thu hái ngoài tự nhiên, dễ tái sinh, trồng trọt và có biện pháp thay thế như nhiều loài cùng tác dụng, có thể nuôi cấy mô tạo giống Không nằm trong danh mục cây thuốc hoang
dã có nguy cơ tiệt chủng hoặc quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam
(4) Có khả năng triển khai sản xuất công nghiệp với giá thành hợp lý để thực tế chấp nhận được
(5) Đáp ứng các thử nghiệm hiệu lực
kháng khuẩn in vitro, tập trung vào các dược
liệu thiên nhiên có tính kháng khuẩn, thường dùng trị bệnh
Trên cơ sở các tiêu chí này, Trần Công Luận và Lã Văn Kính (2012), Trần Hùng và
Lã Văn Kính (2012) đã lựa chọn và nghiên cứu các loại cây sau: Xuyên tâm liên, Hoàng liên ô rô, vàng đắng, bọ mắm, hoàng kỳ, dây cóc, viễn chí, sài đất, cam thảo, gừng, nghệ,
xạ can, quế, dâu tằm, tô mộc, cỏ sữa lá lớn, vỏ măng cụt, tinh dầu tràm Từ các phần thân, rễ,
lá, vỏ quả đã chiết xuất ra các Flavoid, alkaloid nhóm benzyliso quinolein như: Berberin, berbamin, oxyacanthin, isotetradrine, tinh
dầu, diterpen lacton, saponin, flavonoid
(liquiritin, isoliquiritin, isoflavan (glabridin),
isoflavon (glabron), isoflaven (glabren);
estrogen steroid, cinnamaldehyde…
Quá trình nghiên cứu bào chế chế phẩm thảo dược nhìn chung trải qua 5 bước như sau:
1 Phân lập định danh và chiết xuất định hướng các nhóm hóa học từ dược liệu bằng dung môi khác nhau: nước, ethanol và tác động của yếu tố pH acid - base Thu được các dịch chiết chứa tỷ lệ hoạt chất tùy thuộc vào bản chất của dung môi
2 Thử tác dụng kháng khuẩn sơ
bộ của dịch chiết dược liệu trên vi khuẩn
Trang 10Staphylococcus aureus và/hoặc với E coli
bằng phương pháp khuyếch tán từ khoanh
giấy Qua đó chọn được dung môi chiết xuất
thích hợp cho từng dược liệu
3 Xây dựng quy trình chiết xuất cao
thuốc, xác định được tỷ lệ Dược liệu - Dung
môi, lượng cao thuốc hay hiệu suất chiết xuất,
tiêu chuẩn cao thuốc
4 Thử hiệu lực kháng khuẩn của các
cao thuốc: Thường là thử trên vi khuẩn
Staphylococcus aureus, E coli So sánh kết
quả hiệu lực kháng khuẩn để tìm được các
cao thuốc tác dụng mạnh nhất
5 Bào chế chế phẩm mới: Các cao
dược liệu được chọn sẽ phối chế trong một số
công thức, thử nghiệm hoạt lực kháng khuẩn
để chọn công thức tốt Thử độc tính cấp và
đánh giá hiệu lực của chế phẩm mở rộng trên
vi khuẩn Shigella, Salmonella sp và Vibrio
sp hoặc Staphylococcus aureus.
Sau khi chiết xuất được các cao
của từng thảo dược là đến bước bào
chế chế phẩm từ các cao đơn này Đầu tiên
là thiết kế công thức, sau đó đến xây dựng
quy trình bào chế, thử tác dụng dược lý
Ba nguyên tắc thiết kế công thức chi phối
chính là:
+ Nguyên tắc 1: Phối hợp dược liệu
nhằm cộng lực tăng tác dụng: tính kháng
sinh (phytoncide) sát khuẩn của các hoạt
chất trong cây thuốc nói chung thấp (MIC ³
100ppm), không so sánh được với kháng sinh
tổng hợp (antibiotic) Do đó, ngoài việc phải
phối hợp với nhiều cây thuốc để tăng hoạt
lực kháng khuẩn còn phải dùng thêm các vị
thuốc giúp hạn chế những triệu chứng bệnh
phụ kèm theo như rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy
mất nước, nhiễm độc Điều này cũng tương tự
như lý luận Quân Thần Tá Sứ trong Đông Y
+ Nguyên tắc 2: Công thức được thiết
kế và lựa chọn trên cơ sở những công thức
đã có trong thực tế và bằng thử nghiệm tìm
nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trên một số vi
khuẩn gây bệnh
+ Nguyên tắc 3: Công thức phải dễ thực
hiện, có thể triển khai trong công nghiệp và
giá hợp lý tiện dụng cho người chăn nuôi Trên cơ sở các nguyên tắc đó, Lê Văn Lăng và Lã Văn Kính (2003) đã bào chế được các chế phẩm trị hội chứng tiêu chảy ở heo và gia cầm từ các cao vàng đắng, cỏ sữa lá lớn,
tô mộc và vỏ măng cụt Các chế phẩm trị hội chứng tiêu chảy ở heo và gia cầm bào chế từ các cao xuyên tâm liên, hoàng liên ô rô, bọ mắm, dây cóc và gừng (Trần Công Luận và
Lã Văn Kính 2012) từ vàng đắng, sài đất, cam thảo, nghệ và hoàng kỳ (Trần Hùng và Lã Văn Kính, 2012) Sử dụng các chế phẩm này
có thể thay thế kháng sinh Colistine, Chlotet-racycline trong thức ăn ngừa tiêu chảy giúp tăng trọng của heo gà tăng từ 5 - 15%, giảm 45% đến giảm hoàn toàn tỷ lệ tiêu chảy (Lã Văn Kính 2012, Lê Thế Tuấn và cs., 2016; Lã Văn Kính và Nguyễn Thị Lệ Hằng 2012a ; Lã
Văn Kính và Nguyễn Thị Lệ Hằng 2012b;Lã Văn Kính và Nguyễn Thị Lệ Hằng 2012c) Cũng theo nguyên tắc đó, Lê Văn Lăng
và Lã Văn Kính, 2003 bào chế thành công chế phẩm thảo dược H phòng trị bệnh đường hô hấp từ tinh dầu tràm, cao xuyên tâm liên và cao gừng; Trần Công Luận và Lã Văn Kính,
2016 bào chế chế phẩm từ cao xạ can, bọ mắm, quế, dâu tằm và viễn chí Sử dụng các chế phẩm này có thể thay thế kháng sinh Tia-mulin, Tylosine trong thức ăn ngừa hội chứng
hô hấp giúp tăng trọng của heo gà tăng từ
5 - 10%, giảm 45% đến giảm hoàn toàn hội
chứng hô hấp (Lã Văn Kính 2016; Lã Văn
Kính và cs., 2015; Lã Thị Thanh Huyền và Nguyễn Văn Phú, 2015, Nguyễn Đức Hưng
và cs., 2015); cải thiện tỷ lệ đẻ từ 3,7 - 9,3%
(Lã Văn Kính, 2016; Lã Văn Kính và cs.,
2015; Nguyễn Thị Lệ Hằng, 2016).
Thay lời kết: Việc sử dụng kháng sinh
trong phòng và trị bệnh gia súc gia cầm bên cạnh lợi ích tăng cường sức khỏe, giảm tỷ lệ chết của nó thì tác hại mà nó mang lại không
hề nhỏ như ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và nhất là tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi dẫn đến hiện tượng kháng kháng sinh, giảm hiệu quả sử dụng kháng sinh trong trị bệnh ở gia súc và người Trong số nhiều giải pháp thay thế kháng sinh trong thức ăn