1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Quản trị tri thức và sự cần thiết phải tiến hành đào tạo quản trị tri thức ở Việt Nam " pptx

5 370 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản trị tri thức và sự cần thiết phải tiến hành đào tạo quản trị tri thức ở Việt Nam
Trường học University of Vietnam
Chuyên ngành Knowledge Management
Thể loại Báo cáo
Thành phố Hanoi
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 236,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản trị trí thức Quản trị trí thức là nắm bắt tri thức của một tổ chức ở bất kỳ đâu cơ sở dữ liệu, trên giấy, trong đầu con người và phân phối nó đi tới bất kỳ chỗ nào có thể giúp cho

Trang 1

20

va ay chr Thar PRAT TIER HANH BAC Tre

QUAR TRY TRI TRAC 6 VIET RAM

“ hông tin và tri thức là nguồn lực

phát triển của mỗi cá nhân, mỗi

me xã hội và của nền văn minh nói

chung Đòi hỏi quan trọng của thời đại

ngày nay là phải quản lý tri thức ra sao

để nắm bắt, sử dụng tốt nguồn tri thức

của cá nhân và cộng đồng, đạt hiệu quả

cao nhất khi áp dụng vào thực tiến

Nhưng ở nước ta, công việc này chưa

thực sự được coi trọng Bài viết này đưa

ra một cái nhìn tổng quan về quản tri tri

thức cũng như sự cần thiết phải tiến

hành đào tạo một cách hệ thống môn

học này ở các trường đại học, cao đẳng

nước ta

1 Tri thức và quản trị tri thức

1.1 Tri thức

“Chúng ta đang đi vào xã hội tri thức

trong đó nguồn lực kinh tế cơ bản không

phải là vốn mà sẽ là trị thức Tri thức đã

và đang trở thành một nguồn lực kinh tế

chủ yếu và là một nguồn lực thống trị -

và có thể là duy nhất của lợi thế cạnh

tranh” (Peter Drucker)

Tri thức được lưu giữ dưới hai dạng: tri

thức chưa tường minh (tacit), và trị thức

tường minh (explicit)

Tri thức tường minh là tri thức đã được

mã hóa (lưu giữ trong cơ sở dữ liệu, sách

báo ) và sẵn có nên ai cũng có thể tiếp

VŨ THẾ PHONG - TRẤN THỊ KIÊN

cận và áp dụng

Tri thức chưa tường minh là những tri

thức, kinh nghiệm nằm trong mỗi cá nhân mà bản thân người đó cũng khó có thể lý giải hay mã hóa và chia sẻ cho

người khác

Hai loại tri thức trên có thể chuyển

hoá cho nhau theo các con đường sau:

+ Tacit to tacit: chia sẻ qua tương tác

giữa các cá nhân với nhau, qua đó hiểu

biết của họ được trao đổi

+ Tacit to explicit: mọi người viết ra,

lưu trữ lại những tri thức của mình + Explicit to tacit: tiếp nhận những trì

thức đã được cụ thể, lưu giữ và nắm

được chúng

+ Explicit to explicit: sao luu chuyén

đổi các tri thức đã được lưu trữ

Bốn con đường trên tạo thành một

vòng quay khép kín, từ đó trí thức được

luân chuyển liên tục, là cơ sở để quản trị

trị thức ra đời

1.2 Quản trị trí thức Quản trị trí thức là nắm bắt tri thức của

một tổ chức ở bất kỳ đâu (cơ sở dữ liệu,

trên giấy, trong đầu con người) và phân

phối nó đi tới bất kỳ chỗ nào có thể giúp cho việc sản xuất đem lại kết quả cao

nhất Quá trình đó giúp các tổ chức có

Trang 2

thể tự định hướng hoạt động, chủ động

hợp tác, phát triển bền vững trước những

biến động không ngừng của xã hội

Quản lý trí thức là khai thác thông tin

thích hợp cho người dùng thích hợp trong

một thời gian thích hợp

Có 4 lý do chính dẫn đến sự xuất hiện

của quản lý tri thức:

* Cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi

hỏi mỗi tổ chức phải liên tục đổi mới sản

phẩm và cải tiến hoạt động của mình

dựa trên nguồn tri thức của mọi người

trong tổ chức

* Nhu cầu học hỏi trong một tổ chức

luôn tồn tại nhưng thời lượng cho việc

trau dồi kinh nghiệm và kiến thức lại

giảm đi rất nhiều do phải chú trọng vào

các công việc hàng ngày Vì vậy các tổ

chức cần kiến tạo và sử dụng trí thức một

cách thông minh nhất để không bị tụt

hậu

* Cơ chế thị trường tạo ra nhiều khả

năng lựa chọn cho người lao động Nhu

cầu thay đổi nơi làm việc của người lao

động có trình độ và kỹ năng cao tăng lên

chính là nguy cơ suy giảm nguồn trí thức

của tổ chức Khi ra đi, họ không chỉ làm

giảm năng suất của tố chức mà còn

mang đi những tri thức của mình, thậm

chí cả trì thức của tổ chức

* Đa số các công ty thành công là

những công ty nắm bắt nhanh, kịp thời,

và xử lý chính xác các nguồn thông tin

(thị trường, khách hàng, sản phẩm )

Việc biến các thông tin đó thành trí thức

của tổ chức chính là lợi thế cạnh tranh

mà không phải nhà quản lý nào cũng

làm được

Quần trị trí thức bao gồm ba bước:

* Thu nhận tri thức: thông qua sách

báo, hội thảo, hội nghị, phỏng vấn để

tư liệu hóa các tri thức chưa tường minh

Mọi người đều biết rằng tri thức là sức

Tap chi THU VIEN VIET NAM

Anh minh hoa

Ảnh: M.H

mạnh Mỗi người đều muốn giữ một cái

gì đó là điểm mạnh của riêng mình, không muốn chia sẻ với người khác Do vậy điều tiên quyết của quản trị trí thức là phải tạo ra môi trường hay văn hóa chia

sé tri thức trong nội bộ Vai trò của người

lãnh đạo cực kỳ quan trọng trong việc

tạo ra môi trường như vậy Không chỉ khuyến khích, ghi nhận việc chia sẻ tri thức, nhà quản lý phải chủ động tham

gia chia sẻ tri thức một cách tích cực bên

cạnh việc hướng nhân viên cùng phát

triển các nguồn tri thức nội bộ

Quản lý trí thức đòi hổi cao hơn bất kì một hoạt động nào khác về trình độ kĩ thuật, mức độ chuyên nghiệp của những người đứng đầu, kỹ năng của họ trong làm việc với con người, khả năng khái quát hóa Quá trình này không chỉ làm giàu tri thức của cá nhân mà còn là động lực để không ngừng học hỏi

* Phân tích, hệ thống hóa những tri thức đó thành cơ sở dữ liệu thông qua công cụ hỗ trợ (các thuật toán, công

nghệ thông tin )

Chúng ta có thể thiết kế những phương pháp và công cụ để hiện hóa

những trí thức chưa tường minh thành tri

thức tường minh, hoặc theo cách khác là

chuyển tải những trí thức chưa tường

Trang 3

22

Anh minh hoa

Anh: PTK

minh từ thành viên này sang thành viên

khác để cả tập thể đều có những tri thức

đó Điều này có nghĩa là trì thức có thể

lưu giữ trong “bộ nhớ ngoài” như tài liệu,

âm thanh, hình ảnh hoặc lưu giữ trong

“bộ nhớ trong” chính là những bộ óc của

nhân viên trong tổ chức

* Chuyển giao tri thức cho người dùng,

từ đó sáng tạo tri thức mới

Tất cả các công việc trên không thể

thiếu vai trò của cơ sở hạ tầng thông tin,

đặc biệt là công nghệ thông tin Công

nghệ thông tin giữ vai trò hỗ trợ làm cho

việc chia sẻ, lưư trữ, cập nhật và sử dụng

trí thức được thực hiện dễ dàng hơn Hơn

nữa, tri thức được sáng tạo liên tục làm

cho lượng tri thức của tổ chức ngày càng

khổng lồ mà chỉ công nghệ thông tin mới

cho phép lưu giữ, phân loại cập nhật,

chia sẻ sử dụng và phát triển một cách

kịp thời ổn định Với cơ sở hạ tầng thông

tin tốt, các nguồn tin được chia sẻ ở tất

cả các cấp và doanh nghiệp, qua đó tri

thức sẽ đến được với từng cá nhân trong

tổ chức và doanh nghiệp Điển hình cho

quá trình đó là hệ thống loa đài phát

thanh, báo chí, bản tin, hòm thư chung,

mạng nội bộ, trang web

Với khả năng quản trị trì thức, chúng

ta có thể xây dựng ngân hàng câu hỏi,

câu trả lời và liên kết chúng lại với nhau

Sự liên kết đó tạo nên hệ thống chuyên gia, giúp người dùng tin có thể truy cập một cách dễ dàng, đáp ứng nhu cầu tìm

Ï kiếm của họ

2 Vai trò của cơ quan thông tin —

` \ thư viện trong quản trị trí thức

2.1 Thực trạng quản lý trí thức trong các tổ chức, công ty

Một số công ty hàng đầu trên thế giới

đã thành công vượt trội nhờ khả năng quản trị trì thức tuyệt vời của mình như:

Microsoft, Coca — Cola, Ford

Trong cuốn “Tốc độ tư duy”, Chủ tịch

tập đoàn Microsoft - Bill Gates nói:

“Quản lý tri thức khởi đầu bằng các mục

tiêu và quy trình doanh nghiệp cùng với

sự nhận thức rõ ràng về nhu cầu chia sẻ thông tin , và đưa thông tin đến đúng

người để họ có thể ra quyết định thật

nhanh ” Mục tiêu của mỗi doanh nghiệp hiện nay là nâng cao chỉ số thông

minh của tổ chức (hay trí tuệ tập thể) để phát triển các ý tưởng tốt nhất được tích

hợp từ kinh nghiệm và sáng kiến của mọi

người trong tổ chức

Với Coca - Cola, hệ thống quản trị tri thức toàn cầu đã củng cố quá trình kinh

doanh của công ty trong công tác nghiên

cứu, hoạch định thương hiệu, tiếp thị

toàn cầu và thực hiện các chiến dịch

quảng cáo

Tom Long - Phó Chủ tịch, Giám đốc tiếp thị chiến lược của Coca nói:

“Chung tôi dùng hệ thống chia sé tri

thức về khách hàng để thực hiện ký luật

kinh doanh và quản lý các công việc thường nhật tại các quốc gia trên thế

giới Chúng tôi dùng công cu quan tri tri

thức và công nghệ thông tin để hoàn

thành nhanh nhất những công việc phải

lặp đi lặp lại thường xuyên - hoạch định

thương hiệu, hoạch định kinh doanh, thử

Trang 4

nghiệm quảng cáo và phân tích hình ảnh

khách hàng” (dẫn theo webside:

http://www.fast.com.vn)

Nhưng ở nhiều công ty vừa và nhỏ, hệ

thống quản trị tri thức chưa thực sự đạt

hiệu quả cao như mong đợi

Khi nghiên cứu hơn 400 công ty về

hiện trạng thực hiện quản trị tri thức của

họ, báo cáo của công ty KMPG

Consulting (năm 2000) cho thấy trong số

288 công ty có hệ thống quản trị tri thức

hoặc đang thiết lập một hệ thống quản trị

tri thức thì có tới 137 trường hợp người ta

không đạt được những ích lợi mong đợi

Việc thiếu giáo dục và đào tạo cho

người dùng là lý do quan trọng nhất

(53%) giải thích tại sao người ta không

thu được những lợi ích như dự kiến

Bên cạnh đó còn có hiện tượng những

người làm việc trong lĩnh vực thông tin, từ

các nhà nghiên cứu cho đến những nhà

quản lý, có xu hướng sử dụng từ 20% -

đến 25% thời gian làm việc của mình vào

việc tìm kiếm thông tin (theo các nghiên

cứu của Grifiths, 1982; King, Mc Donald

& Roderer, 1981; Nelke, 1999; Poppel,

1982; Roderer, King & Brouard, 1983)

Ở Việt Nam, tình hình cũng diễn ra

tương tự Công ty FPT, Nguyễn Hoàng

Group đã thành công trong việc xây

dựng và phát triển vốn trí tuệ cho doanh

nghiệp Nhưng theo một đánh giá sơ bộ

của GS Phan Đình Diệu - nguyên Phó

Trưởng ban thường trực “Chương trình

quốc gia về CNTT: “ hầu hết các công ty

chỉ mới sử dụng được 20% tri thức trong

công ty của mình”

Việc thực hiện quản trị tri thức đang

gặp rắc rối, thiếu sự đào tạo và giáo dục

người dùng, trong khi nhân viên thư viện

lâu nay vốn có kỹ năng trong công việc

ấy Chúng ta gọi đó là “hướng dẫn sử

dụng thư tịch” Sự cần thiết phải đề cao

vai trò của nhân viên thư viện trong quản

Tap chi THU VIEN VIET NAM

trị trí thức dường như là điều không cần

phải bàn cãi

2.2 Vai trò của các cơ quan thông tin — thư viện trong việc hỗ trợ các tổ chức, công ty quản trị tri thức

Người cán bộ thư viện phải hướng dẫn cho người dùng tin kỹ năng tìm kiếm cơ

sở dữ liệu và kỹ năng khai thác cơ sở dữ

liệu

Các cơ quan thông tin - thư viện có

thể hỗ trợ các công ty, doanh nghiệp

trong việc thu nhận tri thức, nhất là

những tri thức chưa tường minh thông

qua việc tổ chức giao lưu khoa học, hội

nghị, hội thảo , đồng thời hướng dẫn phương pháp phân tích, tổ chức những tri

thức đó thành cơ sở dữ liệu để có thể dễ

dàng truy cập

Muốn làm được như vậy thì các cơ quan thông tin - thư viện trước hết phải tự

trang bị cho mình những kiến thức về

quan trị tri thức Do đó cần tiến hành đào tạo quản trị tri thức một cách căn bản, có

hệ thống cho các sinh viên chuyên

ngành thông tỉn - thư viện

Trên thế giới, một số trường đại học

đã có chương trình đào tạo về vấn dé

này như: The University of lowa, The

University of Michigan, Indiana University Bloomington, The University

of Hawaii at Manoa

Các trường trên giảng dạy một số môn cơ bản sau: quản lý cơ sở dữ liệu, điều hành web, giáo dục đa phương tiện,

kỹ năng thông tin (kiến thức thông tin), quản trị trí thức Chương trình đào tạo

cử nhân khoa học thông tin - thư viện ở

các trường này tập trung cung cấp cho

sinh viên các kỹ năng tìm kiếm, thu thập, quản lý cơ sở dữ liệu tri thức một cách hệ thống Sinh viên theo học các khóa học

cơ bản, nâng cao và tự chọn để tăng khả

năng chuyên môn hóa, giúp sinh viên có

nhiều cơ hội nghề nghiệp khác nhau ở

Trang 5

24

nhiều lĩnh vực khác nhau

Đối với Việt Nam, sinh viên chuyên

ngành Thông tin - Thư viện chưa nhận

được sự đào tạo chuyên sâu về quản trị

trí thức Chương trình đào tạo phần lớn là

nặng về lý thuyết, nên sinh viên thiếu

các kỹ năng cần thiết khi tiến hành công

việc chuyên môn nói chung và quản tri tri

thức nói riêng Do đó, để đáp ứng nhu

cầu thực tiễn, phải chăng các trường đại

học, cao đẳng nên đưa môn học quản trị

trí thức všo chương trình đào tạo của

mình?

Kết luận

Mục đích cao nhất của quản trị tri thức

là thúc đẩy quá trình tự học của mỗi

người, giúp mọi người sáng tạo được tri

thức mới trên cơ Sở những tri thức có

sẵn, từ đó thích ứng được với những thay

đổi căn bản, liên tục của xã hội thông tin,

của nền kinh tế tri thức

Trong điều kiện ấy, người cán bộ thư

viện có vai trò quan trọng trong việc giáo

dục, định hướng người dùng tin cùng

tham gia vào quá trình quản trị tri thức,

đẩy mạnh sự chuyển đổi từ xã hội công

nghiệp sang xã hội hậu công nghiệp —

xã hội thông tin Muốn làm tốt nhiệm vụ

của mình, các cơ quan thông tin — thu

viện cần không ngừng xây dựng cơ sở hạ

tầng thông tin và đào tạo cán bộ về mọi

mặt, coi đó là cơ sở để phục vụ người

dùng tin một cách tốt nhất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quần lý trí thức trong nền kinh tế hiện

đạiB Milner; Ngd.: Thu Thủy//Thông tin

khoa học xã hội Số 8 0866 — 8647.-

2007 - tr 33-38

2 Kỹ yếu hội thảo khoa học nền kinh

tế tri thức Tập 1, 2, VCD Media, 2001

3 Nền kinh tế trí thức và yêu cầu đối với

giáo dục Việt NamiTrần Văn Tùng - H.;

Thế giới, 2001 - 217tr

4 Webside: http:/Avww.fast.com.vn

5 Webside: http://www.tamviet.edu.vn 6.Webside:http:/www.lib.hcmussh.edu.vn

về trí thức và quản trị trị thức trong thời

- đại bùng hổ thông lần hiện nay trên thế

- giới và Việt Nam: Đồng thời tác giả cũng

nêu bật tầm quan trọng của việc đào

.tạo chuyền sâu về quản If tri thie tại các

; trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam,,

nhấn mạnh vai trò của: các cơ: quan

-thông tin~ thư viện trong việc hỗ trợ các ˆ

tổ chức, công ty quản trị trị thức, đem lại

„hiệu quả cao trong kinh doanh và sản

trforrhnatlon: and knowledge are essential resources for the development

‘of each individuals and the whole socie-

ty Therefore, people need to know

_about knowledge management in order

to find and use knowledge effectively

The author givés an overview about

knowledge and knowledge manage-

ment in ‘the era of information explosion

in general and in Vietnam The author

also emphasizes the ‘roles of providing

training on knowledge management in higher education ‘institutions in Vietnam,

and the roles.of libraries and information

centers in: supporting “organisations in

-managing:-knowledge ‘to promote the

effectiveness of business and manufac-

ture, “

i viết đã đưa cái nhịn tổng quan -

i

{ i {

Ngày đăng: 25/02/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm